Sự biến đổi về đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của con người đặc biệt là người dân đô thị trong cơ chế kinh tế thị trường nhanh chóng trở thành vấn đề nóng của văn học nghệ thuật
Trang 22
z
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: luận văn Đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn
là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Bích Thu
Các số liệu, kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Những tài liệu tham khảo, ý kiến được trích dẫn nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề đều được ghi chú nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Hương
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Văn học, bộ phận đào tạo Sau đại học - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2014 Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Hương
Trang 55
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN……… … …… 10
1.1 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến văn hóa xã hội Việt Nam 10
1.1.1 Đô thị hóa ở Việt Nam 10
1.1.2 Tác động của đô thị hóa tới văn hóa xã hội Việt Nam 12
1.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại 14
1.2.1 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam những năm 1930 – 1945 14
1.2.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 15
1.2.3 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam sau 1975 đến nay 17
1.3 Đề tài đô thị trong sáng tác của Đỗ Phấn 20
1.3.1 Tiểu sử nhà văn 20
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phấn 23
1.3.3 Những tiểu thuyết về đề tài đô thị của Đỗ Phấn 25
CHƯƠNG 2: BỨC TRANH CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI ĐÔ THỊ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN 30
2.1 Không gian đô thị 30
2.1.1 Không gian đô thị cũ 30
2.1.2 Không gian đô thị mới 33
2.1.3 Không gian giáp ranh 36
Trang 66
2.2 Thời gian đô thị 41
2.2.1 Thời gian uể oải, dùng dằng, bất định 41
2.2.2 Thời gian đậm chất tạo hình 44
2.3 Con người đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn 46
2.3.1 Lối sống và thói quen sinh hoạt của người dân đô thị 46
2.3.2 Mối quan hệ gia đình trong môi trường đô thị 53
2.3.3 Đời sống nội tâm của con người đô thị 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN……… 64
3.1 Kết cấu 64
3.1.1 Sự phân rã của cốt truyện 64
3.1.2 Kết cấu đa tầng 68
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 72
3.2.1 Tiết chế đối thoại 72
3.2.2 Độc thoại – Phân thân 74
3.2.3 Miêu tả nhân vật qua hành động 79
3.3 Nghệ thuật trần thuật 85
3.3.1 Ngôi kể và điểm nhìn 85
3.3.2 Giọng điệu 90
3.3.3 Ngôn ngữ 93
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7Không thể phủ nhận rằng quá trình đô thị hóa cùng với nền kinh tế thị trường giàu tính cạnh tranh đã góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, xây dựng cơ sở vật chất cho đất nước Tuy nhiên, sự phát triển nhanh, có phần ồ ạt của các đô thị cũng gây ra nhiều hệ lụy đáng suy ngẫm
Sự biến đổi về đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của con người (đặc biệt là người dân đô thị) trong cơ chế kinh tế thị trường nhanh chóng trở thành vấn đề nóng của văn học nghệ thuật nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng Ngày càng có nhiều tác giả lựa chọn đề tài đô thị để triển khai tác phẩm của mình Họ lột tả con người đời thường với những cô đơn, băn khoăn, vấp ngã, xót xa, đứt gãy, quay cuồng trong cơn lốc khủng hoảng giá trị của xã hội hiện đại Những giá trị cũ đã bị mai một, những giá trị mới đang hình thành còn nhiều bất ổn, chông chênh
Đỗ Phấn chính là một trong số đó Với vốn sống, vốn văn hóa của một thị dân lâu đời, ông trút hết băn khoăn, trăn trở của mình về sự biến đổi của con người vào trang viết Những vấn đề nổi cộm của đô thị nói riêng và cả đất nước trong cuộc thay da đổi thịt nói chung được đưa vào hầu hết các tiểu
thuyết của ông như Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, Gần như là
Trang 8Những sáng tác của Đỗ Phấn ra mắt ồ ạt, nhanh chóng nhận được phản hồi tích cực của bạn đọc Đề tài đô thị xuyên suốt các tiểu thuyết của ông như một mạch nguồn khơi mở cảm hứng sáng tạo Niềm trăn trở của ông qua ngòi bút bắt đầu được bạn đọc và giới phê bình ghi nhận qua từng tác phẩm Tiểu
thuyết Vắng mặt đã lọt vào vòng chung khảo của Giải thưởng Bách Việt (2010) Gần đây, truyện dài Dằng dặc triền sông mưa giành được giải văn
xuôi 2014 của Hội Nhà văn Hà Nội
Nói về cách viết của ông, nhà văn, nhà biên kịch Phạm Ngọc Tiến cho rằng Đỗ Phấn viết “rất hay”, đến mức người khác phải ghen tị Nhà báo Đỗ Quang Hạnh nhận ra đằng sau những tiểu thuyết về đô thị của Đỗ Phấn là “lời độc thoại ân tình và độ lượng, thiết tha thương nhớ những cái đẹp, cái lẽ phải của đời sống cứ đang tuột khỏi tay mỗi người Bao nhiêu thứ tốt đẹp cứ vội vã trở thành quá vãng và chỉ còn hiu hắt nhắc khẽ trong tâm tưởng hoài niệm của tác giả” [33, tr.393]
Phải nói, Đỗ Phấn là một trong rất ít tác giả dành toàn bộ tâm huyết của mình để thể hiện được những nhức nhối, âu lo cho đời sống của cư dân thị thành Ông viết khỏe, không ngừng sáng tạo, tìm một lối viết để truyền tải tâm tư của mình, nhằm thức tỉnh ở bạn đọc một thái độ văn hóa Chính từ những băn khoăn, trăn trở, trải nghiệm và phản ứng của tác giả về vấn đề con
Trang 99
người đô thị trong xã hội hiện đại, chúng tôi quyết định nghiên cứu: Đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn
2 Lịch sử vấn đề
Là người thực hiện cuộc chơi “tay ngang” sang văn học, sau bao rụt rè
và đắn đo mới cho xuất bản hàng loạt tiểu thuyết, tản văn, truyện ngắn, truyện dài, Đỗ Phấn bỗng dưng trở thành một gương mặt “trẻ” của làng văn ở độ tuổi năm mươi Dù mới xuất hiện nhưng những tác phẩm của ông nhanh chóng được bạn đọc đón nhận, giới phê bình chú ý, quan tâm
Năm 2010, Vắng mặt – cuốn tiểu thuyết đầu tay của Đỗ Phấn ra đời Tiếp đó, năm 2011, ông ra mắt cuốn Rừng người và Chảy qua bóng tối Năm
2013, Đỗ Phấn chào bạn đọc bằng hai cuốn tiểu thuyết Gần như là sống và
Con mắt rỗng Độc giả chưa kịp ngơi nghỉ, năm 2014, ông xuất bản Ruồi là ruồi Các tác phẩm của ông nhanh chóng được bạn đọc và giới phê bình chú
ý Như đã nêu ở phần trên, Vắng mặt của Đỗ Phấn lọt vào chung khảo Giải
thưởng Bách Việt, đáng tiếc giải thưởng này bị ngưng lại, không rõ kết quả cuối cùng Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay, người đọc đã thấy đề tài đô thị
được tác giả dụng tâm thể hiện tinh tế, công phu Trần Nhã Thụy trong Vừa
nhớ vừa bịa nhận xét: “Và, về thành phố Tiểu thuyết là tập hợp những bức
tranh thành phố, ở những giai đoạn khác nhau, ráp nối lại, để nhìn ngắm, soi rọi, nhớ thương hay phẫn nộ Thành phố Giữa những ồn tạp tưởng chừng như bất tận, giữa những “hội hè miên man”… thì chừng như vẫn muôn thuở buồn, vẫn không thể cứu vãn những mất mát Thành phố không còn kí ức” [29, tr.361]
Tiếp theo đó, Đoàn Ánh Dương trong bài Đỗ Phấn giữa chúng ta, nêu lên những cảm nhận và đánh giá của mình về tiểu thuyết Rừng người, cũng là
một cái nhìn chung về những tiểu thuyết về đô thị của tác giả Đoàn Ánh Dương phát hiện ra lối diễn đạt của Đỗ Phấn ít ẩn dụ, màu mè song tinh tế,
Trang 1010
nhẹ nhàng như cách người ta thưởng trà: “Sáng tác của Đỗ Phấn không nhằm bày ra cho người đọc cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, cũng không cao đàm khoát luận về giá trị, tư tưởng, tự do, chân lý Nó chỉ bày ra một sự thụ cảm cuộc sống một cách có nghệ thuật” [31, tr 365] Anh cũng nhận xét rằng: “Trong văn học Việt Nam đương đại, có hai tác giả chuyên chú về điều này (thái độ thị dân – người viết chú thích), là Nguyễn Việt Hà và Đỗ Phấn, đều từ các lĩnh vực khác muộn mằn đến với văn chương, mỗi người một kiểu, mỗi cách
và đều rất độc đáo Ở Nguyễn Việt Hà, nó đọng ở cấu trúc nghệ thuật ngôn từ
và ở Đỗ Phấn, nó lửng lơ ở ngoài cái cấu trúc ngôn từ nghệ thuật ấy Cái giống nhau, có chăng, cũng là một thói thường thị dân, ở sự quan tâm đến thưởng ngoạn, lại là đàn bà và rượu” [31, tr.367]
Nguyễn Việt Hà cũng dành sự quan tâm của mình đối với các tiểu thuyết của Đỗ Phấn: “Bao trùm lên trên của tất cả những đô thị, những đàn
bà, những công chức là một tâm cảm xót xa được viết điêu luyện bằng chất văn cố dìm đi day dứt” [35, tr.2]
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên - Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội nhìn nhận, những trang viết của Đỗ Phấn ăm ắp chi tiết và phảng phất một nỗi buồn: “Chúng vẽ nên một Hà Nội chênh vênh, “ẩm ương” giữa những nét thanh lịch của quá khứ và vẻ xù xì, gồ ghề của một đô thị đang chuyển mình liên tục hiện nay Ở đó, tác giả trằn trọc, day dứt với ước vọng gợi lên, làm sống dậy những giá trị truyền thống” [24]
Ngoài ra, có nhiều nhà nghiên cứu đã viết bài giới thiệu về tiểu thuyết
của tác giả Đỗ Phấn như Hoài Nam (Cao bồi già ở phố không còn cổ), Nguyễn Xuân Thủy (Sống trong đô thị, viết về đô thị), Nguyễn Trương Quý,
Phạm Ngọc Tiến, Đỗ Chu, Nguyễn Chí Hoan, Lê Anh Hoài
Hoài Nam đã phát hiện ra, Đỗ Phấn là một “tay chơi” ham “xê dịch”, khao khát đi tới nhiều vùng đất để trải nghiệm và khám phá: “Máu giang hồ
Trang 1111
nổi lên là đi Đi ở trong nước đã đành, nhưng châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ ông cũng đi đủ cả Đi cốt để nhìn ngắm cho no mắt cái đẹp của thiên nhiên và con người nơi xứ lạ, và nhất là cái đẹp nghệ thuật đang được trưng bày trong các bảo tàng danh tiếng trên thế giới” Quan trọng hơn, Hoài Nam thấy được câu chuyện “kể đi kể lại, miệt mài, đầy hứng thú” của Đỗ Phấn “là chuyện của một dân phố lâu đời ở Hà Nội, người đã sống cùng Hà Nội trong những năm tháng bom đạn giặc giã, sống cùng Hà Nội qua những ngày dài bao cấp khốn khó…, và sống cùng Hà Nội ở chính cái thời này, cái thời xôi đỗ giữa cũ và mới, chắc và xổi, trật tự và nhốn nháo, nền nếp và xô bồ, tử tế và mất dạy” Ông kể bằng một “kiểu hành văn tinh tế kỹ càng đến mức trau chuốt, mà thờ
ơ buông thả cũng đến mức trau chuốt” Hoài Nam đã kết luận rằng: “Đỗ Phấn quả đúng là đứa con dứt ruột của Hà Nội, là cao bồi già phố cổ” [18]
Ở bài Sống trong đô thị, viết về đô thị, nhà văn Nguyễn Xuân Thủy
nhận xét: “Có thể nói ít người theo đuổi, tha thiết với đô thị, nhìn nhận các vấn đề của đô thị một cách thấu triệt, mổ xẻ, tiên đoán, bắt bệnh cho nó nhiệt thành và tận cùng như Đỗ Phấn” Ông còn thấy được hình ảnh “đô thị đang vỡ
ra, đang bị cày xới, sục sạo trong cuộc chiến giữa phát triển và hệ lụy, giữa bản thể và những lai tạp nhố nhăng” trong văn chương của Đỗ Phấn Ông ví
Đỗ Phấn như một kẻ “rỗi việc”, “ngồi nhặt nhạnh, ngẫm nghĩ, và xa xót trước những lỗ hổng của văn minh đô thị” [47]
Nói chung, các nhà nghiên cứu, phê bình đã chú ý đến đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn, cũng như cách viết nhẹ nhàng, nhẩn nha mà sâu sắc của ông Tuy nhiên, những bài viết này mới ở mức độ giới thiệu, tìm hiểu chung, hoặc chỉ đề cập đến một khía cạnh trong tiểu thuyết của ông Vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn, từ đó, chúng tôi mạnh dạn thực hiện hướng nghiên cứu này
Trang 1212
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đề tài đô thị trong tiểu thuyết của tác giả Đỗ Phấn cùng những biểu hiện cụ thể của nó
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát kĩ càng đề tài đô thị cùng các biểu hiện của nó trong
sáu tiểu thuyết của Đỗ Phấn: Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, Con
mắt rỗng, Ruồi là ruồi
Người viết có tham khảo các tác phẩm khác cùng tác giả như: Tản văn
Hà Nội thì không có tuyết, Truyện dài Dằng dặc triền sông mưa…
Ngoài ra, luận văn tham khảo một số tác phẩm của các tác giả khác viết
về cuộc sống của con người đô thị trong xã hội hiện đại (như Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Bích Thúy )
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: qua việc phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm để làm rõ đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn bởi nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính nội dung”
- Phương pháp lịch sử - xã hội: xem xét sự phát triển của đô thị Việt Nam qua các giai đoạn, từ đó nhận ra đề tài đô thị trong mỗi thời kỳ Từ đó, thấy được dòng chảy của đề tài này và phát hiện ra những nét riêng của Đỗ Phấn
- Phương pháp hệ thống: Người viết xâu chuỗi các hiện tượng văn học đơn lẻ, đặt chúng trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau để làm rõ đề tài
đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn
- Kết hợp các thao tác: so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp
Trang 1313
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn đưa ra những nhận định về mảng đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn
- Góp phần làm sáng tỏ mảng đề tài được quan tâm trong văn học Việt Nam đương đại nói chung và đề tài mang tính chất xuyên suốt của tiểu thuyết
Đỗ Phấn nói riêng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đồng thời ghi nhận đóng góp của Đỗ Phấn với mảng viết về đề tài đô thị trong thể loại tiểu thuyết nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung
- Luận văn cũng là một tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về Đỗ Phấn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại và tiểu thuyết của Đỗ Phấn
Chương 2: Bức tranh cuộc sống và con người đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn
Chương 3: Một số phương thức thể hiện đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn
Trang 1414
CHƯƠNG 1
ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ
TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN
1.1 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến văn hóa xã hội Việt Nam
1.1.1 Đô thị hóa ở Việt Nam
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, “Đô thị là một không gian cư trú
của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [36, tr.12] Đô thị được hình thành khi nhu cầu sống của con người ngày càng cao, những lao động nông nghiệp trước đây chuyển sang làm tiểu thủ công nghiệp, thương mai, dịch vụ Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn… Cũng có thể hình dung đô thị là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, là khu vực hành chính với cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hóa, phát triển, tập trung mật độ dân cư lớn
Đô thị được hình thành trên thế giới cách đây hàng ngàn năm, bắt đầu
từ những thành phố cổ Jerusalem (Isarel) hay Athens (Hy Lạp)…
Ở Việt Nam, đô thị được hình thành sớm cùng với sự hình thành của các quốc gia cổ đại như Văn Lang, Âu Lạc Đến thời phong kiến, cùng với Thăng Long, những Phố Hiến, Hội An lần lượt ra đời, không ngừng mở rộng
từ Bắc vào Nam Tuy nhiên, các đô thị thời phong kiến chủ yếu là các trung tâm chính trị, văn hóa hơn là trung tâm kinh tế
Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, do chương trình khai thác thuộc địa và chính sách chia để trị, mạng lưới đô thị tăng lên nhanh chóng Cùng với đó, lối sống thị dân phương Tây du nhập vào Việt Nam, tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất, văn hóa của thị dân Bộ mặt đô thị thời kỳ này có nhiều khác biệt so với thời phong kiến
Trang 1515
Đến khi thống nhất đất nước, đặc biệt sau 1986, nhờ chính sách mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần của Nhà nước, hệ thống đô thị ở Việt Nam phát triển một cách toàn diện Nhiều trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế lớn mọc lên ở cả ba miền Đặc biệt, do chủ trương phát triển kinh tế làm trọng tâm, tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh và có chiều hướng phức tạp Dù vậy, đô thị ở Việt Nam với xuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp lâu đời, vẫn còn mang nhiều đặc tính của vùng nông thôn, với tính chất của “phố làng”, “phố huyện”
Quá trình đô thị hóa có thể hiểu là một quá trình phát triển về dân số đô thị, số lượng và quy mô đô thị cũng như về các điều kiện sống ở đô thị hoặc theo kiểu đô thị Trong quá trình đô thị hóa đều có sự phát triển về lượng và chất ở các đô thị cũng như các điểm dân cư nông thôn (về cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân cư, cơ cấu tổ chức xã hội và không gian quy hoạch – kiến trúc, hình thái xây dựng, )
Bản chất của quá trình đô thị hóa là quá trình chuyển dịch lao động từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên như nông, lâm nghiệp, khai khoáng trên diện tích rộng khắp toàn quốc sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ thương mại, tài chính, văn hóa – xã hội, khoa học – kỹ thuật, Hay nói cách khác là chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp gọi là
đô thị
Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay Trung Quốc) (khoảng 35%) Tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta gia tăng dần theo thời gian Năm 1990 cả nước mới có khoảng 500 đô thị, năm 2000 con số này là 649, năm 2003: 656, năm 2010: 755, trong đó có 02 đô thị đặc
Trang 16và nhỏ, tạo nên sự giao thoa giữa văn hóa nông thôn và thành thị, tạo nên những “phố làng”, “phố huyện”
1.1.2 Tác động của đô thị hóa tới văn hóa xã hội Việt Nam
Có thể nói, đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đời sống nhân dân
Tuy nhiên, sự phát triển dân số đô thị quá nhanh ở nước ta đã gây ra vô vàn vấn đề nan giải trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị - văn hóa và môi trường như cung cấp nhà ở, cung cấp nước, vệ sinh môi trường, tạo công
ăn việc làm, giải quyết giao thông đô thị, ảnh hưởng đến sinh thái - kinh tế, tác động xấu đến sự phân hóa xã hội, gây ra nhiều vấn đề như suy đồi giá trị đạo đức, mai một truyền thống tốt đẹp
Là một phần tạo nên văn hóa xã hội, văn học nghệ thuật cũng phản ánh sâu sắc cuộc sống thực tại của con người Các tác giả luôn theo sát những nhu cầu của thời đại, phản ánh hiện thực theo góc nhìn riêng để khám phá được
Trang 17Đề tài đô thị ở đây, được hiểu là một phạm vi hiện thực được các tác giả “nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm” [5, tr.116] Họ trăn trở với mái ngói, tường nâu, cao ốc chung cư, siêu thị, nhà máy, và cung cách ứng xử của con người phố thị Qua đề tài này, các nhà văn Việt Nam đã thể hiện được năng lực quan sát, phân tích và cách tiếp nhận hiện thực của mình Đây là những trải nghiệm không kém phần sâu sắc so với các đề tài khác trong văn học Nó khác với đề tài nông thôn được phản ánh trong văn học những năm trước 1975 với sự lưỡng phân tốt – xấu khá rõ ràng, con người và không gian đều bình lặng, giản dị, chất phác Có chăng một vài bon chen, toan tính, cũng chỉ là toan tính của người nông dân vương lại chút tư tưởng phong kiến
Trong những năm gần đây, kinh tế xã hội của đất nước có nhiều bước phát triển mạnh mẽ, cuộc sống ở các đô thị trở nên sôi động và phức tạp hơn Lối sống, văn hóa đô thị theo nhà máy, xí nghiệp, khu vui chơi giải trí tràn vào các miền quê Những vấn đề xã hội của con người nảy sinh ngày một nhiều Sự biến đổi tâm lý của cư dân đô thị cũng ngày một lớn Văn học dành khá nhiều trang viết để phản ánh hiện thực ở đô thị Không ít nhà văn quan ngại về sự tha hóa của con người trong vòng xoáy bạc tiền đô thị, hay làm sao
để gìn giữ văn hóa truyền thống của thị thành Đề tài đô thị hẳn sẽ là một đề tài được khai thác nhiều hơn nữa trong những năm tiếp theo của thế kỷ XXI
Trang 1818
1.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam hiện đại
1.2.1 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam những năm 1930 - 1945
Từ những năm đầu thế kỷ, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách
đã đề cập đến cuộc sống nơi đô thị của Tố Tâm và Đạm Thủy Trong giai đoạn khuôn khổ của lễ giáo đã ngấm sâu vào văn hóa Việt, những tư tưởng, ảnh hưởng của lối sống phương Tây cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam Nó tạo nên những tư tưởng mới về quyền tự do, tình yêu và hạnh phúc của con người
Hồ Biểu Chánh cũng có nhiều tác phẩm: Cay đắng mùi đời, Tiền bạc -
bạc tiền, Thầy thông ngôn, Kẻ làm người chịu tái hiện lại bức tranh đô thị với
nhiều tầng lớp người khác nhau, từ giới giang hồ ở nhà ga, bến xe tới những trí thức tân học
Sang những năm ba mươi, Nguyễn Bính - một nhà thơ lãng mạn đã dành không ít giấy mực để nói về cảnh quan, nếp sống đô thị:
Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng
Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị (Sao chẳng về đây - Nguyễn Bính)
Phần nhiều nghệ sĩ vừa thích thú với đô thị lung linh, hào hoa, vừa sầu cái cô đơn, giả dối ở nơi bon chen ồn ào:
Ghét những cảnh sửa sang tầm thường giả dối
Hoa chăm cỏ xén, lối phẳng cây trồng
Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng… (Nhớ rừng - Thế Lữ)
Hai trào lưu văn học lãng mạn và hiện thực trong giai đoạn này đều quan tâm tới cuộc sống thị dân ở những phương diện tích cực và tiêu cực của
nó
Khi nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập, các tác giả tiếp nhận mạnh
mẽ nền văn minh đến từ phương Tây Không chỉ viết về cuộc sống yên ả chốn
Trang 1919
thôn quê, họ còn hướng ngòi bút đến các đô thị lớn Nhân vật ở chốn phồn hoa này phong phú, tiến bộ, mạnh mẽ và có cá tính hơn Họ mạnh bạo thể hiện cái “tôi” cá nhân cùng các quan điểm của mình Các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đều đề cao những cô gái tân thời, những chàng trai tiến bộ dám vượt qua mọi rào cản để xây dựng tình yêu Tuy nhiên, trong tác phẩm của họ cũng không bỏ qua mặt trái của đô thị hoa lệ Đó là cuộc sống trụy lạc với rượu cồn và thuốc phiện… Thạch Lam cũng viết về đô thị, nhưng thường là những phố huyện nhỏ bé, còn tối tăm, nghèo nàn, làm con người quẩn quanh, bế tắc
Các nhà văn hiện thực lại nhìn đô thị bằng những cảm quan riêng Với
Vũ Trọng Phụng, “tiểu thuyết là sự thực ở đời”, đô thị hiện lên hỗn tạp như chính nó đang tồn tại Thậm chí, ông có phần nhạy cảm hơn với sự giả tạo, học đòi, lố lăng của những thị dân mới Thêm vào đó là các tệ nạn nghiện hút,
cờ bạc, mại dâm… Các tác phẩm tiêu biểu của Vũ Trọng Phụng đề cập đến đề
tài này như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Làm đĩ, Cơm thầy cơm cô (phóng sự), Số đỏ…
Gần với góc nhìn của Vũ Trọng Phụng là Nguyễn Công Hoan Đô thị hiện lên trong tác phẩm của ông có phần nhố nhăng, bỉ ổi, như những tấn bi hài kịch đầy bất công Ở đó kẻ giàu phè phỡn ức hiếp người nghèo Nam Cao lại tập trung khai thác cuộc sống bế tắc của người trí thức nơi đô hội Họ quanh năm đối mặt với cơm áo gạo tiền, “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”
Các tác phẩm tiêu biểu viết về cuộc sống đô thị như: Sống mòn, Đời thừa,
Giăng sáng…
1.2.2 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam 1945 – 1975
Con người trong văn học thời kì này thường xuất hiện với tư cách con người cộng đồng, con người dân tộc Đề tài đô thị cũng tập trung phản ánh chân dung những công dân – chiến sĩ, những nhân vật thị dân hiện lên có
Trang 2020
phần ít thiện cảm Đôi mắt của Nam Cao khắc họa nhân vật trí thức tiểu tư
sản – nhà văn Hoàng, về nông thôn tản cư vẫn giữ những tư tưởng, nếp sống của người thành thị Vào thời điểm đó, lối sống đô thị trở nên lạc lõng và không phù hợp với đời sống của quần chúng lao động
Khác với Nam Cao, Tô Hoài viết Những ngõ phố phản ánh sự đổi đời
của những người dân nghèo nơi đô thị Họ thoát khỏi cuộc sống đói khổ để đến với cuộc sống mới vui vẻ, tự do, ấm áp tình người Họ hăng hái xây dựng lại cuộc sống, làm lại từ đầu, trở về với chính mình
Hà Minh Tuân đề cập đến cuộc sống đô thị ở Trong lòng Hà Nội và
Hai trận tuyến Hai tiểu thuyết này viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của
nhân dân Hà Nội Đến tiểu thuyết Vào đời, tác giả này tiếp tục khai thác đề tài
xây dựng xã hội mới, không né tránh hay bóp méo hiện thực mà phản ánh trung thực cuộc sống thực tại
Tác giả Nguyễn Huy Tưởng viết Sống mãi với thủ đô, trong đó thủ đô
Hà Nội được chọn làm bối cảnh cho các nhân vật với một hình ảnh anh dũng, kiên cường Không khí kháng chiến len lỏi vào từng ngõ phố
Nguyễn Tuân viết Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi Hà Nội hiện lên trong tập
ký của ông với hình ảnh hiên ngang và hào hoa, đi qua công cuộc kháng chiến chống Mỹ anh hùng Mảnh đất thủ đô được khắc họa như hương đất, hồn người của dân Việt qua những đêm trăng, những nhành hoa, vườn quất
Ngoài ra, có một bộ phận các nhà văn sáng tác trong miền Nam những năm 1954 - 1975 “Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống và chủ yếu hướng tới hiện thực cuộc sống, tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã đáp ứng được khá linh hoạt nhu cầu của người đọc tại các vùng đô thị” [49] Các tác phẩm văn xuôi giai đoạn sau 1954 “không chỉ giới hạn trong những đề tài “cổ điển” như nói về cuộc sống của người thành thị, trí thức, tình cảm lãng mạn, phiêu lưu hay nỗi nhọc nhằn, đói khổ của những người nghèo Văn xuôi hướng đến tất
Trang 2121
cả mọi vấn đề từ cao cả đến thấp hèn, hướng đến mọi đối tượng từ người lớn đến trẻ em, từ giới trí thức đến người lao động, nhưng tập trung nhất vẫn là đề tài tình yêu với đủ mọi cung bậc, biến thái khác nhau” [49]
Nói chung, ở giai đoạn này, đặc biệt ở miền Bắc, con người và xã hội
đô thị ít được chú ý trong văn học
1.2.3 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam sau 1975 đến nay
Đề tài đô thị sau 1975 gắn liền với cuộc sống thị dân nhiều thay đổi Nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi của văn hóa - xã
hội Nhiều tác giả viết về đề tài đô thị như Nguyễn Minh Châu (Khách ở quê
ra), Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Việt Hà, Phong Điệp, Nguyễn Danh Lam, Đỗ Tiến Thụy, Kiều Bích Hậu, Nguyễn Trương Quý, Thụy Anh, Đỗ Bích Thúy…
Năm 1978, Nguyễn Duy đã bộc lộ những suy nghĩ, trăn trở của con người khi hoàn cảnh thay đổi:
“Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường” (Ánh trăng)
Nhà văn Ma Văn Kháng cũng có những tác phẩm hay về đô thị như tiểu
thuyết Mùa lá rụng trong vườn Tác phẩm báo động lối sống của xã hội buổi
giao thời, không ít cá nhân sống ích kỷ, vụ lợi, đầy dục vọng Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của gia đình truyền thống trong cuộc sống mới, dù nó cũng đang rạn nứt
Nguyễn Khải đã có nhiều truyện ngắn viết về cuộc sống và con người
Hà Nội, được tập hợp trong hai tập truyện: Một người Hà Nội (1990) và Hà
Nội trong mắt tôi (1995) Ông viết văn để trải tấm lòng mình với mảnh đất
từng gắn bó, nhiều duyên nợ, và phản ánh vùng đất kinh đô chứa đựng nhiều
Trang 2222
điều hấp dẫn, bí ẩn, “nhất là trong tầng sâu văn hoá, lối sống, các giá trị tinh thần của người Hà Nội luôn mời gọi và là một dư địa cho ngòi bút ưa tìm tòi,
triết lí” [21] Truyện ngắn Một người Hà Nội kể những chuyện về bà Hiền và
gia đình bà trong một khoảng thời gian dài suốt mấy chục năm, chủ yếu từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp, Hà Nội được giải phóng cho đến những năm đầu đổi mới Thông qua nhân vật bà Hiền – một “hạt bụi vàng” cặm cụi lưu giữ những nét văn hóa của thủ đô ngàn năm, tác giả thể hiện niềm tin vào
“những giá trị tốt đẹp đã được hình thành và xây đắp từ bao đời sẽ được đặt lại đúng với vị trí của nó Cũng như mọi thứ xô bồ, hỗn tạp của Hà Nội hiện thời chỉ là những rác nổi trên bề mặt của đời sống, rồi đến lúc nó sẽ bị cuốn
đi, để một Thủ đô với 1000 năm văn hiến, sự “thanh lịch của người Tràng An
sẽ trở lại” [21]
Nguyễn Huy Thiệp có cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về đề tài đô thị Ông nhìn cuộc sống và con người đô thị bằng thái độ lạnh lùng, sắc lẹm Ở
đó, con người biến dạng với những giành giật, toan tính, vụ lợi, ích kỷ (Tướng
về hưu, truyện Huyền thoại phố phường) Đó là cuộc sống xô bồ tạp nham
trong Không có vua, khắc họa một đô thị thiếu vắng tình người, đầy rẫy
những giả trá Nó cũng thể hiện sự hoài nghi về lối sống, tương lai của tầng lớp thị dân
Một tác giả khác cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của
con người nơi phố thị là Hồ Anh Thái Ông cho ra mắt tập truyện Tự sự 265
ngày - câu chuyện tự kể của anh công chức Nhà nước về thời gian 265 ngày
làm việc ở cơ quan Nhà văn phản ánh quá trình một công chức bằng mọi giá ngoi lên từng nấc thang danh vọng qua bức chân dung méo mó, hài hước, xấu
xí và có phần cay nghiệt Ở đô thị vẫn còn vương lại thói tủn mủn của thời
bao cấp, và thói học đòi thời mở cửa Tiếp đó là tiểu thuyết Mười lẻ một đêm,
và SBC là săn bắt chuột Bối cảnh SBC là săn bắt chuột là một thành phố lớn
Trang 2323
đang nhộn lên chiến dịch tiêu diệt chuột Cuộc chiến giữa Chuột và Người với tất cả sự thô lậu, xấu xa hiện hữu được thể hiện bằng giọng văn giễu cợt, trào lộng, hài hước sâu cay đầy lôi cuốn
Trong khi đó, Nguyễn Việt Hà là nhà văn viết về đô thị với cái nhìn từ bên trong Ông sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nên nặng lòng với thủ đô là điều không hề khó hiểu Trước tình trạng dân cư ở thủ đô mỗi lúc một nhiều, ông càng xót xa và quý mến những con người Hà Nội thực sự Với ông, có những
kẻ ba đời ở thủ đô vẫn không thể là người Hà Nội được vì những quá khứ bất hảo của chính ông cha họ vẫn còn để lại theo cái gien tiểu thị dân lưu manh Nguyễn Việt Hà cho Hà Nội là “vùng trũng” văn hóa, nơi tiếp nhận, giao thoa văn hóa của mọi miền Hà Nội vừa lắng đọng cái tinh hoa, trong trẻo lại vừa chứa cái cặn bã, ô hợp Hà Nội như bức tranh nhiều mảng màu, bên ngoài cái đông vui náo nhiệt là dòng chảy âm thầm của sự tù túng, xấu xa Ông viết một
loạt các tác phẩm như: tập truyện ngắn Của rơi, các tiểu thuyết Cơ hội của
Chúa, Khải huyền muộn, tạp văn Con giai phố cổ
Gần đây, Đỗ Bích Thúy cũng cho ra mắt cuốn Cửa hiệu giặt là Đây là
kỷ niệm những năm đầu tiên trở thành công dân thủ đô của chính tác giả Tác giả viết: “Tôi đã có những ngày được sống như thế, ở một cái góc nhỏ bé của
Hà Nội mà cái xưa và cái nay đang còn đan xen, trộn lẫn, cùng tồn tại Đã sinh con, nuôi con, cùng gia đình chồng duy trì một cuộc sống bình yên, đã vượt qua cái cảm giác lạc lõng thấy Hà Nội chỉ là chốn dừng chân tạm thời
để đến lúc cảm thấy một Hà Nội thật thân thương ấm áp, một Hà Nội mà ở đó
có những cuộc đời bình dị được trôi đi với tận cùng vui buồn, sướng khổ Và cuốn sách này, ghi lại những câu chuyện diễn ra ở góc phố ấy Cái góc phố
Hà Nội thật dễ thương, thật đáng mến, với những cảm xúc đắm say của một người đã biết thế nào là tình yêu Hà Nội” [22]
Trang 2424
Cũng là một tác giả trẻ, Nguyễn Trương Quý có tới sáu cuốn sách viết
về đề tài đô thị (bối cảnh Hà Nội) Anh viết tản văn Tự nhiên như người Hà
Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (2008), Hà Nội là Hà Nội (2010), Xe máy tiếu ngạo (2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013) Năm 2014, tác giả ra mắt
tập truyện Dưới cột đèn rót một ấm trà Đó là cái nhìn đầy yêu thương, trăn
trở, tự hào về một không gian văn hóa – kiến trúc của thị thành
Cuối cùng, không thể bỏ qua hàng loạt sáng tác của họa sĩ – nhà văn
Đỗ Phấn Ông đã dùng con mắt hội họa, những cảm nhận tinh tế của một họa
sĩ và rung động của người yêu văn viết nên hàng loạt tác phẩm về cuộc sống,
con người đô thị - thủ đô Hà Nội như tiểu thuyết Vắng mặt, Rừng người,
Chảy qua bóng tối, Con mắt rỗng, Ruồi là Ruồi, Gần như là sống,… Không
kể hàng loạt tập truyện ngắn, tản văn của ông đã được xuất bản và đăng rải rác trên các trang web
1.3 Đề tài đô thị trong sáng tác của Đỗ Phấn
năm 1940… Công tác tại báo Tiền Phong, cụ dịch sách tiếng Trung và tiếng
Pháp Sau chuyển sang làm Tổng biên tập Nhà xuất bản Thanh Niên và chuyển cơ quan lần cuối sang Ban liên lạc đối ngoại Trung ương” Cụ từng làm cán bộ đến hàm Thứ trưởng ở Bộ Ngoại giao, tuy về hưu sớm “Mê cổ
Trang 2525
vật Say gốm Việt Cụ tự mày mò nghiên cứu và tái tạo lại những màu men gốm cổ thời kì Lý, Trần, bằng phương pháp nung đốt cổ xưa Giới sưu tập cổ vật Hà thành ngày nay nhắc đến cụ vẫn một lòng ngưỡng mộ” [14]
“Có người cha và các ông chú bộ trưởng, tướng lĩnh làm bệ đỡ hoàn hảo, Đỗ Phấn có thể tìm kiếm chức vụ nào đó không mấy khó Nhưng Y đã sống thật với chất của mình, dừng lại tìm lối riêng, làm một nghệ sỹ tự do, sống bằng nghề vẽ và viết” [13] Người cha tài năng, giàu lòng đam mê với những cổ vật văn hóa xưa cũ hẳn đã ảnh hưởng không nhỏ đến niềm yêu những cái cũ xưa của Đỗ Phấn Dù có một điều kiện tốt, ông vẫn tự lực bước vào nghệ thuật bằng đôi chân của mình, trước tiên là vẽ, sau đó là viết Cũng như ngày mới lập gia đình, từ hai bàn tay trắng, qua nhiều khó khăn, giờ đã có một cuộc sống không hề tệ: “Kia, bên trái là ngôi nhà cũ của nhà mình Tôi sinh ra và lớn lên ở đó Ông bà cụ mình đã bán nó với giá 400 cây vàng Vậy
mà khi lấy vợ ra ở riêng, tay trắng tự lập long đong ba bốn lần chuyển đổi ” [14]
Đỗ Phấn tham gia giảng dạy mỹ thuật tại khoa kiến trúc Đại học Xây dựng Hà Nội từ 1980 - 1989 Ông cầm bút vẽ khá lâu trước khi cầm bút viết
Đỗ Phấn sở hữu nhiều giải thưởng như Huy chương bạc Triển lãm Mĩ thuật toàn quốc năm 2000 (không có huy chương vàng), giải B Hội Mĩ thuật Việt Nam năm 1999 và giải B Hội Mĩ thuật Việt Nam năm 2003, giải C và tặng thưởng của Hội Mĩ thuật nhiều năm Tranh ông vẽ khá nhiều, mang lại cho nhà văn một khoản thu nhập khá như ông từng chia sẻ
Trước khi viết văn, Đỗ Phấn đã trải qua bốn, năm chức phận: “Phấn từng là một thầy giáo đạo mạo niêm nót đứng trên bục giảng Đại học Một binh nhất ôm súng nơi tiền đồn vẫn mải mê ghi chép Một họa sỹ bài bản, tìm thành công trong khó khăn chứ nhất quyết không chịu đi tắt, đón đầu Một nhà báo cá tính, trường lực giữ chuyên mục “Tản mạn hàng ngày” của báo
Trang 2626
Lao Động, bảy tám năm liền với những phát hiện vấn đề khái quát các hiện
tượng xã hội” [14] Những lăn lộn, từng trải này là một ưu thế để ông bước vào văn chương với lối viết bộc lộ những chiêm nghiệm sâu lắng một cách tưng tửng và nhiều chỗ mỉa mai, hài hước Ông viết khỏe, như một vài người bạn, người em của ông vẫn thốt lên là “đẻ sòn sòn” Ông viết nhiều thể loại:
truyện ngắn, tản văn và tiểu thuyết: Vắng mặt, Chảy qua bóng tối, Rừng
người, Con mắt rỗng, Ruồi là ruồi, Gần như là sống; tản văn Chuyện vãn trước gương, Ông ngoại hay cười; truyện ngắn Đêm tiền sử, Kiến đi đằng kiến, Thác hoa; truyện dài Dằng dặc triền sông mưa Tác phẩm nào cũng là
những bộc bạch tâm can về cuộc sống, đất và người đô thị
Về tiểu thuyết của Đỗ Phấn, Đoàn Ánh Dương nhận định: “Sẽ rất thú vị nếu đọc văn Đỗ Phấn trong (trí tưởng) những không gian đô thị còn tranh chấp, nơi vừa như muốn níu giữ một điều gì đó còn trong trẻo của xưa kia, vừa như phải vươn vào đời sống danh lợi tục tằn hiện tại” [48]
Quan điểm của ông, một nghệ sĩ rất “nghệ sĩ”, điều quan trọng nhất là
“Chơi Đi chơi” Nó phảng phất cái chất tài tử, ngông ngạo của Nguyễn Tuân ngày nào Đỗ Phấn cho rằng: “Không dễ gì biết chơi và đi chơi Đó là thước
đo sự thấu thị đời sống xã hội của người nghệ sỹ Và cả đẳng cấp của nghệ sỹ nữa ” [14] Những người quen biết với ông đều miêu tả về ông như một “gã” trai có phần bụi bụi, lạnh lạnh, luôn phớt đời đi trên chiếc xe máy trong bộ dạng như một “ông xe ôm” (có lần người ta nhầm ông là xe ôm thật), nhà chen chúc cả tranh vẽ và sách vở Ông cũng chơi đồ cổ, những món đồ không cao giá nhưng luôn độc đáo, tinh tế, có cái vẻ khác lạ Ông thích rượu, và “đã cất công mày mò đi thử rượu, đi học về rượu để đến giờ có tới ba, bốn trăm trang chép tay khổ A4 chứa đủ thứ kiến thức phong phú về đủ thứ rượu vang
ở khắp nơi” [18] Sự từng trải và thấu hiểu đời sống phố thị của ông, cũng như cách ông truyền nó vào câu chữ thật đáng ghi nhận
Trang 2727
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phấn
Với nhiều chức phận bận bịu, Đỗ Phấn vẫn chưa hài lòng Ông rẽ sang văn chương như một niềm đam mê với nghệ thuật, trong khi vẫn tiếp tục theo đuổi con đường hội họa Đây là cuộc chơi tay ngang của một người mê văn từ
bé Và ông bước vào làng văn ở cái tuổi năm mươi, khi nhiều người đã muốn nghỉ tay hưởng thú vui vườn tược
Đỗ Phấn chia sẻ, viết với ông cũng chính là vẽ Đó là lúc ông “vẽ” Hà Nội qua những con chữ Lúc ấy, Hà Nội hiện ra qua những ký ức bằng hình ảnh: “Tôi viết bắt đầu bằng hình ảnh, kết thúc cũng bằng hình ảnh Hình ảnh
làm nên cách viết của tôi” [13] Chẳng hạn, truyện dài Dằng dặc triền sông
mưa là cách ông nhớ về tuổi thơ của mình Nói như nhà văn Phạm Ngọc Tiến,
đó là “cuộc diễu binh hoành tráng về tuổi thơ thần tiên mà Đỗ Phấn là chủ nhân” “Hồi ấy, mỗi khi mượn được chiếc xe đạp, việc đầu tiên là phóng sang cầu Long Biên Bờ bãi sông Hồng, cầu Long Biên ngày ấy là sân chơi lý tưởng của những đứa trẻ sống quanh khu phố cổ Rồi khi về, được thả xe trôi theo dốc Hàng Khoai”, Đỗ Phấn kể Vì thế, những ký ức hình ảnh thân thương ấy luôn ẩn hiện trong những trang viết Nhưng chính xác hơn, với
Dằng dặc triền sông mưa, Đỗ Phấn còn viết về tuổi thơ của cả một thế hệ
những người Hà Nội sinh ra trong những năm 1950-1960 của thế kỷ trước
Hay như trong tiểu thuyết Con mắt rỗng, Đỗ Phấn viết về Hà Nội qua một thế
hệ họa sĩ nổi tiếng Ông viết bằng những ký ức hình ảnh của riêng mình” [13]
Đỗ Phấn tâm sự về nguyên nhân khiến ông quyết định dấn thân vào văn chương ở tuổi ngũ tuần: “Khi 50 tuổi tôi mới in cuốn sách đầu tiên và hay nói đùa với bạn bè rằng mình đã nhịn viết trong vòng 50 năm Thật ra niềm khao khát chữ nghĩa luôn thường trực trong tôi suốt những tháng năm tuổi trẻ Giờ mới có điều kiện thực hiện ước mơ ấy Đó là một may mắn rất lớn khi mà bề dày trải nghiệm của tôi đã kha khá Hơn nữa, văn học bây giờ đã bớt đi được
Trang 2828
khá nhiều húy kỵ ấu trĩ và đã cởi mở hơn Thử tưởng tượng nếu như chính tôi viết ra ngần ấy cuốn sách vào khoảng 20 năm trước, chắc có nhiều cuốn sẽ bị biên tập cắt bỏ cả quyển” [38]
Nhà văn Nguyễn Việt Hà đã nhận xét về sự “đẻ sòn sòn” của Đỗ Phấn như sau: “tốc độ lao động chữ của Đỗ Phấn phải nói là phi thường Bây giờ, dường như tuần nào tôi cũng “gặp” Đỗ Phấn Không phải qua những cuộc
“bia hơi phố cổ”, cũng không phải qua những bức tranh Tôi gặp Đỗ Phấn qua những bài tản văn nho nhỏ của ông trên nhiều tờ báo lớn Đều đặn và cần mẫn, Đỗ Phấn gieo vào lòng người đọc những tản văn rất “êm đềm” về một
Hà Nội cũ, của những Bia hơi vỉa hè, Leng keng tàu điện, Tiếng guốc rao
Các tác phẩm của Đỗ Phấn đã xuất bản:
Tiểu thuyết: Vắng mặt (NXB Hội Nhà văn - 2010), Rừng người (NXB Phụ nữ - 2011), Chảy qua bóng tối (NXB Trẻ - 2011), Gần như là sống (NXB Trẻ - 2013), Con mắt rỗng (NXB Văn học - 2013), Ruồi là ruồi (NXB
Trẻ - 2014)
Trang 2929
Tập truyện: Kiến đi đằng kiến và những chuyện khác (NXB Phụ Nữ - 2009), Đêm tiền sử (NXB Hội Nhà văn - 2009), Thác Hoa (2010), Dằng dặc
triền sông mưa (NXB Trẻ - 2013)
Tản văn: Chuyện vãn trước gương (NXB Hội Nhà văn - 2005), Ông
ngoại hay cười (NXB Lao động - 2011), Phượng ơi (NXB Dân Trí, 2012) Hà Nội thì không có tuyết (NXB Trẻ - 2013)
Năm 2010, tiểu thuyết đầu tay Vắng mặt của Đỗ Phấn được độc giả đón
nhận Tác phẩm lọt vào chung khảo giải thưởng Bách Việt Tiếc là sau đó giải thưởng này bị gián đoạn, không bình xét tiếp nữa Mới đây, Đỗ Phấn đã nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2014 ở hạng mục Văn xuôi cho
truyện dài Dằng dặc triền sông mưa Với một tác giả xuất thân từ họa sĩ, đây
là những kết quả đầy triển vọng cho con đường chữ nghĩa sau này
1.3.3 Những tiểu thuyết về đề tài đô thị của Đỗ Phấn
Đỗ Phấn đã ra mắt sáu tiểu thuyết trong vòng bốn năm Đây là một tần
suất lao động “phi thường” như Nguyễn Việt Hà từng ghi nhận Bởi ông đâu phải là một cây văn chuyên nghiệp, ngoài viết còn vẽ, còn nhậu, còn chơi Ngoài tiểu thuyết còn thử cả truyện ngắn, tản văn…
Khi được hỏi về tiểu thuyết, Đỗ Phấn thổ lộ chân thành: “Nói về quan niệm tiểu thuyết hình như quá sức của tôi, một người không được đào tạo lý luận về nghề viết Với tôi, đơn giản tiểu thuyết chỉ như một hành trình khám phá chiêm nghiệm cái đẹp của cuộc sống Những xấu xa bỉ ổi thấp hèn nếu có mặt trong tiểu thuyết cũng là để tôn vinh cái đẹp Câu chuyện này tôi rút ra từ công việc hội họa của mình Vẽ và viết có lẽ gặp nhau ở đấy, nhất quán ở lý tưởng thẩm mỹ Vẽ và viết với tôi có chung một đích đến là cái đẹp, sự lương thiện và có thể hiểu được” [48]
Trang 3030
Điều đặc biệt là toàn bộ tiểu thuyết của ông đều tập trung vào đề tài đô
thị Khắp những trang văn của Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối,
Gần như là sống, Con mắt rỗng, Ruồi là ruồi… là không gian góc phố, nhành
cây, triền sông và con người đô thị Một đô thị nhiều năm tuổi – Hà Nội Và chen vào đó, là dáng dấp của bao vùng đô thị ông đã đi qua, từ Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, thậm chí cả Côn Minh Trung Quốc Tâm sự về đề tài
đô thị trong trang văn của mình, Đỗ Phấn nói: “Dù tôi có xuất bản đến bao nhiêu đầu sách đi chăng nữa thì người đọc vẫn có thể hình dung rằng, cả đời,
Đỗ Phấn chỉ viết một cuốn sách duy nhất - cuốn sách về Hà Nội” [24] Lý do ư? “Đơn giản vì tôi sinh ra và lớn lên ở đô thị Thật ngạc nhiên là tôi thấy đa
số nhà văn đều sống ở đô thị mà sáng tác của họ lại không nói lên điều ấy Mảnh đất tưởng rằng rất quen thuộc với các nhà văn hóa ra lại không phải là chất liệu để làm nên tác phẩm Nhà văn đô thị đi thực tế khắp nơi để viết về những con người và vùng đất mình đi qua Tôi làm công việc ngược lại Đi nhiều nơi để viết về mảnh đất mình đã và đang sinh sống một cách có so sánh chiêm nghiệm Tôi nghĩ rằng đời sống thị dân dù quan sát ở góc độ cận cảnh nhất cũng khó mà mô tả được nếu như không có những đối sánh” [48]
Ngoài ra, một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cảm quan đô thị của
Đỗ Phấn là sự đổi mới từ nền kinh tế quan liêu tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Con người không nhường nhịn mà phải cạnh tranh để phát triển Các tầng lớp xã hội loay hoay kiếm tìm con đường của mình Trong buổi giao thời ấy, một bộ phận thị dân năng động xuất hiện làm thay đổi cơ bản diện mạo của cuộc sống đô thị Kéo theo đó là sự xô bồ, nhố nhăng, những góc khuất của xã hội Những giá trị đạo đức, lối sống cũ bị xói mòn, trong khi những giá trị mới đang hình thành lại chưa có quy chuẩn vững chắc
Mặc dù khá nhiều nhà văn để tâm đến cuộc sống hỗn độn, xô bồ thành thị, nhưng “ít người theo đuổi, tha thiết với đô thị, nhìn nhận các vấn đề của
Trang 3131
đô thị một cách thấu triệt, mổ xẻ, tiên đoán, bắt bệnh cho nó nhiệt thành, cùng kiệt như Đỗ Phấn Ở các tiểu thuyết của anh, người ta thấy một đô thị đang vỡ
ra, đang bị cày xới, sục sạo trong cuộc chiến giữa bản thể và những lai tạp
nhố nhăng Nếu như ở Vắng mặt là sự đào sâu vào bi kịch cá nhân, loay xoay
ở những vấn đề mang tính cá nhân thì ở Chảy qua bóng tối lại có sự cực đoan
khi cắt nghĩa các vấn đề của đô thị và những hệ lụy của nó với cách nhìn rất
dễ khiến những kẻ “ngụ cư chân chính” phải chạnh lòng… Còn đến Rừng
người, người ta đã thấy một đô thị - không - hẳn - là - Hà - Nội, một khái
niệm đô thị ở tầm cao hơn, đã có sự liên kết với các “đô thị vệ tinh”, các vùng nông thôn lân cận để vấn đề không còn là của một đô thị riêng lẻ nào Cùng với tiến trình mở rộng địa lý của Thủ đô, không gian tiểu thuyết của Đỗ Phấn cũng có sự mở rộng để hướng tới một Thủ đô rộng lớn hơn và cũng tượng hình hơn, để nói những vấn đề của thời đại” [42]
Tại Hội sách Thành phố vì hòa bình 2014, nói về việc viết văn, Đỗ
Phấn cho rằng đó là một hành động gìn giữ văn hóa Cũng như Bùi Xuân Phái
đã lưu giữ mái ngói tường rêu vào vĩnh cửu hội họa, thì nhà văn cần làm điều tương tự với chữ nghĩa Để văn hóa của một thị thành trầm mặc không bao giờ mất đi: “vẻ đẹp ở Hà Nội từng có và từng mất nhưng người cầm bút phải nhắc lại và làm sống dậy những giá trị, phẩm chất ấy” [15]
Một khía cạnh nữa trong những tiểu thuyết viết về Hà Nội – một đô thị nhiều năm tuổi của Đỗ Phấn là người Hà Nội Thực sự “ông không quá quan
trọng hoặc đề cao khái niệm “người Hà Nội” Với ông, “người ở Hà Nội” thì
đúng hơn Bởi vì, không có ai là người Hà Nội từ đầu Chúng ta đều từ một miền quê nào đó đến Cái ông muốn là lối văn hóa ứng xử lịch lãm của
“người ở Hà Nội”, làm sao cho nó đừng phai nhạt, lai tạp, biến tướng Ông cũng nói rất rõ rằng, quá trình đô thị hóa là tất yếu Ông lưu giữ những mái ngói tường nâu trong văn chương, không có nghĩa là ông bài trừ cái mới Đỗ
Trang 3232
Phấn “không quá tha thiết hay rên rỉ tiếc nuối khi mất đi những mái phố thâm nâu, những dãy phố cổ nhà ống mà ai ở trong đó cũng đều kêu khó, kêu khổ… Điều ông ấn tượng nhất cũng không phải là xã hội thị dân Hà Nội đang sống bây giờ, mà chính là Hà Nội ở cái thời mà ông và nhiều người đã được may mắn sống Ở đó, sự giao tiếp đã làm nên cốt cách của con người Ở đó,
sự văn minh công cộng làm người ta tử tế hơn… Đó là những giá trị sống mà bây giờ, với tư cách người cầm bút, ông muốn viết ra, muốn mọi người đọc
nó, và mong một ngày không xa, những giá trị ấy sẽ quay trở lại mảnh đất này” [13]
Tiểu kết
Tóm lại, đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn được trở đi trở lại xuyên suốt các tác phẩm Nó mang chất riêng của một thị dân, một họa sĩ
“Nếu như các nhà văn gốc Hà Nội đã làm nên những cột mốc riêng: Bảo Ninh
mang theo cái chất trai phố vào chiến trường để rồi cắm nên một cột mốc Nỗi
buồn chiến tranh theo cách của một người Hà Nội bằng sự điềm tĩnh, sự
chiêm nghiệm riết róng và xa xót; Nguyễn Việt Hà đã dựng nên một chân
dung Hà Nội đầu những năm đổi mới bằng Cơ hội của Chúa với vẻ giễu nhại
của kẻ tinh quái có con mắt nhà tiên tri, chẩn đoán, bắt bệnh như thần, thì Đỗ Phấn, tiếp tục dòng chảy ấy, anh đã dựng nên một bức chân dung lập thể của
Hà Nội những năm đầu thế kỷ XXI với những ung nhọt đã bắt đầu vỡ lở, với những hang hốc ủ bệnh nay đang bộc phát… Nhìn vào dòng chảy ấy có thể
thấy Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà là dự báo, còn bộ ba tiểu thuyết
của Đỗ Phấn là kết quả của sự dự báo ấy Người ta thấy một đô thị đang vỡ ra, đang rệu rã, bộ khung văn hóa đang bị quá tải, đang phải gồng mình gánh đỡ một cơ thể bệnh hoạn đè nặng, trì níu khiến nó đang trở nên hụt hơi vì quá
Trang 3333 sức Người ta cũng thấy những giá trị tinh thần của mảnh đất ngàn năm đang
bị xâm lấn, dồn đuổi, chiếm chỗ một cách quyết liệt và thô bạo” [41]
Trang 3434
CHƯƠNG 2 BỨC TRANH CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI ĐÔ THỊ TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN
2.1 Không gian đô thị
Trần Đình Sử khẳng định: “không có hình tượng nghệ thuật nào không
có không gian” và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” [6]
Đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn được thể hiện rất rõ nét qua không gian đặc trưng phố phường Để tìm hiểu cái nhìn của tác giả về đô thị, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu không gian nghệ thuật trong những tiểu thuyết của ông Không gian ở đây không chỉ là phông nền, mà còn là một hình tượng, một trải nghiệm, một ám ảnh về miền đất ông nặng tình yêu mến
2.1.1 Không gian đô thị cũ
Do quá trình sinh sống và hoạt động, Đỗ Phấn viết nhiều về một đô thị nghìn năm tuổi – thủ đô Hà Nội Ngoài ra, những nơi ông đã từng đặt chân, Huế, Hải Phòng, Hải Dương, Sài Gòn hay Côn Minh Trung Quốc… đều để lại dấu ấn trên trang văn Có thể hiểu ở đây, không gian đô thị cũ là không gian của thành phố hình thành từ khá lâu, trước khi nền kinh tế thị trường xâm lấn Không gian này có nhiều nét đặc trưng, những nét đẹp dịu dàng, thanh lịch Chỉ tiếc rằng, nó cũng bắt đầu bị cái ồn ào, xô bồ xâm chiếm Những đô thị cũ ở đây, giống như “vùng trũng” trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Việt
Hà, vừa là nơi hội tụ cái đẹp, vừa là nơi tù đọng những ngột ngạt xấu xa
Chân dung phố phường hiện lên trong văn Đỗ Phấn vô cùng chi tiết, tỉ
mỉ, từ góc phố cà phê, cây bàng cụt, cửa ô đầy khói đến những công viên
Trang 3535
xanh li ti lá phượng Một Hà Nội xưa cũ hiện về qua những hàng cây và mặt
hồ, qua mùi cà phê thơm nồng ngõ phố, qua làn khói thuốc của những nghệ sỹ trầm ngâm Đó là hình ảnh một đô thị đẹp, một đô thị dung chứa nhiều đường nét của làng quê thanh bình Hồ Tây như một bức tranh xinh xắn: “Mặt hồ buổi tối mờ sương tím Lốm đốm ánh đèn như sao sa hư thực chìm khuất phía
bờ bên kia Đẹp đến ngỡ ngàng” [31, tr.125] Hồ Tây không chỉ đẹp, mà còn thơm ngát mùi hương huyền bí của sen trăm cánh, loài hoa được người Hà Nội dùng để ướp trà
Tuy nhiên, nét đẹp dịu dàng, lãng mạn đó nhanh chóng trôi theo thời gian: “Tháng Sáu Nắng như đổ lửa Cây xanh trong thành phố ngày một hiếm hoi Những cây già đã chết Những cây non chưa kịp lớn” [29, tr.62] Làng hoa Ngọc Hà xưa kia với đủ loại cẩm chướng, hoa bướm, sushi vàng hay violet biến thành “một khu phố không có đường phố” “Chợ búa họp lè phè… Cấu trúc của một ngôi làng vỡ vụn hoàn toàn nhưng lại không trở nên thành phố” [32, tr.131]
Kiến trúc phố phường bắt đầu thay đổi Thành phố mọc lên một loạt những khu nhà tập thể “năm tầng vuông vức như một cục xà phòng khoét những lỗ vuông xinh xắn” [31, tr.30], chật chội, đông đúc Nguyên nhân không mấy xa lạ là: “Về nghĩa cơ học thì Hà Nội bây giờ không còn một chỗ trống nếu đem chia bình quân diện tích đất đai cho đầu người” [29, tr.92] Không chỉ có Hà Nội thay da đổi thịt: “Huế bây giờ khác xa ngày ấy Đã không còn những quãng phố trầm tư thưa thớt bóng người Cả thành phố rực
rỡ ánh đèn, nhà hàng khách sạn chi chít bên hai bờ sông Hương Chiếc cầu Tràng Tiền cong cong mấy nhịp lạc điệu lãng quên giữa nhiều cao ốc hiện đại” [32, tr.172]
Những con đường đô thị oằn mình gánh chịu lượng xe cộ đông đảo và dòng thác người từ mọi nơi tràn về Món “đặc sản” không thể thiếu của một
Trang 3636
đô thị quá đông người là cảnh tắc nghẽn quen thuộc, rác, tiếng ồn và những mùa nước ngập: “Đường phố ngập Rác rưởi lềnh bềnh Dòng nước đen ngòm Những chiếc xe máy rú ga rẽ nước mà đi như tên bắn” “Những vỏ chai cọc cạch va vào mặt tường Đám túi ni lông rách rào rào cuốn Những chiếc lốp xe cũ ngắc ngứ giữa hai bờ rãnh nước dội vào sục soặc kêu như người chết sặc Dòng sông nghìn năm không bị lấp mới là điều kì diệu” [30, tr.60] “Mùi người, mùi cống rãnh trộn lẫn mùi thức ăn trong quán nồng nặc” [30, tr.167]
Không gian đô thị cũ tràn ngập đủ mọi loại ô nhiễm Ô nhiễm mùi:
“Con kênh nước thải ngay đầu khu nhà bốc lên thứ mùi kinh tởm Mùi phế thải của mấy quận nội thành trộn lẫn với mùi của ba trường đại học liền kề” [30, tr.77] Ô nhiễm tiếng ồn: “Cửa ô ngày nào cũng tắc đường Khói Bụi Bẳn gắt Và bấm còi” [31, tr.34]
Không chỉ có dòng thác người hòa lẫn khói bụi, thành phố còn trở thành một chiếc bẫy nguy hiểm: “chiếc cột điện ở đầu hồi ngôi nhà ấy như một búi rác khổng lồ chằng chịt những dây Thỉnh thoảng chúng rơi xuống móc vào cổ những người đi đường Đã có vài người chết treo” [29, tr.86]
Suy tư trăn trở của tác giả được gửi vào những nhân vật của ông Đó là
sự bàng hoàng, hoảng hốt: “Tiên kinh ngạc về sự thay đổi quá nhanh khiến cô không còn nhận ra một nét thân thuộc nào của thành phố cũ nơi cô đã từng sinh sống và cũng từ đó ra đi” [30, tr.202] “Mình vắt óc cũng không thể tưởng tượng ra con phố Mai Hắc Đế ngày nào hiu hắt êm đềm là thế… lột xác
để trở thành một trung tâm dịch vụ mua sắm ăn chơi lè phè với lượng người qua lại luôn trong tình trạng ứ nghẹn Những góc bình lặng cuối cùng trong thành phố như con phố Mai Hắc Đế này đã bị cuốn phăng theo dòng chảy phố phường bát nháo xô bồ Nó đã giống hệt những con phố khác Nó là phố khác” [32, tr.139] Đó là sự sợ hãi, âu lo cho thành phố “của mình”: “Hắn lan
Trang 3737
man nghĩ ngợi về thành phố của mình Chẳng biết là nó đang phát triển hay lụi tàn Về một nghĩa thực dụng thì rõ ràng thành phố bây giờ đã có những biến đổi thần tốc” [32, tr.267] Và âu lo, xót xa cho cả những thành phố không phải của mình vì chúng đã từng có diện mạo riêng biệt nhưng nay đều đã mang dáng dấp tương đồng
Không gian đô thị cũ, những góc phố cổ, vùng nội thành trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn hiện lên với hình ảnh đẹp đẽ, thâm trầm trong quá khứ
Và hiện tại là ngổn ngang, là chật chội, ồn ào, đầy nguy hiểm Không gian này thấm đẫm tình cảm thiết tha, trìu mến của tác giả với vùng đất nơi ông sinh sống Ông luôn nhớ về “Hà Nội ngói nâu tường cũ trong một tổng thể cây cối êm đềm, nề nếp sinh hoạt chậm rãi khác xa với vun vút người đi và thô lỗ sắc màu như bây giờ” [38] Tuy nhiên, cũng như Nguyễn Việt Hà, tác giả hoàn toàn nhận thức được sự thay đổi của những đô thị là điều tất yếu Ông luôn mong muốn những điều tốt đẹp hơn sẽ đến với con người
2.1.2 Không gian đô thị mới
Không chỉ thể hiện những hoài niệm đầy tha thiết về đô thị cũ, Đỗ Phấn còn âu lo trước phần “đô thị đang mở rộng” – phần thành phố mới hình thành
Đô thị bắt đầu “nở ra” để dung chứa được lượng thị dân mới khổng lồ Có điều, phần “thành phố mở rộng” này thiếu hẳn cái thâm trầm, tinh tế, nhẹ nhàng của chốn phồn hoa Nó mạnh mẽ mọc lên những cao ốc, nhà nghỉ, hàng quán, và cả những xóm Ruồi, xóm Liều, thậm chí Xóm Rất Liều Tác giả từng tâm sự : “Nhiều bạn bè của tôi đến Hà Nội có cảm giác như đến một ngôi nhà
vô chủ Một quán trọ nhôm nhoam bừa bãi” [38]
Đô thị mới là hệ quả của nền kinh tế phát triển như vũ bão, là cơ hội, là miền đất hứa của những con người lam lũ thèm khát đổi vận Nhưng đô thị mới cũng là cạm bẫy, là chốn tù đọng cái ngột ngạt, đua đòi, xấu xa Nó dễ
Trang 38Sự phố hóa nhanh chóng, ồ ạt dẫn đến một kết quả: “Ngôi làng đã phố hóa một cách nhố nhăng thậm tệ Chẳng còn lấy một rặng tre, một cái giếng khơi âm thầm đom đóm vẽ vòng trên mặt bèo tổ ong Chẳng còn lấy một tàu
lá chuối tả tơi cựa mình trong gió Những ngôi nhà cao tầng dị hợm lô xô thò
ra mặt đường” [29, tr.139] “Những tụ điểm ăn chơi thâu đêm suốt sáng đã tìm sang bờ bên kia tản mát vào các xóm làng Những gánh gồng lam lũ nhếch nhác đã tràn sang bờ bên này len lỏi vào mọi ngóc ngách phố phường” [29, tr.57]
Kiến trúc của đô thị mới xoay vòng quanh những ngôi nhà trên tầng cao chót vót và những con đường tham lam chạy xuyên qua nhiều làng quê, nóng bức, ngột ngạt, bí bách, bủa vây bởi building, điều hòa, bê tông Đô thị mới sặc lên mùi của những công trình mới, những nền văn hóa mới Bắt đầu là những “phòng nghỉ rộng rãi có cửa sổ lớn phía sau nhìn ra cánh đồng… Tuy nhiên mùi nước hoa nhà nghỉ nồng gắt thì vẫn không thể lẫn vào đâu được” [32, tr.188] Đó là “mùi của những nhà nghỉ rẻ tiền bên kia sông Nói trắng
Trang 3939
phớ ra là mùi đĩ điếm Không thể nhầm lẫn với bất cứ mùi gì Vừa hấp dẫn vừa kinh sợ” Tiếp đến là không gian quán karaoke: “ánh sáng nhờ nhờ của chiếc bóng đèn trần tiết kiệm điện và cũng tiết kiệm luôn cả kiểu dáng… Chiếc gương lớn ố vàng chỉ là vật trang trí cho thêm phần đông đúc” [31, tr.140] Nhân vật của ông gọi đó là không gian của một nền “công nghiệp mại dâm” [29, tr.211]
Hòa lẫn những cư dân mới là tiếng ồn, là rác, là ruồi, và đủ thứ mùi của cống rãnh, nước thải: “Cả xóm là một đống rác khổng lồ Rác là thứ tài sản chung đúng như định nghĩa không cần bàn cãi về sở hữu Mọi người cùng góp sức vun đắp cho nó mỗi ngày một dồi dào” [30, tr.153] “Những vạt ruồi đen đặc bao quanh những cồn rác cao như núi Núi ruồi” [35, tr.137] Những âm thanh của xe chạy, của còi, của công trường xây dựng, của loa phường “chĩa thẳng” vào nhà người dân một cách “miễn phí” Những ồn ào phố thị cắt vụn cuộc sống yên bình của con người
Tác giả băn khoăn: “Cái phần mới thêm ra của thành phố này có đủ tất
cả những bề bộn phố phường nhưng lại thiếu một thứ quan trọng nhất Thứ làm nên diện mạo thành phố Đó là phố phường” Nó là phố mà lại thiếu chất
“phố” Không có gì khó hiểu khi “vài chục nóc nhà ngói cấp bốn với những con người đa phần không rõ gốc tích” bỗng nhiên trở thành một phường… Ấy
là vì “Thành phố tự nó đến với mình Không mất công mất tiền bươn chải chạy vạy” “Gọi là phố phường cho hợp với quy định hành chính Thực ra chưa một con phố nào có tên… Trong xóm liều cũng chia ra thành Xóm Liều
1, Xóm Liều 2 là nơi ở của những cư dân cũ mặt Xóm Rất Liều bao gồm những người mới đến” [30, tr.182]
Trong không gian phố mới và rất mới ấy, đôi khi vẫn rơi rớt lại chút âm hưởng của làng quê: “Phường chưa có phố Trong phường còn nhiều ruộng
Trang 4040
đất cấy trồng và ao hồ chăn thả Vẫn nhìn thấy vài guốc bò mẹ lẻo khoẻo lắc
lư dẫn bê con đi lại thênh thang trong phường” [31, tr.72]
Lý giải cho những chú tâm đặc biệt của mình với phần thành phố đang
mở rộng, Đỗ Phấn chia sẻ: “Nói ra điều này chắc bạn buồn cười, tôi yêu Hà Nội vì những gì nhôm nhoam vô lối của nó Không có những nhôm nhoam ấy
e rằng tôi cũng mất luôn hai cảm giác phẫn nộ và xót xa” [38]
Nói chung, không gian đô thị mới hiện lên trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn với nhiều hình ảnh xô bồ, bụi bặm, nồng gắt, đầy e ngại Nó vừa xâm lấn thành phố, vừa phá hỏng mô hình xóm làng nguyên sơ Nó là những
“thành phố dự bị”, một sản phẩm lai tạo với nhiều đặc tính khó lường Ở không gian đó, con người chật vật làm lụng, quằn quại ăn chơi, mê man ước vọng chứ không “sống” cuộc đời của một thị dân bình thường Đây là một không gian đầy bất trắc, hiểm nguy và tạm bợ
2.1.3 Không gian giáp ranh
Ngoài việc khắc họa không gian những đô thị cũ và mới, Đỗ Phấn còn dành nhiều bút mực cho không gian giáp ranh Khi được hỏi về sự quan tâm đặc biệt tới vùng đất ngoài đê sông Hồng với những thân phận bên lề thành phố, Đỗ Phấn trả lời rằng: “Thành phố nào cũng có những vùng đất nhá nhem bên lề Chẳng cứ ở ta mà Mỹ cũng vậy Như Bronx và Queens ở cạnh New York… Ở đấy có thể nhìn thấy rất rõ sự vận động của một đô thị đang hình thành Có một điều rất lạ là con người ở đấy gần như mãi mãi như thế cho dù thành phố bên trong có nhiều thay đổi Hoặc là những người đã thay đổi thì không còn ở đấy nữa cũng có khi?” [42]
Ba không gian điển hình ở đây là không gian dòng sông, cây cầu và con
đê Như chính ông đã viết, dòng sông chảy qua thành phố nhưng không phải
là thành phố Những cây cầu và con đê cũng vậy, nó luôn nằm ở rìa đô thị, vừa bị đô thị xâm chiếm, vừa tỏa ra sức mạnh tự nhiên xóa sạch mọi ồn ào,