Đề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu HuệĐề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THỊ THU HUỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Thái Nguyên, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-HOÀNG THỊ PHƯƠNG
ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn khoa học : TS NGUYỄN THỊ THANH NGÂN
Thái Nguyên, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn
của TS Nguyễn Thị Thanh Ngân, kết quả nêu trong luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Hoàng Thị Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng
dẫn T.S Nguyễn Thị Thanh Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong
suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả
Hoàng Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Về đề tài đô thị 2
2.2 Về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 5
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ VÀI NÉT VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ 11
1.1 Đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến xã hội Việt Nam 11
1.1.1 Khái niệm đô thị và đô thị hóa 11
1.1.2 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 12
1.1.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống xã hội Việt Nam 13
1.2 Văn học đô thị Việt Nam 15
1.2.1 Văn học đô thị 15
1.2.2 Văn học đô thị ở Việt Nam trước 1986 16
1.2.3 Văn học đô thị Việt Nam sau 1986 19
1.3 Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 21
1.3.1 Giới thuyết về truyện ngắn 21
1.3.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Thu Huệ 22
Trang 61.3.2.1 Cuộc đời 22
1.3.2.2.Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong dòng chảy truyện ngắn nữ đương đại 23
Chương 2 BỨC TRANH ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI ĐÔ THỊ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 27
2.1 Bức tranh đời sống đô thị 27
2.1.1 Đời sống gia đình với những quan hệ đạo đức truyền thống bị phá vỡ 27
2.1.2 Đời sống xã hội phức tạp, xô bồ với nhiều tệ nạn tiêu cực 34
2.2 Con người đô thị 38
2.2.1 Con người cô đơn 38
2.2.2 Con người lạnh lùng, vô cảm 42
2.2.3 Con người tha hóa, biến chất 45
2.2.4 Con người với khát khao hạnh phúc 48
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 52
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 52
3.1.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 51
3.1.2 Miêu tả nhân vật qua hành động 56
3.1.3 Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ 58
3.1.3.1 Ngôn ngữ độc thoại 58
3.1.3.2 Ngôn ngữ đối thoại 61
3.2 Không gian- thời gian nghệ thuật nghệ thuật 64
3.2.1 Không gian nghệ thuật 64
3.2.1.1 Không gian gia đình 64
3.2.1.2 Không gian căn phòng 67
3.2.1.3 Không gian tâm tưởng 68
3.2.2 Thời gian nghệ thuật 70
3.2.2.1 Thời gian tuyến tính 71
Trang 73.2.2.2 Thời gian đồng hiện 73
3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 75
3.3.1 Ngôn ngữ đời thường vừa giản dị vừa sắc sảo, gai góc 76
3.3.2 Ngôn ngữ đằm thắm dịu dàng 78
3.4 Giọng điệu 80
3.4.1 Giọng dửng dưng, lạnh lùng 81
3.4.2 Giọng mỉa mai, châm biếm 82
3.4.3 Giọng phân tích, chiêm nghiệm, triết lý 84
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sau năm 1986, đất nước ta bước vào thời kì đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam cũng có những thay đổi lớn lao Cùng với sự thay đổi của đời sống kinh tế xã hội, văn học Việt Nam cũng có bước chuyển mình mạnh mẽ Văn học giai đoạn này đã bắt đầu gặt hái được nhiều thành tựu đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Có thể nói, đây được coi là mùa vàng bội thu của thể loại truyện ngắn Bên cạnh những cây bút kỳ cựu như: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp… sự xuất hiện của nhiều cây bút trẻ như: Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo đã đem đến cho nền văn học luồng sinh khí mới Trong đó phải kể đến cây bút nữ giàu tài năng Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ xuất hiện với tư cách là một nhà văn nữ có cá tính
độc đáo và cách viết mới lạ Thu Huệ quan niệm rằng: Văn chương chưa bao
giờ là những điều thần bí, chỉ đơn giản đó là một phần của cuộc sống mà những
ai trót mang nặng kiếp người đều lấy đó để cắt bớt đi gánh nặng đa mang Vì
vậy ngay từ khi mới xuất hiện, truyện ngắn của Thu Huệ đã hấp dẫn bạn đọc vì giàu chất đời, với cách viết tả chân sắc sảo Chất đời ấy đã truyền cảm hứng mãnh liệt để chuyển thể nhiều truyện ngắn thành kịch bản phim, và từ phim ảnh, độc giả quay trở lại để đón nhận những đứa con tinh thần của nhà văn từ những góc nhìn mới mẻ, thú vị hơn Chính vì vậy, Thu Huệ nhanh chóng chiếm được nhiều cảm tình sâu sắc của đông đảo độc giả trong cả nước
1.2 Đặc biệt, bước vào thời kì đổi mới, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã tác động mạnh mẽ đến kinh tế- văn hóa, xã hội Việt Nam Đời sống đô thị đặt ra nhiều vấn đề nóng hổi, tích cực có mà tiêu cực, tệ nạn nhức nhối cũng không thiếu Đô thị trở thành miền đất hứa để con người thực hiện khát vọng đổi
Trang 9đời, là những mảnh đất phồn hoa nơi hứa hẹn cuộc sống văn minh hiện, đại Tuy nhiên, những mất mát hư hao, những tệ nạn, tiêu cực, những mặt trái, góc khuất của nền kinh tế thị trường len lỏi vào từng ngóc nghách, từng ra đình hiện đại
Vì thế, hơn bao giờ hết đô thị cũng trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà văn tài năng Đây trở thành đề tài quen thuộc xuất hiện trong nhiều sáng tác của các nhà văn đương đại như Nguyễn Huy Thiệp,
Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ Theo đó, văn học đô thị cũng được giới nghiên cứu phê bình đặc biệt quan tâm
Vì những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn Đề tài đô thị trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ làm đối tượng nghiên cứu, với mong muốn chỉ ra
những đóng góp mới mẻ của Thu Huệ về đề tài đô thị, đồng thời thấy được tài năng, phong cách nghệ thuật của tác giả trong nền văn học đương đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về đề tài đô thị trong văn học Việt Nam đương đại
Sau năm 1986, văn học đô thị đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu phê bình văn học Đây trở thành đề tài trong nhiều cuộc hội thảo khoa học cũng như nhiều công trình nghiên cứu Chúng tôi xin được điểm qua một số ý kiến, công trình như sau:
Trong cuộc thảo luận về văn học đô thị do báo điện tử Người đô thị tổ
chức, tác giả Đỗ Lai Thúy cho rằng: “tiểu thuyết đô thị Việt Nam còn ít về đề tài
đô thị, nếu có thì đôi khi đô thị thường được nhìn bằng sự hoài niệm nông thôn Bởi vậy, tính đô thị của nó chủ yếu biểu hiện ở phương diện thể loại” Nhà văn Nguyễn Việt Hà cũng nhận xét: “chưa thấy cuốn tiểu thuyết dài nào viết về chuyện đô thị của giới viết trẻ mà thấy hay và đáng nể” Cùng quan
điểm này, tác giả Mai Anh Tuấn cũng khẳng định: “văn học đô thị Việt Nam
xuất hiện từ khi đô thị xuất hiện tầng lớp trung lưu đô thị và tầng lớp tư sản nội địa Tức là khi xuất hiện hai sự đối kháng cả về mặt địa chính trị và địa văn hóa
Trang 10với tầng lớp nông dân” Một cảm thức đô thị quan trọng được ông nhắc tới: “Sự
cô đơn của con người, khi viết về điều đó thì văn học đô thị hiện đại đã chạm sâu vào con người đô thị” Với tác giả Phó Đức Tùng: “Đô thị Việt Nam không
có lõi, và khi không có lõi, tính hiện đại trong văn học đô thị của Việt Nam chỉ
là tính hiện đại bắt chước, chưa phải là tính đô thị”
Như vậy, bàn về văn học đô thị đang trở thành một chủ đề nóng của nhiều các nhà chuyên môn và bạn yêu văn chương Các ý kiến đánh giá đã góp phần quan trọng trong việc nhìn nhận đúng về đặc điểm, tình hình văn học đô thị đương đại Các tác giả đều chỉ ra rằng, văn học đô thị ở nước ta chưa thực sự phát triển, ít nhiều vẫn ảnh hưởng của văn hóa nông thôn Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định, văn học đô thị hiện đại đã bắt đầu nói nhiều hơn về hình ảnh con người cô đơn, đây được coi là một trong những vấn
đề nổi cộm khi viết về con người đô thị thời hiện đại
Bên cạnh đó còn có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về vấn đề này
Tác giả Lê Hương Thủy trong bài viết: Truyện ngắn đương đại về đề tài đô thị đăng trên Tạp chí văn nghệ quân đội ngày 10/12/2012 đã chỉ ra “đời sống đô
thị đã góp phần tạo nên những thay đổi trong đời sống văn hoạc Việt Nam đương đại” Theo bài viết này, hiện thực đời sống đô thị được phản ánh “không chỉ là hình ảnh hào nhoáng, sang trọng, lịnh lãm mà còn là những góc khuất, những xáo trộn trong đời sống và tâm hồn con người” Tác giả cũng khẳng định
con người cô đơn, con người cá nhân là một dạng thức và tâm thái của người đô thị Đây cũng là quan niệm mới mẻ về con người của các nhà văn đương đại
Tác giả Đặng Thái Hà trong bài viết: Vấn đề sinh thái- đô thị trong văn
xuôi Việt Nam thời đổi mới đăng trên Tạp chí văn nghệ quân đội ngày
03/08/2005 cũng đề cập đến vấn đề đô thị trong sáng tác của nhiều nhà văn
đương đại Bài viết đã nói đến một vân đề nhức nhối: “đô thị hóa hay là sự tuyệt
giao với thiên nhiên” Chính đô thị hóa là nguy cơ hủy hoại nghiêm trọng môi
Trang 11trường sống của con người Đây thực sự là hệ lụy tiêu cực đáng báo động của quá trình đô thị hóa hiện nay
Còn tác giả Thái Thị Hồng Vinh trong luận văn Vấn đề đô thị trong tiểu
thuyết Việt Nam sau 1986 lại khai thác khá toàn diện về những vấn đề đô thị
được đặt ra trong tiểu thuyết Việt Nam sau thời kì đổi mới Theo đó, đô thị hiện lên là biểu hiện của cuộc sống văn minh, hiện đại, đô thị gắn liền với ước vọng đổi đời của con người Tuy nhiên, luận văn cũng nhận định môi trường đô thị dễ làm con người tha hóa, sống vô cảm, thờ ơ…
Với đề tài Cảm quan đô thị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tác giả
Đỗ Thanh Hương đã trình bày cơ sở hình thành cảm quan đô thị cũng như những phương diện cơ bản của cảm quan đô thị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Theo đó, tác giả nhấn mạnh đến không gian, thời gian và con người
đô thị Luận văn đi sâu vào hình ảnh con người sùng bái vật chất, chạy theo văn minh; con người cô đơn và sự chuyển dịch từ con người gia đình sang con người
cá nhân bản thể
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án khác như: Đề tài đô thị trong tiểu
thuyết Đỗ Phấn của tác giả Nguyễn Thị Hương Tác giả luận văn đã phân tích
bức tranh cuộc sống và con người đô thị trong tiểu thuyết Đỗ Phấn Tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới không gian- thời gian, lối sống cũng như đời sống nội tâm
của con người đô thị Với đề tài Cảm thức đô thị trong đại tiểu thuyết của
Nguyễn Việt Hà, tác giả Trần Việt Hà cũng chỉ ra những xung đột giá trị và
không gian sống trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Các công trình nghiên cứu đều chỉ những đặc điểm cũng như những nét riêng, độc đáo trong các sáng tác viết về đề tài đô thị của các tác giả đương đại
Trang 122.2 Về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ được coi là cây bút tài năng của nền văn xuôi Việt Nam đương đại Với lối viết tả chân sắc sảo, ngay từ khi mới xuất hiện nhà văn
đã tạo được ấn tượng mạnh trong lòng độc giả Tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng vì thế thu hút được sự quan tâm của giới chuyên môn Đã có rất nhiều những bài viết, bài nghiên cứu phê bình, những luận văn, luận án lấy truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ làm đối tượng nghiên cứu Có thể kể đến một số những bài viết, công trình nghiên cứu sau đây:
Tác giả Lý Hoài Thu đã nhận ra nét riêng trong một số truyện ngắn dự thi
của Thu Huệ: “những cuộc săn đuổi, tìm kiếm đích thực của tình yêu dường như
được nâng lên để đẩy đến tận cùng của ý đồ” [43] Đây được coi là một phát
hiện sâu sắc và lí thú về những đề tài chính trong các sáng tác của Thu Huệ: đề
tài tình yêu và hạnh phúc gia đình Còn tác giả Hồ Phương thì đánh giá : “Trong
các tác giả trẻ, Thu Huệ là cây bút hết sức sắc sảo Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn ít tuổi mà Huệ lại lọc lõi thế Nó như con mụ phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình Ruột gan mình có gì hình như nó cũng biết cả” [34] Tác
giả Kim Dung khi đánh giá về truyện ngắn của Thu Huệ thì cho rằng: “Truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt – vừa “bụi bặm” trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn của chị vừa táo bạo vừa thanh khiết Một cái gì đó thuần nhất, không đơn giản thậm chí có khi còn đối chọi nhau trong văn Nguyễn Thị Thu Huệ” [4] Về văn phong của Nguyễn Thị Thu Huệ, Đoàn Hương ghi nhận:
“Huệ lại có lối viết văn như bị “lên đồng” Trong truyện ngắn của mình không
phải là cô “kể” cho chúng ta nghe mà là cô “lôi” chúng ta đi theo nhân vật Đó
là phong cách độc đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ” [20] Còn tác giả Bùi Việt
Thắng nhận xét : “Truyện ngắn Thu Huệ hấp dẫn rộng rãi người đọc trước hết
vì giàu chất đời” và “những truyện ngắn hay của Thu Huệ là nhờ người viết biết bứt lên được trên cái có thực đến tận cùng để tìm tòi cái gì đó cao hơn con người, đó là đời sống tâm hồn vốn không rõ ràng, rành mạch, vốn bí ẩn khó giải
Trang 13thích bằng lý trí” [39] Nhìn nhận Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn nữ “độc đáo
và tài hoa”, Hồ Sỹ Vịnh đã tìm hiểu truyện ngắn của Thu Huệ trên bình diện thi
pháp và chỉ ra rằng: “Nhà văn này đã vượt ra ngoài phương thức miêu tả vừa
thực, vừa hư, vừa trần thế, vừa ảo mộng, chuyện hiện tại, chuyện dĩ vãng nhằm tạo dựng một cuộc sống có dung tích, khai thác chiều sâu những góc khuất uẩn khúc “thế giới bên trong” của con người” [48]
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong bài viết Báo cáo giải thưởng Hội nhà
văn Việt Nam 2012 đã ghi nhận “Thành phố đi vắng đã thực sự làm đầy thêm hồ
sơ sáng tạo truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ và đặt chị vào vị trí những nhà văn Việt Nam đương đại viết truyện ngắn tiêu biểu” [53] Gần đây
nhất, nhà văn Nhật Tuấn trong bài viết Một thành tựu văn xuôi hiện đại nhân
đọc Thành phố đi vắng đã nhận thấy: “Thành phố đi vắng thực sự rất đáng ghi
nhận như một tín hiệu đáng mừng, một thành tựu mới trong văn xuôi hiện đại”
[46]
Các nhà nghiên cứu đều chỉ ra Nguyễn Thị Huệ là cây bút viết truyện ngắn sắc sảo, có khả năng nắm bắt phản ánh những vấn đề nóng bỏng, phức tạp của đời sống đương đại bằng một chất giọng riêng vừa sắc sảo, bụi bặm vừa trữ tình đằm thắm Chính điều này đã tạo nên phong cách nghệ thuật riêng của Thu Huệ, đồng thời tạo nên sức hấp dẫn thú vị trong các truyện ngắn của chị
Bên cạnh đó còn có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ Luận văn Cảm thức đô thị trong truyện ngắn Việt Nam
đương đại của tác giả Nguyễn Đình Doanh cũng chỉ ra bức tranh đời sống và
con người trong truyện ngắn của qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ Đó là đời sống xô bồ, hỗn tạp, sự đảo lộn các giá trị,
xu hướng sùng ngoại, chạy theo lối sống phương Tây Luận văn cũng đề cập đến hình ảnh con người tha hóa, biến chất, thực dụng và cô đơn trong đời sống đô thị
Trang 14hiện đại Mỗi nhà văn khi tiếp cận đề tài đô thị, vừa có những điểm tương đồng, đồng thời vừa tạo cho mình những dấu ấn riêng
Tác giả Trịnh Thị Hiệp trong đề tài: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ cũng trình bày khá đầy đủ về những đặc điểm nội dung và nghệ thuật
trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Còn Vũ Thị Tố Nga ở đề tài: Quan
niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã
xem xét một cách khá toàn diện về các truyện ngắn của Thu Huệ và chỉ ra: “tư
duy hướng nội là một đặc điểm định tính đã phần nào chi phối các phương thức diễn đạt Nhiều hình thức nghệ thuật đã được Thu Huệ khéo léo đan cài và sử dụng phù hợp trong việc biểu đạt tâm trạng – đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật Bằng lối viết hết mình đến cạn kiệt chúng ta thấy được nỗi say đắm của chị với cuộc đời và con người” [28]
Ngoài ra còn có luận văn: Nhân vật nữ trong truyện ngắn: Võ Thị Hảo,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Nguyễn Thị Nhuận; đề tài: Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại: Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Chu
Thị Hiền… Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện về đề tài đô thị trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
Từ những đánh giá gợi mở của các công trình nghiên cứu trên đây, chúng
tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: Đề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 153.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những tài liệu khoa học đã công bố về tác phẩm và tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi muốn đi sâu khai thác đề tài đô thị trong truyện ngắn của Thu Huệ trên cả hai phương diện nộ dung và nghệ thuật biểu hiện Từ đó khẳng định tài năng và phong cách độc đáo và cả những đóng góp của nữ nhà văn trong nền văn học đương đại khi viết về đề tài này
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài: khái niệm đô thị; đô thị hóa; quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và tác động của nó tới văn hóa xã hội; đề tài đô thị trong Văn học Việt Nam …
Thứ hai: Khảo sát đề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ở các khía cạnh cụ thể: cuộc sống đô thị, con người đô thị
Thứ ba: Tập trung khai thác các đặc sắc nghệ thuật của nhà văn trong các truyện ngắn về đề tài đô thị
Thứ tư: Từ đó chỉ ra những đóng góp mới mẻ ở đề tài đô thị của tác giả và thấy được phong cách nghệ thuật, vị trí của nhà văn trong văn đàn đương đại
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn áp dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp liên ngành
Trang 16Các phương pháp nghiên cứu trên không tách rời nhau mà tương tác, bổ sung cho nhau trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát đề tài đô thị trong các truyện ngắn thuộc các tập truyện sau:
- Cát đợi ( Nhà xuất bản Hà Nội – 1992)
- Hậu Thiên Đường ( Nhà xuất bản Hội Nhà văn – 1993)
- Phù thủy (Nhà xuất bản Văn học – 1995)
- 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ( Nhà xuất bản Hội Nhà văn – 2001)
- Nào, ta cùng lãng quên (Nhà xuất bản Hội Nhà văn – 2003)
- 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ( Nhà xuất bản Văn học – 2006)
- Thành phố đi vắng ( Nhà xuất bản Trẻ - 2012)
6 Đóng góp của luận văn
Về lý luận: Luận văn đã làm sáng tỏ đề tài đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện.Từ đó khẳng định được tài năng và phong cách nghệ thuật cũng như đóng góp của nhà văn khi viết về đề tài này
Về thực tiễn: Luận văn cũng là một tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về Nguyễn Thị Thu Huệ đặc biệt là về đề tài đô thị
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Đề tài đô thị trong văn học Việt Nam và vài nét về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 17Chương 2 Bức tranh cuộc sống và con người đô thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện đề tài đô thị thị trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 18Chương 1
ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ VÀI NÉT VỀ
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ 1.1 Đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến xã hội Việt Nam
1.1.1 Khái niệm đô thị và đô thị hóa
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Đô thị là một không gian cư trú
của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế
phi nông nghiệp” [49] Còn theo Từ điển Tiếng Việt, đô thị là “nơi dân cư đông
đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn” [33, tr 332] Trong Giáo trình quy hoạch đô thị, Đại học Kiến trúc Hà Nội
có viết: “ Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp,
sống và làm việc theo kiểu thành thị”
Như vậy, đô thị có thể hiểu là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; thương mại, công nghiệp và dịch vụ phát triển,
có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, hoặc một vùng miền, một tỉnh, hay một huyện
Đô thị hóa là một quá trình phát triển kinh tế- xã hội, mà biểu hiện của nó là
sự tăng nhanh về số lượng và quy mô các đô thị, dân cư tập trung đông tại các thành phố, đô thị, lối sống thành thị cũng càng được phổ biến rộng rãi
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, nếu tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực thì đó là mức độ đô thị hóa Còn nếu tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu
tố trên theo thời gian người ta gọi là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển
Trang 191.1.2 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của tất cả các nước phát triển trên thế giới Đặc biệt khi nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng nâng cao thì quá trình
đô thị hóa càng phát triển Ở nước ta, do đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp nên quá trình đô thị hóa diễn ra còn chậm và chưa đồng đều giữa các vùng miền trên
vẫn còn lưu truyền câu ca: Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến Tuy nhiên trong
suốt chiều dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, đô thị nước ta chưa thực
sự phát triển Các đô thị thời đó chủ yếu thực hiện chức năng chính trị, văn hóa hơn là phát triển kinh tế
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX do ảnh hưởng của quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều đô thị cũng được hình thành như Hà Nội, Hải
Phòng, Nam Định… Lối sống thị dân Phương Tây bắt đầu du nhập vào Việt
Nam có tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội Bộ mặt đô thị thời kì này cũng có nhiều thay đổi so với thời kì phong kiến Tuy nhiên, hệ thống đô thị bấy giờ vẫn nhỏ, lẻ Chức năng chủ yếu vẫn là hành chính, quân sự, kinh tế chưa thực sự phát triển
Từ năm 1945 đến năm 1954, quá trình đô thị hoá vẫn diễn ra chậm, các đô thị không có sự thay đổi nhiều Đây là thời kì chúng ta tiến hành cuộc trường kì
Trang 20kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng gian khổ Do hoàn cảnh chiến tranh nên kinh tế xã hội kém phát triển Cũng vì thế quá trình đô thị hóa không phát triển
Từ năm 1954 đến năm 1975 đô thị phát triển theo hai xu hướng khác nhau:
Ớ miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã dùng đô thị hoá như một biện pháp để dồn dân phục vụ chiến tranh Vì thế quá trình đô thị hóa diễn ra ở đây khá phức tạp và có nhiều biểu hiện tiêu cực Còn ở miền Bắc, đô thị hóa gắn liền với quá trình xây dựng XHCN, nhưng từ 1965 đến 1972, các đô thị bị chiến tranh phá hoại, quá trình đô thị hoá chững lại Do đế quốc Mĩ leo thang bắn phá Miền Bắc nên nhiều khu đô thị bị ném bom thiệt hại nặng nề nhất là thủ đô Hà Nội
Từ năm 1975 đến nay, quá trình đô thị hóa có chuyển biến khá tích cực Đặc biệt từ sau năm 1986, đất nước ta bước vào thời kì đổi mới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng
đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong
đó vừa có những mặt tích cực, song cũng không tránh được những hệ lụy tiêu cực
Có thể nói, các đô thị ở nước ta chủ yếu là đô thị vừa và nhỏ, ít nhiều vẫn ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp Đây cũng là đặc điểm nổi bật của quá trình
đô thị hóa ở nước ta, vừa có sự giao thoa giữa văn hóa làng xã và văn hóa phố thị
1.1.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống xã hội Việt Nam
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế- xã hội- văn hóa Việt Nam, tích cực có mà hệ lụy tiêu cực cũng nhiều
Quá trình đô thị hóa đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển Đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư Các đô thị không
Trang 21chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài Đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Theo
đó, diện mạo kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện Xã hội ngày càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Đặc biệt, trình độ dân trí cũng được nâng cao, con người không ngừng được mở rộng giao lưu văn hóa với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt Đó thực sự là những thành tựu đáng tự hào mà Đảng và Nhà nước ta đã làm được
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng cũng gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển đến thành phố Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng gây nguy cơ mất an toàn trật tự xã hội… Đặc biệt, đô thị hóa tác động trực tiếp đến văn hóa truyền thống, làm thay đổi lối sống đạo đức của người Việt Con người, nhất là con người ở đô thị có xu hướng sùng ngoại, chạy theo lối sống Phương Tây, đề cao giá trị vật, hình thành lối sống, lối suy nghĩ thực dụng, bất chấp nền tảng đạo đức, luân lí truyền thống của dân tộc Đứng trước vòng xoáy của tiền tài, danh vọng, trước sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường nhiều người đã không giữ được nhân cách của mình Vậy nên, hiện tượng băng hoại về mặt đạo đức ngày càng nhiều, con người trượt dài trên con đường tha hóa, biến chất vì cám dỗ vật chất Chính điều đó đẩy con người rơi vào bi kịch đau đớn không lối thoát Đó cũng là thực trạng cay đắng, là những
gam màu xám, những góc khuất của quá trình đô thị hóa
Trang 221.2 Văn học đô thị Việt Nam
1.2.1 Văn học đô thị
Ỏ nước ta, trong suốt nghìn năm phong kiến, do ảnh hưởng của tư tưởng
Nho giáo nên văn học mang nặng tính giáo lí, đạo đức Với quan niệm “thơ dĩ
ngôn chí” (dùng thơ văn để tỏ chí, tỏ lòng), “văn dĩ tải đạo” (lấy văn chương để
truyền dạy đạo đức), thơ văn trở thành công cụ đắc lực để truyền dạy tư tưởng, đạo lí Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng bày tỏ quan niệm văn chương của
mình: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng
tà” Nhà văn lúc này cũng thường là những nhà Nho, những bậc trí thức sinh ra
từ “cửa Khổng sân Trình” như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du Vì thế có thể gọi đây là văn học cung đình của tầng lớp vua quan trong xã hội phong kiến xưa
Là một nước nông nghiệp, luôn tự hào bởi nền văn minh lúa nước nên văn học Việt Nam luôn hướng về nông thôn, sinh ra và ảnh hưởng chi phối của nền văn hóa này Ở Việt Nam tuy không có dòng văn học được đặt tên cụ thể viết về nông thôn nhưng đề tài nông thôn là đề tài quen thuộc trong văn học Ngay từ thời trung đại, bên cạnh dòng văn học Cung đình, vẫn xuất hiện những tác phẩm viết về nông thôn Nguyễn Khuyến là một minh chứng cụ thể Ông được mệnh
danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” Bức tranh đời sống của nông thôn
Việt Nam được tái hiện sinh động giàu xúc cảm trong thơ Nguyễn Khuyến Đặc biệt là từ những năm ba mươi của thế kỉ hai mươi trở đi đề tài nông thôn đã trở
đi trở lại trong nhiều sáng tác làm nên tên tuổi cho nhiều nhà văn lớn như: Nam Cao, Ngô Tất Tố, Kim Lân Nguyễn Thi… Cho nên, dù không được gọi bằng một cái tên chính danh, nhưng rõ ràng, dòng văn học viết về nông thôn đã tồn tại
và gặt hái khá nhiều thành công
Vậy cần phải hiểu khái niệm văn học đô thị như thế nào Theo tác giả Đoàn
Ánh Dương: "Văn học về đô thị tức văn học lấy đô thị làm đề tài, cái đô thị có
Trang 23trước, đô thị là một thực thể, và văn học thể hiện nó trong sáng tác Văn học của
đô thị xác định tính chất đô thị của nó, làm cho nó khác với văn học về nông thôn, miền núi chẳng hạn Tính đô thị rất quan trọng, làm nên phẩm chất của văn học đô thị" [5] Như vậy, có thể hiểu văn học đô thị là văn học viết về đô thị
và có tính đô thị, ở đây cụ thể là nói về tính hiện đại, dân chủ trong đề tài và
cách thức tiếp cận với đề tài ấy Còn đề tài đô thị, được hiểu “như một phạm vi
hiện thực đô thị được các tác giả nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm” Bên cạnh đó, sự định vị nhà văn trong không gian đô thị cũng rất quan
trọng, nó quyết định đến góc nhìn và chất đô thị thực sự cuả tác phẩm Cũng
theo tác giả Đoàn Ánh Dương: "Định vị nhà văn trong không gian đô thị là cần
thiết Nhà văn ở trong đô thị, và quan trọng hơn, có ý thức trở thành đô thị, mới tạo nên văn học đô thị đích thực Ở ngoài đô thị khó có được cảm quan đô thị, trong khi thuộc về đô thị nhà văn vẫn có thể sáng tạo ở chủ đề khác" [5] Như
vậy có thể nói cơ sở để xác định một tác phẩm văn học đô thị là: cuộc sống người viết; cuộc sống, con người đô thị được miêu tả và tính hiện đại và dân chủ Tuy nhiên không phải một tác phẩm cụ thể nào cũng hội tụ đầy đủ các yếu
tố đó
1.2.2 Văn học đô thị ở Việt Nam trước 1986
Sang đầu thế kỉ XX, quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho cơ cấu xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc Một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị mọc lên ở nhiều nơi, xã hội xuất hiện nhiều giai cấp tầng lớp mới như tư sản, trí thức tiểu tư sản Văn hóa Việt Nam bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây đặc biệt là văn hóa Pháp Chữ quốc ngữ xuất hiện, dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm trong nhiều lĩnh vực Những nhân tố ấy
đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn học đô thị Trong những năm đầu còn nhiều bỡ ngỡ, tuy chưa gặt hái được nhiều thành công nhưng văn học
đô thị thời kì này cũng đã có một số tác giả, tác phẩm gây được tiếng vang như
Trang 24Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, hay các tác phẩm viết về đô thị Nam Bộ của
Hồ Biểu Chánh…
Sang những năm 1930-1945, văn học đô thị phát triển mạnh mẽ đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Đề tài đô thị trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều nhà văn lớn Đời sống đô thị được soi chiếu nhìn nhận ở nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau, tích cực có mà tiêu cực cũng nhiều Trong văn xuôi
lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn, hình ảnh con người đô thị hiện lên là
những nam thanh, nữ tú cùng những câu chuyện tình yêu tự do, vượt qua lễ giáo phong kiến hà khắc.Những vấn đề như giải phóng cá nhân, đề cao cuộc sống cá
nhân, ca ngợi tình yêu đã được đề cập đến trong nhiều tác phẩm như Bướm
trắng, Đoạn tuyệt của Nhất Linh… Dưới con mắt của các nhà văn lãng mạn đô
thị vẫn là miền đất hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp Còn với các nhà văn hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…đời sống đô thị đương thời hiện lên với nhiều tệ nạn, bao thói hư tật xấu, bao bí mật kinh tởm, bao cảnh đời éo le,
ngang trái của lớp thị dân nghèo Trong số đó không thể không nhắc đến Số đỏ
của Vũ Trọng Phụng Được mệnh danh là cây bút trào phúng bậc thầy, dưới
ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, tất cả những gương mặt thị dân của đô thị Việt Nam ở giai đoạn đầu của quá trình tư sản hóa cũng đã lần đầu tiên được phơi bày trên sân khấu văn chương một cách sống động, chân thực Mỗi nhân vật như một bức chân dung biếm họa về con người đô thị thời “Âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung” Một Xuân Tóc Đỏ lưu manh, bịp bợm, một cụ Cố Hồng háo danh, ngu dốt, một mụ Phó Đoan dâm đãng, ông Văn Minh bất nhân, bất hiếu… Mỗi nhân vật đại diện cho một lớp người thành thị đương thời Cả xã hội quay quắt, đảo
điên bởi lối sống nhố nhăng, đểu giả, mạt lưu, đê tiện, tham lam, học đòi “Là
người thư kí trung thành của thời đại”, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng đã phanh
phui tất thẩy chân tướng của đời sống, con người đô thị bấy giờ Đây thực sự là một đỉnh cao của văn chương viết về đô thị Việt Nam
Trang 25Bước sang giai đoạn 1945 - 1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nhân dân
ta thức hiện công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc cho nên văn học tập trung cao độ phục vụ sự nghiệp của toàn dân tộc Đề tài lớn như đề tài Tổ Quốc, đấu tranh vì nền độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được khai thác tập trung, triệt để Hình tượng con người trung tâm trong các sáng tác văn học thời kì này là hình ảnh người lính và con người lao động mới Những vấn đề của đô thị và hình ảnh nhân vật thị dân trở nên nhạt đi Thậm chí lối sống đô thị trở nên lạc lõng không phù hợp với đời
sống chung của nhân dân lao động bấy giờ Nhân vật Hoàng trong Đôi mắt của
Nam Cao, một trí thức tiểu tư sản, về nông thôn tản cư vẫn giữ những tư tưởng, nếp sống của người thành thị Anh trở nên xa lạ, lạc lõng với nhân dân, với không khí chung của thời đại Nói tóm lại văn học đô thị thời kì này không phát triển, không nhiều tác giả, tác phẩm để lại dấu ấn trong lòng độc giả
Từ sau năm 1975, đất nước hòa bình, Bắc- Nam thống nhất một nhà, cảm hứng sử thi dần nhường chỗ cho cảm hứng thế sự, đời tư Văn học đô thị cũng
bắt đầu có nhiều khởi sắc Đáng chú ý nhất phải kể đến Mùa lá rụng trong
vườn của Ma Văn Kháng Tác phẩm thể hiện sự quan sát và cảm nhận tinh tế
của nhà văn về những biến động, những đổi thay trong tư tưởng, tâm lí con
Người Việt Nam khi đất nước bước sang thời kinh tế thị trường Với Mùa lá
rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã cảnh báo về những bi kịch về gia đình và
xã hội trước nguy cơ sụp đổ của những giá trị đạo đức truyền thống trong sự tác động trái chiều của nền kinh tế hàng hóa Từ đó nhà văn đặt ra vấn đề mỗi gia đình cũng cần phải thay đổi để phù hợp với xã hội để có thể dễ dàng hòa nhập
và thích nghi hơn với cuộc sống mới, môi trường mới; con người cần có bản lĩnh trước những biến động của đời sống xã hội
Như vậy, có thể nói cùng với những biến động của lịch sử dân tộc, văn học
đô thị Việt Nam trước năm 1986 cũng có nhiều thăng trầm Có những giai đoạn,
do bối cảnh lịch sử chi phối nên văn học đô thị tạm thời lắng xuống, nhưng nhìn
Trang 26vào bức tranh văn học đô thị nói chung, chúng ta nhận thấy vẫn có nhiều điểm sáng, nhiều nhà văn đã thực sự thăng hoa với nhiều tác phẩm xuất sắc.
1.2.3 Văn học đô thị Việt Nam sau 1986
Từ năm 1986 trở đi, đất nước bước vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo đó, văn học Việt Nam cũng có bước chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của con người thời đại mới Đề tài đô thị cũng trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút được nhiều nhà văn tên tuổi như: Nguyễn Việt hà, Đỗ Phấn, Nguyễn Khải, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp…Bức tranh đô thị muôn màu, sống động hiện lên các trang văn Ở đó đô thị vừa là biểu hiện cho cái văn minh, phồn hoa, đô hội, phát triển, nhưng đi kèm với đó là những tệ nạn, cám dỗ có nguy cơ đe dọa và làm tha hóa nhân cách con người Nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh đã từng nhận xét về sự phát
triển mạnh của văn học đô thị hiện nay như sau: "Trong văn học đương đại đã
có những tác giả thành công khi viết về đô thị, thể hiện được nét đặc sắc cuộc sống và con người đô thị như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy… Sáng tác của họ đã chạm đến nơi sâu khuất của con người và đời sống đô thị: nỗi cô đơn, sự trống rỗng, cuộc sống đơn điệu, thiếu vắng Văn học viết về đô thị đương đại đã rất thành công khi kiến tạo nên kiểu nhân vật trí thức, nhưng tôi vẫn mong các nhà văn viết về đô thị hãy nhìn xuống “dưới đáy” để có nhiều tác phẩm thể hiện được đời sống đô thị đa diện, đa chiều hơn nữa”
Là một cây bút kì cựu, sau đổi mới Nguyễn Khải cũng nhanh chóng bắt kịp hơi thở nóng hổi của cuộc sống mới với nhiều sáng tác viết về đề tài đô thị Với
tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi, Nguyễn Khải đã gửi trọn niềm tin yêu,
trân trọng và kính phục với những con người Hà Nội Trước bão táp của nền kinh tế thị trường, trải qua bao thăng trầm, biến động, những con người Hà Nội như cô Hiền, bà Bơ… vẫn luôn giữ được “nếp nhà”, vẻ đẹp cốt cách, thanh lịch,
Trang 27tự trọng của con người đất kinh kì Đó là “những hạt bụi vàng” mãi lấp lánh và tỏa sáng giữa những xô bồ, bụi bặm của cuộc sống đô thị đương đại Hình ảnh cây si già cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rồi hồi sinh chính là biểu tượng của niềm tin vào những giá trị vàng son của Hà Nội sẽ mãi trường tồn
(Một người Hà Nội)
Nói đến đề tài đô thị không thể không nhắc đến Nguyễn Việt Hà Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, gắn bó máu thịt với Hà Nội, hơn ai hết nhà văn thấm thía một cách sâu sắc những mất mát, đổi thay của mảnh đất này Hà Nội trở thành không
gian quen thuộc trong nhiều sáng tác của Việt Hà như: Cơ hội của Chúa, Khải
huyền muộn, Ba ngôi của người… Tình yêu sâu nặng với mảnh đất bao năm
gắn bó cùng những trải nghiệm thực tế, vốn hiểu biết tường tận về con người, phố phường Hà Nội đã giúp cho Nguyễn Việt Hà có những trang văn xúc động,
gợi ra cái hồn cốt của mảnh đất của đất kinh kì “Tác giả đã dựng lên bức tranh
thực về Hà Nội hôm nay – nơi quần cư của nhiều con người đến từ mọi miền, hòa hợp với những giá trị tự thân của Hà Nội, tạo nên nét tinh tế, tao nhã của văn hóa Thăng Long” [51] Nhưng nhà văn cũng tỉnh táo để nhận ra rằng bên
cạnh một Hà Nội cổ kính, trầm mặc, thanh lịch, vẫn có một Hà Nội xấu xí, xô
bồ, ồn ào, bụi bặm, nhếch nhác, con người dần trở nên chao chát, cộc cằn, thô
lỗ, toan tính, vụ lợi Nhà văn lên tiếng báo động về những hư hao, nhạt dần, nhòa dần của những giá trị văn hóa, những thuần phong mĩ tục bao đời của mảnh đất nghìn năm văn hiến
Ngoài ra còn phải kế đến nhiều tác giả với nhiều tác phẩm viết về đô thị
khác như: Hồ Anh Thái với tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Bảo Ninh với Khắc dấu mạn thuyền hay Hà Nội lúc không giờ, Phong Điệp (Lạc chốn
thị thành, Nhật kí nhân viên văn phòng), Dương Thụy (Con gái Sài Gòn), Đỗ
Bích Thúy (Cửa hiệu giặt là), Nguyễn Xuân Thủy (Nhắm mắt nhìn trời)
Trang 28Tóm lại có thể nói, từ sau 1986, văn học đô thị đã có những bước đi mạnh
mẽ, khẳng định được đây là dòng văn học chủ lưu của nền văn học Việt Nam đương đại Chính nó góp phần tạo nên diện mạo mới cho nền văn học nước nhà Đồng thời cũng báo hiệu một tương lai tươi sáng cho dòng văn học này ở nước
ta
1.3 Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
1.3.1 Giới thuyết về truyện ngắn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại
nhỏ; truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề
xã hội” [37, tr 137] Còn trong 150 thuật ngữ văn học thì truyện ngắn được xác
định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập
đến hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền mạch không nghĩ” [2, tr 359]
Như vậy đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ văn học này Các định nghĩa bổ sung cho nhau làm nổi bật rõ những đặc trưng cơ bản nhất của truyện ngắn Nội dung của nó có thể phong phú: đời tư, thế sự hay sử thi…
Nhưng cái độc đáo nhất của thể loại này chính là ngắn Truyện ngắn thường ít
nhân vật, ít sự kiện phức tạp, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể kể về cuộc đời hay chỉ một đoạn đời, một chốc lát của nhân vật, nhưng trong phạm vi hạn hẹp vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn lao thể hiện tư tưởng nhân
sinh sâu sắc Vì vậy, nó được ví như “một kì quan bé nhỏ nhưng có sức chấn
động phi thường”
Truyện ngắn là một hình thức ngắn của tự sự Trong các tác phẩm tự sự không thể không nhắc đến cốt truyện Cốt truyện trong truyện ngắn cũng là đặc
Trang 29điểm đáng lưu ý Tùy vào tài năng và dụng ý nghệ thuật của mỗi nhà văn mà có thể xây dựng những kiểu cốt truyện khác nhau cho tác phẩm truyện ngắn của mình Cốt truyện có thể li kì, hấp dẫn, giàu kịch tính, nhưng cũng có thể đơn giản “truyện không có cốt truyện”…nhưng chức năng của nó là để nhận ra một điều gì đó Có nghĩa là, thông qua cốt truyện nhà văn gửi gắm ý đồ nghệ thuật của mình cũng như nội dung tư tưởng của tác phẩm
“Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự liên tưởng, tương phản Bút
pháp trần thuật thường là chấm phá”[27, tr398] Một trong những yếu tố quan
trọng trong truyện ngắn chính là những chi tiết nghệ thuật mang ý nghĩa hàm
ẩn, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Mỗi truyện ngắn đều gây
một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người đều: “Đánh thức và cuốn hút
cả năm giác quan của người đọc” (D Boulanger) Ngoài ra giọng điệu, cái nhìn
cũng hết sức quan trọng góp phần làm nên sự lôi cuốn của tác phẩm
Truyện ngắn là thể loại dân chủ, gần gũi với cuộc sống hằng ngày, lại súc tích dễ đọc, dễ bắt kịp hơi thở thời đại, có khả năng là tiếng nói nhanh nhạy nhất, phản ánh thời sự các vấn đề nóng hổi của thời đại, con người một cách chính xác Đây cũng là thể loại văn học năng động, bén nhạy, luôn có xu hướng cách tân, đổi mới linh hoạt Với những đặc điểm đó, truyện ngắn được coi là thể loại xung kích trong đời sống văn học, chiếm được tình cảm của bạn đọc ở nhiều thời kì khác nhau
1.3.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Thu Huệ
1.3.2.1 Cuộc đời
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12 tháng 8 năm 1966, quê ở Bến Tre Ngay
từ khi còn nhỏ Thu Huệ sớm đã bộc lộ năng khiếu văn chương Thu Huệ từng
tâm sự: “Mình không nghĩ sau này sẽ trở thành nhà văn, thế hệ bọn mình lúc
đấy hồn nhiên lắm, không bao giờ có ước mơ phải trở thành một người nổi tiếng, giàu sang gì đâu” Nhưng niềm say mê và tài năng đã đưa chị đến với văn
Trang 30chương Khi vừa tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Tổng hợp, chị đăng hai truyện
ngắn Mưa trái mùa và Mùa hoa sấu rụng trên Báo Văn Nghệ khiến văn đàn
xôn xao một thời
Con đường văn chương của chị tạm lắng xuống khi Thu Huệ lập gia đình
và dành toàn bộ thời gian cho gia đình Sau đó chị quyết định vào làm biên tập
viên sân khấu tại Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Mang sẵn trong mình ngọn lửa đam mê văn chương, chị tiếp tục sáng tác Chị tiếp tục gửi năm truyện ngắn Hậu
thiên đường, Biển ấm, Bảy ngày trong đời, Tình yêu ơi, ở đâu?, Minu xinh đẹp đi dự thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đều được đánh giá cao Rồi chị
chuyển sang làm tại hãng Phim Truyền hình Việt Nam Liên tiếp các truyện ngắn của chị được chuyển thể thành phim và gây được tiếng vang lớn Đầu tiên
là Của để dành, sau đó là Nước mắt đàn ông cũng đến với khán giả và đoạt huy
chương vàng liên hoan phim Truyền hình Sau sáu tháng làm việc ở đây, chị được đề bạt làm trưởng phòng phim, trưởng xưởng II của hãng Phim Truyền hình Bằng tài năng của mình, chị đã vươn lên đứng ở vị trí Giám đốc của VTC9 Let’s Việt (2008), một kênh chuyên về phim Truyền hình Việt Nam
Nguyễn Thị Thu Huệ mặc dù rất bận rộn với công việc quản lý nhưng không vì thế niềm đam mê văn chương, nhu cầu được viết của chị giảm bớt Chị vẫn miệt mài viết, miệt mài sáng tạo vì văn chương đã trở thành người bạn tinh
thần của chị: “Văn chương luôn làm ấm lòng tôi, viết và đọc là điều không thể
thiếu trong cuộc sống”,“Văn chương đối với tôi là người bạn chung thủy có thể chia sẻ với mình nhiều điều”
1.3.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong dòng chảy truyện ngắn nữ đương đại
Văn học đương đại Việt Nam sau thời kì đổi mới đã bước đầu gặt hái được nhiều thành công đáng kể Đặc biệt thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết được coi như đã có một mùa vàng bội thu Cũng chưa bao giờ trong tiền lệ văn hoặc Việt
Trang 31Nam người ta lại thấy có nhiều tài năng nữ nở rộ đến như thế Bên cạnh những nhà văn nữ đã thành danh trong chiến tranh như: Lê Minh Khuê, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngọc Tú… trên văn đàn xuất hiện rất nhiều cây bút trẻ có sức sáng tạo dồi dào như:
Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Châu Giang, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy… Tác giả Bùi Việt Thắng đã có
những nhận xét xác đáng: “Đã hình thành một tỉ lệ giữa phái yếu và đấng mày
râu là 2/3 – một tỉ lệ đáng gờm bởi nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ hôm nay
và văn chương nói chung mang gương mặt nữ” Các cây bút nữ thời kì này có
cái nhìn gần hơn, thực hơn về cuộc sống cũng như con người Các tác giả cũng sẵn sàng mở rộng vùng đề tài, khai thác tới những vấn đề gai góc, những góc khuất, những mảng tối trong sâu thẳm tâm hồn con người cũng như đời sống xã hội Mỗi tác giả giống như một dây đàn mang một “âm điệu riêng”, góp phần làm nên “giai điệu chung”, “diện mạo chung” cho nền văn học Việt Nam đương đại Người ta thấy xuất hiện một Y Ban dịu dàng, ngọt ngào mà không kém phần sâu sắc, một Phan Thị Vàng Anh trí tuệ, sắc sảo, một Nguyễn Ngọc Tư sâu lắng, trữ tình, một Phạm Thị hoài thông minh, thâm thúy… Tất cả góp phần tạo nên bức tranh đa sắc màu cho nền văn học nữ Việt Nam đương đại
Giữa khu vườn văn học đang nở rộ nhiều tài năng ấy, Thu Huệ xuất hiện vẫn ngát hương, tỏa sắc với một phong cách riêng không trộn lẫn Các sáng tác của chị chủ yếu xoay quanh một số đề tài chính như đề tài tình yêu, đề tài hôn nhân, hạnh phúc gia đình và đề tài đô thị Dù ở đề tài nào, Thu Huệ cũng tỏ ra là một cây bút sắc sảo, có khả năng nắm bắt những vấn đề nóng hổi, nhức nhối của đời sống xã hội với một lối viết độc đáo, mới lạ Người ta thấy một Thu Huệ vừa dịu dàng đằm thắm, sâu sắc nữ tính, vừa có nét mạnh mẽ, sắc sảo, có phần táo bạo của một người phụ nữ bản lĩnh, giàu trải nghiệm Những tác phẩm của chị ngay khi mới ra đời đã tạo nên sức hút đặc biệt với bạn đọc bởi chất đời của
nó Những câu chuyện dung dị, đời thường nhưng lại đem đến cho bạn đọc bao
Trang 32bài học, bao triết lí nhân sinh sâu sắc, đặt ra bao vấn đề nhức nhối của đời sống
xã hội đương thời Những yếu tố ấy đã làm nên gái trị, sức hấp dẫn riêng trong sáng tác của Thu Huệ
Thu Huệ đã khẳng định được vị trí, tên tuổi của mình bằng rất nhiều giải
thưởng Đó là giải nhì cuộc thi truyện ngắn của Hội văn học Nghệ thuật Hà Nội
1986 (Một khoảng đời chờ đợi); giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi
xanh báo Tiền Phong 1993 (Những đêm thắp sáng); giải nhất cuộc thi truyện
ngắn NXB Hà Nội 1994; giải nhất cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ
Quân đội tổ chức cho chùm tác phẩm gồm 5 truyện ngắn (Hậu thiên đường, Biển ấm, Minu xinh đẹp, Bảy ngày trong đời, Tình yêu ơi, ở đâu?); nhận
thưởng của Hội Nhà văn cho tập truyện Hậu thiên đường Năm 2012, Thu Huệ được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn dành cho tập truyện ngắn Thành phố đi
vắng Có thể nói Nguyễn Thị Thu Huệ trở thành một trong những cây bút nữ
xuất sắc nhất của văn học Việt Nam đương đại
Cho đến nay, với ngòi bút giàu nội lực, khả năng sáng tạo dồi dào chị đã có trong tay nhiều tập truyện như:
Trang 33Tiểu kết
Trong chương 1, luận văn đã giới thiệu các khái niệm cơ bản về đô thị, đô thị hóa cũng như khái lược quá trình đô thị hóa ở nước ta, chỉ ra những tác động của đô thi hóa tới đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam Đồng thời, chúng tôi cũng giới thiệu văn học đô thị và lịch sử phát triển của dòng văn học này ở nước ta Tuy nhiên trong phạm vi có hạn, luận văn chỉ khái lược ngắn gọn văn học đô thị kể từ trước năm 1945 tới sau thời kì đổi mới 1986, để từ đó thấy được
sự vận động phát triển của dòng văn học này trong dòng chảy văn học Việt Nam nói chung Chương 1 giới thiệu sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ theo đó thấy được vị trí truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong văn học nữ Việt Nam đương đại
Trang 34Chương 2
BỨC TRANH ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI ĐÔ THỊ TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 2.1 Bức tranh đời sống đô thị
Không thể phủ nhận rằng nền kinh tế thị trường giúp cho đời sống vật chất của con người được cải thiện, nâng cao rõ rệt Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng đau đớn nhận ra rằng những tệ nạn, những mặt trái, những sự đổ vỡ… vẫn đang hiện hữu trong từng gia đình, trở thành những vấn đề nhức nhối của toàn
xã hội Với cái nhìn sắc lạnh, Nguyễn Thị Thu Huệ đã không ngần ngại hướng ngòi bút của mình vào những câu chuyện đời thường để đem đến cho bạn đọc cái nhìn chân thực về cuộc sống của con người đô thị hôm nay
2.1.1 Đời sống gia đình với những quan hệ đạo đức truyền thống bị phá
vỡ
Trong xã hội Việt Nam xưa, các mối quan hệ trong gia đình rất được coi trọng Bởi gia đình chính là tế bào của xã hội Truyền thống của người Việt Nam
xưa là con cái vâng lời, hiếu kính với ông bà cha mẹ tổ tiên: “Công cha nghĩa
mẹ ơn thầy” hay “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”; vợ chồng thì hòa thuận, thủy chung gắn bó: “Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn ta đừng quên nhau”,“Muối ba năm muối đang còn mặn/ Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay”; anh em máu mủ ruột già, nghĩa nặng
tình thâm, gắn bó như chân với tay Truyền thống đạo lí tốt đẹp ấy của người Việt Nam cần được nâng niu trân trọng giữ gìn Nhưng trong cuộc sống đô thị hôm nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường giá trị tốt đẹp đó ít nhiều bị xói mòn, băng hoại Với cái nhìn chân thực Nguyễn Thị Thu Huệ đã phơi bày tất
cả hiện thực cay đắng đó trên trang viết của mình
Đọc truyện ngắn của Thu Huệ, chúng ta vẫn nhận thấy những tình cảm gia đình ấm ấp vẫn luôn hiện hữu trở thành ngọn lửa nuôi dưỡng hạnh phúc nhiều
Trang 35gia đình Hình ảnh của người bà bao dung, nhận hậu, vị tha trở đi trở lại trong nhiều truyện ngắn của chị Bà trở thành điểm tựa tinh thần, là bến đỗ bình yên cho cháu, giúp cháu vựợt qua những bi kịch, những bão giông và cả những sai
lầm vấp ngã trong cuộc đời (Người đi tìm giấc mơ, Một trăm linh tám cây bằng
lăn) Sự ân cần chu đáo, yêu thương vợ con hết lòng của người chồng trong Một nửa cuộc đời cũng đã giúp anh níu giữ người vợ trở về sau những phút giây
lầm lỡ Đó còn là sự hi sinh âm thầm của người chị để đứa em trai được học
hành thành tài, nên người (Chị tôi), hay tình yêu thương của những người cha,
người mẹ cả một đời tần tảo lo cho con cái, mong cho con cái có một cuộc sống
đủ đầy hạnh phúc (Của để dành, Nước mắt đàn ông), và cả sự nhẫn nhịn đầy bao dung của những người vợ, người mẹ dịu dàng thủy chung (Ám ảnh, Một
trăm linh tám cây bằng lăng)… Những tình cảm gia đình quý báu ấy là truyền
thống tốt đẹp trong các gia đình người Việt Nó trở thành dòng suối mát nuôi dưỡng tâm hồn con người, xua tan những bụi bặm, nhọc nhằn của cuộc sống để con người cảm thấy được yêu thương, được bình an và hạnh phúc
Nhưng nhìn sâu hơn vào bức tranh gia đình đô thị trong nhiều truyện ngắn của Thu Huệ, chúng tôi nhận thấy, tác giả nói nhiều hơn về sự mất mát, sự đi xuống của những tình cảm đạo đức truyền thống Đó là sự đổ vỡ của hôn nhân, gia đình, sự bất hòa của tình cảm vợ chồng Gia đình đổ vỡ, vợ chồng không hạnh phúc xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân Khi vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, sự yêu thương, chia sẻ đồng cảm dành cho nhau ngày càng vơi cạn, cũng là lúc hôn nhân gia đình đứng trên bờ vực của sự tan vỡ Không còn
nữa hình ảnh những cặp vợ chồng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, Thuận
vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn, mà là những trận cãi vã, những câu nói
tục tĩu, những lời lẽ cay độc xúc xiểm nhau như những người dưng nước lã:
- Không gặp mẹ trẻ à? Mẹ hỏi vóng sang
Im lặng
Trang 36- Hết tiền bao nên nó đi với thằng khác rồi Sướng nhỉ?
Mẹ lại tiếp tục véo von sang bên bố
- Câm mồm Rõ dơ vất con cái ở nhà tớn lên đi với giai Gái phải hơi giai
như thài lài gặp cứt chó
- Thế đấy Bà đây không đi thì ở nhà nhìn chúng mày đú a?” (Phù Thủy)
Đó là cuộc đối thoại của hai vợ chồng trong Phù Thủy Họ xúc phạm nhau,
nguyền rủa nhau, coi nhau không khác kẻ thù, thản nhiên sống theo kiểu “ông ăn chả bà ăn nem” Những gia đình như thế, đâu đó vẫn hiện hữu quanh ta, giữa chốn phồn hoa đô thị Sau vẻ ngoài hào nhoáng, vẹn nguyên, hạnh phúc là sự rách nát, đổ vỡ của biết bao tình cảm gia đình thiêng liêng quý giá
Đặc biệt có một nguyên nhân gây ra những đổ vỡ của hạnh phúc gia đình
mà Thu Huệ đề cập đến trong nhiều truyện ngắn của mình, đó là ngoại tình Ngoại tình trở thành vấn nạn của xã hội Những cuộc tình tay đôi, tay ba, những cuộc tình lén lút, vụng trộm… tất cả đều dẫn đến những đau đớn bi kịch và nguy
cơ tan rã của gia đình Vấn đề này được Thu Huệ đề cập tới trong nhiều truyện
ngắn như: Thiếu phụ chưa chồng, Tân Cảng, Của Cha, của Con và những
cành vạn niên thanh… Trong Thiếu phụ chưa chồng, Dương là một người đàn
ông có học thức, anh cũng đã có một gia đình hạnh phúc, một người vợ hiền dịu
- Hảo cùng một cậu con trai ngoan ngoãn Nhưng bất chấp luân lí, đạo đức, Dương đã ngoại tình với chính em vợ của mình – My Trơ tráo, ích kỉ, tàn nhẫn hơn khi Dương và My công khai quan hệ về chung sống với nhau đẩy Hảo rơi vào bi kịch đau đớn tủi hờn Kết thúc tác phẩm Hảo chết, con trai Dương có dấu hiệu tâm thần, My sinh ra một đứa con gái dị tật, Dương đem hai đứa con bỏ đi
Đó là cái kết đầy cay đắng và nước mắt, cũng là lời cảnh tỉnh con người đừng vì những phút giây lạc thú thỏa mã dục vọng cá nhân tầm thường mà đánh mất đi
bao điều quý giá Còn trong Của Cha, của Con những cành vạn niên thanh
cũng vì lầm lỡ đi tìm thú vui bên ngoài mà Cha đánh mất đi sự nghiệp và gia
Trang 37đình hạnh phúc của mình Người Cha đã ngoại tình khi đang ở đỉnh cao của sự
nghiệp: “Cha đã phản bội mẹ Cha quan hệ với một người đàn bà khác Đúng
khi mẹ thành đạt nhất, Cha chuẩn bị được thăng chức thì người đàn bà kia mang tài liệu của Cha và cô ta, cùng cái bụng bầu đến gặp Mẹ, đòi một số tiền lớn, để cô ấy không tung tóe mọi chuyện” Cái giá mà Cha phải trả cũng thật đớn
đau: sự nghiệp tan biến, gia đình tan nát, vợ bỏ đi, Cha phải bán nhà và đưa con đến một ngôi nhà mới ven sông Chìm đắm trong nỗi đau quá khứ, Cha đã vô tình để đứa con gái của mình trở thành miếng mồi ngon của lão hàng xóm Bi kịch nối tiếp bi kịch, nỗi đau chất chồng nỗi đau
Như vậy ngoại tình đã trở thành vấn đề nhức nhối và khá phổ biến trong cuộc sống đô thị hiện đại Có những câu chuyện ngoại tình xuất phát từ tình yêu,
từ cuộc sống hôn nhân gia đình ngột ngạt, thiếu hạnh phúc như Nước mắt đàn
ông, Một nửa cuộc đời… Nhưng chủ yếu Thu Huệ nói tới những tiêu cực, mặt
trái của vấn nạn này Khi ý thức cá nhân trỗi dậy, con người chạy theo những cảm xúc nhất thời, những ham muốn dục vọng bản năng đã đánh mất những giá trị đạo đức tốt đẹp, đẩy chính mình và gia đình vào bi kịch đau đớn
Nạn nhân đau khổ nhất của những cuộc chia li, của những gia đình không hạnh phúc không ai khác chính là những đứa trẻ vô tội Tình cảm vợ chồng rạn nứt, sự đổ vỡ hôn nhân đã đẩy những đứa trẻ vào bi kịch cùng quẫn, gây ra
những mất mát, tổn thương tâm hồn không thể bù đắp Đến với Phù thủy chúng
ta bắt gặp sự rách nát đổ vỡ trong gia đình “nó” “Nó” sống trong gia đình có cả cha với mẹ Nhưng thứ mà nó nhận lại không phải là tình yêu thương mà là những trận cãi vã, chửi rủa của cha và mẹ Điều “nó” ngạc nhiên và không thể hiểu được là tại sao bố mẹ nó ban ngày có thể chì chiết, văng tục, chửi bậy, mạt sát nhau như kẻ thù ấy vậy mà đêm xuống mẹ lại nằm ngủ trong lòng bố êm ái như thế! Nỗi đau trở nên ám ảnh và vỡ òa khi “nó” biết cả bố và mẹ không ai quan tâm đến nó, coi nó là gánh nặng cản trở ba mẹ đi tìm hạnh phúc mới Ý thức được điều đó, nó không còn là đứa trẻ vô tư mà tâm hồn trở nên đau khổ
Trang 38hờn căm, u uất Còn trong Tân Cảng hình ảnh hai đứa trẻ trong thời khắc chia
tay thực sự đã khiên trái tim bạn đọc nhói buốt: “Thằng anh mở to mắt nhìn
xuống, một tay nắm chặt thằng siêu nhân trắng Bên dưới Phía xa Chỉ thấy nắng chiếu vào ô cửa kính laong loáng như những tấm gương trời Người đi tiễn
bé xíu với những cái đầu đen như hạt đỗ Nó lùi người lại Chùi nước mắt Đi ra đứng giữa hai hàng ghế, và nhìn mẹ Mẹ nó đang cúi gục xuống khóc.Chiếc máy bay lạnh lùng chạy một vòng ra xa và dừng lại Rú to lên Rồi nhấc hẳn lên khỏi mặt đất Đằng sau những tấm kính Thằng em vẫn đứng với chiếc máy bay trên tay, lấy ngón trỏ chỉ vào những chấm trắng bé xíu và đếm "Một Hai Ba Bốn Năm” Niềm khao khát mãnh liệt của những đứa trẻ là có một gia đình vẹn
nguyên, đủ đầy tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ Cũng không có nỗi đau nào hơn nỗi đau sự li biệt, gia đình tan đàn xẻ nghé, mỗi người một chân trời riêng
Đó là nỗi đau mà không có thứ của cải vật chất nào có thể bù đắp Những đứa trẻ như thế liệu rằng sẽ có một cuộc sống hạnh phúc khi phải chịu quá nhiều mất mát, tổn thương Đó sẽ là nỗi ám ảnh theo chúng suốt cuộc đời Từ đó nhà văn cũng lên án, phê phán một cách nghiêm khắc đối những bậc làm cha làm mẹ, chỉ
vì hạnh phúc của cá nhân mình mà đẩy những đứa trẻ vô tội đến bi kịch đau
đớn
Gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng thế giới tâm hồn, là môi trường giáo dục quyết định đến nhân cách của con người Vì vậy, lối sống của cha mẹ là tấm
gương ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách cho con cái Trong Hậu
Thiên đường cũng chỉ vì sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm của mẹ mà vô tình đã đẩy
cô con gái đi vào vết xe đổ của chính mình Một trăm linh tám cây bằng lăng
cũng là câu chuyện đầy nhức nhối Nỗi ám ảnh về một người cha vũ phu đã ăn sâu trong tiềm thức của “anh” Khi cha “anh” đánh mẹ, ông không biết rằng mình đang gieo rắc hận thù và đẩy con mình vào vòng lao lí Hành động nóng nẩy, thiếu kiểm soát của “anh” khi giết người đàn ông vũ phu đánh vợ chính là kết quả của nỗi đau ám ảnh trong quá khứ về hình ảnh người cha luôn đánh vợ,
Trang 39chửi con Còn truyện ngắn Ám ảnh cũng là một bức tranh gia đình xám xịt của
cuộc sống đô thị Ông bố Thạnh là một người đàn ông gia trưởng, ích kỉ, vũ phu
và dâm đãng Dù có một gia đình viên mãn, một người vợ hiền thục cùng ba đứa con đã lớn nhưng ông ta vẫn tìm thú vui bên ngoài với những người đàn bà khác Ông ta đối xử với vợ con lạnh lùng, độc đoán và tàn nhẫn Là một đứa trẻ mới lớn, hàng ngày chứng kiến cảnh cha mình đi chơi gái, Thạnh thấy ghê tởm cha mình, căm ghét những người đàn bà đĩ thõa lẳng lơ chuyên phá hoại hạnh phúc gia đình người khác Sự ghê tởm, lòng hận thù trở thành nỗi ám ảnh khiến Thạnh luôn nghĩ tới cái ác, tới việc giết người Giấc mơ khủng khiếp của Thạnh
là cầm súng bắn chết người đàn bà nhân tình của bố cùng đưa con riêng của ả ta
để rồi mình bị tử hình như tiếng chuông cảnh tỉnh: hãy cứu lấy nhân cách trẻ thơ Khi cha mẹ chẳng thể là tấm gương cho con cái, khi cha mẹ bất chấp luân lí
và đạo đức chạy theo dục vọng tầm thường cũng là lúc họ đang ươm mầm nuôi dưỡng những tội ác cho chính con cái của mình Những đứa trẻ sẽ không có một môi trường lành mạnh để phát triển nhân cách thì ắt cái ác được nuôi dưỡng Đó thực sự là lời cảnh báo cho mỗi gia đình và cả xã hội
Không chỉ có đổ vỡ trong hôn nhân gia đình, nhiều tình cảm gia đình thiêng liêng cũng dần bị băng hoại Một trong những đạo lí được người Việt coi trọng là đạo hiếu Đã là con cái thì phải hiếu kính với bậc sinh thành Thế nhưng trong cuộc sống đô thị hiện đại hôm nay, đạo lí tốt đẹp ấy có nguy cơ đổ vỡ
Ông Cậu trong Nước mắt đàn ông là một người đàn ông có tài, giỏi kiếm tiền
nhưng lại cô độc trong chính ngôi nhà dư thừa về vật chất mà lại vơi cạn tình cảm, tình thân gia đình Suốt đời ông lăn lội bôn ba để kiếm sống, để làm giàu Người đàn ông ấy từng phải nếm bao vị đắng ở đời, thậm chí là hy sinh tất cả cho gia đình, vợ con Nhưng thứ ông nhận lại lại là sự lạnh lùng thậm chí là vô
ơn của chính con cái mình Con cái chỉ nói với ông chuyện tiền bạc chứ không
có nổi những phút giây ngắn ngủi tâm sự với cha mình Đối với chúng, cha chỉ như cái máy rút tiền không hơn không kém Chúng coi đó là thứ đáng có được,
Trang 40nhận nó như một lẽ tự nhiên Tất nhiên chúng không biết đến khái niệm cho đi
và đền đáp lại Khi chúng càng được nhận từ cha mẹ nhiều hơn thì sự vô ơn
càng lớn lên Còn trong Của để dành, bà Vy suốt đời yêu thương, cung phụng,
chăm sóc các con Chồng mất sớm, mình bà tần tảo nuôi dạy các con thành người, ai cũng được học hành, có công việc tốt những mong ba đứa con sẽ là chỗ dựa, niềm an ủi khi tuổi già “con cái là của để dành của cha mẹ” Nhưng đến khi bà ngã, không đi được thì cả ba con trở nên cáu bẳn, đùn đẩy trách nhiệm Cuộc sống gia đình đảo lộn Ai cũng vin vào cái cớ mình quá bận mà quên đi đạo hiếu với mẹ Họ ích kỉ và nghĩ rằng chỉ cần bỏ tiền ra thuê ô sin về chăm lo cho mẹ là xong Họ rảnh rang rũ bỏ trách nhiệm báo hiếu của mình Những đứa con không hiểu rằng, những lúc ốm đau như thế, sự chăm sóc, yêu thương của các con chính là niềm an ủi, là bài thuốc chữa lành những vết thương đối với cha mẹ Chính sự thờ ơ và thiếu trách nhiệm ấy làm cho người mẹ càng thêm đau đớn, buồn tủi
Gia đình vốn là chốn nương thân để con người tìm được sự bình yên, ấm
áp trước những bão giông của cuộc đời Vậy mà giờ đây sự rạn nứt, đổ vỡ trong các mối quan hệ gia đình làm cho con người cảm thấy bất an, cô đơn thậm chí đau khổ và bi kịch ngay chính trong gia đình Với những câu chuyện đời thường, Thu Huệ đã đặt ra bao vấn đề nhức nhối đem lại cho người đọc nhiều bài học nhân sinh sâu sắc Bằng tấm lòng yêu thương, tác giả cũng đồng cảm, sẻ chia với những đau đớn mất mát, những bi kịch đổ vỡ trong đời sống gia đình của con người Đồng thời nhà văn cũng rung lên hồi chuông cảnh tỉnh: mỗi người tự phải biết điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống của mình để giữ gìn hạnh phúc gia đình, trân quý những gì mình đang có Đó cũng là tiếng nói đầy nhân văn có ý nghĩa thức tỉnh sâu sắc với tất cả chúng ta hôm nay