MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch là một hoạt động xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển cho đến nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển nhanh chóng, được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói”. Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế du lịch trở thành một ngành kinh tế không chỉ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Du lịch đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, cải thiện kết cấu hạ tầng, tạo việc làm và nâng cao mức sống cho nhân dân. Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã nêu rõ quan điểm về phát triển du lịch là: Huy động mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng cả nước và của từng địa phương, tăng đầu tư phát triển du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế quan trọng, có mức tăng trưởng cao, nhất là trong những năm gần đây, khi thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế và chính sách đối ngoại với phương châm hết sức năng động của Đảng ta: “Việt Nam là bạn của tất cả các nước”. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề phát triển kinh tế du lịch xứng đáng với vị trí, vai trò của ngành du lịch càng trở nên cần thiết như nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ bảy (khóa VII) đã chỉ rõ: “Phát triển ngành du lịch, hình thành ngành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng lớn, tương xứng với tiềm năng của nước ta”. Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, nằm trong vùng Bắc Bộ, có truyền thống văn hóa, lịch sử chống giặc ngoại xâm lâu đời, có nhiều cảnh quan, di tích lịch sử văn hóa có giá trị. Hơn nữa, Bắc Giang còn là địa bàn cư trú của một số dân tộc ít người như: dân tộc Tày, Nùng, Sán, Hoa, Dao... với nhiều nét văn hóa truyền thống có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Mặt khác, Bắc Giang vốn thuộc vùng Kinh Bắc xưa, là quê hương của những câu ca quan họ mượt mà, đằm thắm. Có thể nói, tất cả những điều kiện trên là tiềm năng quý của địa phương cần được khai thác để phát triển kinh tế du lịch. Tuy nhiên, sự phát triển du lịch của Bắc Giang trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, quy mô phát triển du lịch vẫn ở mức độ nhỏ bé, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, hiệu quả khai thác trong kinh doanh du lịch chưa cao, quá trình phát triển còn nhiều bất cập. Nếu không nghiên cứu một cách cụ thể, không đánh giá một cách khách quan về tiềm năng và thực trạng để đề ra định hướng, giải pháp khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch thì không những không đạt được kết quả mong muốn mà còn gây tác động rất lớn đối với môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng tới nhịp độ phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh. Vì vậy, việc phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bắc Giang dựa trên quan điểm phát triển bền vững, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch, mà còn có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Để có thể tận dụng được hết những tiềm năng sẵn có vào việc phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang theo hướng bền vững, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong tương lai, vấn đề “Phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Phát triển bền vững.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN DŨNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững 6
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước trên thế giới và một số địa phương của Việt Nam, bài học kinh nghiệm rút ra 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2012-2015 30
2.1 Khái quát về tỉnh Bắc Giang 30
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang 36
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang 41
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2016-2020 53 5 3.1 Bối cảnh phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang thời gian tới 55
3.2 Quan điểm và định hướng phát triển 57
3.3 Mục tiêu phát triển 60
3.4 Các giải pháp phát triển 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
Trang 3Danh mục từ viết tắt
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
PATA Pacific Asia Travel Association
Hiệp hội du lịch Châu Á - Thái Bình Dương
CSDS Center for Sustainable Development Studies
Trung tâm nghiên cứu phát triển bền vững
UNWTO United Nation World Tourism Organization
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một hoạt động xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Trải qua nhiều giai đoạn phát triển cho đến nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển nhanh chóng, được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế du lịch trở thành một ngành kinh tế không chỉ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Du lịch đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, cải thiện kết cấu hạ tầng, tạo việc làm và nâng cao mức sống cho nhân dân
Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã nêu rõ quan điểm về phát triển du lịch là: Huy động mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng cả nước và của từng địa phương, tăng đầu tư phát triển du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế quan trọng, có mức tăng trưởng cao, nhất là trong những năm gần đây, khi thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế và chính sách đối ngoại với phương châm hết sức năng động của Đảng ta: “Việt Nam là bạn của tất cả các nước” Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề phát triển kinh tế du lịch xứng đáng với vị trí, vai trò của ngành du lịch càng trở nên cần thiết như nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ bảy (khóa VII) đã chỉ rõ: “Phát triển ngành du lịch, hình thành ngành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng lớn, tương xứng với tiềm năng của nước ta”
Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, nằm trong vùng Bắc Bộ, có truyền thống văn hóa, lịch sử chống giặc ngoại xâm lâu đời, có
Trang 5địa bàn cư trú của một số dân tộc ít người như: dân tộc Tày, Nùng, Sán, Hoa, Dao với nhiều nét văn hóa truyền thống có sức hấp dẫn lớn đối với khách
du lịch trong và ngoài nước Mặt khác, Bắc Giang vốn thuộc vùng Kinh Bắc xưa, là quê hương của những câu ca quan họ mượt mà, đằm thắm Có thể nói, tất cả những điều kiện trên là tiềm năng quý của địa phương cần được khai thác để phát triển kinh tế du lịch
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch của Bắc Giang trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, quy mô phát triển du lịch vẫn ở mức độ nhỏ bé, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, hiệu quả khai thác trong kinh doanh du lịch chưa cao, quá trình phát triển còn nhiều bất cập Nếu không nghiên cứu một cách cụ thể, không đánh giá một cách khách quan về tiềm năng và thực trạng để đề ra định hướng, giải pháp khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch thì không những không đạt được kết quả mong muốn
mà còn gây tác động rất lớn đối với môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng tới nhịp độ phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh Vì vậy, việc phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bắc Giang dựa trên quan điểm phát triển bền vững, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển
du lịch, mà còn có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Để có thể tận dụng được hết những tiềm năng sẵn có vào việc phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang theo hướng bền vững, đưa du lịch thực sự trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong tương lai, vấn đề “Phát triển
du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” được lựa chọn làm đề tài
nghiên cứu luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Phát triển bền vững
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ thập niên 90 trở lại đây, đề tài về du lịch bắt đầu được quan tâm
Trang 6du lịch như: Dự án VIE/ 89/ 003 về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam do Tổ chức Du lịch thế giới (OMT) thực hiện; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 - 2000 do Viện Nghiên cứu Phát triển
Du lịch tiến hành (1994); Thị trường du lịch ASEAN và hướng khai thác của
du lịch Việt Nam do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch tiến hành (1997);
Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch tiến hành (2002); Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch tiến hành (2002); Đề án Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Viện Nghiên cứu Phát triển
Du lịch tiến hành (2011); Du lịch Việt Nam hội nhập trong ASEAN (2013), Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, do TS Nguyễn Văn Lưu biên soạn; Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch (2013), nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, do
TS Nguyễn Văn Lưu biên soạn; Quy hoạch du lịch (2011), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam do Bùi Thị Hải Yến chủ biên; Tài nguyên du lịch (2011), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam do Bùi Thị Hải Yến chủ biên
Kế thừa thành quả của các nghiên cứu đã có, tác giả đã vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững để nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển du lịch và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang, trong đó, nhấn mạnh vào các giải pháp liên kết du lịch và xem đó như là một động lực quan trọng cho phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang theo hướng bền vững trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Giải pháp phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang trên quan điểm phát triển bền vững
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững của tỉnh Bắc Giang
giai đoạn 2016 - 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển du lịch bền vững tỉnh Bắc Giang Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2012 - 2015 và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững du lịch tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016 - 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng cách tiếp cận hệ thống, kết hợp khung quan niệm về phát triển bền vững của quốc tế với đặc thù của tỉnh Bắc Giang, theo đó xem xét phát triển bền vững trên 03 trụ cột: Kinh tế, xã hội, môi trường trong sự tương tác lẫn nhau Xem xét phát triển du lịch bền vững trong sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực Các phương pháp áp dụng trong quá trình nghiên cứu luận án gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Tham khảo, đánh giá các nghiên cứu
đã có liên quan đến đề tài của luận văn, từ đó tìm cách kế thừa các thành quả
và bổ sung các khoảng trống trong nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững
ở tỉnh Bắc Giang
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tiến hành tìm kiếm và thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, so sánh và chọn lọc, tập hợp thành những dữ liệu có tính hệ thống và đáng tin cậy
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Nhằm tích luỹ tài liệu thực tế về
Trang 8người nghiên cứu có cái nhìn khách quan và đúng đắn về vấn đề nghiên cứu, hiểu sâu sắc vấn đề tránh tình trạng phiến diện trong nghiên cứu.
- Phân tích định tính để dự báo các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến phát triển du lịch bền vững của tỉnh Bắc Giang
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Hệ thống hóa, khái quát hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững và rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn trong và ngoài nước về phát triển du lịch bền vững
Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Bắc
Giang giai đoạn 2012-2015 và đề xuất một số giải pháp có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý du lịch địa phương về phát triển du lịch bền vững tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2016-2020
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2015
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
BỀN VỮNG 1.1 Một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Hoạt động du lịch đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người
Những năm gần đây, du lịch phát triển nhanh ở hầu hết các nước trên thế giới Đối với nhiều quốc gia, du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng,
nguồn thu ngoại tệ lớn
Du lịch là một hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự
di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa, thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tai Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:
Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Định nghĩa này là cơ
sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua
Theo luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định" (Điều
Trang 101.1.1.2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Thuật ngữ "Phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là: "Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai "
Tại Hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO-92 và RIO-92+5, quan niệm
về phát triền bền vững được các nhà khoa học bổ sung, theo đó “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp của ba hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa xã hội”
Dưới quan điểm phát triển này, phát triển bền vững được hiểu là kết quả tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống trên, phát triển bền vững là sự dung hòa các tương tác và sự thỏa hiệp giữa ba hệ
Trang 11
1.1.1.3 Phát triển du lịch bền vững
Hiện nay đa số ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam cho rằng phát triển du lịch bền vững được hiểu là: “hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đưa ra tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992 thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn trọng các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”
Như vậy, có thể nói phát triển du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững đã được ủy ban Brundlant khẳng định năm 1987 Hoạt động
Hệ
Xã hội
Hệ Kinh tế
Hệ
Tự nhiên Phát triển bền vững
Trang 12Ở Việt Nam, khái niệm du lịch bền vững còn là khái niệm mới, tuy nhiên hiện nay đã xuất hiện một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch tâm linh Đây là những hình thức du lịch đã bước đầu thể hiện trách nhiệm của con người với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng
1.1.2 Vị trí, vai trò của ngành du lịch
1.1.2.1 Vị trí của ngành du lịch
Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ trọng nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ chiếm vai trò thống soái
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, không chỉ mang đến doanh thu trực tiếp từ các lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, tour tuyến, điểm tham quan mà còn tạo nguồn thu, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan khác như giao thông, ăn uống, giải trí, thương mại và một số dịch vụ phụ trợ khác (thông tin liên lạc, ngân hàng )
Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, du lịch Việt Nam đã được Chính phủ
quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có một số chỉ tiêu không đạt được, từ năm 2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được Thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt
ngày 30/12/2011 Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tiễn còn rất nhiều việc để ngành du lịch thật sự trở thành "mũi nhọn" và từ có "tiềm năng" trở thành có "khả năng"
Theo báo cáo thường niên của Travel & Tourism Economic Impact
2016 Vietnam (WTTC) của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới công bố hồi tháng 3/2016: Với mức 6,6% đóng góp cho GDP, du lịch Việt Nam đứng thứ
Trang 13về quy mô tổng đóng góp vào GDP quốc gia Cụ thể, tổng đóng góp của du lịch vào GDP Việt Nam, bao gồm cả đóng góp trực tiếp, gián tiếp và đầu tư công là 584.884 tỷ đồng (tương đương 13,9% GDP) Trong đó, đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP là 279.287 tỷ đồng (tương đương 6,6% GDP)
Tổng đóng góp của du lịch vào lĩnh vực việc làm toàn quốc (gồm cả việc làm gián tiếp) là hơn 6,035 triệu việc làm (chiếm 11,2%) Trong đó, số việc làm trực tiếp do ngành du lịch tạo ra là 2,783 triệu (chiếm 5,2% tổng số việc làm) Đầu tư vào lĩnh vực du lịch năm 2015 đạt 113.497 tỷ đồng (chiếm 10,4% tổng đầu tư cả nước)
1.1.2.2 Vai trò của ngành du lịch
Thứ nhất, đối với phát triển kinh tế
Du lịch là một trong những ngành kinh doanh đạt hiệu quả cao so với nhiều ngành kinh tế khác do ngành du lịch có tỷ suất lợi nhuận cao, vốn đầu
tư ít, kỹ thuật không quá phức tạp và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại ngành du lịch thực hiện việc "xuất khẩu tại chỗ" đạt nguồn thu ngoại tệ lớn
Với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm khá cao, du lịch đóng góp lớn cho nền kinh tế, đã nộp ngân sách hàng ngàn tỷ đồng Ngoài ra, phát triển
du lịch cũng tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại, phát triển
du lịch góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân Du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta
Việc mở cửa du lịch, thu hút khách quốc tế đến mua hàng qua các cửa hàng miễn thuế ở sân bay, bến cảng là một trong những phương thức xuất khẩu hàng hóa tại chỗ Đối với hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, du lịch phát triển sẽ khích thích khôi phục các ngành nghề truyền thống, thủ công mỹ
Trang 14Việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ cho nền kinh tế quốc gia, đồng thời, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh du lịch là cần thiết và có lợi cho cả đôi bên Tỷ xuất lợi nhuận trên vốn đầu tư trong ngành du lịch thường cao nên có khả năng hấp dẫn vốn đầu tư trong nước cũng như ngoài nước Ngoài
ra, du lịch là ngành sử dụng nhiều lao động, vì vậy, du lịch được các quốc gia, các nhà kinh tế coi là một trong những phương thức hữu hiệu để giải quyết nạn thất nghiệp hiện nay
Thứ hai, đối với phát triển văn hóa - xã hội
Du lịch với những hoạt động phong phú sẽ tạo ra các cơ hội phát triển cho cộng đồng dân cư sở tại như: Giải quyết việc làm, tạo thu nhập từ việc kinh doanh hàng hóa, tiêu thụ những sản phẩm do họ sản xuất ra Điều này, kích thích phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp để tạo ra hàng hoá phục vụ nhu cầu du lịch Du lịch sẽ cung cấp cho họ kỹ năng sống, kỹ năng làm việc phục vụ cho ngành du lịch Chính vì vậy, việc phát triển du lịch ở các vùng nông thôn và miền núi không chỉ góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội môi trường mà còn làm giảm thiểu tình trạng di cư
về các đô thị lớn làm ảnh hưởng đến cán cân vĩ mô và quản lý đô thị
Du lịch là cầu nối quan trọng để các dân tộc giao lưu văn hóa với nhau Những nét văn minh của nền văn hóa nhân loại ngày càng kích thích phát triển góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hóa nhân loại, nâng cao trí thức con người và làm cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn
Thông qua việc tiêu thụ các sản phẩm du lịch, du khách được mở rộng kiến thức, hiểu biết thêm được nhiều điều mới lạ về văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của các địa phương, của các quốc gia Điều này góp phần rất lớn vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
Trang 15Phát triển du lịch góp phần nâng cao lòng yêu quê hương đất nước, giáo dục truyền thống dân tộc Mặt khác, thông qua hoạt động du lịch tăng tăng cường các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới Du lịch chỉ có thể phát triển trong điều kiện hòa bình và hữu nghị chứ không thể phát triển trong điều kiện chiến tranh và thù địch
Du lịch có vai trò tăng cường sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống Do tác động của công nghiệp hóa, người lao động ít tiếp xúc với thiên nhiên, nên họ khao khát, môi trường sinh thái trong lành để thư giãn, nghỉ ngơi hoặc giải trí
1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng tới phát triển bền vững du lịch
1.1.3.1 Yếu tố môi trường
Thứ nhất, bảo tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học
Sử dụng khai thác tốt nhất các tài nguyên để phục vụ du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa, lịch sử và các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp hoặc cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực, cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người
Còn theo luật Du lịch thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo
ra sự hấp dẫn của du lịch”
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hóa vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt
Trang 16Cần có kế hoạch bảo tồn nuôi dưỡng để không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, hệ sinh thái; bảo vệ tuyệt đối các di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học Cụ thể: Cấm săn bắn động vật hoang dã; lập quỹ cộng đồng về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên từ nguồn du lịch; có các hoạt động nâng cao nhận thức và bảo tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học
Thứ hai, nâng cao ý thức vệ sinh môi trường cho người dân và khách du lịch
Phát triển du lịch đi đôi với việc quản lý chặt chẽ, hạn chế đến mức thấp nhất gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt động du lịch như: Rác thải, dầu
mỡ, khói bụi do phương tiện giao thông thải ra trong quá trình phục vụ du lịch Trồng cây xanh trong khu vực nơi công cộng và nhà dân, có nội quy bảo vệ môi trường
Thứ ba, xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch thân thiện với môi trường Nội dung quan trọng là công tác thiết kế, xây dựng công trình, cơ sở
hạ tầng du lịch phải đảm bảo theo quy hoạch được các nhà chức trách phê chuẩn Quy hoạch này phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, địa hình, với mục tiêu tạo ra một không gian sinh thái thân thiện với môi trường, kết hợp hài hòa với các yếu tố văn hóa ở vùng miền đó
1.1.3.2 Yếu tố kinh tế
Thứ nhất, tái cơ cấu các ngành kinh tế
Phát triển các ngành kinh tế bền vững sẽ góp phần phát triển du lịch
bền vững Ngành nông, lâm nghiệp phải định hướng để phát triển những sản phẩm phục vụ khách du lịch đạt chất lượng, với giá cao; có kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng để tạo ra sản phẩm du lịch đặc sắc từ rừng, tạo môi trường sinh thái bền vững cho phát triển du lịch Phát triển ngành công nghiệp thông thường gây nên các hệ lụy cho môi trường sinh thái như: Mất rừng, gây ô nhiễm môi trường từ nước thải do vậy để đảm bảo cho phát
Trang 17xét thận trọng cho định hướng phát triển ngành công nghiệp như: Công nghiệp chế biến nông lâm sản, khôi phục bảo tồn các làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ gắn với tham quan và bán sản phẩm cho khách du lịch Thiết lập hệ thống thương mại, dịch vụ phù hợp để đáp ứng yêu cầu mua sắm
và hưởng thụ cho du khách
Ngành du lịch cần tái cơ cấu mạnh mẽ để phát triển bền vững, cụ thể: Phát triển sản phẩm du lịch đạt chất lượng theo hướng thân thiện với môi trường sinh thái, gắn với các giá trị văn hóa truyền thống; hướng vào các thị trường khách du lịch có mức chi tiêu cao, có ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên; giữ chân du khách để tăng số ngày lưu trú bình quân; giải quyết nhiều việc làm; đẩy mạnh liên kết phát triển Bên cạnh đó, tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch (kể cả đầu tư nhà nước, đầu tư doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác và cộng đồng cư dân địa phương), đó là những vấn
đề quyết định đến phát triển du lịch bền vững
Thứ hai, phát triển kinh tế địa phương
Chính quyền địa phương có vai trò hết sức quan trọng đến phát triển
du lịch bền vững như: Ban hành chính sách ưu đãi; cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư; sự thân thiện giữa chính quyền với nhà đầu tư và du khách; tổ chức cho cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt động du lịch; đầu tư cơ sở hạ tầng; tổ chức quảng bá xúc tiến du lịch; thiết lập các mối liên kết; quản lý tài nguyên du lịch và đảm bảo an ninh trật tự tại các địa phương các hoạt động này đều hướng đến tăng quy mô, chất lượng phục
vụ, nhằm tăng thu nhập từ hoạt động du lịch tại địa phương, trong đó có khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước, tạo nguồn ngoại tệ các chi tiêu này minh chứng cho sự phát triển du lịch bền vững tại địa phương Việc phát
Trang 18triển nhanh cơ sở hạ tầng: Giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, y tế, giáo dục phát triển mạnh các dịch vụ bưu điện, internet, tài chính, ngân hàng, dịch vụ đổi tiền là yếu tố quyết định trong phát triển du lịch bền vững
Thứ ba, đóng góp vào tăng thu nhập cho cộng đồng
Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tham gia phục vụ khách du lịch, quản lý tài nguyên, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng đến phát triển du lịch bền vững Từ hoạt động đó, đảm bảo cung cấp lợi ích kinh tế đến tất cả người hưởng lợi và được phân bố một cách công bằng, ổn định góp phần xóa đói giảm nghèo, tiến đến thịnh vượng cho người dân và cộng đồng địa phương
1.1.3.3 Yếu tố văn hóa - xã hội
Đóng góp vào bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa: Xu hướng khách du lịch ngày càng hướng đến gần với văn hóa các dân tộc khác nhau để tìm hiểu, nhưng không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng Các công trình kiến trúc cổ (nhà ở cộng đồng, nhà ở truyền thống, đình chùa ) được trùng tu; các làng nghề truyền thống được bảo tồn và phát huy giá trị gắn với du lịch; các đặc trưng văn hóa truyền thống được truyền đạt cho thanh niên; cộng đồng thấy tự hào khi khách du lịch tìm hiểu về văn hóa
và giao lưu với họ Phát triển du lịch bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi nhất
để những giá trị văn hóa đó được bảo tồn và phát huy một cách tốt nhất
Thứ nhất, đóng góp vào năng lực phát triển địa phương
Tạo môi trường cho người dân địa phương có điều kiện giao tiếp với
khách du lịch; tham gia vào các chương trình nâng cao nhận thức về du lịch; tiếp cận môi trường kinh doanh sẽ góp phần nâng cao dân trí, hình thành văn hóa ứng xử thân thiện, tăng hiểu biết giữa các dân tộc và kỹ năng quản lý các hoạt động du lịch Nâng cao năng lực cho các đối tượng như: Doanh
Trang 19nghiệp du lịch địa phương, phụ nữ, đoàn thanh niên, các ban, ngành, đoàn thể khác
Thứ hai, tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người dân, giảm tệ nạn xã hội
Khuyến khích nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ, người dân bản địa tham gia vào hoạt động du lịch Thu nhập của cộng đồng dân cư từ hoạt động du lịch ngày càng tăng góp phần giảm thiểu các tệ nạn xã hội, quản lý hoạt động du lịch tốt hơn (giảm tình trạng chèo kéo, tăng giá ), đồng thời làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng lên, cơ sở hạ tầng phát triển
Thứ ba, giới và bình đẳng xã hội
Phụ nữ được tham gia vào tất cả các hoạt động dịch vụ du lịch trên các cương vị khác nhau sẽ tạo ra sự bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập, vị thế xã hội của người phụ nữ được nâng lên
1.1.3.4 Yếu tố thể chế, chính sách
Các cơ chế, chính sách của nhà quản lý, chính quyền địa phương được
áp dụng để khuyến khích phát triển du lịch từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau như: Chính sách thuế, đất đai, quản lý đô thị, thị thực, xuất nhập cảnh, cải cách hành chính có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển du lịch bền vững Chính sách tốt sẽ khuyến khích phát triển du lịch bền vững hoặc ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển hoặc phát triển không bền vững Do vậy, các cấp chính quyền cần thường xuyên hoàn thiện cơ chế chính sách, nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn
1.1.3.5 Yếu tố hội nhập và hợp tác quốc tế
Bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, xuất hiện nhiều yếu tố mới vừa là
cơ hội, vừa là thách thức đối với ngành du lịch Việt Nam trong mọi hoạt động, trong đó có hoạt động hội nhập và hợp tác quốc tế
Trang 20Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn diện, đặc biệt là trong hội nhập và hợp tác quốc tế về du lịch Quan hệ song phương, đa phương ngày càng sâu rộng trong kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ Đây là thách thức, đồng thời cũng là
cơ hội lớn cho du lịch Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc
tế Đi liền với hợp tác là cạnh tranh Cạnh tranh quốc gia, nhất là giữa các quốc gia trong cùng khu vực đang ngày càng trở nên gay gắt hơn Kinh nghiệm quản lý tiên tiến, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao
là công cụ cạnh tranh chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động du lịch
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục có những bước tiến nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, tác động tới tất cả các lĩnh vực, các nước và vùng lãnh thổ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất, tinh thần của xã hội Các yếu tố trên tác động rộng lớn đến cơ cấu và sự phát triển của kinh tế thế giới, mở ra triển vọng mới cho mỗi nền kinh tế tham gia vào phân công lao động toàn cầu; đồng thời mỗi biến động của kinh
tế thế giới đều tác động đến các nền kinh tế, nhiều hay ít tùy thuộc vào mức
độ hội nhập và trình độ thích ứng của nền kinh tế mỗi nước Hoạt động du lịch của bất cứ quốc gia nào, bất kể khu vực nào trên thế giới cũng không nằm ngoài những tác động đó
Toàn cầu hóa kinh tế ngày càng sâu rộng, trong đó các hoạt động kinh
tế liên kết giữa các quốc gia tạo thành chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu Để tránh tụt hậu và hưởng lợi nhiều hơn từ kết quả toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các nước buộc phải tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu Trong một “thế giới phẳng”, “nhỏ dần và chật chội hơn”, mọi quốc gia, mỗi nền kinh tế đều có thể tiếp cận, tham gia trực tiếp vào các khâu, các chuỗi giá
Trang 21trị gia tăng toàn cầu nếu có nguồn nhân lực được chuẩn bị và đào tạo tốt Đây
là yếu tố đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực du lịch vì tự thân du lịch đã mang tính quốc tế
Sự phân chia, tranh giành ảnh hưởng giữa các nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới đang diễn ra Sự tranh giành lợi ích quốc gia giữa các nước
về lãnh thổ, lãnh hải, nguồn tài nguyên với mức độ ngày càng lớn và tính chất ngày càng quyết liệt và gay gắt tác động đến mọi lĩnh vực, trong đó du lịch sẽ chịu tác động đầu tiên, toàn diện và sâu sắc
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự hình thành nền kinh tế tri thức, sự cách trở về không gian địa lý từng bước thu hẹp lại Cuộc cách mạng 3T (Transport - Telecommucation - Tourism) đã thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển trên nhiều điểm hơn của trái đất Công nghệ mới làm thay đổi căn bản phương thức quan hệ kinh tế, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông được ứng dụng mạnh trong du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhân lực du lịch sẽ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tác động này, vừa có cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức, không một ngành du lịch của quốc gia nào
có thể đứng ngoài cuộc Internet đã kết nối cả thế giới lại với nhau và ảnh hưởng sâu sắc đến phương thức sản xuất và sinh hoạt của loài người, làm cho bất cứ người nào, bất kể ở đâu đều có thể xây dựng được mối liên lạc với nhau Đời sống xã hội được toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, kể cả trong lĩnh vực du lịch Đây là yếu tố vừa tạo cơ hội, vừa là thách thức lớn đối với phát triển du lịch của mỗi quốc gia và mỗi vùng lãnh thổ
Nhu cầu hội nhập và hợp tác quốc tế trong du lịch là tăng cường quan
hệ để phát triển; tiếp thu kinh nghiệm; xác lập vị thế trên trường quốc tế; phát triển du lịch và góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Hội nhập quốc tế trong du lịch sẽ theo các bước: Tham gia các tổ chức quốc tế; thừa nhận và áp
Trang 22dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin; tăng cường toàn cầu hóa trong khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên du lịch; áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong phát triển du lịch; đơn phương tuyên bố tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch và các nhà đầu tư du lịch, ký kết các hiệp định hợp tác song phương và đa phương về phát triển du lịch; cam kết mở cửa thị trường dịch
vụ du lịch Để hội nhập quốc tế thành công, nhân lực du lịch phải được đào tạo với kỹ năng, trình độ chuyên nghiệp được thừa nhận rộng rãi; có thể di chuyển và tìm được việc làm trong và ngoài khu vực; vươn tới tham gia chủ động vào quá trình phân công lao động quốc tế, đảm bảo cho du lịch Việt Nam có vị trí xứng đáng trong chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch có chất lượng của khu vực và thế giới
1.1.4 Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững không tách rời những nguyên tắc chung của phát triển bền vững Tuy nhiên, mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực trong cuộc sống lại có mục tiêu, đặc điểm riêng Do đó, ngành du lịch cũng
có những nguyên tắc riêng của mình
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt
và có nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao Chính vì vậy mà sự phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung và đồng bộ của toàn xã hội Phát triển du lịch bền vững luôn hướng tới việc đảm bảo được ba mục tiêu cơ bản sau:
- Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế
- Đảm bảo sự bền vững về môi trường
- Đảm bảo sự bền vững về xã hội
Để đảm bảo được ba mục tiêu trên thì phát triển du lịch bền vững cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trang 23+ Phát triển du lịch phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể
KT-XH: Điều này sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong
mối quan hệ với các ngành kinh tế khác đối với việc sử dụng tài nguyên, môi trường Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động
của môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên, môi trường
+ Phát triển du lịch gắn liền với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,
môi trường và bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa, bản sắc dân tộc
Đây là nguyên tắc hàng đầu đảm bảo khả năng tự phục hồi của tài nguyên du lịch được diễn ra một cách tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự tác động của con người thông qua việc đầu tư, tôn tạo đáp ứng nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ
Phát triển du lịch phải luôn gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng tài nguyên và môi trường Để đảm bảo tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch ngoài việc nâng cao chất lượng của các sản phẩm thì tính đa dạng và phong phú của chúng đóng vai trò quan trọng và cần thiết Điều này cho phép thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, làm tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Ngoài ra, nguyên tắc này còn phù hợp với quan điểm phát triển du lịch phải gắn liền với việc bảo tồn các giá trị
về văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan, môi trường vốn rất đa dạng và phong phú ở Việt Nam
+ Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên du lịch và giảm thiểu chất thải từ hoạt động du lịch ra môi trường, đây là nguyên tắc quan trọng Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường, mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng, của phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Trang 24+ Tôn trọng và cải thiện chất lượng cuộc sống cộng đồng: Phát triển du lịch cần chú trọng đến việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi coi du lịch là công cụ cho nỗ lực bảo vệ môi
trường và đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
+ Khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng: Mở rộng khả năng tự quản lý môi trường của cộng đồng nơi họ đang sinh sống Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ giúp họ phát triển thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà sẽ làm tăng ý thức trách nhiệm của cộng đồng đối với sự phát triển của du lịch, bởi quyền lợi của họ đã gắn liền với sự phát triển Họ sẽ là người có trách nhiệm hơn với tài nguyên môi trường du lịch, chăm lo đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch
Tạo dựng sự thống nhất giữa các ban, ngành, giữa các cộng đồng trong phạm vi quốc gia nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ môi trường, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững Thực tế cho thấy ở những mức độ khác nhau luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi trong khai thác tài nguyên phục vụ phát triển giữa du lịch với cộng đồng địa phương, giữa du lịch với các ngành kinh tế khác Vì vậy, việc thường xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan để cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển là hết sức cần thiết Điều này sẽ đảm bảo sự gắn kết và có trách nhiệm hơn với môi trường giữa các ngành kinh tế với địa phương và giữa các ngành với nhau góp phần tích cực cho sự phát triển bền vững của mỗi ngành, trong đó có du lịch
Chú trọng việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và phát triển trong nền kinh tế thị trường Việc đào tạo cán bộ là một trong những nguyên tắc then chốt đối với sự phát triển bền vững của du lịch
Trang 25+ Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch một cách có trách nhiệm: Xúc tiến, quảng bá luôn là một khâu quan trọng trong hoạt động du lịch đảm bảo
sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh và điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển Ngoài ra, việc cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao được sự tôn trọng của du khách đến môi trường thiên nhiên, văn hóa, xã hội và các giá trị nhân văn nơi thăm quan, đồng thời sẽ làm tăng đáng kể sự thỏa mãn của du khách đối với sản phẩm du lịch Điều này sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đến môi trường, tăng cường khả năng thu hút khách, đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển du lịch
+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ: Để đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan Hơn nữa, trong quá trình phát triển, nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh sẽ có những tác động cần nghiên cứu để có giải pháp phù hợp điều chỉnh sự phát triển Như vậy, việc thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là rất cần thiết, không chỉ đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên môi trường… Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ còn nhằm phát triển các sản phẩm du lịch thân thiện với môi trường; tiết kiệm sử dụng năng lượng, nước sinh hoạt và hạn chế chất thải ra môi trường
1.1.5 Tiêu chí đánh giá tính bền vững trong phát triển du lịch
- Bền vững về kinh tế: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, chú trọng phát
triển sản phẩm du lịch đặc thù; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế
Trang 26- Bền vững về xã hội: Phát triển cơ sở hạ tầng xã hội cộng đồng; sử dụng lao động địa phương; có quy tắc xử sự phù hợp với các hoạt động của cộng đồng bản xứ; tuân thủ các hướng dẫn và quy tắc ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa, lịch sử nhằm giảm nhẹ các tác động từ du khách; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán sản phẩm dựa vào văn hóa, lịch sử và tự nhiên của địa phương, đồng thời, cung cấp dịch vụ cho du khách; không khai thác lao động trẻ vị thành niên; bình đẳng trong sử dụng lao động nữ và cộng đồng thiểu số địa phương; các hoạt động không gây tổn hại các nguồn dự trữ cơ bản cho cộng đồng; phúc lợi xã hội chung cho cộng đồng được nâng cao lên nhờ các hoạt động phát triển du lịch trên địa bàn
- Bền vững về môi trường: Đánh giá hiệu ứng nhà kính từ các nguồn và
tiến hành các thủ tục nhằm hạn chế; xử lý nước thải hiệu quả và sử dụng lại nếu có thể; quản lý chất thải rắn theo hướng cực tiểu loại thải nếu không sử dụng lại hoặc tái sinh; quản lý việc sử dụng hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, sơn, vật liệu chùi rửa, dùng các loại vật liệu thay thế hoặc vô hại; giảm ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, không khí và đất đai; nghiêm cấm tiêu thụ, mua bán các loại động vật hoang dã; không có động vật hoang dã bị giam giữ trừ khi có quy định khác; bảo tồn đa dạng sinh học; tương tác với các loài hoang dã không gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến số lượng, vi phạm về sinh thái tự nhiên, đóng góp cho việc khôi phục và bảo tồn
- Bền vững về văn hóa: Đồ tạo tác khảo cổ, lịch sử không được phép
mua bán hay trưng bày khi chưa được phép; đóng góp cho bảo tồn di tích lịch
sử, văn hóa, khảo cổ và các tài sản có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếp cận của cư dân địa phương; tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng các tác phẩm nghệ thuật, kiến trúc hoặc các di sản văn hóa trong kinh doanh, thiết kế trang trí ẩm thực
Trang 27- Bền vững về thể chế: Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự phối, kết hợp chặt chẽ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể liên quan, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế, đặc biệt là: Mức độ thân thiện của chính quyền và nhân dân địa phương đối với du khách; chính sách quản lý nhà nước để phát triển du lịch bền vững tại địa phương
1.2 Phát triển du lịch của một số nước trên thế giới và một số địa phương của Việt Nam, bài học kinh nghiệm rút ra
1.2.1 Phát triển du lịch của một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Điển hình về phát triển du lịch không bền vững ở Pattaya Thái Lan
Trong gần ba thập kỷ từ năm 1970, Pattaya đã đầu tư xây dựng từ hơn
400 lên đến gần 25.000 phòng khách sạn Với việc ồ ạt phát triển các cơ sở lưu trú trong một thời gian ngắn tại một địa điểm đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực Biển trở nên rất ô nhiễm và Uỷ ban Môi trường quốc gia Thái Lan đã phải đưa ra tuyên bố là việc tắm biển ở đây không an toàn vào năm 1989 Sự phát triển không có quy hoạch đó đã kéo theo sự ùn tắc về giao thông, thiếu nước sinh hoạt, xung đột về chính trị và cả về mặt xã hội ngày càng gia tăng làm gây cản trở cho sự phát triển du lịch bền vững Khung cảnh
tự nhiên của khu du lịch bị mất đi, độ hấp dẫn khách du lịch giảm sút Những nguyên nhân đó đã làm cho nhiều du khách không muốn đến với Pattaya và đến năm 1989 thì hầu như không có khách du lịch nào muốn quay trở lại với địa điểm du lịch này nữa Với những giải pháp hữu hiệu được đưa ra vào năm
1993 nhằm giải quyết các vấn đề trên thì xu hướng phát triển mới dần bị đẩy lùi và số lượng khách đã có dấu hiệu tăng trở lại
Một trong những nguyên nhân chính đánh mất sự nổi tiếng của khu du lịch Pattaya đó chính là sự suy thoái về mặt môi trường, ô nhiễm, sự phá huỷ
Trang 28môi trường tự nhiên, sạt lở Cùng với đó là sự kém hấp dẫn đối với khách du lịch Vấn đề đặt ra ở đây là phải nhận thức được vấn đề phát triển du lịch phải
đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch Mọi sự phát triển du lịch tách rời vấn đề môi trường đều dẫn đến thất bại Để du lịch phát triển bền vững thì phải có chính sách phát triển du lịch hợp lý, phải kết hợp giữa việc phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường, cảnh quan khu du lịch
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở tỉnh Vân Nam - Trung Quốc
Vân Nam là một tỉnh của Trung Quốc với địa hình phần lớn là đồi núi (chiếm 80% diện tích), đất dùng cho nông nghiệp rất hạn chế vì vậy chính quyền cần có chính sách phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch dân cư, sử dụng đất đai một cách hợp lý Phát triển du lịch ở đây được đặt dưới sự quản lý tốt của nhà nước bằng các quy hoạch hợp lý với sự tham gia, phối hợp giữa các ngành và địa phương Vân Nam có nhiều khu du lịch nổi tiếng với nhiều sắc thái, sinh cảnh riêng đã tạo cho du lịch của tỉnh phát triển một cách đa dạng.Với sự quản lý khai thác tài nguyên du lịch được thống nhất cao gắn kết với sự tham gia của cộng đồng dân cư tạo nền tảng cho du lịch ở đây phát triển một cách bền vững, lâu dài Quy hoạch các khu du lịch ở đây tuân theo quy luật của thị trường nhưng có một sự định hướng rõ ràng Trong quá trình lập quy hoạch du lịch có sự tham gia của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm về các lĩnh vực: Xây dựng, kiến trúc, du lịch, lữ hành, văn hoá, môi trường Quy hoạch của tỉnh theo hướng bền vững, song song với việc phát triển du lịch là việc gìn giữ bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan du lịch
Ở các địa điểm du lịch đều có các quy định rõ ràng cho các nhà quản lý, người kinh doanh và khách du lịch phải thực hiện một cách nghiêm túc Cơ
sở lưu trú, dịch vụ phục vụ du khách đều phải làm theo mẫu thống nhất phù
Trang 29hợp với khu du lịch, không có hiện tượng chèo kéo khách mua hàng, hiện tượng ăn xin, các tệ nạn xã hội Chính quyền tỉnh hỗ trợ cư dân địa phương phát triển các ngành nghề truyền thống bằng cách mở các lớp đào tạo nghề thu công, cho vay vốn tạo dựng cở sở sản xuất thủ công chính những việc làm đó đã giúp cho cơ hội tăng thêm thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm
giảm sức ép lên nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.2.2 Phát triển du lịch ở một số địa phương trong nước
1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
Bản Lác, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là nơi in đậm bản sắc văn hóa người Thái trắng với năm dòng họ sinh sống là Hà, Lò, Vì, Mác, Lộc Tới nay đã tồn tại được 700 năm Trước đây, dân bản chỉ sống dựa vào nghề trồng lúa nương và dệt thổ cẩm Sau này, vẻ đẹp tiềm ẩn của bản Lác đã dần được du khách khám phá Và cũng từ đó mọi người trong bản đều làm du lịch
và lấy cái tên bản Lác là một trong những vùng trọng điểm về du lịch ở Mai Châu, rộng hơn nhiều người ở đây ví như một "điểm sáng" trên bản đồ du lịch Việt Nam
Những năm trở lại đây, khách du lịch đến Mai Châu mỗi ngày một đông, chính vì thế dân bản thường bảo nhau sửa sang nhà cửa, như xây dựng nhà sàn và sử dụng các nguyên vật liệu cho ngôi nhà cũng được cải tiến (sàn
gỗ công nghiệp, chân nhà có ốp xi măng ), các trang thiết bị trong nhà cũng hiện đại hơn, với mục đích làm cho khách đến đây cảm thấy thỏa mái nhất Tuy nhiên, những ngôi nhà sàn hiện nay không bị bị thay đổi quá nhiều mà vẫn giữ được cái "mộc" của nó
Bên cạnh đó, người dân ở bản Lác cũng quan tân hơn đến ẩm thực truyền
Trang 30thống của Bản, thành lập những đội văn nghệ chuyên phục vụ khách tham quan
Từ chỗ chỉ dệt những chiếc khăn, chiếc áo thổ cẩm để mặc, phụ nữ trong bản đã
tự làm nhiều đồ lưu niệm bán cho khách như dệt khăn quàng cổ, váy xòe Thái, vải treo tường có trang trí, dây đeo tay và những chiếc ví xinh xắn
Đàn ông Thái cũng "vào cuộc", họ chế tác nhiều cung, nỏ, mõ trâu, chiên
tù và sừng trâu, phách gõ nhịp tre để làm quà lưu niệm cho khách tham quan
Do vậy, nghề truyền thống, các sản phẩm thủ công đã và đang được bảo tồn và phát triển ở đây Loại hình du lịch homestay - sống trong ngôi nhà của người dân cũng dần được du khách ưa chuộng đặc biệt là khách quốc tế
Mặc dù đã có nhiều năm làm dịch vụ du lịch, nhưng sự xô bồ của đồng tiền, của miếng cơm, manh áo hầu như không làm mất đi sự thật thà, chân chất của những người dân tộc vùng núi này Cung cách đón khách cũng là điều hấp dẫn với nhiều du khách nhất là du khách nước ngoài
Chính quyền địa phương Mai Châu đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hoạt động du lịch do các công ty du lịch ở Hà Nội thâu tóm Mỗi hộ gia đình làm
du lịch đều có mối quan hệ mật thiết với một số công ty du lịch nhất định ở
Hà Nội để cung cấp khách Thu nhập của các hộ làm du lịch từ dịch vụ ăn uống, lưu trú và bán hàng thổ cẩm Mô hình du lịch cộng đồng tại đây chủ yếu do người dân tự tổ chức và tiến hành là chính Chính quyền và cộng đồng làng bản có hỗ trợ nhưng không trực tiếp đứng ra tổ chức điều phối các hoạt động thu hút và phục vụ du khách
1.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở Phong Nha, Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bên cạnh sự gia tăng về số lượng khách du lịch thì cơ sở vật chất ở Phong Nha - Kẻ Bàng phục vụ du khách cũng được nâng cấp, cải thiện, môi trường đã được quan tâm, giữ gìn, chất lượng phục vụ du lịch được nâng lên một bước và sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng địa phương vào
Trang 31các hoạt động du lịch Điều đó đã giúp cho Phong Nha - Kẻ Bàng được sự hài lòng của du khách khi đến đây Du lịch ở Phong Nha - Kẻ Bàng còn góp phần quan trọng trong giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế
xã hội Các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch như: Mại dâm, ma tuý, tội phạm không có chiều hướng gia tăng và luôn nằm trong tầm kiểm soát của chính quyền địa phương
Tuy vậy, với lượng lớn du khách đến với Phong Nha - Kẻ Bàng và tăng nhanh trong mỗi năm thì Phong Nha - Kẻ Bàng phải đối mặt với một lượng rác thải rất lớn, môi trường du lịch sinh thái bị ảnh hưởng rất lớn, thời gian lưu trú ngắn (bình quân 1 ngày/khách), hiệu quả kinh doanh du lịch còn thấp
Trước những tồn tại trên, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở du lịch phối hợp với các ngành và các tổ chức liên quan từng bước tháo gỡ vướng mắc như việc đưa ra chính sách hước hoạt động du lịch vào bảo tồn, tôn tạo; chính sách khuyến khích đầu tư; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách hỗ trợ người dân sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, sản phẩm truyền thống; đặc biệt là chính sách hỗ trợ, ổn định cuộc sống cho những người dân tộc thiểu số sinh sống trong địa bàn khu du lịch, vận động
họ tham gia tích cực vào các hoạt động du lịch bằng cách sản xuất sản phẩm truyền thống để bán cho du khách, giúp giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân, tạo cuộc sống ổn định cho người dân và quan trọng hơn là nâng cao trách nhiệm về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên của người dân
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra có thể áp dụng vào phát triển du lịch bền vững tỉnh Bắc Giang
Từ những kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững cũng như sự phát
Trang 32triển du lịch không bền vững của các địa phương trong nước và ngoài nước
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm thực tiễn cho phát triển bền vững tại các khu du lịch nói chung và du lịch tỉnh Bắc Giang nói riêng như sau:
- Cần xây dựng chiến lược và kế hoạch chi tiết, liên kết các tổ chức, ban, ngành liên quan để cùng nhau tham gia vào hoạt động phát triển du lịch Tích cực quảng bá, tiếp thị hiệu quả dựa trên tiềm năng độc đáo của khu du lịch, xây dựng hệ thống thông tin chi tiết để phục vụ du khách tìm hiểu về du lịch tỉnh Bắc Giang
- Thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương, tích cực cải thiện môi trường xung quanh khu du lịch
- Hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và cảnh quan khu du lịch
- Tích cực phát triển các ngành nghề địa phương phục vụ du lịch, việc khai thác và phát triển các ngành nghề truyền thống phục vụ du lịch cũng chính là cách làm du lịch bền vững
- Xây dựng kênh thông tin phản hồi ý kiến của du khách, mạng lưới cộng đồng tham gia vào việc giám sát, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và môi trường
- Nâng cấp đồng bộ hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú, các khu vui chơi phục vụ du lịch
Trang 332 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở BẮC
GIANG GIAI ĐOẠN 2012-2015 2.1 Khái quát về tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Địa lý và tự nhiên
Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, nằm trong tiểu vùng du lịch
trung tâm thuộc vùng du lịch Bắc bộ, cách Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách
cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng trên
100 km về phía Đông, Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây
và Tây Bắc giáp với Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh
Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh
Tổng diện tích tự nhiên là 3.822 km2
Về ranh giới hành chính Bắc Giang gồm 9 huyện và 1 thành phố, trong
đó, thành phố Bắc Giang (là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh), các
huyện: Hiệp Hòa, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Tân Yên,
Việt Yên, Yên Thế, Yên Dũng
Trên địa bàn tỉnh có 21 dân tộc anh em sinh sống với truyền thống văn
hóa đa dạng phong phú Bắc Giang có hệ thống giao thông được phân bố đều
và thuận tiện bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường sông
Đặc điểm chung về khí hậu: Bắc Giang chịu ảnh hưởng mạnh của khí
hậu nhiệt đới gió mùa: Gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam Thời tiết
phân theo 4 mùa rõ rệt
Bắc Giang có nhiệt độ không khí bình quân hàng năm ở mức trung
bình 23,70C, nhìn chung khí hậu Bắc Giang mát mẻ, tác động gây hại do
nhiệt độ tạo ra là rất nhỏ; độ ẩm không khí của Bắc Giang dao động trong
khoảng từ 70-90%; lượng mưa bình quân hàng năm trung bình đạt 1200mm
Trang 34Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang
2.1.2 Dân số và con người
Dânsố toàn tỉnh Bắc Giang (2015) là 1.641.231 người, mật độ dân số bình quân là 421,3 người/km2, là tỉnh có mật độ dân số bình quân cao hơn so với mật độ dân số bình quân cả nước
Dân số sống ở khu vực thành thị khoảng 186.003 người, chiếm khoảng 11,33%, trong đó ở khu vực nông thôn là 1.455.228 người, chiếm 88,67%
Tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 50,55 % dân số, nữ giới chiếm khoảng 49,45%
dân số Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 63,1% dân số, số hộ
nghèo chiếm 14,16%
Mật độ phân bố dân cư trên địa bàn tỉnh không đồng đều, phần lớn tập trung ở các khu vực trung du Cư dân Bắc Giang sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu, một số địa phương có làng nghề truyền thống duy trì đến nay Cơ cấu lao động trong tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng lao
Trang 35động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Sự chuyển dịch này phù hợp với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh
2.1.3 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
2.1.3.1 Lĩnh vực sản xuất, phát triển kinh tế
* Sản xuất công nghiệp
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 13,5%, giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành) ước đạt 56.460 tỷ đồng, bằng 96,3% kế hoạch, tăng 17,8% so với năm 2014 Trong đó khu vực nhà nước đạt 4.460 tỷ đồng, bằng 80,1% kế hoạch, tăng 6,1%; khu vực ngoài quốc doanh đạt 14.040 tỷ đổng, bằng 109,3% kế hoạch, tăng 11,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 37.960 tỷ đồng, bằng 94,3% kế hoạch, tăng 21,9% so với năm 2014
* Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
- Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 175.810ha, bằng 99,5% năm 2014; năng suất các loại cây trồng tiếp tục được nâng lên Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 670 nghìn tấn, đạt 103,8% kế hoạch, tăng 0,5% so với năm 2014; trong đó sản lượng thóc đạt 630 nghìn tấn Vải thiều được mùa, sản lượng đạt 190.000 tấn quả tươi
- Về sản xuất lâm nghiệp: Toàn tỉnh đã trồng được 7.570 ha rừng, bằng 151,3% kế hoạch, trong đó rừng phòng hộ và đặc dụng 141 ha, bằng 94%, rừng sản xuất 7.426 ha, đạt 153,1% kế hoạch Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường
- Về sản xuất thủy sản: Sản xuất thủy sản phát triển ổn định, diện tích nuôi duy trì trên 12.200 ha (diện tích thâm canh cao 1.280 ha, chuyên canh 5.250 ha), sản lượng thu hoạch cá thương phẩm ước đạt 30.500 tấn, đạt 101,7% kế hoạch, tăng 3,4% so với cùng kỳ
Trang 36- Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới (XDNTM): Đến hết năm 2015, số tiêu chí nông thôn mới bình quân đạt 12,7 tiêu chí/xã, tăng 1,2 tiêu chí so với năm 2014; tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn là 34 xã, tăng 01 xã so với kế hoạch, đạt tỷ lệ 16,8%
* Hoạt động thương mại, dịch vụ
Giá trị sản xuất năm 2015 đạt 27.285 tỷ đồng, đạt 104% kế hoạch, tăng
24,8% so với năm 2014, cụ thể: Thương mại, giá cả, xuất, nhập khẩu tổng
mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 16.810
tỷ đồng, tăng 9,8% so cùng kỳ, bằng 97,7% kế hoạch; kim ngạch xuất khẩu đạt 2.460 triệu USD, bằng 94,2% kế hoạch, tăng 16,8% so với năm 2014; nhập khẩu ước đạt 2.510 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ, bằng 94,6% so kế hoạch
- Tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt kết quả khá, đạt 3.485 tỷ đồng, vượt 11,2% dự toán, bằng 95,6% cùng kỳ; trong đó thu nội địa đạt 2.805 tỷ đồng, đạt 110,6% dự toán, bằng 96,8% so với năm 2014
Tổng chi ngân sách trên địa bàn đạt 10.425 tỷ đồng, bằng 118,7% dự toán, tăng 3,9% so với cùng kỳ; trong đó chi thường xuyên đạt 7.536 tỷ đồng, tăng 2,8% so với năm 2014
Tính đến 31/12/2015, tổng nguồn vốn huy động đạt 24.512 tỷ đồng, tăng 21%; dư nợ tín dụng đạt 25.070 tỷ đồng, tăng 16% so với 31/12/2014
- Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông
Dịch vụ giao thông vận tải tiếp tục phát triển Hạ tầng giao thông được đầu tư, duy tu, bảo dưỡng Khối lượng vận chuyển hành khách đạt 24,8 triệu lượt người, tăng 4,2%; vận chuyển hàng hóa đạt 18,6 triệu tấn, tăng 11,4% so
với năm 2014
Dịch vụ bưu chính, viễn thông, thông tin liên lạc đảm bảo thông
Trang 37phường, thị trấn đã được phủ sóng thông tin di động, truy cập được Internet
tốc độ cao Doanh thu Bưu chính, viễn thông đạt 1.590 tỷ đồng, tăng 0,7%,
nộp ngân sách nhà nước 120 tỷ đồng, tăng 0,2% so với năm 2014
* Đầu tư phát triển
Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 30 nghìn tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch, tăng 20,2% so với năm 2014; trong đó, vốn đầu tư khu vực dân cư 13.415 tỷ đồng tăng 23,8%; vốn đầu tư của các doanh nghiệp đạt 8.080 tỷ đồng, tăng 45,2%; vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.050 tỷ đồng, bằng 100%; vốn nhà nước đạt 3.740 tỷ đồng, bằng 99,8% kế hoạch
- Thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút được 154 dự án đầu tư, trong
đó có 107 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký 5.576 tỷ đồng, 47 dự án đầu
tư nước ngoài, vốn đăng ký 214,5 triệu USD So với năm 2014, số dự án đầu
tư trong nước tăng 32,1%, vốn đăng ký tăng 18,5%; số dự án đầu tư nước ngoài tăng 18,8%, vốn đăng ký tăng 4,3% Vốn thực hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 230 triệu USD, tăng 12,2%
Có 564 doanh nghiệp được thành lập mới, tăng 28,5%, vốn đăng ký 2.050 tỷ đồng, bằng 75% so với năm 2014, nâng tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập đến nay là 4.782 doanh nghiệp với vốn đăng ký 20.744 tỷ đồng Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn khởi sắc hơn so với năm 2014, có khoảng 53% doanh nghiệp hoạt động ổn định và có lãi, thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 5 triệu đồng/người/tháng, tăng 3,1%
- Đầu tư xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Tính đến hết ngày 31/12/2015, giá trị khối lượng thực hiện đạt 3.720 tỷ đồng, bằng 110% kế hoạch, giá trị giải ngân đạt 3.050 tỷ đồng, bằng 90,6%
Trang 382.1.3.2 Lĩnh vực văn hóa - xã hội
* Giáo dục và Đào tạo
- Quy mô trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ngày càng được tăng cường đầu tư theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa và hiện đại hóa Tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học đạt 84,2%, tăng 0,7%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 80,2%, tăng 6,4% so với năm 2014
* Công tác văn hóa, thể thao và du lịch
- UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt đã tổ chức thành công Lễ Kỷ niệm và nhiều hoạt động kỷ niệm 120 năm Ngày thành lập tỉnh
- Tỷ lệ làng bản, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa đạt 62%, tỷ lệ hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa chiếm 85%
* Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số kế hoạch hóa gia đình
Cơ sở vật chất y tế tiếp tục được đầu tư, các bệnh viện tuyến tỉnh tiếp tục phát triển các khoa, phòng mang tính chuyên sâu, đồng thời tiến hành nâng hạng đối với các bệnh viện đủ tiêu chuẩn Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế ước đạt 83,5%, đạt 107,8% kế hoạch
Công tác tuyên truyền về dân số - kế hoạch hóa gia đình được thực hiện có hiệu quả Năm 2015, mức giảm tỷ lệ sinh là 0,1‰, tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ toàn tỉnh là 115,7 nam/100 nữ, bằng năm 2014
* Tình hình đời sống nhân dân, lao động, việc làm và chính sách xã hội
Đời sống nhân dân trên địa bàn cơ bản ổn định và từng bước được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 7,5%, đạt kế hoạch đề ra Tổng số người được tạo việc làm mới khoảng 28.500 lao động, đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50,5%
Có thể thấy, năm 2015 mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tình
Trang 39hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch, đời sống nhân dân ổn định, từng bước được nâng lên; an ninh, quốc phòng được đảm bảo
Song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại hạn chế như: Tăng trưởng một số ngành kinh tế chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; tình hình sản xuất của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, khai thác khoáng sản trái phép vẫn còn xảy ra, ô nhiễm môi trường nông thôn, làng nghề chậm được khắc phục; tình hình tội phạm diễn biến phức tạp; công tác quản lý nhà nước
trên nhiều lĩnh vực vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sớm khắc phục
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch Bắc Giang
2.2.1 Tài nguyên vật thể
* Cảnh quan tự nhiên và môi trường
Bắc Giang có địa hình của tỉnh miền núi và một phần trung du, trong
đó khu vực miền núi chiếm diện tích chủ yếu Diện tích miền núi là 3418,68km2 chiếm 89,43% diện tích toàn tỉnh Diện tích trung du là 403,82
km2 chiếm 10,57% diện tích toàn tỉnh
Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Huyện Sơn Động, huyện Lục Nam, huyện Lục Ngạn, huyện Yên Thế, huyện Lạng Giang, huyện Tân Yên, huyện Yên Dũng Địa hình ở đây chủ yếu là các núi đất có độ cao trung bình, chia cắt mạnh Chính địa hình này đã tạo nên các hồ đập như: Hồ Cấm Sơn, đập Khuôn Thần, hồ Hố Cao Xung quanh những hồ này là những ngọn núi trùng điệp, cây cao bóng cả, thảm thực vật rất phong phú, không gian thoáng đãng, cảnh quan đẹp Hơn nữa, đây là nơi tập trung cư trú của đồng bào các dân tộc ít người như: Tày, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa… Chính vì vậy, khu vực này thích hợp cho các loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, du lịch thăm quan, dã ngoại, cắm trại, du lịch cuối tuần, du lịch chuyên đề và
Trang 40Vùng trung du bao gồm thành phố Bắc Giang và 2 huyện Hiệp Hòa, Việt Yên nơi đây bao gồm các gò đồi thấp xen lẫn các dải đồng bằng hẹp tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp và trồng cây cây ăn quả Tuy chỉ chiếm diện tích rất ít và ít có giá trị trực tiếp đối với hoạt động du lịch nhưng đây lại
là nơi thuận lợi cho việc hình thành các khu vực dịch vụ cho phát triển kinh
tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng của tỉnh
Bắc Giang còn được thiên nhiên ban tặng khá nhiều thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú, với những cánh rừng nguyên sinh cùng hệ động thực vật phong phú được bảo tồn, những vùng cây ăn quả trù phú của vùng đồi Lục Ngạn, các danh thắng như: Hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, khu thắng cảnh Suối Mỡ, Suối Nước Vàng đã tạo cho Bắc Giang tiềm năng to lớn về du lịch sinh thái
* Các di tích lịch sử văn hóa
Là vùng đất cổ, giàu truyền thống lịch sử văn hóa, Bắc Giang có rất nhiều di sản văn hóa đặc sắc, trong đó nhiều di sản đã được UNESCO vinh danh là di sản thế giới như: Quan họ, ca trù, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm Trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 2.237 di tích, với 680 di tích được xếp hạng (557 di tích cấp tỉnh; 98 di tích cấp Quốc gia; 25 điểm di tích Quốc gia đặc biệt như: Khu di tích những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế, vùng ATKII Hiệp Hòa )
Đặc biệt, Bắc Giang còn có một hệ thống di tích và danh thắng dọc sườn Tây Yên Tử nằm rải rác tại các huyện Yên Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn
và Sơn Động Hệ thống di tích và danh thắng Tây Yên Tử gắn liền với lịch sử phát triển của thiền phái Trúc Lâm do Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông sáng lập từ cuối thế kỷ
Mật độ di tích của tỉnh: 3,4/10km2 (di tích/10km2)
Mật độ di tích được xếp hạng quốc gia: 2,7/100km2 (di tích/10km2)