1. Tính cấp thiết của đề tàiĐối với nước ta, kinh tế nông thôn có vị trí rất quan trọng trong nền KTQD; đó là khu vực kinh tế chiếm hơn 73% dân số, hơn 55,7% lực lượng lao động xã hội, đóng góp 20,36% GDP( ) của đất nước.Trong quá trình thực hiện CNH HĐH, kinh tế nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của KTNT, đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và vẫn duy trì được tốc độ phát triển bình quân 4 4,5%năm. Từ một nước thiếu ăn, nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo cho nước ta vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm ngư nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức bình quân 16,8%năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được tăng cường đáng kể đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn các vùng quê. Đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nâng lên cả tinh thần và vật chất. Công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được thế giới đánh giá cao…Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông thôn nước ta đang bộc lộ những mặt yếu kém, nổi bật như: Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn hạn chế, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải phóng nguồn lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn tuy có được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn và ngày càng cách xa đang là những vấn đề bức xúc lớn trong xã hội…Những mâu thuẫn, yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội và chính trị trong tương lai.Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? KTNT nước ta sẽ vận động, phát triển ra sao trong quá trình CNH HĐH với bối cảnh hội nhập? giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém; đảm bảo cho KTNT nước ta phát triển bền vững, đáp ứng các mục tiêu CNH HĐH đến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp). Đó đang là những vấn đề rất cần được lý giải hệ thống cả về lý luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH” là luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần vào giải quyết những vấn đề trên.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiCho đến nay, trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đã công bố kết quả ở các cấp độ khác nhau như: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá định hướng XHCN ở Việt Nam của Tiến sỹ Phạm Văn Huỳnh. Con đường CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tập hợp bài viết của nhiều tác giả do Ban tư tưởng văn hoá Trung ương phát hành. Đề tài phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại của nhóm tác giả GS.TS Vũ Trọng Khải, TS Đỗ Thúc Đồng và TS. Phạm Bích Hợp. CNH từ nông nghiệp của TS. Đặng Kim Sơn. Nông nghiệp Nông dân nông thôn là vật cản hay động lực cho tăng tốc CNH của TS. Đặng Kim Sơn Về Nông dân và chính sách với nông dân thời kỳ CNH HĐH của Nguyễn Văn Tâm. Đổi mới quản lý ở cấp huyện xã đối với nông nghiệp nông thôn của TS. Chu Tiến Quang. Đầu tư vào Nông nghiệp, nông thôn thực trạng và định hướng của TS. Chu Tiến Quang.Các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đều đề cập đến và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn nhưng thường là những vấn đề lý luận chung hoặc những khía cạnh hẹp về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, quan điểm về nông nghiệp định hướng XHCN hoặc yếu tố văn hoá trong phát triển nông thôn, đổi mới hình thức quản lý trong nông nghiệp … chưa có công trình nào lý giải được hệ thống và toàn diện các vấn đề nêu ở trên.Vì vậy, Đề tài này tác giả muốn kế thừa các thành quả nghiên cứu của các tác giả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm từ các quốc gia đã tiến hành CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn để lý giải rõ hơn các mâu thuẫn ở nước ta và kiến nghị một số giải pháp hữu ích cho giải quyết các mâu thuẫn đó. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của KTNT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HĐH (2000) đến nay. Đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình phát triển KTNT đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.4. Mục đích nghiên cứu.Trên cơ sở phân tích thực trạng KTNT dưới tác động của quá trình CNH HĐH để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực của tác động này trong điều kiện nước ta. Đồng thời phân tích nguyên nhân của những mâu thuẫn phát sinh, rút ra tính phổ biến của sự vận động của KTNT trong quá trình CNH HĐH, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các chính sách, giải pháp để khắc phục.Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính đột phá để thúc đẩy tiến trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo cho KTNT phát triển mạnh hơn và bền vững, đạt được các mục tiêu của CNH HĐH mà Đảng đã đề ra.5. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện từ Đại hội Đảng lần thứ IV đến Đại hội Đảng lần thứ X. Đề tài cũng sử dụng một số luận điểm của một số tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí, báo và công trình khoa học đã công bố.Số liệu sử dụng trong Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu đã công bố của Tổng cục Thống kê, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành có liên quan, báo cáo của các địa phương trong quá trình thực hiện CNH HĐH.Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Khảo sát thực tiễn ở một số địa phương; tổng hợp phân tích thống kê; hội thảo phục vụ cho việc luận giải, chứng minh cho các nội dung mà tác giả đã nêu trong Đề tài.6. Những đóng góp mới về khoa học. Hệ thống hoá các tác động tích cực và hệ quả tiêu cực có tính phổ biến của quá trình CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hệ quả tiêu cực trên. Qua đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu để hạn chế tác động tiêu cực, thúc đẩy quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tăng tốc hơn nhưng vẫn đảm bảo cho kinh tế nông thôn phát triển bền vững, đáp ứng được các mục tiêu của CNH HĐH trong bối cảnh hội nhập.7. Kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau Mở đầu Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH. Chương 2. Thực trạng kinh tế nông thôn nước ta dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 2001 2007. Chương 3. Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông thôn trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 1BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 5
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM 5
1.1.1 Nông thôn và kinh tế nông thôn 51.1.2 Vai trò của kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước 10
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NHỮNG NỘI DUNG
CƠ BẢN PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ 15
1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển kinh tế nông
thôn nước ta 151.2.2 Các nội dung cơ bản phát triển kinh tế nông thôn 26
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN 33
1.3.1 Kinh nghiệm Nhật Bản: nông nghiệp phát triển tạo đà cho công
nghiệp hoá 331.3.2 Kinh nghiệm Trung quốc: Phát triển công nghiệp hương trấn 371.3.3 Kinh nghiệm Đài Loan: Phát triển công nghiệp hoá nông thôn
hướng ngoại và đều khắp giữa các vùng 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM DƯỚI
TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CNH - HĐH (Từ năm 2000 đến nay) 45
2.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN KTNT 45
2.2.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn đã chuyển dịch rõ nét hơn theo hướng
CNH - HĐH 452.1.2 Khoa học, công nghệ được áp dụng rộng rãi hơn trong nông nghiệp
đã góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng nhiều loại nông sản 472.1.3 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường, đã là
Trang 22.2 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ MÂU THUẪN PHÁT SINH DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA QUÁ TRÌNH CNH - HĐH ĐẾN KTNT 54
2.2.1 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chậm và thiếu
bền vững 54
2.2.5 Nhiều vấn đề bức xúc xuất hiện ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá 64
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN NƯỚC TA SAU QUÁ TRÌNH CNH - HĐH (Từ năm 2000 đến nay) 67
2.3.1 Những thành tựu đạt được 67
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 68
2.4 NGUYÊN NHÂN CỦA TỒN TẠI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 69
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 70
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 70
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN NƯỚC TA TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HÓA ĐẾN 2020 75
3.1 DỰ BÁO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 75
3.1.1 Cơ hội và thách thức chủ yếu trong nước 75
3.1.2 Cơ hội và thách thức chủ yếu trong hội nhập kinh tế quốc tế 76
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM ĐẾN 2020, TẦM NHÌN 2030 77
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN MẠNH KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM ĐẾN 2020 78
3.3.1 Nhóm giải pháp về phát triển lực lượng sản xuất 78
3.3.2 Nhóm các giải pháp củng cố quan hệ sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, có hiệu quả trong nông thôn 95
3.3.3 Nhóm các giải pháp qiải quyết những vấn đề xã hội trong nông thôn để thúc đẩy kinh tế phát triển 98
3.3.4 Nhóm giải pháp đổi mới chính sách và thể chế quản lý nhà nước đối với kinh tế nông thôn 105
3.3.5 Phát triển thị trường nông thôn 109
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3CNXH : Chủ nghĩa xã hội
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
KTXH : Kinh tế xã hội
KTQD : Kinh tế quốc dân
KTNT : Kinh tế nông thôn
TNQD : Thu nhập quốc dân
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNNT : Công nghiệp nông thôn
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
HTX : Hợp tác xã
KHCN : Khoa học công nghệ
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
UBND : Uỷ ban nhân dân
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩmĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
GS.TS : Giáo sư, tiến sỹ
Trang 4Biểu 1.1 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế quốc dân
11
Biểu 1.2 Ảnh hưởng của chất lượng lao động đến năng suất đất đai
các vùng 18 Biểu 2.1: Diện tích cây trồng chủ yếu 46 Biểu 2.2: Năng suất một số cây trồng, vật nuôi chủ yếu 48 Biểu 2.3 Mức hưởng thụ nhà ở và vật dụng đắt tiền của hộ nông dân
52
Biểu 2.4 Quy mô đất đai nông hộ 60 Biểu 2.5 Nguồn và quy mô vốn đầu tư cho nông nghiệp - nông thôn
giai đoạn 2000-2006 72 Biểu 2.6 Đầu tư của kinh tế tư nhân vào nông nghiệp – nông thôn giai
đoạn 2001-2006 73
Biểu đồ Giá trị trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản/ ha đất canh tác 2000, 2006
55
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với nước ta, kinh tế nông thôn có vị trí rất quan trọng trong nềnKTQD; đó là khu vực kinh tế chiếm hơn 73% dân số, hơn 55,7% lực lượng laođộng xã hội, đóng góp 20,36% GDP(1) của đất nước.
Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH, kinh tế nông thôn nước ta đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn: Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của KTNT,đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và vẫn duy trì được tốc độ pháttriển bình quân 4 - 4,5%/năm Từ một nước thiếu ăn, nông nghiệp không chỉđảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo cho nước ta vươn lên thànhnước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - ngưnghiệp liên tục tăng trưởng ở mức bình quân 16,8%/năm Kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội nông thôn được tăng cường đáng kể đã làm thay đổi bộ mặt nôngthôn các vùng quê Đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nânglên cả tinh thần và vật chất Công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu tolớn, được thế giới đánh giá cao…
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông thôn nước ta đang bộc lộnhững mặt yếu kém, nổi bật như:
Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơcấu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn hạn chế, phổ biếnvẫn là sản xuất nhỏ, phân tán Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm,thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và lao động ở nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đápứng được yêu cầu giải phóng nguồn lực - thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn.Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém, ô nhiễm môi trường ngày càngnghiêm trọng, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp Đời sống vật
1() Niên giám Thống kê 2006
Trang 6chất và tinh thần của cư dân nông thôn tuy có được nâng lên nhưng vẫn ở mứcthấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn
và ngày càng cách xa đang là những vấn đề bức xúc lớn trong xã hội…
Những mâu thuẫn, yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội và chính trị trong tương lai
-Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? KTNTnước ta sẽ vận động, phát triển ra sao trong quá trình CNH - HĐH với bối cảnhhội nhập? giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém; đảmbảo cho KTNT nước ta phát triển bền vững, đáp ứng các mục tiêu CNH - HĐHđến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp) Đó đang lànhững vấn đề rất cần được lý giải hệ thống cả về lý luận và thực tiễn Đó cũng
là lý do để tác giả chọn đề tài: “Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong
quá trình CNH - HĐH” là luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn
đóng góp một phần vào giải quyết những vấn đề trên
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cho đến nay, trên lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn đã có nhiều tác giảnghiên cứu và đã công bố kết quả ở các cấp độ khác nhau như:
- Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá định hướng XHCN ở Việt Namcủa Tiến sỹ Phạm Văn Huỳnh
- Con đường CNH- HĐH nông nghiệp - nông thôn tập hợp bài viết củanhiều tác giả do Ban tư tưởng văn hoá Trung ương phát hành
- Đề tài phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến vănminh thời đại của nhóm tác giả GS.TS Vũ Trọng Khải, TS Đỗ Thúc Đồng và
TS Phạm Bích Hợp
- CNH từ nông nghiệp của TS Đặng Kim Sơn
- Nông nghiệp - Nông dân - nông thôn là vật cản hay động lực cho tăngtốc CNH của TS Đặng Kim Sơn
- Về Nông dân và chính sách với nông dân thời kỳ CNH - HĐH củaNguyễn Văn Tâm
Trang 7- Đổi mới quản lý ở cấp huyện - xã đối với nông nghiệp - nông thôn của
TS Chu Tiến Quang
- Đầu tư vào Nông nghiệp, nông thôn - thực trạng và định hướng của TS.Chu Tiến Quang
Các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đều đề cập đến và giải quyếtcác mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH - HĐH nông nghiệp - nông thônnhưng thường là những vấn đề lý luận chung hoặc những khía cạnh hẹp vềquan hệ sản xuất trong nông nghiệp, quan điểm về nông nghiệp định hướngXHCN hoặc yếu tố văn hoá trong phát triển nông thôn, đổi mới hình thức quản
lý trong nông nghiệp … chưa có công trình nào lý giải được hệ thống và toàndiện các vấn đề nêu ở trên
Vì vậy, Đề tài này tác giả muốn kế thừa các thành quả nghiên cứu của các tácgiả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm từ các quốc gia đã tiến hànhCNH - HĐH đối với nông nghiệp - nông thôn để lý giải rõ hơn các mâu thuẫn ởnước ta và kiến nghị một số giải pháp hữu ích cho giải quyết các mâu thuẫn đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của KTNT trong thời kỳ đẩy mạnhCNH - HĐH (2000) đến nay Đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình pháttriển KTNT đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
4 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở phân tích thực trạng KTNT dưới tác động của quá trình CNH HĐH để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực của tác động này trong điềukiện nước ta Đồng thời phân tích nguyên nhân của những mâu thuẫn phátsinh, rút ra tính phổ biến của sự vận động của KTNT trong quá trình CNH -HĐH, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các chính sách, giảipháp để khắc phục
-Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính đột phá để thúc đẩy tiến trìnhCNH - HĐH nông nghiệp - nông thôn Đảm bảo cho KTNT phát triển mạnhhơn và bền vững, đạt được các mục tiêu của CNH - HĐH mà Đảng đã đề ra
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển của chủnghĩa Mac - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện từ Đại hội Đảng lầnthứ IV đến Đại hội Đảng lần thứ X Đề tài cũng sử dụng một số luận điểm củamột số tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí, báo và côngtrình khoa học đã công bố
Số liệu sử dụng trong Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu đã công bố của Tổngcục Thống kê, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các
Bộ, ngành có liên quan, báo cáo của các địa phương trong quá trình thực hiệnCNH - HĐH
Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp phổ biến trong nghiên cứukhoa học - xã hội, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Khảo sátthực tiễn ở một số địa phương; tổng hợp phân tích thống kê; hội thảo phục vụ choviệc luận giải, chứng minh cho các nội dung mà tác giả đã nêu trong Đề tài
7 Kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau
- Mở đầu
- Chương 1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông
thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH
- Chương 2 Thực trạng kinh tế nông thôn nước ta dưới tác động của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 2001 - 2007
- Chương 3 Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế
nông thôn trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 91.1.1 Nông thôn và kinh tế nông thôn.
+ Về địa lý tự nhiên: nông thôn là một địa bàn rộng lớn trải dài ra cácvành đai bao quanh các thành thị (thành phố, thị xã, thị trấn)
+ Về kinh tế: nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sảnxuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụngoài nông nghiệp nhưng có vai trò phục vụ chủ yếu cho nông, lâm, ngưnghiệp hoạt động và phát triển
+ Về tính chất xã hội: cơ cấu dân cư ở nông thôn chủ yếu là những ngườinông dân và gia đình của họ, sống hoà thuận cần cù và chịu khó, có tinh thầnđoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Mật độ dân cư ở nông thôn thấp hơn ở
đô thị (nhất là ở vùng núi, hẻo lánh) Nơi đây cũng 1à nơi sinh sống của nhữngcộng đồng dòng họ, có những tâm lý, tập quán chung của nông thôn, nhưngcũng có những tập quán riêng biệt cho từng làng, xã
+ Về kết cấu hạ tầng kinh tế như điện, giao thông vận tải, thông tin liênlạc còn ở trình độ thấp
+ Về tỷ lệ dân số nông thôn: Phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế củamỗi quốc gia Những nước kinh tế phát triển thì dân số ở nông thôn có tỷ lệ
2 XuÊt b¶n n¨m 1994
Trang 10thấp hơn so với những nước kinh tế chậm phát triển và khi nền KT - XH càngphát triển thì dân số ở nông thôn càng thấp.
+ Về môi trường tự nhiên: Nông thôn là nơi lưu giữ và phát triển môi trườngsinh thái tự nhiên bao gồm các yếu tố đất, nước, không khí, hệ động thực vật sựcân bằng các yếu tố này đảm bảo cho sự an toàn của con người, tránh tác độngxấu của thiên nhiên gây ra như: gió bão, sa mạc hoá, dịch bệnh…
Ở thành phố, các yếu tố trên bị thu hẹp và phá bỏ để xây dựng thì ngượclại nông thôn phải là nơi lưu giữ chúng Mức độ cân bằng cây xanh, không khítrong lành, nước sạch, động thực vật phong phú thường được coi là tiêu chíđánh giá trình độ văn minh của một nước Nhiều quốc gia đã phải trả giá cho
sự hủy hoại môi trường sinh thái bởi đô thị hoá, công nghiệp hoá gây ra Thực
tế cho thấy, hiện nay các quốc gia phát triển đang phải quay trở lại phát triểnrừng, bảo vệ nguồn nước, sản xuất nông nghiệp, hạn chế sản xuất các chếphẩm hoá học và quản lý tốt việc sử dụng đất vào các mục đích phi nôngnghiệp Họ đang dần biến nông thôn thành khu du lịch sinh thái, nơi nghỉ ngơicho người thành phố để con người trở nên gần gũi với thiên nhiên hơn
+ Về văn hoá: Nông thôn là nơi gìn giữ bản sắc văn hoá truyền thống củadân tộc và đặc trưng của mỗi vùng quê ở những nước đang phát triển cũngnhư ở nước ta, khó có thể thấy ở một nơi hẻo lánh nào đó của đất nước còn giữnguyên trạng các nét văn hoá cổ truyền Hầu như mọi người dân đều biết sửdụng các thành tựu kỹ thuật hiện đại cả trong sản xuất nông nghiệp lẫn trongđời sống hàng ngày như giáo dục, y tế, giải trí, phương tiện đi lại, dụng cụ sinhhoạt gia đình …Tuy nhiên, trang phục truyền thống, kiến trúc nơi ở và nơi sinhhoạt cộng đồng, lễ hội, tập tục sống, quan niệm đạo đức, hệ thống thân tộc …vẫn đang được tồn tại và duy trì Nó như thước đo đánh giá sự phong phú củatrí tuệ dân tộc qua nhiều đời, là điểm phân biệt giữa các dân tộc, quốc gia.Những yếu tố truyền thống đó thường được lưu giữ đậm nét ở các làng quêhơn là ở đô thị
Việc nghiên cứu khái niệm nông thôn với các đặc trưng của nó giúpchúng ta đưa ra các chương trình, chính sách phát triển phù hợp Nói đến pháttriển kinh tế nông thôn, không chỉ quan tâm tới khía cạnh kỹ thuật, kinh tế vàhiệu quả kinh tế mà phải quan tâm tới các vấn đề có quan hệ hữu cơ tới phát
Trang 11triển kinh tế nông thôn đó là hạ tầng kinh tế xã hội, quan hệ sản xuất, văn hoá,bảo vệ môi trường, nhân lực nông thôn Việc nghiên cứu vấn đề này càng có ýnghĩa quan trọng khi mà Đảng, Nhà nước ta đang xây dựng chiến lược đẩynhanh việc phát triển nông nghiệp, nông thôn
1.1.1.2 Kinh tế nông thôn.
Theo giáo trình kinh tế chính trị: “Kinh tế nông thôn là một phức hợpnhững nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trongnông - lâm - ngư nghiệp, cùng với các ngành thủ công truyền thống, các ngànhtiểu - thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, cácngành thương nghiệp và dịch vụ tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trongkinh tế vùng và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân"
Theo khái niệm trên, nội dung kinh tế nông thôn rộng hơn kinh tế nôngnghiệp Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh tế
1.1.1.3 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền KT - XH, cũng có đầy đủnhững yếu tố của nền kinh tế Những yếu tố này có vai trò, vị trí, tỷ trọngkhông ngang bằng nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau hợp thành kinh tếnông thôn Trong cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấuthành phần kinh tế và cơ cấu vùng, lãnh thổ
+ Về cơ cấu ngành kinh tế.
Kinh tế nông thôn trước hết có nông nghiệp (theo nghĩa rộng hiện nay baogồm trồng trọt và chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp), đây là ngành kinh tế
cơ bản trong nông thôn, có nhiệm vụ bảo đảm nhu cầu về lương thực, thựcphẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chếbiến, sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng sinh hoạt nângcao đời sống xã hội và xuất khẩu
Ngoài nông nghiệp, kinh tế nông thôn có ngành công nghiệp như: côngnghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí sửa chữa máy móc nông nghiệp, thuỷ lợi;sản xuất các loại nguyên vật liệu phục vụ cho kinh tế nông thôn như sắt, thép,
xi măng, gạch ngói Công nghiệp nông thôn còn bao gồm một bộ phận tiểuthủ công nghiệp với nhiều trình độ công nghệ khác nhau, sản xuất hàng hoá
Trang 12đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà trước hết là thị trường nông thôn vàtham gia xuất khẩu như mộc, đúc, chạm khảm, sơn mài, thêu, làm giấy Kinh
tế nông thôn còn bao gồm ngành dịch vụ như: thương nghiệp, tín dụng, khoahọc và công nghệ, tư vấn Đó 1à những bộ phận hợp thành của kinh tế nôngthôn Sự phát triển mạnh mẽ, cân đối, hợp lý của các bộ phận đó là biểu hiệntrình độ phát triển của kinh tế nông thôn và trình độ phát triển của phân cônglao động xã hội khu vực nông thôn
Mỗi bộ phận kinh tế ngành có sự độc lập tương đối, song nó cũng có mốiquan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau trong quátrình phát triển kinh tế Chẳng hạn như trồng trọt phát triển sẽ thúc đẩy chănnuôi và ngược lại; hoặc thâm canh, đa canh sẽ thúc đẩy hình thành những vùngkinh tế tập trung nuôi trồng những loại cây con có giá trị kinh tế; Ngành nghề
ở nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện phân bố lại lao động ở nông thôn, thúcđẩy chuyên mô hoá chăn nuôi, trồng trọt
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tích cực phải thể hiện ở tỷ lệnông nghiệp giảm đi nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên và tỷ trọng công nghiệp,dịch vụ trong cơ cấu kinh tế phải tăng lên
+ Về cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta hiện nay là cơ cấu nhiều thành phần.Các thành phần kinh tế tồn tại trong kinh tế nông thôn cũng là các thành phầnkinh tế tồn tại trong nền kinh tế - xã hội Tuy nhiên, có những đặc điểm riêng:
- Kinh tế Nhà nước trong kinh tế nông thôn được tổ chức dưới các hìnhthức nông trường quốc doanh, các trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp Kinh tế Nhànước trong kinh tế nông thôn được mở rộng ra toàn bộ các ngành nghề cơ bảnnhư nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tín dụng, ngân hàng, dịch vụ.Nhiều cơ sở của kinh tế Nhà nước trong kinh tế nông thôn chỉ là một bộ phậnđại diện của kinh tế Nhà nước chung như chi nhánh ngân hàng, các trạm, trạinông nghiệp nhưng lại gắn bó chặt chẽ với kinh tế nông thôn từng vùng, từngđịa phương như là bộ phận cấu thành bên trong của nó
Trang 13- Kinh tế tập thể (tổ hợp tác và HTX) trong kinh tế nông thôn có ở nhiềungành, nhiều lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp,tín dụng, tiểu thủ công nghiệp Các hình thức kinh tế hợp tác được phát triển
từ thấp đến cao tuỳ thuộc vào trình độ sản xuất hàng hoá của người nông dântheo từng vùng
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ trong kinh tế nông thôn còn ở nhiều ngành nghềnhư nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ trong nông thôn, được biểu hiện cụ thể ở các mô hình kinh tế hộ gia đình, tiểuthủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống, trang trại nông nghiệp, kinh tế tiểuchủ trong công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ Tỷ trọng của kinh tế cá thể,tiểu chủ trong nông thôn nước ta hiện nay còn tương đối lớn
Kinh tế nông thôn có thành phần kinh tế tư bản tư nhân, tư bản nhà nước
và vốn 100% nước ngoài là một tất yếu khách quan khi thực hiện phát triểnkinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá và đưa kinh tế nông thôn từsản xuất nhỏ lên sản xuất lớn Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan vàchủ quan mà thành phần kinh tế này chậm phát triển ở nông thôn, nhất là tronglĩnh vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
Các thành phần kinh tế tồn tại trong kinh tế nông thôn đều có tính hai mặt
là tích cực và hạn chế song trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn cácthành phần kinh tế đều có khả năng giải phóng sức lao động ở nông thôn, tạoviệc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn Do đó, chúng ta phải đẩynhanh sự phát triển các thành phần kinh tế, tạo ra môi trường hợp tác và cạnhtranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế
+ Về cơ cấu kinh tế vùng sinh thái và lãnh thổ.
Nước ta là một quốc gia có điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên đa dạng,phong phú, trình độ dân trí và KT - XH giữa các vùng rất khác nhau Mỗi vùng
có một đặc điểm thế mạnh riêng Chính vì vậy nó đã tạo ra sự đa dạng phongphú về cơ cấu kinh tế nông thôn mỗi vùng mang một sắc thái riêng Vùng đồngbằng có thế mạnh về trồng trọt cây lương thực, rau quả, chăn nuôi gia cầm, giasúc, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, đặcbiệt là công nghiệp chế biến Vùng trung du, miền núi có thế mạnh về cây công
Trang 14nghiệp, cây ăn quả, lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, chế biến hàng lâm sản;vùng ven biển có thế mạnh đánh bắt, nuôi trồng chế biến thuỷ hải sản, diêmnghiệp; vùng Tây nguyên có thế mạnh trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp, chếbiến hàng lâm, thổ sản
Tuy nhiên cùng với thế mạnh của từng vùng kinh tế thì mỗi vùng lại có khókhăn nhất định, như vùng đồng bằng đất chật, người đông, lao động dư thừanhiều; Trung du, miền núi và Tây Nguyên khó khăn về đường giao thông, điện,đặc biệt là thiếu nghiêm trọng về lực luợng lao động Chính vì vậy các vùngkinh tế phải có sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau nhằm phát huy thế mạnh, khắc phụcnhững hạn chế, khó khăn riêng của từng vùng để phát triển kinh tế nông thôn chotừng địa phương nói riêng và nông thôn cả nước nói chung
Nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH từ một nền kinh tế chậm pháttriển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, thiếuthốn, tình trạng lao động ở nông thôn thiếu việc làm còn quá lớn, nên phát triểnkinh tế nông thôn là một đòi hỏi cấp thiết trong chiến lược phát triển KT - XHcủa nước ta hiện nay Để nhanh chóng chuyển kinh tế nông thôn cổ truyền,mang nặng dấu ấn tự nhiên sang kinh tế hàng hoá thì một trong những yếu tốquan trọng là phải có sự nhận thức đầy đủ về những vai trò, nội dung của kinh
tế nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nhằm xác định nhữnghiện pháp, bước đi cụ thể, phù hợp
1.1.2 Vai trò của kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ở nước ta để đi lên sản xuất hàng hoá lớn, xuất phát từ một nước nôngnghiệp lạc hậu, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP còn lớn, 73% dân số làm nghềnông, thu nhập thấp, thiếu việc làm còn nhiều thì vai trò của kinh tế nôngthôn đối với quá trình phát triển đất nước là rất to lớn
1.1.2.1 Phát triển kinh tế nông thôn trực tiếp tăng thu nhập cho dân cư nông thôn sẽ ổn định xã hội và là sự đảm bảo quan trọng cho phát triển bền vững của nền kinh tế trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mặc dù trên thực tế, nước ta đã trải qua một thời gian dài thực hiện CNH
- HĐH (được đề cập trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V,VI,VII,VIII, IX, X), nhưng cho đến nay ở nông thôn kinh tế nông nghiệp vẫn là cơ
Trang 15bản và hết sức quan trọng Nông nghiệp không chỉ là ngành sản xuất vật chấtchủ yếu của nền kinh tế quốc dân nói chung, mà còn là cơ sở, điều kiện chuyểnnền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá Nói đến vai trò của kinh tếnông thôn, trước hết cần chú trọng tới vai trò kinh tế nông nghiệp.
Sự phát triển kinh tế trông nghiệp trong những năm gần đây đã cho thấy
tỷ trọng nông nghiệp đang giảm tương đối trong GDP từ 25,4% năm 2000xuống còn 22,5% năm 2003 và 20,3% năm 2006 Trong khi đó giá trị tuyệt đốilại tăng lên trong thời gian tương ứng Sự đóng góp của nông nghiệp cho nềnkinh tế quốc dân được thể hiện ở biểu 1.1
Biểu 1.1 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế quốc dân
- Nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản % 25,4 22,5 20,3
- Công nghiệp (gồm cả xây dựng cơ bản) % 34,5 39,5 41,6
Nguồn: Niên giám Thống kê/ 2006.
Như vậy, xét trên phạm vi từ quốc gia đến ngành kinh tế cụ thể, nôngnghiệp hiện nay vẫn là ngành kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân: tạo ra phần lớn tổng sản phẩm xã hội (có nơi gần như toàn bộ thunhập chỉ dựa vào nông nghiệp) Điều đó được biểu hiện trên thực tiễn, trongnhững năm qua mọi biến cố của nông nghiệp đều tác động trực tiếp đến đờisống sinh hoạt và tự phát triển KT - XH không những ở nông thôn, mà còn ảnhhưởng trên phạm vi quốc gia Năm 1988 về trước, nông nghiệp chưa phát triển,năng suất thấp, chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nước, do vậy đời sống nhân dânthiếu thốn, đói nghèo còn nhiều, nền KT - XH bị trì trệ, thậm chí rơi vào khủnghoảng Từ năm l989 trở lại đây, nông nghiệp phát triển mạnh, năng suất cao, đãtạo khả năng cho đời sống KT - XH dần dần được ổn định, xuất khẩu lương thựcngày càng tăng lên, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển.Mặc dù đó cũng chỉ là một trong nhiều nguyên nhân góp vào sự phát triển đó
Trang 16nhưng đã nói lên vai trò ổn định xã hội, tạo “nền” rất to lớn của kinh tế nôngnghiệp, nông thôn nước ta đối với sự phát triển của đất nước
1.1.2.2 Phát triển kinh tế nông thôn sẽ thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thực hiện được quá trình phân công lao động xã hội tại chỗ.
Với một nền kinh tế nặng về tự cấp, tự túc thì thường kinh tế nông thôn bị
“trói buộc” hẹp trong 2 lĩnh vực truyền thống là trồng trọt và chăn nuôi Thực tiễnphát triển kinh tế nông thôn trong những năm thực hiện đổi mới ở nước ta đãchứng minh một điều: chỉ khi nông nghiệp đảm bảo được lương thực, thực phẩmmới có điều kiện để phát triển các ngành nghề khác và đặc biệt là phát triển côngnghiệp nông thôn, thực hiện phân công và phân công lại lao động trong nôngnghiệp, giải quyết việc làm tại chỗ cho số lao động dư thừa trong nông thôn, giảmsức ép của sự chênh lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị với nông thôn, giữavùng phát triển với vùng kém phát triển, các làng nghề truyền thống, ngành nghềtiểu thủ công nghiệp mới được khôi phục, mở rộng và phát triển Có thể thấy rõđiều đó ở Từ Sơn, Yên Phong (Bắc Ninh); Dương Liễu (Hà Tây); Đa Tốn, BátTràng (Gia Lâm); Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh); An Nhơn (Bình Định);
Mễ Sở (Hưng Yên) ở những nơi này, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp đãgiảm, lao động phi nông nghiệp đã tăng lên rõ rệt
Như vậy, khi kinh tế nông nghiệp đã bảo đảm được về lương thực, thực phẩmthì trở thành điều kiện để chuyển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá đadạng (có công nghiệp, dịch vụ) đáp ứng yêu cầu của thị trường Quá trình đó như làqui luật phát triển nền KT - XH ở các nước xuất phát từ nông nghiệp như nước ta.Bởi lẽ, kinh tế nông nghiệp dù có phát triển đến đâu đi chăng nữa cũng không phải làngành kinh tế đặc trưng của một nền KT - XH phát triển cao
1.1.2.3 Phát triển kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho phát triển văn hoá ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình phát triển của nền KT - XH, hai lĩnh vực kinh tế và vănhoá có mối quan hệ biện chứng tác động thúc đẩy lẫn nhau, trong đó kinh tếgiữ vai trò quyết định, văn hoá có vị trí quan trọng và tác động trở lại đối vớiquá trình phát triển kinh tế theo hai chiều: thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triểncủa nền kinh tế
Trang 17Theo số liệu thống kê, khi bước vào thời kỳ đổi mới, tỷ lệ đói nghèo ởnước ta còn cao, trong đó số hộ đói nghèo ở nông thôn chiếm phần lớn, đặcbiệt là ở vùng núi tỷ lệ nghèo đói rất cao (vùng núi thấp từ 25 đến 30%, ở vùngnúi cao có từ 40 đến 50%) Do đời sống kinh tế khó khăn, nên văn hoá, tinhthần cũng còn nhiều thiếu thốn Vùng núi, Tây Nguyên, vùng xa hẻo lánhkhông có điện, ti vi, phim ảnh, sách báo nên họ bị mù chữ, lại bị mù cả vănhoá, tinh thần Và hơn nữa, do kinh tế kém phát triển đã dẫn đến các loại bệnhtật, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng như tệ nạn cúng bái, mê tín dị đoan, cờbạc, sinh đẻ không kế hoạch, hội hè kéo dài và chính những vấn đề này lạitrở thành những yếu tố kìm hãm quá trình phát triển kinh tế ở các vùng này Những thành tựu KT - XH trong những năm qua đã chứng tỏ rằng, ở địaphương nào, vùng nào kinh tế nông thôn và các ngành khác, nhất là ngànhnghề truyền thống được phát triển và giải quyết tốt việc làm, thu nhập thì ở đónhà truyền thống, nhà văn hoá, thư viện, bưu điện, trường học sẽ được quantâm phát triển và người dân được tiếp cận nhiều hơn với nền văn hoá hiện đại,văn minh; những hủ tục lạc hậu, tệ nạn, tập quán xấu sẽ được khắc phục vàxuất hiện nhiều phong trào thể hiện bản chất tốt đẹp của nền văn hoá xã hộimới, văn minh, lành mạnh như phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào uốngnước nhớ nguồn, phong trào "lá lành đùm lá rách” đồng thời người dân quantâm tôn tạo đình, chùa, khôi phục lễ hội truyền thống, sửa sang nơi thờ cúngngười có công với nước và các danh nhân văn hoá; tu tạo nhà thờ họ, chăm loviệc học hành… giáo dục lòng nhân ái, bồi dưỡng đạo đức và lối sống vớitruyền thống tốt đẹp của dân tộc những yếu tố đó lại thúc đẩy phát triển kinh
tế, người dân thi đua làm giàu, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt
Như vậy, kinh tế nông thôn phát triển đã quyết định đến phát triển vănhoá ở nông thôn Đồng thời khi đời sống văn hoá tinh thần của người lao độngđược bảo đảm đã trở thành động lực mạnh mẽ tác động trở lại đối với quá trìnhphát triển kinh tế nông thôn nói riêng, KT - XH nói chung Mối quan hệ đó đãđược Nghị Quyết Trung ương 5 (khoá VIII) Đảng ta đã nhấn mạnh: Văn hoá lànền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự pháttriển KT- XH Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạtđộng xã hội trên mọi phương diện: Chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật… biến
Trang 18thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.
1.1.2.4 Phát triển kinh tế nông thôn tạo tích luỹ và nh?ng điều kiện cần thiết cho CNH, HĐH đất nước.
ở một nước có xuất phát điểm thấp như nước ta (đại bộ phận cư dân làmnông nghiệp, thu nhập thấp, tích luỹ của cư dân còn ít) thì để tạo nguồn lực banđầu cho CNH - HĐH không có con đường nào khác là phải tích luỹ từ nôngnghiệp và kinh tế nông thôn, bởi vì:
Thứ nhất, KTNT phát triển sẽ tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, từ đó
mới có điều kiện tăng nguồn tích luỹ trong dân cư để đầu tư phát triển các hoạtđộng công nghiệp nông thôn
Thứ hai, Thu nhập nông dân tăng với lượng dân cư đông đảo sẽ dẫn tới
CầU tăng nhanh, mở ra thị trường tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp, qua đó
sẽ tích luỹ cho công nghiệp
Thứ ba, đó là nguồn cung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp nông
thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông sản
Thứ tư, đó cũng là khu vực tạo ra sản phẩm xuất khẩu để tích luỹ cho nền
kinh tế, tạo nguồn lực đầu tư cho phát triển công nghiệp, dịch vụ
Về vấn đề này, thực tế quá trình phát triển nền KT - XH nước ta đãchứng minh Trước Đại hội Đảng lần thứ VI, kinh tế nông thôn chậm pháttriển và bó hẹp trong sản xuất lương thực, thực phẩm, số lao động không cóviệc làm tăng lên, đời sống nhân dân lao động, khó khăn ngày càng nhiều,thị trường cung ứng và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp ngày một thu hẹp,công nghiệp không có cơ hội phát triển nhưng từ khi thực hiện "đổi mới"đến nay người dân đã chuyển mạnh sang làm các nghề tiểu thủ công nghiệp,sản xuất nông nghiệp chuyên canh Theo số liệu thống kê, riêng các làngnghề, các trang trại ở nước ta hiện nay đã giải quyết việc làm thường xuyêncho hàng triệu lao động, hàng năm kinh tế nông thôn đã tạo ra một khoảnngoại tệ không nhỏ thông qua xuất khẩu nông sản hàng hoá như gạo, cà phê,cao su, hồ tiêu, hoa quả tươi, rau xanh, thịt, cá, tôm (năm 2007 là 12,5triệu USD) đóng góp không nhỏ cho CNH, HĐH
Như vậy, phát triển kinh tế nông thôn sẽ trực tiếp nâng cao thu nhập cho
bộ phận đông đảo dân cư nước ta Phát triển kinh tế nông thôn chính là việc
Trang 19chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả - từ đó thúc đẩy quá trình phâncông và phân công lại lao động nông thôn, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập
và tích luỹ cho CNH, HĐH, tạo ra những điều kiện vật chất xây dựng một nềnvăn hoá mới, con người mới XHCN Xây dựng nông thôn mới có kinh tế, vănhoá phát triển, đời sống đầy đủ về vật chất, thoả mãn về tinh thần sẽ trở thànhnhân tố quyết định sự vững chắc của chế độ chính trị
Vì lẽ đó, phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta hiện nay là chiến lược tấtyếu để đảm bảo cho sự thành công của CNH - HĐH đất nước không chỉ trongtrước mắt mà còn có tính chất lâu dài
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ.
1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển kinh tế nông thôn nước ta.
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Theo kiến tạo địa hình, nước ta có thể chia thành 3 vùng lớn: Miền núi vàTrung du; đồng bằng; ven biển và hải đảo Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên (địa hình, thổ nhưỡng, tiểu khí hậu…) khác nhau - điều đó đã quyết định không nhỏtới khả năng phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông thôn mỗi vùng nói riêng.Miền núi và Trung du có lợi thế đất rộng, khí hậu đa dạng … có thế mạnh vềphát triển kinh tế rừng, các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, pháttriển chăn nuôi đại gia súc, các nghề thủ công truyền thống… nhưng bất lợi là hạtầng kém phát triển, trình độ dân trí thấp, dân cư phân bố thưa…
Trái lại, vùng đồng bằng tuy đất hẹp nhưng có lợi thế là hạ tầng pháttriển, lao động có trình độ cao, tương đối dồi dào nên thuận lợi cho thâm canhcác loại cây có trình độ canh tác cao như: rau, hoa, lúa gạo, nuôi thuỷ sản vàphát triển các loại nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Vấn đề của các nhà hoạch định chính sách là phải xác định đúng lợi thếcủa mỗi vùng để bố trí sản xuất phù hợp và tạo các điều kiện để khai thác hiệuquả tiềm năng lao động, đất đai, khí hậu…
1.2.1.2 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Lịch sử phát triển kinh tế hàng hoá đã chứng minh rằng hạ tầng kinh tế- xã
Trang 20hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng (nếu không nói là quyết định) đến sự pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nó đóng vai trò to lớn trong việc tạo sựliên kết giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng xa xôi với các trung tâm, tạo
cơ hội cho phát triển các vùng khó khăn và điều kiện để khai thác được nguồn lực
từ các vùng sâu, vùng xa, nó tác động đến sự phát triển đồng đều trong cả nước vàlàm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn Vì vậy, tốc độ phát triển kếtcấu hạ tầng được coi là tiêu chí đánh giá sự phát triển của một quốc gia
Hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn có nhiều loại nhưng quan trọng nhất làgiao thông, điện, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, trạm y tế, trường học… ở cácnước thành công trong CNH nông thôn đều đã tập trung đầu tư hạ tầng trước
để làm môi trường hấp dẫn cho lôi kéo đầu tư về nông thôn
Trung quốc đã tổng kết: “đường to thì phát triển lớn” Thực tế ở nước ta
đã chứng minh: Nơi khó khăn đều là nơi yếu kém về cơ sở hạ tầng nhất là giaothông và ngược lại giao thông đi đến đâu thì phát triển kinh tế - xã hội đến đó,điện đi đến đâu văn minh đến đó Hạ tầng kinh tế - xã hôi nước ta trong giaiđoạn vừa qua tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chất lượng còn thấp và thiếu,đặc biệt là vùng ĐBSCL và miền núi Nói chung hạ tầng kinh tế - xã hội ởnước ta chưa đáp ứng được yêu cầu về CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.2.1.3 Việc ứng dụng thành tựu của khoa học - công nghệ vào sản xuất và dịch vụ.
Bài học của các nước phát triển đã cho thấy họ đều thành công trong việcđầu tư mạnh để tiếp thu và ứng dụng thành tựu mới nhất của khoa học, côngnghệ Ngày nay họ có điều kiện để ra sức sử dụng các thành quả trí thức, thôngtin, công nghệ mới để tiÕp tục củng cố vị thế của mình, lũng đoạn kinh tế và ápđặt trật tự cho kinh tế thế giới
Do đó với điều kiện chậm phát triển như nước ta, muốn không bị tụt hậu,không có cách nào khác là phải ra sức tiếp thu ứng dụng khoa học công nghệ vàotất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có kinh tế nông thôn Chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH - HĐH là một cuộccách mạng, trong đó khoa học công nghệ giữ vai trò chủ yếu Nhiệm vụ hàng đầuđặt ra là phải tận dụng được lao động, đất đai để phát triển sản xuất, nhưng nếukhông có tri thức mới, không đổi mới công nghệ và cách tổ chức sản xuất kinh
Trang 21doanh thì lao động và đất đai cũng sẽ không được khai thác và sử dụng tốt kéotheo hình thức sản xuất và đời sống nông dân sẽ không nâng lên được.
Nước ta lại có bình quân đất nông nghiệp trên đầu người ở mức thấpnhất thế giới (0,13 ha/người) như vậy chỉ có cách tốt nhất để nâng cao thunhập cho nông dân bằng cách tăng giá trị sản xuất/ha Trong điều kiện năngsuất lao động, năng suất đất đai, năng suất sinh học trong nông nghiệp của tađều còn thấp thì việc ứng dụng khoa học, công nghệ cần tập trung vào một sốvấn đề như: áp dụng công nghệ sinh học để tạo giống tốt; đưa nhanh công nghệmới vào tất cả các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển vàtiêu thụ nông phẩm; ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi trồng và chế biến rauquả thực phẩm; xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao dựa vào côngnghệ sinh học, công nghệ thông tin, để tạo ra những hình mẫu thúc đẩy ứngdụng tiến bộ kỹ thuật cao vào sản xuất nông nghiệp
Cùng với việc tập trung cao cho ứng dụng khoa học công nghệ vào sảnxuất nông nghiệp và chế biến nông sản, cần phải đầu tư ứng dụng khoa họccông nghệ vào các ngành nghề công nghiệp, thủ công nghiệp nông thôn trướchết là các làng nghề truyền thống Thực tế cho thấy nhiều làng nghề bị suy yếu,mai một chính là do không đứng vững trước sự cạnh tranh của công nghệ mới.Những làng nghề phát triển được là do biết đầu tư, tiếp thu, ứng dụng côngnghệ mới vào sản xuất Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) là một trong những hìnhmẫu thành công từ việc chuyển sử dụng than sang khí đốt nên chất lượng sảnphẩm được nâng cao, giảm thiểu được ô nhiễm môi trường và sản lượng đãtăng lên nhiều lần Ngoài ra, các hộ làm gốm ở Bát Tràng cũng sớm sử dụngInternet để tiếp thị với thị trường thế giới và trong nước nên làng nghề ngàycàng phát triển, mỗi ngày thu hút hàng ngàn lao động từ nơi khác về làm thuê
mà vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu
1.2.2.4 ChÊt lîng nguån nh©n lùc n«ng th«n
Quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ranhiều cơ hội có việc làm cho người lao động nhưng đồng thời cũng đòi hỏi mộtlực lượng lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao Ngược lại khi có đôngđảo lực lượng lao động trình độ cao sẽ thúc đẩy mạnh hơn quá trình và hiệuquả CHH - HĐH Đã có kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp ở nước ta
Trang 22chứng minh rằng: Năng suất tăng 7% khi nhóm hộ sản xuất có trình độ học vấndưới phổ thông trung học; Nhưng tăng 11% đối với nhóm có trình độ tốtnghiệp phổ thông trung học Có thể thấy ảnh hưởng của trình độ lao động vớihiệu quả sản xuất ở các vùng qua biểu 1.2.
Biểu 1.2 Ảnh hưởng của chất lượng lao động đến NS đất đai các vùng đ t ai các vùng
Tỷ lệ LĐ đã qua đào tạo/2006
(%)
Giá trị SX nông nghiệp 2006/ha canh tác
(Triệu đồng/ha)
Nguồn: Kinh tế tri thức và phát triển/Báo NNVN/2006
Khoảng cách về trí thức và thông tin giữa nông thôn và thành thị ở cácnước đang phát triển và chậm phát triển như nước ta thường rất lớn Đó lànguyên nhân của sự cách biệt về phát triển giữa thành thị và nông thôn Do đó
để thúc đẩy phát triển nông thôn nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng thìyếu tố hàng đầu là phải có chiến lược phát triển tri thức và sử dụng tri thức chophát triển Nhân tố quan trọng trong hàng đầu để thực hiện chiến lược là pháttriển con người, phát triển việc giáo dục đào tạo, nâng cao năng lực khoa học vàcông nghệ, không chỉ cho lao động nông nghiệp mà còn chuẩn bị cho lực lượnglao động trẻ, khoẻ cung cấp cho các ngành công nghiệp, dịch vụ khác
1.2.2.5 Sự phát triển các chủ thể sản xuất hàng hoá ở nông thôn
Thực hiện phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình hình thành nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN tất yếu xuất hiện những chủ thể sản xuất hànghoá Đó là: Hộ Nông dân, trang trại, tổ hợp tác, HTX, doanh nghiệp nông thôn.Các chủ thể sản xuất đó là cơ sở, tiền đề mang tính khách quan đảm bảo chokinh tế hàng hoá nông thôn ra đời, phát triển Nói cách khác, thiếu những chủthể đó tất không thể xây dựng, phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn được
+ Về hộ nông dân.
Lịch sử của quá trình hình thành, phát triển sản xuất hàng hoá đã chứng
Trang 23minh, bước khởi đầu của sự phát triển sản xuất hàng hoá được xuất phát từkinh tế hộ nông dân.
Thực tiễn phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn trên thế giới đã chứngminh vai trò to lớn, không thể thiếu được của kinh tế hộ nông dân - nông trạigia đình Trong các nước khối thị trường chung châu Âu, từ giữa thế kỷ XIXđến nay trong nông nghiệp tồn tại hình thức nông trại gia đình là phổ biến, đại
đa số các nông trại có qui mô vừa và nhỏ Thí dụ, ở Pháp năm 1996 đã cókhoảng 2,5 triệu nông trại; ở Hà Lan toàn bộ nền sản xuất nông nghiệp được tổchức theo nông trại gia đình; ở châu Mỹ, nông trại gia đình là lực lượng chủyếu cung cấp nông sản cho xã hội Các nước ở Châu Á như Malaysia,Philippin, ThaiLand cho rằng “mô hình hộ" là đơn vị kinh tế cơ sở dễ dàng
"xoay xở" để tìm kiếm phương thức khai thác các nguồn lực để tái sản xuấttrong những điều kiện của nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn
Đối với nước ta, việc thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, cùngvới các Chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước về ruộng đất, tín dụng, giá cả
đã thực sự giải phóng người nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, tạo rađộng lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển.Vai trò của kinh tế hộ đã thể hiện rõ lợi thế ở các mặt sau:
Một là, ở trình độ sản xuất nông nghiệp còn chưa cao như nước ta thì tổ
chức sản xuất theo qui mô hộ gia đình trước mắt và lâu dài thích hợp với quátrình sản xuất nông nghiệp Bởi lẽ, quá trình nông nghiệp chia thành các giaiđoạn chủ yếu như sản xuất, thu hoạch, bảo quản, lưu thông Đặc tính sinh học
đã chi phối toàn bộ các giai đoạn đó Quá trình sinh trưởng, chuyển hoá củacây trồng, vật nuôi chịu ảnh hưởng của quy luật tự nhiên và điều kiện môitrường, thời tiết, khí hậu Quá trình này đòi hỏi người chủ của nó phải thực sựquan tâm, với ý thức làm chủ cao Trong nông nghiệp, người nông dân khôngthể làm công đơn thuần với số giờ trong ngày nhất định, mà phải có sự gắn bómáu thịt với các tư liệu sản xuất ruộng đất, cây trồng, vật nuôi
Hai là, trong điều kiện sản xuất hiện nay và trong một số năm tới, kinh tế
hộ gia đình là mô hình khá thuận lợi cho việc áp dụng những thành tựu khoa học
- kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất Với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất còn hạn chế thì quá trình chuyển giao công nghệ do hộ gia đình thực
Trang 24hiện sẽ diễn ra nhanh, gọn, có hiệu quả, đảm bảo một cách chặt chẽ giữa kỹthuật, công nghệ thủ công với kỹ thuật, công nghệ hiện đại; giữa sản xuất vớitiêu dùng của xã hội, nhằm tạo ra số lượng sản phẩm ngày càng nhiều, chủngloại ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng ngày càng tăng lên
+ Về kinh tế trang trại gia đình:
Kinh tế trang trại được hình thành và phát triển từ cơ sở kinh tế hộ giađình trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn là tất yếu Trong nềnkinh tế hàng hoá, các hộ nông dân nhằm mục đích thu lãi cao nhất, họ đã bằngmọi cách đáp ứng nhu cầu thị trường Do sự tác động của các quy luật kinh tếkhách quan, tất yếu dẫn đến xu hướng: Những hộ nông dân có năng lực tổchức sản xuất, có kinh nghiệm, vốn, đất đai, có trình độ khoa học, công nghệ từng bước phát triển qui mô sản xuất và hình thành kinh tế trang trại Kinh tếtrang trại ra đời từ cơ sở các hộ nông dân sau khi phá vỡ cái "vỏ bọc" sản xuất
tự cấp, tự túc, khép kín, vươn lên sản xuất hàng hoá, tiếp cận thị trường, từngbước thích nghi với môi trường cạnh tranh
Kinh tế trang trại khác với kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc Các Mác đã
từng đề cập đến vấn đề này: Người chủ trại bán ra thị trường đại bộ phận sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì tiêu dùng đại bộ sản phẩm làm ra, mua bán càng ít càng tốt Kinh tế trang trại ra đời đã thực sự tạo cơ sở, tiền đề cho
hộ nông dân bứt ra khỏi hoàn toàn quỹ đạo tiểu nông, tiến lên sản xuất nôngsản hàng hoá Cụ thể:
- Phá bỏ kiểu sản xuất tự cấp, tự túc, khép kín của nền kinh tế tự nhiên,thúc đẩy sự phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng sản xuất lớn, hình thành cácvùng chuyên canh cung cấp nguyên liệu phong phú, đa dạng phục vụ cho quátrình CNH, HĐH, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến nông sản
- Cung ứng nông sản hàng hoá với số lượng lớn, nhiều chủng loại cho thịtrường, góp phần đáp ứng nhu cầu đa dạng về nông sản của thị trường
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trongsản xuất kinh doanh nông nghiệp, từ đó năng suất lao động tăng, giá thành hạ
- Khai thác, phát huy được tiềm năng đất đai (khai hoang, phục hoá, thâmcanh, tăng vụ ), vốn nhàn dỗi và lao động dư thừa ở nông thôn, kích thích tích
Trang 25tụ đất đai, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá lao động trong nông nghiệp.
- Trong thực tế phát triển và điều kiện hiện nay - có thể thấy kinh tế trangtrại là mô hình kinh tế thích hợp, là hình thức quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ phát triển lực lượng sản xuất ở nông nghiệp và nông thôn trong quátrình xây dựng, phát triển kinh tế hàng hoá Theo số liệu thống kê, ở nước tahiện nay kinh tế trang trại đang phát triển cả chiều rộng và chiều sâu Tính đếnđầu năm 2006, cả nước đã có khoảng 13,7 nghìn trang trại, các trang trại hoạtđộng có hiệu quả, tỷ trọng hàng hoá ngày càng nâng lên
+ Các tổ chức kinh tế hợp tác
Kinh tế hộ là cơ sở, tiền đề phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn, đó làmột tất yếu đã được lịch sử chứng minh Song, không phải vì thế mà chúng tatuyệt đối hoá vai trò kinh tế hộ trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoánông thôn Ngoài ưu điểm lợi thế của kinh tế hộ nó còn có những giới hạnnhất định ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn Quátrình phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn là quá trình phát triển các ngànhnghề, hình thành nhiều lĩnh vực đảm bảo cho quá trình phát triển sản xuất chonên có những lĩnh vực mà kinh tế hộ không đảm bảo được, hoặc có thực hiệnthì hiệu quả vẫn thấp như lĩnh vực lưu thông, dịch vụ kỹ thuật, tín dụng, chếbiến nông, lâm, thuỷ sản Đồng thời quá trình phát triển kinh tế hàng hoábuộc các hộ phải quan tâm đến năng suất lao động, cốt lõi là phải đổi mớitrang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, đòi hỏi phải có lượng tiền vốn lớn, điều
đó đã vượt quá khả năng của từng hộ gia đình Trong tình hình đó, các hộ giađình không còn cách nào khác là phải hợp tác với nhau mới có khả năng pháttriển nền kinh tế hàng hoá Vậy là phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn đãđến lúc phải gắn liền với xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác (bao gồmtrình đô thấp là tổ hợp tác, trình độ cao hơn là HTX không chỉ trong các lĩnhvực sản xuất nông nghiệp mà còn cả ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn) Đó là
xu hướng có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong nông nghiệp,nông thôn, là quá trình xã hội hoá sản xuất từ thấp đến cao ở nông thôn Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Hợp tác xã là công cụ hữu hiệu để tạoviệc làm, nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo, nâng cao vị thế kinh tế - xã
Trang 26hội của người nghèo và các nhóm yếu thế
Ở nước ta hiện nay, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX được coi là mộttrong các thành phần kinh tế có vai trò quan trọng, cùng với kinh tế Nhà nướcngày càng trở thành nền tảng nền kinh tế quốc dân Và đó cũng là nền tảngchính trị - xã hội của đất nước, nhằm đạt mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh"
+ Doanh nghiệp nông thôn
Là những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hoạt động trên địa bàn nôngthôn, trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất nông sản, hàng hoá tiêu dùng khác, sửdụng nguyên vật liệu từ nông thôn, dịch vụ cho kinh tế nông thôn, lao độngchủ yếu từ nông thôn
Kinh nghiệm của các quốc gia thành công trong CNH - HĐH và thực tếđổi mới ở nước ta đã khảng định những đóng góp quan trọng của doanh nghiệpnông thôn là:
- Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp thông qua chế biến, bảo quản…
- Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng nhanh việc làmcho người lao động nông thôn vốn rất dư thừa, làm cho người lao động “lynông bất ly hương”, có việc làm và được cải thiện nâng cao đời sống ngay ởquê hương mình
- Nâng cao nhanh thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư nông thôn và đó
là cơ hội thuận lợi tăng sức mua để tiêu thụ ngay sản phẩm của chính côngnghiệp - dịch vụ
- Không chỉ đóng góp hữu hiệu vào xoá đói, giảm nghèo ở các địaphương mà còn đóng góp quan trọng vào tăng GDP, là nguồn xuất khẩu thungoại tệ chô đât nước…
Vì vậy một trong những yếu tố có tính chất quyết định hiện nay đối vớiphát triển kinh tế nông thôn là phải có chính sách lôi kéo mạnh doanh nghiệpđầu tư vào nông nghiệp - nông thôn coi đó như “đột phá khẩu” cho phát triểnkinh tế nông thôn hiện nay
1.2.2.6 Sự phát triển của thị trường nông thôn
Thị trường là lĩnh vực trao đổi, trên đó các chủ thể kinh tế tác động với
Trang 27nhau nhằm xác định sản lượng và giá cả hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, nói cách khác thị trường là điềukiện, môi trường của sản xuất hàng hoá Thị trường ra đời tồn tại cùng với sự
ra đời, tồn tại của sản xuất, lưu thông hàng hoá Không có thị trường thì sảnxuất, trao đổi hàng hoá không thể tiến hành được Như vậy, thị trường tác độngtới sản xuất hàng hoá theo hai chiều, hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự pháttriển của sản xuất hàng hoá cả về cơ cấu, số lượng, chất lượng hàng hoá CácMác đã viết: "Khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì qui môtrong sản xuất cũng tăng lên, sự phân công trong sản xuất cũng trở nên sâu sắchơn”(3) Đặc biệt vai trò tác động của thị trường đối với sản xuất hàng hoá cànglớn trong điều kiện chuyển nền kinh tế tự nhiên lên nền kinh tế hàng hoá, và từnền kinh tế hàng hoá giản đơn lên nền kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển kinh tế hàng hoá đã chỉ ra, bước đầu xuất hiện thịtrường hàng tiêu dùng, sau đó mở rộng đến thị trường các yếu tố sản xuất Đểhình thành và phát triển kinh tế hàng hoá, cần phải hình thành và phát triển thịtrường trong từng khu vực, từng địa phương, thống nhất, thông suốt trong cảnước, mở rộng thị trường quốc tế Đó là xu hướng tất yếu xuất phát từ vai tròcủa thì trường đối với tất cả các quốc gia khi phát triển nền kinh tế hàng hoá.Những vai trò chủ yếu của thị trường được biểu hiện như sau:
Một là, trong nền kinh tế hàng hoá, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào,
sản xuất cho ai là phụ thuộc vào thị trường Thị trường là trung tâm của toàn
bộ quá trình tái sản xuất, vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của sản xuất
Hai là, thị trường là điều kiện, là môi trường cho hoạt động sản xuất của
các chủ thể sản xuất hàng hoá, đồng thời là người nội trợ cho người tiêu dùng,
là tấm gương phản chiếu cho sự phát triển KT - XH
Ba là, thị trường là nơi cuối cùng để chuyển lao động tư nhân thành lao
động xã hội
Bốn là, thị trường là nơi giao lưu hàng hoá giữa các ngành, các địa
phương, các quốc gia với nhau; tạo sự gắn bó giữa nông thôn với thành thị,giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa miền xuôi với miền ngược, giữa cácquốc gia với nhau; thúc đẩy quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá
3 () Mác – Ăng ghen tuyển tập – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 1981 trang 614.
Trang 28Vì vậy, thị trường là “bà đỡ” của phát triển kinh tế hàng hoá Trong thực
tế nông thôn nước ta hiện nay, các thị trường có ảnh hưởng lớn nhưng cònthiếu hoặc còn yếu là thị trường vốn, thị trường cung ứng vật tư, tiêu thụ nôngsản và sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, thị trường dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp
và công nghiệp nông thôn…
1.2.2.7 Hệ thống chính sách kinh tế - xã hội
Chính sách cũng như luật pháp, có vai trò to lớn trong việc thúc đẩyhoặc kéo lùi sự phát triển kinh tế xã hội Thực tiễn ở nước ta đã chứng minh,
ví dụ như chính sách khoán 10 đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, không chỉ tạo
ra sự biến đổi sâu sắc trong nông nghiệp nước ta, biến nước ta từ một nướcthiếu lương thực thành một nước đảm bảo an ninh lương thực quốc gia vàxuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, không những thế còn mở đầu cho việc đổimới một loạt các cơ chế quản lý trong ngành kinh tế khác Bên cạnh đó lại cónhững chính sách “ngăn sông cấm chợ” như hạn chế lưu thông buôn bánlương thực, thực phẩm, chính sách phân phối bình quân trong HTX; chínhsách tiền lương đã không khuyến khích trí thức về công tác ở nông nghiệp,nông thôn… đã kìm hãm hoặc kéo lùi lịch sử phát triển của đất nước…
Vì vậy, việc sửa đổi kịp thời những chính sách lỗi thời, lạc hậu hoặcnghiên cứu ban hành một chính sách thúc đẩy phát triển là nghĩa vụ, tráchnhiệm nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn của nhà nước ta hiện nay
1.2.2.8 Vai trò của nhà nước đối với kinh tế nông thôn
Trong nền kinh tế thị trường không chỉ có mặt tích cực mà còn có cả mặttiêu cực Riêng về mặt tiêu cực của cơ chế thị trường có thể khái quát như sau:
Một là, nền kinh tế thị trường không có cơ sở đảm bảo được những cân
đối của nền KT - XH Vì mục đích của nền kinh tế thị trường là lợi nhuận, nênchủ thể sản xuất kinh doanh thực hiện sản xuất là nhằm vào khối lượng lợinhuận- chỉ quan tâm đến những hàng hoá có lợi nhuận lớn Còn những hànghoá lợi nhuận ít hoặc không có thì họ không chú ý Do đó, nền kinh tế đượccân đối chỉ là ngẫu nhiên, nhất thời Một nền kinh tế muốn phát triển mạnh, ổn
Trang 29định, năng suất lao động cao thì phải có sự cân đối (cân đối giữa các khâucủa quá trình tái sản xuất, cân đối giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế, cân đốigiữa các yếu tố của quá trình sản xuất ).
Đó là những cân đối vĩ mô để cho nền kinh tế phát triển, nhưng tự kinh tếthị trường không thể giải quyết được
Hai là, do sản xuất chạy theo lợi nhuận, vô chính phủ, dẫn đến hiện tượng
"thừa",."thiếu ” hàng hoá phục vụ cho đời sống KT - XH dễ tạo ra sự khủnghoảng nền kinh tế, gây lãng phí tiền, của của xã hội, ảnh hưởng tới đời sốngngười lao động
Ba là, từ những hạn chế: Nền kinh tế thường xuyên bị mất cân đối, khủng
hoảng đã dẫn tới những hậu quả hết sức nghiêm trọng, tác động xấu đến quátrình phát triển nền kinh tế như thất nghiệp tăng lên, lạm phát gay gắt hơn,phân cực giàu nghèo quá mức, tạo nên tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền
mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm, là cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môitrường sinh thái ngày càng trầm trọng Đó là những vấn đề KT - XH của bất
kỳ quốc gia, dân tộc nào khi phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, chỉ
có sự khác nhau về mức độ, tính chất, qui mô và hậu quả Vì vậy phải có sự hỗtrợ của Nhà nước khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường, đảm bảotăng trưởng kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xã hội
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường mọi Nhà nước, bất kể Nhà nước đóthuộc chế độ chính trị nào cũng đều phải quản lý, điều tiết nền kinh tế ấy.Riêng đối với nước ta hiện nay việc phát triển kinh tế nông thôn trong quátrình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, ngoài những lý do
đề cập ở trên, còn có những lý do khác mang tính đặc thù đòi hỏi Nhà nướcphải can thiệp:
- Kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn còn quá yếu kém, hạn chế sự pháttriển kinh tế hàng hoá nông thôn
- Công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ởnông thôn còn yếu, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và đội ngũ công
Trang 30nhân lành nghề còn ít.
- Kinh tế nông thôn còn thiếu vốn sản xuất, thị trường đầu ra hạn chế vàkhông ổn định, người nông dân còn sợ rủi ro, né tránh mạo hiểm, chưa thực sựtin tưởng vào giống mới, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến khi lần đầu được ápdụng, do đó rất cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước
- Có những chính sách đúng nhưng cơ chế thực hiện thiếu hoặc khôngphù hợp nên không thực hiện được hoặc kết quả hạn chế
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường, việc điều hànhkinh tế nông thôn trong thời đại ngày nay không thể không có sự quản lý củaNhà nước bằng những công cụ cụ thể Những công cụ để quản lý nền kinh tếquốc dân nói chung cũng là những công cụ quản lý nền kinh tế nông nghiệp,nông thôn nói riêng là một tổng thể hoàn chỉnh bao gồm các công cụ về tổchức, luật pháp, chính sách, chế độ, qui hoạch, kế hoạch, giáo dục, thuyếtphục, thanh tra, kiểm tra
1.2.2 Các nội dung cơ bản phát triển kinh tế nông thôn.
1.2.2.1 Khái niệm về CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển: Công nghiệp hoá (CNH) là biến mộtnước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển Ngày nay, docuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh mẽ như vũ bão đã tác độngtrực tiếp đến sự phát triển nền kinh tế - xã hội của các nước nên CNH thường phảigắn liền với HĐH Nếu CNH được hiểu là quá trình biến một nước nông nghiệpthành một nước công nghiệp thì HĐH được hiểu là quá trình trang bị kỹ thuật côngnghệ cho nền kinh tế, tương xứng với trình độ công nghệ mà thời đại đã đạt được
Chính vì vậy, đảng ta đã xác định: “CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là qúa trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội; từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sản xuất một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động cao” (4)
1.2.2.2 Mục tiêu tổng quát của CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Có thể thấy rõ nhất các mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn bằng con
4 () - Văn kiện Hội nghị 7/Khoá VII tháng 7/1994.
Trang 31đường CNH - HĐH là thể hiện trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng :
Về nông nghiệp: ”phát triển nền nông nghiệp toàn diện”, trên cơ sở
“bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống”, “chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng kim ngạch xuất khẩu”; và tiến tới “Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng
và sức cạnh tranh cao”
Về nông thôn: “phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa”; “chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn”; và “Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển ngày càng hiện đại”, trên cơ sở thực hiện các biện pháp:“Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội nông thôn, chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi, bảo đảm đường giao thông thông suốt đến trung tâm xã, có đủ trường học, trạm y tế và nước sạch cho sinh hoạt Bảo vệ môi trường sinh thái”; “Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn”
Như vậy, để kinh tế nông thôn phát triển hiện đại, với mục tiêu xây dựngmột nông thôn văn minh, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao thì conđường ngắn nhất là phải CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn và đó như làmột quy luật tất yếu của các nước phát triển CNH- HĐH nông nghiệp, nôngthôn có nhiều nội dung, nhưng quan hệ chặt chẽ, hoà quyện với nhau, tác độngtương hỗ lẫn nhau Vì vậy, trong thực hiện không được chia cắt, tách rời từngnội dung mà phải gắn kết trong một thể thống nhất
1.2.2.3 Nội dung cơ bản phát triển KTNT theo hướng CNH - HĐH
Từ vai trò ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển kinh tế nông thôn, sẽ
có căn cứ để xây dựng các nội dung chủ yếu phát triển kinh tế nông thôn vớiphương châm là lựa chọn các tác động để phát huy các mặt tích cực, hạn chếmặt tiêu cực của các yếu tố ảnh hưởng nhằm tạo môi trường đồng bộ, thuận lợicho phát triển kinh tế nông thôn
5 () - Văn kiện Đại hội X – NXB Chính trị quốc gia -2006.
Trang 32Từ kinh nghiệm của những nước đã phát triển KTNT thành công bằngcon đường CNH - HĐH nông thôn, từ thực tiễn đổi mới những năm qua và yêucầu của CNH - HĐH đất nước có thể thấy phát triển kinh tế nông thôn nước tathời gian tới gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Cơ cấu kinh tế nông thôn do nhiều bộ phận hợp thành Các bộ phận đó cómối quan hệ gắn bó với nhau trong những không gian nhất định, phù hợp vớinhững điều kiện KT - XH nhất định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trìnhlàm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của một nền kinh tế theo một chủđịnh, một phương hướng nhất định
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH là mộttrong những mục tiêu chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới Về vấn đềnày lại càng trở nên quan trọng đối với các quốc gia có tỷ lệ cư dân nông thôncao và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp như nước ta hiện nay.Nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH khi trên thế giới đã diễn rahai cuộc cách mạng kỹ thuật Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang trên đàphát triển rất mạnh mẽ, đã tác động rất mạnh đến quá trình quốc tế hoá kinh tế
và phân công hợp tác quốc tế giữa các quốc gia với nhau, đồng thời cũng làthời kỳ của các cuộc cách mạng về cơ cấu kinh tế Thực tiễn các nước có nềnkinh tế phát triển trên thế giới đều đã diễn ra những cuộc cách mạng lớn về cơcấu kinh tế Xu hướng chung là xây dựng một cơ cấu kinh tế mới (đa dạng,nhiều tầng và năng động) Chủ yếu là tập trung vào những ngành nghề, lĩnhvực có điều kiện và khả năng phát triển lớn, đạt hiệu quả kinh tế cao
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước ta phải đạt đuợc các yêucầu đa dạng hoá sản xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện để đáp ứng nhu cầutiêu dùng ngày càng tăng lên của xã hội và phát triển ngành nghề phi nôngnghiệp nhằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp và nông thôn, tăng năngsuất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập cho hộ nông dân Trên quan niệm
đó, các nội dung chính của quy trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn nước
Trang 33- Thúc đẩy đa dạng hoá cây trồng và đa dạng hoá nội ngành thông quachế biến công nghiệp ở các vùng CNH cao Phát triển công nghiệp chế biếnnông sản sẽ là điểm mấu chốt để thúc đẩy quá trình đa dạng hoá nội ngành.
- Phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề và dịch vụ ở nông thônnhằm đa dạng nguồn thu nhập cho nông dân và đẩy nhanh quá trình CNH
- Phát triển các khu công nghiệp (phân bố hợp lý) trong môi trường nôngthôn để tạo sự phát triển cân đối giữa thành thị và nông thôn, giảm sự tập trungcao ở các đô thị lớn
Thứ hai, đẩy mạnh hiện đại hoá nông nghiệp - biến nông nghiệp lạc hậu thành nông nghiệp hàng hoá lớn.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển: “Công nghiệp hoá là quá trìnhbiến một nước nông nghiệp lạc hậu thành 1 nước công nghiệp phát triển” Hiệnđại hoá được hiểu là quá trình trang bị kỹ thuật, công nghệ cho nền kinh tếtương ứng với trình độ kỹ thuật - công nghệ mà thời đại đã đạt được
Hầu hết các nước tiến hành CNH thành công đều đã thực hiện quan điểmtrên bằng các biện pháp chủ yếu như:
Một là, ưu tiên sử dụng khoa học kỹ thuật làm mũi nhọn cho cách mạng
nông nghiệp; họ quan tâm tới quy hoạch vùng sản xuất các sản phẩm có lợithế Tập trung đầu tư kỹ thuật vào giống, cải tiến quy trình canh tác, đầu tưcông nghệ chế biến để nâng cao giá trị nông sản hướng vào xuất khẩu
Hai là, đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ gắn với các vùng hàng hoá lớn
Trang 34như giao thông, thuỷ lợi, điện, cơ sở bảo quản, chế biến công nghiệp hướngvào xuất khẩu
Ba là, đào tạo, nâng cao nhanh lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu
công nghệ mới cả trong sản xuất nông nghiệp và chế biến nông nghiệp
Bốn là, doanh nghiệp hoá kinh tế nhà nước, tổ chức lại sản xuất nôngnghiệp từ kinh tế hộ: Tuy nông hộ là 1 khởi đầu quan trọng, song hạn chế củakinh tế hộ là quy mô sản xuất nhỏ, ít có điều kiện và khả năng áp dụng côngnghệ mới, khó cho chỉ đạo sản xuất vùng hàng hoá lớn Vì vậy nhiều nước đãtừng bước “doanh nghiệp hoá” nông nghiệp, có nước chủ yếu phát triển từtrang trại - Hợp tác xã (Thailand, Đài Loan) ở các nước Mỹ và Tây Âu thì có
- Các HTX liên kết với chủ trang trại trợ cấp đầu vào và tiêu thụ đầu racho trang trại
Ở Thái Lan lại chọn hình thức liên kết theo công thức 4 nhà “Nhà nước +Doanh nghiệp + Nhà băng + Nhà nông” Trong đó, công nghiệp chế biến đượccoi là lựa chọn đột phá để gắn các vùng sản xuất chuyên canh
Thứ ba, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ngày càng hiện đại.
Cơ sở hạ tầng nông thôn nước ta tuy đã được chú trọng đầu tư một sốnăm qua nhưng nhìn chung còn thiéu, chất lượng thấp- nhất là vùng miền núi,vùng sâu Do đó phải được tính toán để đầu tư đi trước phù hợp với mục tiêuphát triển của CNH - HĐH đến 2020 và tầm nhìn 2050
Đối với nông thôn, phải ưu tiên trước hết là cho giao thông, thủy lợi, thôngtin liên lạc, nước sạch, cơ sở giáo dục, nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng gắn liềnvới hoạt động thể thao ở mỗi thôn, bản, cụm dân cư Chính sách đầu tư phải có
Trang 35tác động huy động được nhiều nguồn vốn (trong nước, doanh nghiệp, nông dân,nước ngoài ), trong đó phải phân định rõ từng nguồn vốn đầu tư.
Mặt khác do mục tiêu của CNH - HĐH là xây dựng một nông thôn vănminh, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Vì vậy cần phải pháttriển thêm các thị trấn, thị tứ ở nông thôn với hệ thống hạ tầng phù hợp vớichức năng của nó là các trung tâm thương mại, trung tâm khoa học kỹ thuật,giáo dục, y tế bảo vệ sức khoẻ, văn hoá, nghệ thuật để tạo những ”đầu tầu”thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hoá ngay tại các xã, cụm xã
Thứ tư, tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
Bao gồm: Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông Xây dựng kế hoạch
và giải pháp đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ năng lực vàolàm việc ở các cơ sở công nghiệp, TTCN, dịch vụ Dạy nghề cho bộ phận nôngdân sản xuất nông nghiệp (bằng nhiều hình thức) để đào tạo, bồi dưỡng kiếnthức và kỹ năng để đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại; đào tạonâng cao kiến thức và trình độ quản lý cho cán bộ nông nghiệp, nông thôn, đặcbiệt cho cán bộ thôn, xã Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn chính
là một yếu tố quan trọng hấp dẫn, lôi kéo doanh nghiệp đầu tư vào nôngnghiệp, nông thôn
Thứ năm, phát triển các chủ thể sản xuất hàng hoá ở nông thôn.
- Xây dựng hộ nông dân thành đơn vị kinh tế tự chủ Trong đó chủ yếu lànâng cao kiến thức khoa học, kỹ thuật, kỹ năng sản xuất, kiến thức thị trường
để người nông dân có thể vươn lên chủ động lựa chọn sản xuất có lợi, sản xuấtvới năng suất cao, chất lượng sản phẩm sạch và có lợi nhất để tăng thu nhập
- Tạo các điều kiện thuận lợi để trang trại phát triển cả về số lượng và quy
mô, đầu tư sản xuất theo chiều sâu để có sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh,vươn ra xuất khẩu
- Phát triển các hình thức hợp tác - nhất là HTX Hướng các HTX dịch vụtốt cho kinh tế hộ và trang trại để 2 loại hình kinh tế đó phát triển có hiệu quả
- Đổi mới để nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước để xứng đáng
là các điểm tựa cho các thành phần kinh tế khác phát triển
- Tạo môi trường thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh
Trang 36vực nông nghiệp và về nông thôn.
Thứ sáu, xây dựng hệ thống chính sách thích ứng để thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.
Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều các chính sách linhhoạt cho phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, đặc điểm chung
là các chính sách có tuổi thọ ngắn, dễ lạc hậu, không theo kịp lâu dài với sựphát triển của thực tiễn Nhiều chính sách hiện hành đang hạn chế hoặc tácđộng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế nông thôn như: Chính sách đất đai, tàichính, tín dụng … hoặc còn thiếu những chính sách thích hợp để thúc đẩy nângcao chất lượng nguồn nhân lực - đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vàonông thôn; chính sách thúc đẩy tăng nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nôngthôn (nhất là cho những vùng phát triển có hiệu quả cao và các vùng nghèo đóiquá chậm phát triển); Chính sách bảo vệ, sử dụng có hiệu quả vốn tài nguyên
và bảo vệ môi trường nông thôn, chính sách an sinh xã hội cho cư dân nôngthôn - nhất là vùng bị thu hồi đất cho công nghiệp, đô thị, chính sách phát triểnthị trường nông thôn…
Do đó việc lựa chọn để sửa đổi hoặc ban hành mới các chính sách phù hợp
có tính đột phá đang là công việc quan trong bậc nhất của Đảng và nhà nướchiện nay khi muốn thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và giảiquyết tốt vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn tạo cơ sở kinh tế - xã hộivững chắc cho thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Thứ bảy, nâng cao vai trò và trình độ quản lý nhà nước đối với kinh tế nông thôn theo hướng:
- Sửa đổi bổ sung hoặc xây dựng mới một số luật còn thiếu để hoàn chỉnhhơn hệ thống luật pháp thích ứng với yêu cầu quản lý kinh tế nông thôn trongthời kỳ CNH - HĐH
- Sửa đổi, bổ sung các cơ chế quản lý để thực hiện có hiệu quả chính sách,pháp luật của nhà nước
- Bổ sung thể chế, bộ máy quản lý và từng bước chuẩn hoá, tăng năng lực
Trang 37cho cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy quản lý về lĩnh vực kinh tếnông nghiệp, nông thôn
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN.
1.3.1 Kinh nghiệm Nhật Bản: nông nghiệp phát triển tạo đà cho công nghiệp hoá.
Như mọi quốc gia Âu, Mỹ trước đây, quá trình công nghiệp hoá ở NhậtBản bắt đầu bằng một thời gian dài tăng trưởng nhanh sản xuất nông nghiệp.Trải qua một thế kỷ phát triển, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia côngnghiệp hiện đại nhưng đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ giađình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Đặc điểm này rấtgiống hoàn cảnh Việt Nam Những kinh nghiệm chủ yếu của Nhật Bản về pháttriển kinh tế nông thôn có thể tóm tắt là:
Thứ nhất, tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ, giữ lao động lại nông thôn
Trước công cuộc Duy Tân, như mọi nước châu Á, kinh tế Nhật Bản là nềnnông nghiệp sản xuất nhỏ tiểu nông phong kiến năng suất thấp, địa tô cao.Nhật Bản luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ngày càng ít và dân số ngàycàng đông (năm 1962, diện tích trung bình là 0,8 ha/hộ nông dân)
Trong hoàn cảnh đất chật, người đông, chiến lược phát triển khôn khéo vàhiệu quả đã được Nhật Bản thực hiện thành công để đạt mục tiêu khó khăn:đưa nông nghiệp đi ngay vào phát triển theo chiều sâu từ giai đoạn tăng trưởngban đầu (Chiến lược này gần gũi với quan điểm "công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp" của chúng ta ngày nay) Từ năm 1878 đến năm 1912 là thời
kỳ công nghiệp Nhật Bản tăng trưởng nhảy vọt nhưng tổng số lao động nôngnghiệp chỉ giảm rất ít từ 15,5 triệu xuống 14,5 triệu người, công nghiệp tăngtrưởng gần như chỉ thu hút phần lao động thêm ra do tăng dân số tự nhiên
Thứ hai là: dưỡng sức dân, tạo khả năng tích luỹ và phát huy nội lực
Trang 38Nhật Bản là ví dụ điển hình cho vai trò quan trọng của lĩnh vực nôngnghiệp đóng góp cho quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước.Trong suốt nửa thế kỷ nền kinh tế tăng tốc, nông nghiệp cung cấp đầy đủlương thực, thực phẩm cho nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp thị dân vàcông nhân công nghiệp có thu nhập ngày càng tăng, nhờ đó dập tắt nguy cơlạm phát do thiếu lương thực gây ra (như đã từng xảy ra ở nhiều nước phảinhập khẩu lương thực); thông qua xuất khẩu nông, lâm sản (chè và lụa là haimặt hàng xuất khẩu chính), đóng góp nguồn ngoại tệ quan trọng để nhập khẩumáy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; cung cấp nguyên liệu cho cácngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng.
Sau chiến tranh, nước Nhật bị tàn phá rơi vào tình trạng đói kém, ngoại tệthiếu hụt, khó nhập khẩu lương thực Bị dồn vào chân tường, vẫn như trước, Nhật
Bản áp dụng phương châm "dưỡng dân, để dân tự tích luỹ, tự khai thác nội lực tạo
phát triền" Tuy thiếu lương thực nhưng chính phủ chấp nhận sức ép của nhu cầu
khôi phục công nghiệp và thành phố cần lương thực, kiên trì chính sách giữ giánông sản cao để khuyến khích nông dân Giá lương thực đắt đã nhanh chóng thúcđẩy nông dân tăng sản lượng, mở rộng sản xuất vượt qua khủng hoảng
Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá nông thôn.Thu nhập của nông dân tăng nhanh do chính sách phi tập trung hoá công nghiệp,đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn Cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệđóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu nhập cư dân nông thôn ngàycàng tăng Năm 1990, phần thu nhập phi nông nghiệp cao hơn 5,6 lần phần thu
từ nông nghiệp Thu nhập từ nông nghiệp của nông dân tăng gấp 9 lần so vớimức năm 1950 chủ yếu nhờ giá nông sản tăng do Chính phủ trợ giá Tính cả thunhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của nông dân tính theo đầungười hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công nhân đô thị
Thứ ba là: gắn nông nghiệp với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị
Một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công CNH HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản là sự liên kết hài hoà giữa nông
Trang 39-nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị.
Phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông, thông tin, giáo dục, nghiên cứu) lànhân tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng, tạo nên năng suất đất đaicao giai đoạn đầu thời kỳ Duy Tân và tạo điều kiện phát huy tác dụng máymóc, thiết bị và hoá chất cho quá trình cơ giới hoá và hoá học hoá nôngnghiệp, tạo nên năng suất lao động cao cho nông nghiệp Nhật Bản giai đoạnsau Chiến tranh thế giới thứ hai
Một tác động quan trọng khác của công nghiệp là tạo việc làm cho laodộng nông thôn Để khắc phục tình trạng này, chính phủ chú trọng phát triển cáccông nghệ thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá Ngay cảđến sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi các công nghệ hiện đại thu hút nhiềuvốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng đặc biệt.Một biện pháp khác là phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nôngthôn Nhờ kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và liên lạc hoàn chỉnh, giá thấp,không chỉ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông nghiệp như tơtằm, dệt may mà cả các ngành cơ khí, hoá chất cũng phân bố trên địa bàn nôngthôn toàn quốc Năm 1883, 80% các nhà máy lớn đều nằm ở nông thôn, năm
1960 đã có 66% số lao động nông thôn có thu nhập từ phi nông nghiệp Nhật Bản
đã thành công trong chiến lược "ly nông bất ly hương" theo một cách thức khác
và theo đánh giá của các chuyên gia thì hiệu quả hơn Trung Quốc sau này vàngược hẳn với tình trạng tập trung nhà máy ở thành phố như Việt Nam hiện nay
Thứ tư là: chọn biện pháp khởi động quá trình công nghiệp hoá thích hợp Giải pháp chiến lược đầu tiên là phát triển con người Trong khi toàn
Châu Á thế kỷ XIX còn áp dụng một hệ thống đào tạo giáo điều kinh viện chothiểu số trí thức để làm quan thì năm 1871, Nhật Bản đã thành lập Bộ giáo dụctheo mô hình phương Tây Chính quyền Minh Trị áp dụng chính sách giáo dụcphổ cập bắt buộc dựa trên hệ thống trường tư thục Nhật Bản có tỷ lệ dân biếtchữ cao hơn mức Châu Âu thời đó và cao hơn cả mức bình quân ở các nướcđang phát triển ngày nay Đây là nền tảng quan trọng tạo nên xã hội mới cókhả năng tiếp thu kỹ thuật hiện đại Nhật Bản cử hàng loạt sinh viên và các
Trang 40phái đoàn quan chức cao cấp sang Âu, Mỹ học tập Khi Phan Bội Châu lập rahội Duy Tân cử 200 thanh niên Việt Nam "đông du” sang Nhật Bản học tập(1905 - 1908), tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học ở Nhật Bản đã đạt 97% Nhờ đó, NhậtBản đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ những năm 80 - 90 của thế kỷXIX, một thành tích mà Việt Nam mới đạt được năm 2000.
Biện pháp chiến lược thành công thứ hai là phát triển kết cấu hạ tầng.
Đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XIX, nhà nước đầu tư xây dựng các công trình "thếkỷ" trên quy mô toàn quốc như hệ thống đường sắt, hệ thống thông tin, hệthống bưu điện Ngay cả các thuộc địa của Nhật Bản như Đài Loan và TriềuTiên từ xưa đã có kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh hơn nhiều so với các thuộc địacủa thực dân Anh, Pháp ở châu Á
Biện pháp thứ ba là xây dựng một nền kinh tế - chính trị hiện đại Minh Trị
xoá bỏ chế độ đẳng cấp phong kiến, thành lập một chính phủ tập trung, cải tiếnthuế đất, xây dựng hệ thống tài chính hiện đại theo mô hình châu âu từ rất sớm
Biện pháp thứ tư là nhập khẩu công nghệ và chất xám để phát triển công
nghiệp cơ khí hoá Năm 1870, chính phủ mời chuyên gia Pháp sang chỉ đạonhà máy sợi Tomioka trang bị các máy dệt nhập khẩu, mở đầu phát triển côngnghiệp hiện đại Các chuyên gia quốc tế và hình thức liên doanh được sử dụngrộng rãi để học tập công nghệ với mục tiêu đi từ bắt chước sang áp dụng vàsáng tạo, đi từ mời thầy sang tự làm và tự điều hành Đến năm 1890, ở NhậtBản đã có 3.000 chuyên gia nước ngoài làm cố vấn chính phủ
Biện pháp thứ năm là khéo léo sử dụng doanh nghiệp quốc doanh phát
triển kinh tế, chính phủ tập trung thành lập và sử dụng các công ty và xí nghiệpquốc doanh đi tiên phong áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại phương Tây
và làm nòng cốt phát triển các ngành kinh tế mới mang tính mũi nhọn, thuyếtphục các doanh nghiệp tư nhân vốn e ngại trước đối tượng đầu tư mới Mặc dùhầu hết các doanh nghiệp nhà nước đều thua lỗ, họ đã thành công trong việcgánh mọi rủi ro cho kinh tế tư nhân tiếp thu công nghệ mới để phát triển Khicông nghiệp đã trở thành ngành đầu tư có hiệu quả của mọi thành phần kinh tế,chính phủ Nhật Bản tiến hành tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước, chỉ trừ