1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Đề tài nông thôn trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn

138 656 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Trọng Thưởng, nhà lí luận phê bình Văn Giá, nhà báo Vũ Hà… Từ những lí do cụ thể ở trên đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đề tài nông thôn trong sáng tác của nhà văn Nguyễn H

Trang 2

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phan Trọng Thưởng, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi về tri thức, phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, quý thầy, cô giáo Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2

và quý thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập; Trường Trung cấp Kỹ Thuật Vĩnh Phúc, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, cùng bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 6 năm 2012

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Quế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa

có ai công bố trong một công trình nào khác

Hà Nội, tháng 6 năm 2012

Tác giả

Hoàng Thị Quế

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Chương 1 Khái quát về đề tài và đề tài nông thôn trong văn học 12

1.2 Đề tài nông thôn trong văn học và trong sáng tác của Nguyễn

1.2.2 Đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn 19

Chương 2 Bức tranh hiện thực về nông thôn trung du miền núi Bắc

Bộ trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn 24 2.1 Cảnh sắc làng quê - đặc trưng của nông thôn trung du miền núi Bắc

Bộ thời kì trước và sau đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn 24 2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên làng quê thời kì trước khi đổi mới 24 2.1.2 Cảnh sắc thiên nhiên làng quê thời kì đổi mới 28 2.2 Hiện thực cuộc sống nơi làng quê trung du miền núi Bắc Bộ thời

kì trước và sau đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn 30 2.2.1 Cuộc sống nông thôn thời kì trước khi đổi mới 30

Trang 5

2.2.2 Cuộc sống nông thôn thời kì đổi mới 33 2.3 Nhân vật trong sáng tác viết về nông thôn của Nguyễn Hữu Nhàn 42 2.3.1 Vài nét về nhân vật trong tác phẩm văn học 42 2.3.2 Người nông dân - hình ảnh con người trung tâm trong đề tài

2.4 Truyền thống văn hóa, phong tục, ứng xử làng xã của nông thôn

trung du miền núi Bắc Bộ trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn 58

Chương 3 Nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của

3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu - Đặc điểm phương

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ xưa đến nay, nông nghiệp là an sinh xã hội, an toàn lương thực, thực phẩm Nông thôn là địa bàn dân cư lớn, tiềm lực lao động lớn, là bầu khí quyển, là cái “túi thở” của chúng ta Nông thôn còn là cái nôi văn hoá dân tộc, nơi nuôi dưỡng, giữ gìn tất cả những cái đẹp nhất, hồn cốt nhất của dân tộc Việt Nam Trân trọng văn hóa nông thôn chính là tiêu chí đã được các nhà văn coi như cốt yếu nhất khi viết về mảng đề tài này Vì lẽ đó nhiều năm qua, hai mảng đề tài làm nên thành tựu lớn nhất của văn học Việt Nam là mảng đề tài viết về chiến tranh và về nông thôn - nông nghiệp - nông dân Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam đã

tổ chức trao thưởng cho các tác phẩm văn học nghệ thuật sáng tác về đề tài nông thôn Về mục đích của việc trao thưởng và phát động sáng tác về đề tài xây dựng nông thôn mới, ông Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn cho biết: “Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn

của Chính phủ Mục tiêu chính là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Vì thế, bên cạnh việc xây dựng những dòng sông, cánh đồng, chuồng trại thì còn cần phải xây dựng đời sống văn hóa cho bà con nông dân Chúng tôi muốn thông qua việc trao thưởng này để phát động một chặng đường sáng tác mới Những sáng tác văn học nghệ thuật là món quà vô giá để động viên bà con nông dân, toàn xã hội tham gia vào xây dựng đời sống nông thôn mới” [25]

1.2 Trong số những nhà văn được trao thưởng trong cuộc phát động sáng tác về đề tài xây dựng nông thôn mới lần này như Ngô Ngọc Bội, Ma

Trang 7

Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Ngọc Tư, có một nhà văn quen thuộc của vùng quê trung du miền núi Bắc bộ đó là nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn Ông được

trao giải cho tập truyện ngắn chọn lọc viết về nông thôn trong thời kỳ đô thị hóa

Cùng với sự hiểu biết, tình yêu với vùng đất và con người, cộng với tài năng sáng tạo, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn trong suốt quá trình sáng tác của mình chỉ chung thủy với một đề tài duy nhất: Đề tài nông thôn Bạn đọc cả nước biết nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn với một lối viết không thể lẫn với bất cứ

ai về làng quê, người quê Nguyễn Hữu Nhàn không đi vào những vấn đề tố khổ, hoặc phê phán chống tiêu cực,… mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú đi vào các vỉa tầng văn hoá của làng quê thời hiện đại Qua những sáng tác của ông, ta thấy Nguyễn Hữu Nhàn tập trung khai triển

mấy chủ đề chính sau: “Thứ nhất, ông phô diễn một cách thích thú các phong

tục của các tộc người, hoặc của không gian địa - văn hóa bằng vốn liếng kiến thức dân tộc học, văn hóa học khá phong phú Thứ hai, tôn vinh những giá trị tâm hồn và văn hóa đích thực của làng quê và người quê Thứ ba, thể hiện sự tha hóa của văn hóa làng quê trước sự xâm lăng của đô thị, kinh tế thị trường” [4, tr.9]

Nông thôn Việt Nam đang có những chuyển biến rõ rệt, đời sống văn chương mặc dù bộn bề với những mảng đề tài phong phú khác nhau của đời sống hiện thực song cũng đang từng ngày từng giờ bám sát vào những thay đổi của bộ mặt nông thôn thời đại mới Trong không nhiều nhà văn mặn mà với mảng đề tài này ta phải kể đến đóng góp có ý nghĩa lớn lao của nhà văn tài năng và tâm huyết Nguyễn Hữu Nhàn Vì lẽ đó, việc tìm hiểu đề tài nông thôn của cây bút này là một công việc có ý nghĩa thực tiễn cao, vừa phù hợp với chủ trương chung của Đảng của Chính phủ, vừa góp phần cổ vũ nhà văn tiếp tục cống hiến nhiều hơn nữa cho việc sáng tác về đề tài nông thôn và cũng là để bổ sung kịp thời cho công tác nghiên cứu, phê bình văn học hiện

Trang 8

nay một phong cách sáng tác truyện mang đậm dấu ấn nông thôn trung du miền núi Bắc bộ

1.3 Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo về những đóng góp cũng như sáng tạo độc đáo của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn về đề tài nông thôn cho tới nay chưa có nhiều Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác cũng như những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn Hiện nay chỉ có một số bài báo, bài nghiên cứu, phê bình về tác giả, tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn của các nhà nghiên cứu có uy tín như PGS.TS Phan Trọng Thưởng, nhà lí luận phê bình Văn Giá, nhà báo Vũ Hà… Từ những lí do cụ thể ở trên đã thôi thúc chúng tôi lựa

chọn đề tài: “Đề tài nông thôn trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn”,

nhằm tập trung vào làm sáng tỏ sự cảm nhận, phản ánh của nhà văn về cuộc sống của người nông dân, vấn đề sản xuất nông nghiệp và văn hóa nông thôn trong thời đại mới Đây là những vấn đề đang được cả xã hội quan tâm và qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn đều được thể hiện một cách rõ nét

1.4 Bằng tình yêu và sự gắn bó cả đời với nông thôn, Nguyễn Hữu Nhàn đã đạt được nhiều thành công đáng kể trong sáng tác về miền đề tài nông thôn, song những công trình nghiên cứu về ông và tác phẩm của ông còn

ít Trong giới hạn luận văn này, người viết muốn bày tỏ tấm lòng yêu mến chân thành với nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn cũng như văn hóa làng quê nông thôn vùng trung du miền núi Bắc bộ và cũng mạnh dạn xin được phân tích, đánh giá bàn thêm về đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn được nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh

giá là “nhà văn của làng quê”, bởi ngay từ khi mới cầm bút, chập chững bước vào nghề viết văn và cho đến tận bây giờ (có lẽ sau này vẫn thế), khi đã trở

thành lão làng trong Hội nhà văn Việt Nam, có trong tay hơn chục đầu sách

Trang 9

có giá trị, ông luôn chỉ chú trọng đặc biệt vào một đề tài với một niềm đam

mê không thể khác là chỉ viết về đề tài nông thôn về cuộc sống hàng ngày của người nông dân ngay trên chính mảnh đất của họ Tác giả Lê Phan Nghị trong

bài báo “Nhà văn của đồng quê” đăng trên tuần báo Văn nghệ đã khẳng định:

“trong suốt cả chặng đường văn chương của mình - Nguyễn Hữu Nhàn đã lặn lội, ki cóp để phần lớn các tác phẩm của ông đều sống động những hình ảnh

về người nông dân, hình ảnh về hoạt động nông nghiệp, nông thôn” [19, tr.7]

Là nhà văn luôn chỉ chú trọng đặc biệt vào đề tài nông thôn, về cuộc sống

hàng ngày của người nông dân, tiểu thuyết tiêu biểu đầu tay “Dốc nắng” ra

đời đã minh chứng cho những ấp ủ ấy của Nguyễn Hữu Nhàn Tác giả Lê

Quang Trang đã nhận định: “Trong Dốc nắng, người đọc có thể nhận ra sự

hiểu biết về nông thôn của tác giả khá giàu có và tỉ mỉ Quan niệm về một nông thôn mới trong hướng đi sắp tới cũng như các chuyện hằng ngày giữa những người nông dân đã hiện lên qua nhiều trang viết khá lý thú của Nguyễn Hữu Nhàn”[25, tr.5]

Theo tác giả Trần Thế Tuấn “sau tiểu thuyết Dốc nắng, Làng Cói Hạ -

cuốn tiểu thuyết vừa ra đời đánh dấu bước phát triển mới của một nhà văn vốn sở trường về đề tài nông thôn” (Làng Cói Hạ niềm tự hào về người chiến sĩ cách mạng sau chiến tranh, số ra ngày 15-9-1990, báo Văn nghệ,

tr.7) Bám sát những đổi thay của xã hội, cuộc sống nông thôn Việt Nam sau đổi mới có nhiều chuyển biến, tích cực có, tiêu cực có Nguyễn Hữu Nhàn đã nhìn thấy được tất cả những mặt đó và ông đã thể hiện một cách khá rõ nét trong tiểu thuyết Làng Cói Hạ Chuyện xảy ra ở một làng quê vùng trung du Bắc bộ Đó là hậu quả của sự nôn nóng ngộ nhận về sở hữu tập thể hình thức, dẫn đến tình trạng người lao động vất vả một nắng hai sương, nhưng có làm

mà không có ăn Tác phẩm ra đời cho thấy sự trưởng thành của nhà văn khi

Trang 10

viết về đề tài nông thôn sau đổi mới “chúng ta có quyền hy vọng đón đợi

những tác phẩm khác tương xứng ở độ chín của tác giả” [23, tr.7]

Sinh ra và được sống giữa một vùng trầm tích văn hóa cổ xưa và đậm đặc vào loại bậc nhất trong cả nước, điều đó đã giúp cho nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn có điều kiện khảo cứu những nét văn hóa của làng quê mình và khéo léo đưa những đặc trưng văn hóa truyền thống ấy vào trong những tác

phẩm văn học Trong bài “Chuyện nhà văn làm khảo cứu và nhà khảo cứu

làm văn học”, PGS.TS Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra được sự kết hợp hài

hòa hai yếu tố giữa nhà khảo cứu văn hóa và nhà sáng tác văn học trong một

nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn “Với những thành tựu đã có, Nguyễn Hữu Nhàn

đang nỗ lực để đạt được hai trong một (nhà khảo cứu trong nhà văn hay nhà văn hóa trong nhà văn)” [26, tr.9] Ra đời ngay sau tiểu thuyết “Làng Cói Hạ”, tiểu thuyết “Chớm nắng” đúng thật như nhận định trên đây về Nguyễn

Hữu Nhàn “nhà văn làm khảo cứu và nhà khảo cứu làm văn học” Đánh giá

về tiểu thuyết này tác giả Đặng Văn trong bài viết “Vài nét về văn hóa làng

qua tiểu thuyết Chớm nắng” trên báo Văn nghệ, số 33 ngày 12-8-2000 đã

viết “Vấn đề trọng tâm của cuốn tiểu thuyết “Chớm nắng” đặt ra là VĂN

HÓA LÀNG”, “Cái được của tác phẩm là tác giả thông qua việc tập dượt chuẩn bị cho lễ hội “trò Táu” một thứ lễ hội cổ truyền đã gần như bị mai một

- và chỉ khuôn lại trong phạm vi một làng đã làm cho người đọc hiểu thế nào

là văn hóa đích thực, cái gì là tinh hoa cần phát huy, cái gì là nhảm nhí, lỗi thời nên bài trừ, củng cố niềm tin cho nhân dân, khơi dậy từ tâm hồn họ những giá trị tinh thần, làm giàu lòng nhân ái, xóa bỏ hận thù, sống với nhau

có tình, có nghĩa và có trách nhiệm” [29, tr.6] Thông qua bức tranh khái quát

về chính nơi tác giả đã sinh sống - Làng Đinh Xá, người đọc nhận ra được

“làng Đinh Xá là bức tranh khái quát của làng quê Việt Nam với đầy đủ

Trang 11

những biểu hiện sinh động của nền văn hóa bản địa" Với phương pháp điển

hình hóa thông qua hàng loạt số phận các nhân vật, tiểu thuyết “Chớm nắng”

cho thấy sự hiểu biết của tác giả về “những tầng văn hóa, những dấu ấn lịch

sử và cả nhân tình thế thái trong mối quan hệ đa chiều mang tính đặc thù của làng quê Việt Nam xưa và nay” [29, tr.6]

Đúng như PGS TS Phan Trọng Thưởng đã viết “Nhà văn không chọn

được nơi sinh nhưng lại có thể chọn cho mình nơi sống và gắn bó Mỗi nhà văn thường có một vùng đất, một miền quê, một địa bàn của mình” [26, tr.9]

Tại “miền quê” của mình mỗi nhà văn tìm ra được rất nhiều điều để viết Nhà

văn Nguyễn Hữu Nhàn cũng vậy Trong một bài viết trên báo Văn Nghệ, nhà

lí luận phê bình Văn Giá đã chỉ ra đặc điểm nổi bật qua những sáng tác của

Nguyễn Hữu Nhàn “Nguyễn Hữu Nhàn không đi vào những vấn đề tố khổ,

hoặc phê phán chống tiêu cực, hoặc làm ăn chuyển đổi kinh tế… mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú đi vào các vỉa tầng văn hóa của làng quê thời hiện đại” [4, tr.9] Sinh ra, trưởng thành và phần lớn những

năm tháng cuộc đời sống gắn bó với làng quê nên Nguyễn Hữu Nhàn hiểu về

người nông dân, về cuộc sống nông thôn đến “chân tơ kẽ tóc”: “Nhà văn của

đồng ruộng này rất giỏi khi chỉ ra tâm tính, thói tật của người nhà quê Đó là tính gia trưởng hách dịch, thói lắm mồm hay chửi, thói quen sống tùy tiện, bệ rạc, tính hiếu thắng, căn bệnh sĩ diện rởm, tính keo bẩn hà tiện… Thôi thì bao nhiêu tật xấu của con người, ở nhà quê đều có cả Nhà văn cũng trình bày những âu lo về tình trạng suy thoái nghiêm trọng của tâm tính con người, rộng ra là của văn hóa làng quê" [4, tr.9]

Cái gốc cuộc sống con người Việt Nam ta chính là nông thôn, là những người nông dân Bao nhiêu nét đẹp văn hóa truyền thống cũng bắt đầu từ cái gốc rễ này Ăn đời ở kiếp nơi vùng nông thôn trung du miền núi Bắc Bộ, Nguyễn Hữu Nhàn qua những trang viết của mình đã viết rất thật về con

Trang 12

người nông thôn Qua việc đọc hai truyện ngắn: “Làng quê yên ả và Người

quê” của Nguyễn Hữu Nhàn, tác giả Nguyễn Văn Chỉ đã nhận định: “Tác giả đã ca ngợi những người nông dân ở một vùng quê thuần hậu có nhiều đức tính tốt: mộc mạc, chất phác mà đậm đà tình nghĩa thủy chung" Tuy nhiên,

bản tính con người không chỉ tồn tại ở một loại người, mối quan hệ trong cuộc sống của con người không chỉ tồn tại đơn lẻ, mà cuộc sống bộn bề hàng ngày lại luôn luôn cuộn chảy Ý thức sâu sắc được điều này, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn chỉ qua hai truyện ngắn này đã cho thấy được cái nhìn nhiều chiều trong khi thể hiện bản tính của người nông dân, như trong truyện ngắn

“Người quê”: “dưới con mắt bà Tú thì ông Vũ là một ông nông dân cục mịch, quê kệch, bẩn thỉu và không lịch sự chút nào” Ngược lại, ông Thanh (chồng

bà Tú) rất quý ông Vũ: “Vũ tuy ít học, nhưng ngay thật, thẳng thắn, trọng tình hơn trọng của”, hay mối quan hệ nhiều chiều cũng như những tình cảm

đã trở thành truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt qua truyện ngắn

“Làng quê yên ả”: “Cốt lõi là tình đoàn kết: tình làng nghĩa xóm, tình cảm

họ hàng, tình cảm gia đình yêu thương đầm ấm, hòa thuận Mỗi khi có công

to việc lớn, lúc vui lúc buồn họ đều quây quần giúp đỡ, chia sẻ lẫn nhau như

lá lành đùm lá rách Đoàn kết là sức mạnh đã trở thành truyền thống cực kì quý báu của nhân dân ta, nên đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng gia đình hạnh phúc, làng quê đẹp giàu” [1, tr.9]

Cũng như nhiều tác giả khác, tác giả Vũ Hà trong bài viết “Nguyễn

Hữu Nhàn - Nhà văn của nhà quê” cũng đã có những nhận định rất xác

đáng về Nguyễn Hữu Nhàn cũng như các tác phẩm của ông: “là một cây bút

chuyên viết chuyện nông thôn và người nông dân”, khi đọc những tác phẩm

của Nguyễn Hữu Nhàn, người đọc nhận ra “trước hết là không khí “rất quê”

đang diễn ra hiện nay ở nông thôn vùng Trung du, xứ Bắc Cái không khí ấy được tạo dựng bởi những con người chân quê, thô tháp, tủn mủn đang phải

Trang 13

đương đầu với cái đói cái nghèo cùng những thói quen, tập tục lạc hậu từ xưa

để lại, những cá tính “truyền thống” còn “di căn” đến tận hôm nay” [5, tr.19]

Là một nhà văn chuyên chú trọng vào một đề tài là nông thôn vùng trung du miền núi Bắc Bộ, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn có thể nói đã thành công trong chính đề tài yêu thích đó của mình Có được những thành công đó

chính bản thân nhà văn đã nói “Tôi cố thủ trong pháo đài làng xã!” Trong

bài phỏng vấn của hai nhà báo Đinh Hằng - Nam Hải, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã cho thấy được quan niệm hết sức nhất quán của bản thân về văn hóa làng xã, về cuộc sống nông thôn như những gì mà ông đã thể hiện trong các sáng tác của mình Ông quan niệm cần giữ gìn truyền thống văn hóa làng như

giữ gìn sự sống còn vận mạng của dân tộc: “Văn hóa làng xã là một pháo đài

suốt nhiều nghìn năm của đất Việt Sở dĩ quá trình đồng hóa của phương Bắc thất bại vì vướng phải pháo đài này, cha ông ta giữ được độc lập hay không cũng bởi sự bền vững hay suy vong của nền văn hóa” Nhà văn khẳng định

những phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng chính là cơ sở quan trọng để duy trì

truyền thống văn hóa làng xã, văn hóa dân tộc: “Ở những làng cổ giàu truyền

thống văn hiến, văn hóa, ta thấy rất rõ nhiều giá trị truyền thống được trưng cất lên bởi các phong tục lễ nghi, thuần phong mỹ tục… Nếu không có tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng gia tiên, không thờ người có công với làng xã…và nhiều tục lệ khác thì ta đâu có được truyền thống “uống ước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”" Mặc dù đất nước ta đang trên con đường

công nghiệp hóa - hiện đại hóa, gia nhập WTO nhưng không phải thứ gì cũng

có thể tùy tiện “áp vào nền văn minh lúa nước", “văn hóa làng chỉ có một,

nếu bị phá hỏng thì mất vĩnh viễn”, Vì vậy, theo nhà văn “phải lấy văn hóa làng làm thế mạnh, làm bệ phóng cho Việt Nam trước thời cuộc mới! Đừng đi giày Tây mà lội ruộng!” Những quan niệm trên đây của Nguyễn Hữu Nhàn

phải chăng cũng là lời khẳng định sẽ không thay đổi vùng đề tài sáng tác cho những chặng đường làm nghệ thuật sau này của nhà văn [7, tr.8-9]

Trang 14

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận văn là: “Đề tài nông thôn trong sáng tác

của Nguyễn Hữu Nhàn” và như trên đã trình bày, toàn bộ sự nghiệp sáng tác

của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn chỉ chung thủy với một đề tài duy nhất là đề tài nông thôn, do đó, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi nằm trong phạm vi tất cả các sáng tác của nhà văn có liên quan đến đề tài này gồm các tác phẩm

ở các thể loại dưới đây:

- Gió thổi qua rừng (2007)

- Vui như hội (2009)

- Nguyễn Hữu Nhàn - tác phẩm chọn lọc - tuyển (2009)

* Công trình nghiên cứu về văn hóa:

- Nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Phúc

- Nghiên cứu văn hóa làng Phú Thọ - giải B Hội Văn nghệ Dân gian Việt

Nam (phối hợp cùng Nguyễn Khắc Xương)

Trang 15

- Nghiên cứu mối liên hệ văn hóa Việt Mường - Giải C Hội Văn nghệ Dân

gian Việt Nam (phối hợp với Nguyễn Khắc Xương)

- Nghiên cứu văn hóa người Dao ở Phú Thọ (phối hợp với Phạm Thị Nga)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình khảo sát, triển khai thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng phối hợp đồng bộ những phương pháp sau:

4.1 Phương pháp thống kê - phân loại: Bằng phương pháp thống kê,

phân loại, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại về một số phương diện như hình tượng nhân vật, hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ, giọng điệu…Tất cả các yếu tố đó biểu hiện cụ thể trong từng tác phẩm ở mỗi giai đoạn, thời kì sáng tác Từ đó tìm ra được những đặc sắc riêng của Nguyễn Hữu Nhàn khi viết về

đề tài nông thôn Việc thống kê, phân loại còn cung cấp những số liệu quan trọng, hỗ trợ cho việc rút ra những kết luận, đồng thời là cơ sở để so sánh, đối chiếu

4.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu: Trong quá trình tiến hành nghiên

cứu những tác phẩm viết về đề tài nông thôn của Nguyễn Hữu Nhàn chúng tôi

có đối sánh với các tác phẩm viết về đề tài nông thôn của các nhà văn khác cùng thời Từ đó giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng thể, rõ nét nhất và đi tới những nhận định chung nhất về thành công và hạn chế của Nguyễn Hữu Nhàn khi viết về đề tài này

4.3 Phương pháp phân tích: Chúng tôi tiến hành phân tích lần lượt từ

bức tranh hiện thực đến thế giới nhân vật ở cả bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật từ đó tạo ra cái nhìn toàn diện về các phương diện nội dung và

nghệ thuật về đề tài nông thôn trong những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

4.4 Phương pháp hệ thống: Với phương pháp này, chúng tôi coi toàn

bộ tác phẩm là một chỉnh thể, có nhiều phương diện, yếu tố và cấp độ yếu tố, như quan niệm nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật, kết cấu, trần thuật… Mỗi một yếu tố lại bao gồm các cấp độ nhỏ hơn Chẳng hạn, trần thuật trong văn

Trang 16

bản bao gồm giọng điệu, ngôn từ… Đồng thời, nhìn thấy mối liên hệ giữa các yếu tố, đặc điểm trong chỉnh thể nghệ thuật

Các phương pháp trên được vận dụng phối hợp, linh hoạt để có được một cái nhìn tương đối bao quát về cách thể hiện đề tài nông thôn với những biểu hiện rất riêng của Nguyễn Hữu Nhàn, cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu phản ánh những vấn đề hiện thực mang tính thời sự trong dòng chảy của

hệ thống đề tài đương đại

5 Đóng góp của luận văn

Hòa nhịp chung vào không khí của Đảng, Chính phủ cổ vũ phát động các nhà văn, nhà thơ hướng đến miền đề tài nông thôn dường như đang bị lãng quên, luận văn này xin được đóng góp thêm việc tìm hiểu một nhà văn thân quý của nông thôn Việt Nam, bước đầu chỉ ra được đặc điểm cơ bản về

đề tài nông thôn thông qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn, bên cạnh

đó tìm ra được những độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn của nhà văn

Việc khảo sát và nghiên cứu đề tài nông thôn trong truyện Nguyễn Hữu Nhàn chưa nhiều, chưa có hệ thống cũng như chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về đề tài này ra đời Do đó, chúng tôi cố gắng bổ sung thêm một số nhận định có ý nghĩa khoa học bên cạnh những ý kiến đã có về vấn đề này Thực hiện luận văn, chúng tôi không mong muốn gì hơn là đóng góp một chút công sức của mình vào công tác nghiên cứu, phê bình Văn học Việt Nam hiện đại về nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung

của luận văn được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Khái quát về đề tài và đề tài nông thôn trong văn học Chương 2: Bức tranh hiện thực về nông thôn trung du miền núi Bắc Bộ thời kỳ trước và sau đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

Trang 17

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

Trang 18

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI

VÀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC

1.1 Khái quát về đề tài

1.1.1 Khái niệm đề tài

Đề tài là vấn đề lí luận có quan hệ mật thiết tới việc nghiên cứu và sáng tác văn học, phản ánh tài năng, sở trường, phong cách và thế giới quan của nhà văn trong việc phản ánh hiện thực Ðề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa, miêu tả và thể hiện, tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm Đề tài là thuật ngữ gắn liền với nội dung tác phẩm, là vấn đề

có ý nghĩa nền móng để làm nên tác phẩm văn học Có thể nói, đề tài là khái niệm trung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và bản thân đời sống

Khi nghiên cứu lao động sáng tạo của nhà văn, A.Xâytlin đã nói rằng, bắt tay vào xây dựng tác phẩm, nhà văn phải làm một loạt công việc gắn bó hữu cơ với nhau mà thứ nhất là xác định đề tài tác phẩm Một đề tài thích hợp

là khâu yếu thứ nhất của toàn bộ công việc xây dựng tác phẩm thành một

chỉnh thể thẩm mỹ M.Gorki đã có định nghĩa rất xác đáng về đề tài: “Đề tài

là tư tưởng nảy sinh trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi ra”

Khái niệm đề tài cũng đã được đề cập đến trong nhiều sách lí luận văn học

Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), đưa ra khái niệm đề tài: “là khái niệm chỉ

loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm" Cũng

Trang 19

theo cuốn từ điển này thì: “cần phân biệt đề tài với tư cách là phương diện

khách quan của nội dung tác phẩm với đối tượng nhận thức, chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực tế của sáng tác văn học Lẫn lộn hai mặt này sẽ dẫn tới tình trạng biến việc phân tích tác phẩm thành phân tích đối tượng được miêu tả Đối tượng nhận thức, miêu tả của sáng tác văn học là cái còn nằm ngoài tác phẩm, đối diện với tác phẩm Đề tài của tác phẩm là một phương diện trong nội dung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm

Cùng quan niệm như trên, sách Lí luận văn học do tác giả Trần Đình

Sử chủ biên cũng cho rằng: “Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của

hiện tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài” [21, tr.194]

Có thể nói, phạm vi hiện thực mà nhà văn tâm huyết nhất trong tác phẩm của mình, đó là những yếu tố mở đường cho thành công sáng tạo không lựa chọn được phạm vi hiện thực, nhà văn không thể thực hiện thành công quá trình sáng tạo Do đó, đề tài là phạm vi hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm thể hiện thế giới quan của nhà văn, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn và tư duy của nhà văn Đó là sự khái quát phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm, phản ánh tài năng, vốn sống, tâm huyết của người cầm bút trong cuộc đời nghệ thuật

Trang 20

1.1.2 Đặc điểm chung của đề tài

1.1.2.1 Ðề tài và hệ thống đề tài

Trong tác phẩm văn học, thường không phải chỉ có một đề tài mà có rất nhiều đề tài liên quan nhau, bổ sung cho nhau để tạo thành một hệ thống đề

tài Pospelôp cho rằng: “Hệ đề tài là toàn bộ đề tài của tác phẩm hoặc sáng

tác” Chẳng hạn, Truyện Kiều của Nguyễn Du vừa có đề tài về tình yêu, về

hạnh phúc lứa đôi, về quan lại “mặt sắt đen sì”, về nông dân khởi nghĩa, về cuộc đời của các cô gái lầu xanh Các đề tài đó gắn bó chặt chẽ với số phận

bi thảm của nàng Kiều Trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, bên cạnh đề tài về cuộc sống bi thảm của người nông dân còn có các đề tài về cuộc sống của bọn quan lại tham lam, ích kỉ, về cuộc đời của các em bé nghèo khổ Như vậy, đề

tài có thể tồn tại ở nhiều cấp độ, thực chất đề tài là một “khái niệm về loại của

hiện tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài”, cho nên có đề tài về người nông dân bị lưu manh hóa (Chí Phèo - Nam Cao), có đề tài về người công nhân bị bần cùng hóa (Lầm than - Lan Khai), có đề tài về cuộc sống bế tắc của người trí thức nghèo trước cách

mạng (Sống mòn - Nam Cao)… phản ánh các bình diện khác nhau trong cuộc

sống Khi nói đến đề tài của một tác phẩm hoặc của văn học nói chung, thực chất không phải chỉ nói một đề tài mà là cả một hệ thống đề tài liên quan nhau, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm

1.1.2.2 Ðề tài và phạm vi phản ánh

Phạm vi phản ánh của đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau ở

biên độ của nó Đó có thể là một “giới hạn bề ngoài” hoặc “phương diện bên

trong của đề tài” Các hiện tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại

theo mối liên hệ bề ngoài hoặc theo mối liên hệ bên trong giữa chúng

Theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác

phẩm có thể xác định các đề tài văn học như: đề tài thiên nhiên (Tràng giang -

Huy Cận) đề tài loài vật (Dế mèn phiêu lưu ký - Tô Hoài), đề tài sản xuất (Cái

Trang 21

sân gạch - Đào Vũ), đề tài chiến đấu (Xung kích - Nguyễn Đình Thi)… Ở đây,

các phạm trù xã hội, lịch sử giữ vai trò quan trọng, vì thế người ta có thể xác định các đề tài như: đề tài nông thôn, thành thị, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức…

Cũng có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm

vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu tả trong tác phẩm Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiện tượng xã hội - lịch sử xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay của một giới nào đó Ví như: đề tài số phận của người chinh

phụ (Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm), người cung nữ

(Cung oán ngâm - Nguyễn Gia Thiều), đề tài con người hào hoa (Chữ người

tử tù - Nguyễn Tuân)… Ở giới hạn bên trong của đề tài, bản chất xã hội của

cuộc sống, của tính cách và số phận con người giữ vai trò quan trọng Không

có các phạm vi hiện thực dài rộng khác nhau đó, không thể có những kết quả sáng tác phong phú và đa dạng trong các tác phẩm của nhà văn Song phạm vi hiện thực còn quan hệ mật thiết với thời gian và không gian trong tác phẩm

Đi sâu vào phạm vi hiện thực trong tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn, ta thấy nhà văn thường có sự phối hợp linh hoạt cả giới hạn bên trong và bên ngoài của đề tài để sáng tạo nên thế giới nghệ thuật

1.1.2.3 Tính lịch sử - cụ thể của đề tài

Ðề tài của tác phẩm thường gắn chặt với hiện thực cuộc sống của thời đại mà nhà văn đang sống, vì vậy nó mang tính lịch sử xã hội sâu sắc Tìm hiểu quá trình phát triển của lịch sử văn học, có thể nhận thấy trong mỗi thời

kì lịch sử khác nhau, thường nổi lên những loại đề tài trung tâm khác nhau Trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ 18 nửa đầu thế kỉ 19, đề tài về số phận của người phụ nữ chiếm một vị trí đáng kể trong trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa Việt Nam Trong giai đoạn từ 1945-1975, đề tài về người chiến sĩ cách

Trang 22

mạng, về những người công nhân tiên tiến lại nổi lên hàng đầu

Có những đề tài dường như thường được lặp đi lặp lại trong văn học ở mọi nơi và mọi thời đại Chẳng hạn đề tài về tình yêu và hạnh phúc, chiến tranh và hòa bình, sự sống và cái chết Có người cho rằng đấy là những đề tài vĩnh cửu của văn học Thật ra, đó chỉ là một cách nói Bởi vì, ngay chính một nhà văn khi viết về một phạm vi cuộc sống thì đề tài của tác phẩm cũng đã là một cái gì mới mẻ, không lặp lại

Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận xét về cách tiếp cận đề tài của nhà

văn trong cuốn “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”, như sau:

“Trong thực tế của đời sống văn học, thường thấy hiện tượng này: các

nhà văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài ưa thích nhất và ông ta chỉ có thể viết hay về những đề tài ấy mà thôi Khi vì một lí do nào đó, ông ta hướng ngòi bút ra ngoài khu vực đề tài ấy, thì ông ta không còn sắc sảo nữa, tác phẩm trở nên nhạt nhẽo, hình tượng thiếu sức sống, thiếu linh hồn, tài năng dường như rời bỏ ông ta…” [10, tr.12-13]

1.2 Đề tài nông thôn trong văn học và trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

1.2.1 Đề tài nông thôn trong văn học

Đất nước và con người Việt Nam ngàn đời nay luôn tự hào có nền văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước Mọi thế hệ người Việt Nam lớn lên và trưởng thành từ cái nôi văn minh nông nghiệp ấy Trải qua các thời kì lịch sử, nông thôn luôn là môi trường sống bền bỉ của người nông dân Con người Việt Nam đã tạo nên một nền sản xuất nông nghiệp và một truyền thống lịch

sử văn hóa riêng Nông thôn - nông nghiệp là hai khái niệm luôn song hành

cùng nhau Nói đến nông thôn là nghĩ đến “rơm rạ, lúa ngô khoai sắn”- những sản phẩm của nông nghiệp Nông thôn là cái nôi chứa đựng và nuôi

dưỡng những truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc ta Nhưng thực tế lao động sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước lại là cơ sở để hình thành, sản sinh

Trang 23

những truyền thống văn hóa lâu đời ấy Sự gắn bó hữu cơ, chặt chẽ có tính chất đồng sinh đồng dưỡng ấy làm nên đặc trưng văn hóa nông thôn, nuôi dưỡng tâm hồn người Việt từ đời này sang đời khác Nông thôn, theo “Từ

điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt”, được hiểu là “Vùng đất rộng không

ngăn rào, ở ngoài những thành phố, dành cho việc trồng trọt, có dân ở tập trung trong các thôn xóm” [3, tr.614] Nông thôn đang là nơi cư trú chiếm số

đông dân nhất trên khắp nước ta, tính đến năm 2009, có đến 70,4% dân số nước ta đang sinh sống ở vùng nông thôn Bên cạnh đó nông nghiệp là

“ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” [18, tr.952] Bởi thế, từ văn học dân gian đến hiện đại,

nông dân - nông nghiệp - nông thôn luôn là một đề tài truyền thống trong văn học Việt Đây là điểm nổi bật có tính tất yếu đối với một nước nông nghiệp như nước ta Phần lớn dân số Việt Nam đều có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn Do đó, văn học dù viết về chốn đồng quê hay thành thị đều ít nhiều mang dấu ấn cảm thức về nông thôn

Văn học dân gian ngay từ thuở khai sinh đã phản ánh được tiếng nói ngợi

ca cuộc sống nông nghiệp của nhân dân ta, đề tài nông thôn biểu hiện qua cuộc sống lao động của người nông dân đã trở thành đề tài chủ đạo trong các bài ca dao, dân ca :

- Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

- Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

- Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu

Đến văn học trung đại đề tài nông thôn tập trung thể hiện cuộc sống thanh nhàn, thú điền viên, ẩn dật nơi thôn quê qua những tác phẩm của một số tác giả như Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Trang 24

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

[26, tr.296-297]

Nguyễn Trãi:

Một cày một cuốc thú nhà quê Áng cúc lan xen vãi đậu kê Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng Chè tiên, nước ghín, nguyệt đeo về

[26, tr.242]

Đến thơ của Nguyễn Khuyến diện mạo nông thôn qua cảnh sống lam lũ của người nông dân cũng như cảnh sắc thiên nhiên được miêu tả có phần khác trước đó, nó cụ thể và hiện thực hơn Nhận xét về bức tranh làng quê trong

thơ Nguyễn Khuyến, giáo sư Nguyễn Đình Chú viết “Bức tranh làng quê này

đại thể có hai mảng: cảnh vật của đất trời và cuộc sống con người Cảnh đất trời thì thanh sơ xinh đẹp đáng yêu biết bao, nhưng phơn phớt một sắc buồn tỏa ra từ nỗi buồn thời thế của Nguyễn Khuyến ở buổi ấy Còn cuộc sống con người thì tiêu điều, xơ xác quá đỗi” [2, tr.14] Nguyễn Khuyến được gọi là

nhà thơ của nông thôn Gọi như vậy là vì ông đã viết về nông thôn với tình cảm, với sự trăn trở lo âu của con người ở nông thôn thực sự Trang trải lòng mình với những vui buồn của quê hương lam lũ, đây là cảnh mất mùa trong thơ ông :

Năm nay cày cấy vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa

[26, tr.360]

Hay cảnh sống thanh bần nơi làng quê :

Trang 25

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa Chợ búa trầu cau chẳng dám mua

[26, tr.360]

Văn học hiện đại mang một diện mạo khác hẳn - chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của lịch sử Ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, văn học phản ánh sự xâm nhập sâu sắc của chế độ thực dân tới đời sống nông thôn Việt Nam Những cây bút xuất sắc của trào lưu hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân đã hướng ngòi bút của mình vào tất cả những vấn đề nhức nhối của nông thôn, đời sống tăm tối nghèo khổ của người nông dân Một nông thôn đói nghèo xơ xác, người nông dân bị tha hóa …Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975, văn học ngoài việc phản ánh sự phong phú,

đa dạng của đời sống hiện thực vẫn tiếp tục phản ánh đề tài nông thôn thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Sau Đại hội VI của Đảng (1986), hàng loạt tác phẩm viết về đề tài nông thôn

ra đời với cái nhìn mới mẻ, dân chủ, khách quan, toàn diện hơn Đặc biệt, trong khoảng 5 năm trở lại đây, mảng đề tài này rất được các nhà văn quan tâm với nhiều vấn đề mang tính thời sự đặt ra trước tình hình phát triển chung của xã hội trong bối cảnh thời đại mới

1.2.2 Đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

1.2.2.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn

Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn sinh ngày 11 tháng 12 năm 1938 Ông quê

ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Cuộc đời ông trải qua nhiều biến

cố đổi thay, hợp tan tan hợp, khi thăng khi giáng, rủi may may rủi Nguyễn

Hữu Nhàn học hết cấp hai năm 1958 Ông nói ngày ấy có bằng cấp hai (học

hết lớp 7 hệ 10 năm) đã là hiếm và tấm bằng có giá trị xin việc đi thoát li rồi

Thành phố Việt Trì hồi cuối thập niên 50 thế kỷ trước là một trong hai khu

Trang 26

công nghiệp lớn của miền Bắc Thanh niên Hà Nội cùng trai gái vùng châu thổ sông Hồng nô nức ngược miền sơn cước đến Việt Trì xây dựng công trường, nhà máy, tạo dựng cuộc đời mới Nguyễn Hữu Nhàn nhập hội cùng đội ngũ xung kích tuổi thanh xuân đang phơi phới ấy Ông rời rừng cọ, đồi chè quê nhà xuống miền đô hội học lớp kế toán tài vụ Và vì học giỏi nên được giữ lại Bộ Giao thông xung vào đội quân thi công cơ giới lưu động Nhưng Nguyễn Hữu Nhàn nằng nặc đòi về công ty đường sông ngày ấy đóng

ở Việt Trì, Phú Thọ quê hương ông Từ đó đến nay ông chung thủy với mảmh đất Việt Trì và giờ ông đang sống tại thôn Quế Trạo, xã Dữu Lâu, thành phố Việt Trì

Nguyễn Hữu Nhàn ngay từ thủa nhỏ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

đã mơ ước sau này là một nhà văn, ông say mê đọc các tác phẩm của các nhà văn viết về nông thôn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao và ông cũng đã bắt đầu từ niềm say mê ấy mà sưu tầm những di tích, lịch sử, và những giai thoại, những mẩu truyện viết về làng quê mình

Sau này thoát ly gia đình, đi công tác ở các cơ quan nhà nước, ngoài giờ chuyên môn ông dành tất cả thời gian cho sáng tác văn học Những truyện đầu tay của ông đã được đăng tải trên các tạp chí văn nghệ ở địa phương và

trung ương sau này tập hợp lại in thành tập truyện ngắn có tên là “Chuyện

Làng Gành” tiếp đó là tiểu thuyết “Dốc Nắng” do nhà xuất bản Thanh Niên

in năm 1981 và đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước ông được kết nạp vào Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Hữu Nhàn không những là nhà văn mà còn là nhà nghiên cứu sưu tầm văn hoá làng xã, đặc biệt là các công trình nghiên cứu văn nghệ dân gian của các dân tộc Mường, Dao rất có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.Tất cả những yếu tố đó sau này là cơ sở vững chắc giúp cho Nguyễn Hữu Nhàn trở thành nhà văn xuất sắc của mảng đề tài viết về nông thôn

Trang 27

1.2.2.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn gắn liền với

đề tài nông thôn

Từ hồi còn ngồi trên ghế trường phổ thông, Nguyễn Hữu Nhàn đã mê

đọc “Thời thơ ấu” của Gorki, “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng, và

nuôi mộng ước trở thành nhà văn Rồi cái mộng ước ấy ngày càng thôi thúc lớn dần trong ông Nhưng nó thật sự có điều kiện được phát lộ kể từ ngày Nguyễn Hữu Nhàn theo học khóa III trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ – Hội Nhà văn Việt Nam, 1968 Sau ngày ra trường, Nguyễn Hữu Nhàn về nhận công tác ở Phòng Xuất bản Sở Văn hóa tỉnh Vĩnh Phú Tiếp đến ông chuyển về Hội Văn nghệ dân gian, rồi Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ

tỉnh Vĩnh Phú Cùng với năm tháng công tác, Nguyễn Hữu Nhàn xuống “ba

cùng” với nhân dân, với thực tế cuộc sống ở bản làng xa xôi heo hút vùng Đất

tổ, những chuyến đi ấy đã giúp cho ông có một vốn sống phong phú mà không phải ai cũng có được Trong những ngày Nguyễn Hữu Nhàn đi điền dã, khảo cứu, sưu tầm văn hóa văn nghệ dân gian, ông luôn có ý thức tự học bằng cách ghi chép vun góp những hiểu biết, những phát hiện về cuộc sống nơi thôn dã mình đi qua Người đọc, người xem những tiểu thuyết, truyện ngắn, bài báo hay những bộ phim dài tập kịch bản của Nguyễn Hữu Nhàn đều cảm được cái tinh túy, thâm hậu, sâu sắc, đôi khi dung dị thô mộc như đời sống nhưng nó gây được hiệu ứng cảm xúc đánh thức những vùng tối, đánh thức lòng trắc ẩn tới cõi ngóc ngách riêng tư của con người Chúng ta hãy đọc

“Làng nghèo”, “Làng quê yên ả”“Người quê”, “Đám cưới ở làng” và rất

nhiều, rất nhiều truyện khác nữa của ông sẽ chia sẻ được điều này Không thể

kể ra hết những gì Nguyễn Hữu Nhàn đã viết, đã gửi gắm tâm trí, tấm lòng mình cho cuộc đời thông qua các tác phẩm, những câu chuyện về nông thôn, làng quê, người quê của ông Nguyễn Hữu Nhàn có lối viết riêng, một phong cách Nguyễn Hữu Nhàn không lẫn với ai viết về làng quê, người quê Trong

Trang 28

suốt quá trình sáng tác ở những thập niên qua, ông đã cho công bố số lượng tác phẩm cụ thể như sau:

* Truyện:

- Chuyện làng Giành - tập truyện ngắn - 1975

- Dốc nắng - tiểu thuyết - 1984

- Nữ tướng trên núi - truyện tranh - 1988

- Làng Cói Hạ - tiểu thuyết - 1989

- Không cô đơn - tiểu thuyết - 1993

- Truyện kể trong làng - tập truyện - 1994

- Phố làng - tập truyện ngắn - 1999

- Chớm nắng - tiểu thuyết - 2000

- Người quê - tập truyện ngắn - 2005

- Tết ở Bản Dèo - tập truyện ngắn - 2006

- Gió thổi qua rừng - tập truyện ngắn - 2007

- Rừng cười - tiểu thuyết - 2008

- Vui như hội - tập truyện ngắn - 2009

- Nguyễn Hữu Nhàn - tác phẩm chọn lọc - tuyển - 2009

* Kịch bản và tác phẩm văn học được chuyển thể thành kịch bản phim đã chiếu trên Đài Truyền hình Việt Nam:

- Gió thổi qua rừng - 7 tập

Trang 29

* Công trình nghiên cứu về văn hóa:

- Nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Phúc

- Nghiên cứu tục múa mỡi của người Mường

- Nghiên cứu văn hóa làng Phú Thọ (phối hợp cùng Nguyễn Khắc Xương)

- Nghiên cứu mối liên hệ văn hóa Việt Mường (phối hợp với Nguyễn

Khắc Xương)

- Nghiên cứu văn hóa người Dao ở Phú Thọ (phối hợp với Phạm Thị Nga)

- Nghiên cứu hiện tượng thơ Bút Tre (phối hợp với Nguyễn Quang Nam)

- Nghiên cứu về nền văn nghệ kháng chiến chống Pháp ở Phú Thọ

Trang 30

Chương 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC VỀ NÔNG THÔN TRUNG DU MIỀN NÚI BẮC BỘ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN

Có thể tạm chia sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn làm hai thời kì: Từ năm 1986 trở về trước và sau năm 1986 đến nay, hay nói cách khác, thời kì trước Nghị quyết X - đó là thời kì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cuộc sống lao động sản xuất nông nghiệp của người nông dân tập trung theo mô hình những hợp tác xã và thời kì sau 1986 - đó là thời kì đổi mới với năm thành phần kinh tế trong đó kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển và

cơ chế thị trường ảnh hưởng sâu rộng, tác động sâu sắc đến đời sống của nông thôn Việt Nam Toàn bộ phần nội dung thuộc chương II này sẽ đi sâu vào làm sáng tỏ bức tranh hiện thực về nông thôn vùng trung du miền núi Bắc Bộ qua hai thời kì nêu ở trên và qua những tác phẩm cụ thể của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn 2.1 Cảnh sắc làng quê - đặc trưng của nông thôn trung du miền núi Bắc

Bộ thời kì trước và sau đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên làng quê thời kì trước khi đổi mới

Không gian đặc trưng của làng quê Việt Nam luôn gắn với những hình ảnh quen thuộc như dòng sông, cánh đồng, mái đình, cây đa, ao làng… tất cả đều gợi lên cảm giác thanh bình, yên tĩnh, thậm chí hoang sơ, hiu hắt Không gian ấy vừa tĩnh lặng vừa mang vẻ đẹp bình dị, tinh tế của hồn quê Không gian làng quê trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn vừa có những nét chung vốn có của làng quê Việt Nam vừa mang đậm nét đặc trưng riêng của cảnh sắc làng quê vùng trung du đồi núi Bắc Bộ Làng quê ở đây không đông đúc, nhà cửa san sát bằng phẳng nhiều ao hồ như những làng quê vùng đồng bằng chiêm trũng, mà nó thưa thớt, hoang sơ Cảnh sắc làng quê luôn

gắn liền với hình ảnh núi đồi gập ghềnh hoặc những hình ảnh rất đỗi thân

thuộc gần gũi trong đời sống con người như con đường làng, cái cổng tre của

Trang 31

mỗi gia đình hay đơn giản chỉ là một vài nét chấm phá để làm hiện lên cảnh

sắc rất đặc trưng của vùng quê trung du: “Con đường mở qua những quả đồi

Có chỗ, mặt đường nằm cheo leo ở sườn đồi, một bên vách cao, một bên thành sâu Cỏ gianh, lau, sậy và cây dây leo mọc chen chúc từ dệ đường xuống, che kín chiều sâu thăm thẳm của bờ vực Ở mặt ta-luy mé trong có những cây chít, mọc cheo leo như sắp rơi xuống; thỉnh thoảng có những cụm hoa mẫu đơn mọc nghiêng, đỏ như những bó đóm soi xuống lòng đường"

[11, tr.196]

Trong những tác phẩm viết ở thời kỳ này, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn khi miêu tả thiên nhiên đã không xa rời cái vốn có của nó, ông chú trọng đến tính tự nhiên, đến yếu tố nguyên sơ của cảnh sắc Cuộc sống tự nhiên vận động theo chu kỳ ngày đến đêm, và đây là không gian buổi sáng với không

khí trong lành trên quê hương vùng trung du: “Mặt trời nhô lên, ánh nắng lia

ngang vào lớp lá sặt ngoài cùng; lớp lá nọ nhòe màu vào lớp lá kia để rừng sặt có vẻ đẹp sâu thăm thẳm như tranh sơn mài Những con chim chào mào, họa mi đang bay về rừng sặt Bầu trời buổi sáng rộng dài vì tiếng chim" [11,

tr.227] Đặc trưng của vùng trung du đồi núi hiện lên khá rõ nét, tựa như những thước phim quay chậm, âm thanh và hình ảnh chan hòa vào nhau, buổi sáng ban mai tươi mát, rực rỡ, rộn ràng với rất nhiều âm thanh của nhiều loài chim đua nhau hót, nào là khướu, họa mi

Thiên nhiên nơi vùng quê trung du bao giờ cũng vậy luôn luôn khắc nghiệt hơn vùng đồng bằng, rét cũng đậm hơn vì có nhiều núi đá vôi, mà nắng thì cũng gắt hơn vì nhiều đồi núi, đất đai cằn đá sỏi Vùng quê trong tác phẩm

của Nguyễn Hữu Nhàn đúng là vùng đất như dân gian thường nói “chó ăn đá,

gà ăn sỏi” Cái nắng chói chang, cháy da, cháy thịt được tác giả nói đến qua

nhiều tác phẩm, và phải chăng đó cũng là ấn tượng để tác giả dùng đặt tên cho

các tác phẩm như “Dốc nắng, chớm nắng” Đây là cái nắng gắt của một buổi

Trang 32

trưa hè chụp lên cái làng đồi nghèo đói: “Bầu trời như cái gương lồng sáng

chói úp chụp lấy cái làng đồi Từng chòm xóm, từng đồi hoang, rừng cây, vạt ruộng… bị phơi bày dưới nắng hè chan chan" [11, tr.5] Đọc những tác phẩm

của Nguyễn Hữu Nhàn ở thời kỳ trước đổi mới có lẽ cái ấn tượng với người

đọc nhiều nhất chính là cảnh nắng chói chang của buổi trưa hè “Nắng vàng

hai mắt cô Cô chợt thấy làng mình đang héo lả trong cái nắng hè chang chang: Những tàu cọ xém nắng đen đi một góc; mấy tàu lá chuối hiếm hoi đã

úa vàng; những cành tre rũ ra đường đều quăn lá; những bụi sim mua mọc hai ven đường cằn thấp xuống; đồi bạch đàn, mấy tháng trước, lá còn xanh bây giờ ngả ra màu tím; thân bạch đàn bong vỏ, trắng bợt, trong xa như những vệt vôi rớt xuống" [11, tr.98] Tuy nhiên, qua việc ghi lại cảnh vật dưới

cái nắng hè oi bức, ta nhận thấy được những hình ảnh tiêu biểu của quê hương

như những tàu cọ, bụi tre, bụi sim, đồi bạch đàn, nghe được nhưng âm thanh thân thuộc của thiên nhiên như tiếng ve sầu, tiếng gà quê nơi làng quê trung

du của tác giả

Khi miêu tả cảnh thiên nhiên, tác giả đặc biệt chú ý khung cảnh làng quê buổi chiều và khi hoàng hôn buông xuống Không gian làng quê trung du

buổi chiều đậm vẻ oi ả, bức bối: “Mặt trời đã xế chiều Nắng gắt như táp lửa

xuống làng anh Nắng xua hết người ở ngoài đường, ngoài đồng vào nhà Không gian lúc nào cũng sôi lên tiếng ve, nhức cả óc" [11, tr.66] Cảnh sắc

buổi chiều được tác miêu tả bằng cái nhìn hiện thực, rất đặc trưng và phù hợp

với không gian cảnh quê núi đồi trung du “Mặt trời còn cao Nhưng mặt trời

xa hơn Nắng nhạt Nóng cũng dịu dần Vào những ngày hè gắt, cứ tầm này, mặt trời như bọc trong cái màng mỏng, nhúng vào nước sôi, chín tái, bớt chói chang để nhìn rõ đường tròn quanh nó cắt nét vào da trời xanh lơ" [11,

tr.149-150]

Tác giả đã rất khéo léo trong việc dựng cảnh, bước đi của không gian

và thời gian luôn song hành và trong đó tâm điểm vẫn là cảnh vật chịu sự chi

Trang 33

phối của thời gian và không gian Không gian đậm chất quê với cảnh núi đồi đồng ruộng đan xen, mặt ruộng như là tấm gương của trời, phản chiếu vẻ đẹp của hoàng hôn đang bao trùm lên quê hương, thiên nhiên đẹp quá, một vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo vốn có của tạo hóa, chỉ cần một chút dụng công của nhà văn

thôi, bức tranh thiên nhiên đậm chất quê hiện lên như một kiệt tác:“Những

mỏm đồi được thu gọn thành hai dãy thấp, thoai thoải nghiêng về phía cánh đồng Cánh đồng bị kẹp giữa hai triền đồi, dài như một khúc sông Mặt ruộng đang hắt ánh hoàng hôn Mỗi thửa ruộng là một khung trời thăm thẳm mang những dải mây hồng Càng ra giữa cánh đồng, càng thấy hoàng hôn tím sẫm

ở chân trời Lên cao; màu tím nhạt dần, chỉ còn phảng phất mơ hồ trong mây vàng, mây đỏ Ánh sáng ngày phủ mỏng trên da trời đang bị mài mòn để chốc nữa từng đợt sao nổi lên chi chít" [11, tr.172-173] Khi dựng cảnh thiên nhiên

nhà văn đã không quên dành cho không gian đêm tối ở quê mình một vẻ đẹp

huyền bí: “Lúc hoàng hôn còn biêng biếc tím trên cánh đồng người ta đã thấy

trên nền trời màu gio nhạt; mảnh trăng non và chấm sao hôm lẽo đẽo theo sau trăng Mảnh trăng và ngôi sao kia chỉ hết đi vẻ đơn điệu, nhạt nhẽo khi nền trời sau nó đen thăm thẳm như nền tranh sơn mài và chúng sẽ gây nên những ấn tượng đặc sắc trong hằng hà sa số những vì sao" [11, tr.179] Làng

quê Việt Nam muôn đời nay vẫn thế, về đêm làng mạc yên tĩnh đến gần như ngủ say trong khuôn sáo của những tục lệ không bao giờ thay đổi, cái thế giới thôn quê chất phác

Yêu quê là yêu những gì vốn thân thuộc và gần gũi với cuộc sống hàng ngày, bên cạnh đó lại là người sinh ra ở vùng quê bước ra cửa là thấy Cọ, thấy Chè, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã rất trân trọng sản vật tự nhiên này của quê hương mình Ông đã dành những trang viết hết sức sâu lắng, đặc tả một cách

rất chi tiết cảnh những đồi cọ nơi làng quê: “Vạt cọ ở đây xanh um Có những

cây to, thẳng tuột vì những bẹ cẫng từ gốc lên vẫn bền chắc Hai bên rìa cẫng

Trang 34

cọ chi chít những gai nhọn và cong như món vuốt mèo Quanh thân những cây cọ đầy rẫy những cây tiết dê, đồng tiền leo lên và những cây ké gai, sọng đũa, cà độc dược mọc từ trong kẽ bẹ, chìa những cành ra ngoài như sắp tuột rơi xuống đất" [11, tr.374] Những đồi cọ xanh tươi bao đời nay đã như biểu

tượng cho vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên nông thôn trung du miền núi, hơn

thế nữa, cây cọ còn như một biểu tượng cho sự trường tồn của sự sống “Trên

những vùng đồi dốc dếch, sỏi đá như gai góc này, những cây cọ luôn luôn gợi trong anh về một cuộc sống quyết liệt, dẻo dai và bền vững" [11, tr.374]

Thiên nhiên làng quê trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn luôn gắn liền với cuộc sống sôi động của những người nông dân đang xây dựng quê

hương, cảnh công trường đang xây dựng thật hoành tráng “Con đập dài hai

trăm mét nối liền hai quả đồi Những sườn đồi như miệng phễu rót nắng xuống công trường Nắng bị mũ nón chắn ngang chỉ dội xuống mặt đất từng vệt như rắc nghệ vàng" [11, tr.7], cuộc sống lao động tấp nập nhằm thay đổi

bộ mặt làng quê, xây dựng quê hương giàu có dựa trên cơ sở kinh tế nông

nghiệp được nhà văn miêu tả rất cụ thể “Dưới kia đất bị đào xới, bắt nắng đỏ

rực Tiếng người cười nói, tiếng đào, đóng, tiếng đất lở, đá lăn quện vào nhau nghe như vùng đồi đang bị đun sôi, sắp vỡ ra từ đây" [11, tr.13]

Qua những trang viết của Nguyễn Hữu Nhàn ta nhận thấy vùng quê trung du quả thật là miền quê có thiên nhiên sinh động, phong phú và giàu có Tuy nhiên, đó còn là cảnh sắc của một làng quê nghèo, đất đai khô cằn, đồi núi, đá sỏi, chưa nhìn thấy sự phát triển Con người và cảnh vật như khô đi trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên Miêu tả cảnh sắc, cuộc sống làng quê thời kỳ này nhà văn muốn gửi gắm vào đó mong ước về một sự đổi thay, về

một cuộc sống dễ chịu hơn

2.1.2 Cảnh sắc thiên nhiên làng quê thời kì đổi mới

Thời kỳ này cuộc sống đã có những đổi thay nên ảnh hưởng nhiều đến cái nhìn của tác giả Thiên nhiên hiện lên trong niềm vui phơi phới của lòng

Trang 35

người qua những câu văn dài, giọng văn như có chất thơ, thật mềm mại, ấm

áp Mùa xuân đến đất trời bừng lên sức sống mới, không gian làng quê mở rộng ra với hình ảnh những cánh đồng tươi tốt, hương vị của cuộc sống đang

ngập tràn từ đồng ruộng lan tỏa ra khắp đất trời “Lúa xuân gặp ngày ấm đang

bốc lên với triệu triệu cánh lá dài, dày mượt mà một màu xanh sẫm làm đồng làng thêm rộng ra hơn Mùi thơm ngai ngái của nhựa lúa non cùng với mùi bùn đất tanh nồng đang quện theo làn gió mát bốc lên” [12, tr.262] Khung

cảnh thiên nhiên tươi đẹp gắn liền với đời sống nông nghiệp đang ngày được hiện đại hóa, vẻ đẹp của thiên nhiên đang hòa với vẻ đẹp nhộn nhịp của cuộc

sống lao động của con người: “Mặt trời nhô lên ở phía đông Ánh nắng rực

rỡ phủ trên những đồng lúa đang lên xanh mơn mởn của làng Cói Hạ Nắng rải vàng trên sân gạch rộng mênh mông của hai dãy nhà kho dài dằng dặc ở xóm Trà Ánh nắng như cháy rực ở cái đầu máy kéo lớn và những chiếc xe công nông đỗ ở góc sân" [12, tr.30]

Cuộc sống mới đã có nhiều thay đổi tác động mạnh tới tâm lý của nhà văn, vì thế thiên nhiên làng quê được cảm nhận mang nhiều vẻ đẹp tươi sáng, làng quê hiện lên với nét đẹp thơ mộng, chân thực và cũng hết sức tự nhiên,

hương vị quê hương toát lên từ cảnh đẹp thiên nhiên rất đồng quê“Gió từ phía

Lõng hất lên tràn qua ruộng lúa trỗ thấp thoi, đôi ba ruộng cấy sớm đã uốn câu đang có bầy bướm rập rờn đôi cánh bắt nắng lấp lóa trắng phau Từ cánh đồng hắt lên hương vị của đồng quê ngai ngái đậm mặn vị mồ hôi cùng nước mắt của những thiên tình sử thơ mộng và bi ai" [14, tr.91] Trong

mỗi bước đi của thời gian là thế giới của cuộc sống con người và cảnh vật hết sức đa dạng và phong phú, muôn màu, muôn sắc Miêu tả thiên nhiên, cuộc sống mới, nhà văn đã không quên miêu tả cảnh sắc thôn quê với sự ảnh hưởng của cuộc sống đô thị hóa, cái mới và cái cũ song hành tồn tại, giữa kiến trúc hiện đại của những ngôi nhà được xây theo lối mới, vẫn là những bụi chuối,

bờ tre quen thuộc “Đom đóm và lân tinh láy nháy làm vụn nát lỗ chỗ vùng

Trang 36

bóng tối thẫm đen của thôn làng Những mái bằng và chóp nhọn các tòa nhà hai ba tầng vượt lên khỏi bụi chuối bờ tre in trên nền trời sao nhòe nhoẹt như tranh thủy mạc Xóm làng im ắng, họa có đôi ba con chó động cỡn vờn nhau ăng ẳng làm tắt đi từng lúc tiếng kêu chẵng chuộc trong những ao khoai nước

và bèo tây" [13, tr.5]

2.2 Hiện thực cuộc sống nơi làng quê trung du miền núi Bắc Bộ thời kì trước và sau đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

2.2.1 Cuộc sống nông thôn thời kì trước khi đổi mới

Những tác phẩm của ông viết trước năm 1986 đã dựng nên bức tranh cụ thể, chi tiết về cuộc sống của những người nông dân và nông thôn trong

phong trào hợp tác xã nông nghiệp với cảnh “Sớm khuya tiếng trống đi về

trong thôn”: “Tiếng loa gọi và tiếng của người hô “quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm” nghe như tiếng đập vào đít bồ rỗng" [11, tr.252], người nông dân

nhiệt tình, hăng hái tham gia công việc lao động sản xuất trên quê hương, họ không kể gái trai, già trẻ, lớn bé, họ tham gia với một tinh thần tự nguyện, như một trách nhiệm lớn lao, tất cả đều vui vẻ, phấn khởi như trong ngày hội:

“Chưa sáng ở quanh ngã ba cổng chào đã có hàng trăm người nhớn, trẻ con kéo đến, ngồi bệt bạt bên những vệ cỏ, đứng dựa vào những cây bạch đàn, ngồi xúm quanh những chiếc điếu cày, hoặc đang chòng ghẹo nhau, trẻ con ngã vào người lớn" [11, tr.252] Trong những tác phẩm viết về nông thôn thời

kỳ này, tác giả tập trung vào xây dựng cuộc sống nông thôn với hình ảnh người nông dân trong truyền thống tương thân tương ái, với phẩm chất cần cù chịu khó, một nắng hai sương Người nông dân được ghi nhận trong những nét đằm thắm trữ tình, tinh tế Họ không hề có chút so đo, tính toán cho riêng

Trang 37

trong phương thức làm ăn ở hợp tác xã nông nghiệp Sơn Đài Nơi đây, do nhận thức được những bảo thủ, trì trệ của lối làm ăn cũ, những nhân vật tiên tiến nhất của phong trào đã vạch ra một chương trình mới nhằm đưa sản xuất

tiến lên: “Sơn Đài và các xã có rừng bồ đề, chân núi có nhiều cỏ phải nuôi

bò, nuôi trâu Chính sách giá cả đối với trâu bò chưa hợp lý thì đề nghị cấp trên bổ khuyết để khuyến khích cho chăn nuôi Rồi nay mai có hồ nước, nghề nuôi cá ở Sơn Đài cũng phải được đưa vào Nghề rừng cần phải được đưa vào thành một nghề kinh doanh" [11, tr.9] Phong trào hợp tác xã ở đây phát

triển rất mạnh, người nông dân thật đoàn kết, họ hồ hởi làm ăn, những công việc được tác giả đề cập đến đều là những công việc thường ngày của họ nơi làng quê Phát triển kinh tế của hợp tác xã cũng chính là phát triển kinh tế đem lại lợi ích cho từng người cụ thể nên tinh thần cá nhân hòa vào trong mục đích chung Hợp tác xã Sơn Đài trong những ngày làm công trình hồ nước

đập Đá Chiêng, Đá Trống thật nhộn nhịp “hàng trăm con người đang hì hụi

đào, cuốc, khiêng gánh đi lại gần kín hai quả đồi” [11, tr.7]

Ý thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của công việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn thông qua mô hình hợp tác xã dựa trên sự đoàn kết chung sức chung lòng của những người nông dân mà từ đó đã sáng lên hình tượng những con người chân chính, những nhân tố mới trong bước chuyển của nông thôn như lối tư duy cùng những nhận xét sắc sảo của chủ nhiệm Hào, cách xử lý nghiêm khắc của bí thư đảng ủy Đảm, sự ủng hộ cổ vũ sáng suốt của bí thư huyện ủy Vũ Đồng… đến thái độ đấu tranh của Vân, Sử, lão Thiếu Chạc, Nhiên Hiện thực cuộc sống nông thôn vùng quê trung du đất đai khô cằn đá sỏi, nghèo khó, chậm phát triển nhưng ở nơi đây luôn có những con người yêu quê hương, quý trọng đất đai, có trách nhiệm với công việc được giao

Trang 38

Tuy nhiên, cuộc sống vốn phong phú và phức tạp, với cái nhìn đa diện, nhiều chiều, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã phản ánh một cách sâu sắc những mặt tiêu cực trong đời sống nông thôn thời kỳ trước đổi mới Tiêu biểu cho những mặt tiêu cực này trong đời sống nông thôn biểu hiện qua nhân vật Hà

Sự, nịnh nọt cấp trên, đe nẹt cấp dưới, một con người thô lỗ, gia trưởng, luôn

tỏ ra là mình có uy quyền Đáng lo ngại hơn là lực lượng tiêu cực lại mang danh nghĩa tập thể Gần như toàn bộ một chi bộ bị tha hóa, biến chất, bị các phần tử xấu lũng đoạn lợi dụng làm mũi tên chống đối lãnh đạo và làm bức bình phong che giấu những việc làm bậy Ngoài ra những đảng viên biến chất cùng họ này lại chú ý đến quyền lợi tộc họ hơn là quyền lợi của đảng, quan hệ tộc họ được đặt trên quan hệ đồng chí Một đảng viên họ Hà đã phát biểu:

“Ngày xưa các cụ họ Hà ta đều giữ chánh tổng, bá hộ, chánh phó lý hàng

tổng, hàng xã Ngày nay họ Hà mất quyền lãnh đạo ở xã, ở hợp tác xã thì họ

Hà xoàng Chúng tôi vào đảng là để đấu tranh giành cái quyền trong dân trong làng cho họ Hà" [11, tr.273] Những hoạt động của thế lực này đã tạo ra

tình trạng căng thẳng trong đời sống ở nông thôn

Viết về nông thôn vào thời điểm những năm trước 1986, nhà văn đã rất trung thành trong việc thể hiện tất cả những nét chân thực của cuộc sống, vẻ đẹp thôn quê hiện lên mang những nét riêng đáng yêu mà thân thuộc, gần gũi Hiện thực tràn về qua sự sôi động rất đời của những âm thanh và hình ảnh vốn là nét đặc trưng cho sự sống của thôn quê Làng quê vùng trung du miền núi bắc bộ dẫu còn mang vẻ hoang sơ, nghèo đói nhưng có một điều không thể phủ nhận được là nơi đây người nông dân đã rất chủ động trong mọi hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp Tất nhiên, bản chất của sự sống vốn là

đa diện, song tinh thần đoàn kết cùng lao động trong một hợp tác xã của người nông dân, kết hợp với những nhân tố điển hình cho trí tuệ, lòng nhiệt tình, tình yêu đối với mảnh đất quê hương của những người lãnh đạo khiến cho nông thôn luôn được trả về theo đúng nghĩa của nó

Trang 39

2.2.2 Cuộc sống nông thôn thời kì đổi mới

Thời kỳ sau 1986 phải mất một thời gian dài Nguyễn Hữu Nhàn viết ít, ông dành nhiều thời gian đi thực tế, viết một số bài nghiên cứu hoặc các giai

thoại về danh nhân trong các làng xã như tập “Truyện ở làng”, thời kỳ này có thể nói là thời kỳ nhận đường và đổi mới tư duy của nhà văn Sau năm 1986 tiểu thuyết “Làng Cói Hạ” của ông xuất bản năm 1989, vẫn tập trung vào

miêu tả cuộc sống tập thể theo mô hình hợp tác xã ở nông thôn Tuy nhiên, qua tác phẩm này, tác giả đã thể hiện cái nhìn về một cuộc sống tươi sáng

hơn, có ý nghĩa hơn Tiểu thuyết “Làng Cói Hạ” mặc dù chỉ miêu tả cuộc

sống ở một làng quê nhỏ hẹp đó là xã Hợp Thịnh, nhưng đó lại là một mô hình cuộc sống tiêu biểu, đã từng là hợp tác xã điển hình tiên tiến cho cả nước học tập và noi theo

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mở ra con đường đổi mới toàn diện đất nước, mở cửa và hội nhập quốc tế, đưa đất nước ta đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Về kinh tế, Đảng chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý và điều tiết của nhà nước Sự nghiệp đổi mới sau hơn hai mươi năm thực hiện đã mang lại nhiều thành quả vô cùng

to lớn Đối với nông dân, công cuộc đổi mới đã một lần nữa trả ruộng đất về cho họ làm chủ sau bốn thập kỷ ruộng đất bị tập trung vào hợp tác xã Người nông dân được tự do và khuyến khích làm giàu bằng sức lao động, năng lực quản lý và đồng vốn của mình Bộ mặt nông thôn sau khi được giải phóng lực lượng sản xuất, được làm chủ ruộng đất và được tháo gỡ nhiều rào cản cùng với sự đổi mới về chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Nhà nước đã có những thay đổi to lớn Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng lên rõ rệt Đóng góp của nông dân với xã hội ngày càng lớn Lối sống của nông dân cũng biến đổi theo hướng hiện đại hóa, hòa nhập

Trang 40

với thành thị và cuộc sống đương đại Bên cạnh những mặt tích cực đó, giá trị

và lối sống của nông dân cũng đang có không ít những mặt tiêu cực Những biểu hiện tiêu cực đó chủ yếu là do tác động của sự phân hóa giàu nghèo ở nông thôn đang diễn ra ngày càng gay gắt và quyết liệt, khoảng cách đời sống, tri thức giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi ngày càng chênh lệch Nền kinh tế thị trường ngày càng thâm nhập sâu vào nông thôn, làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng tích cực nhưng cũng để lại những hậu quả nghiêm trọng trong các giá trị, lối sống của nông dân Tâm lý, lối sống tôn sùng đồng tiền, thực dụng phát triển Ảnh hưởng tiêu cực từ những yếu tố văn hóa ngoại lai không được chọn lọc, thuần hóa ngày càng tăng, các giá trị cao

cả mất dần vị trí chủ đạo

Tiếp theo sự thành công của tiểu thuyết “làng Cói Hạ”, những trang

viết của Nguyễn Hữu Nhàn từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, với đề tài trước sau như một vẫn là những chuyện về làng quê nông thôn nơi nhà văn sinh sống, liên tiếp gặt hái được những thành công, khi ông tập trung đào sâu phản ánh những biểu hiện đổi thay mạnh mẽ của cuộc sống nông thôn Diện mạo cuộc sống nông thôn trong những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn đã không còn như trước kia nữa Bản thân sự đổi thay của cuộc sống đã tác động mạnh đến cảm quan của nhà văn Nông thôn tự nó đang cất tiếng khóc đau

đớn, tê buốt, điều mà Nguyễn Ngọc Tư, qua “Cánh đồng bất tận”, đã diễn đạt

“Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành” [22, tr.208] Tất cả đã được thể hiện khá

rõ nét trong những tác phẩm như: Phố làng, Đám cưới làng, Làng quê yên ả,

Xóm làng giàu có, Xóm vắng Mô hình làng xã, con người nhà quê đã không

thể đứng vững như người ta tưởng, nó bị rữa dần bởi các xung lực từ bên ngoài

Ngày đăng: 20/11/2016, 15:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w