Kinh tế nông nghiệp chưa có sự phát triển đột phá tạo tiền đề cho thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội KT-XH Để khắc phục những vấn đề tồn tại nêu trên, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ tro
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẬU VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, năm 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, các khoa, phòng và quý thầy, cô của Học viện Khoa học Xã hội, những người đã tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Đỗ Phú Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn Luận văn cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành ở huyện; bạn bè, đồng nghiệp, cùng đông đảo bà con nhân dân một số địa phương trên địa bàn huyện luôn quan tâm, tạo điều kiện, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Chính sách công “Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền
vững từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực
và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Mậu Vinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 7
1.1 Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 7
1.2 Nội dung chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 8
1.3 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 14
1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 22
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, QUẢNG NAM 29
2.1 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 29
2.2 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển nông nghiệp bền vững52 2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Quế Sơn 60
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA 66
3.1 Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 66
3.2 Biến đổi khí hậu và bối cảnh phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam 67 3.3 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững 68
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CT-XH : Chính trị xã hội
HTX : Hợp tác xã KT-XH : Kinh tế - xã hội KH-CN : Khoa học – công nghệ KH-KT : Khoa học – kỹ thuật NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn PTNNBV : Phát triển nông nghiệp bền vững QLNN : Quản lý nhà nước
TW : Trung ương UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 So sánh hiệu quả kinh tế giữa ruộng IPM và ruộng làm
theo tập quán cũ tại thôn 4, xã Quế Châu
34
2.2 So sánh hiệu quả kinh tế giữa ruộng IPM và ruộng làm
theo tập quán cũ tại Tổ dân phố Cang Tây, thị trấn Đông
Phú, huyện Quế Sơn
35
2.3 So sánh hiệu quả kinh tê giữa ruộng sản xuất cây đậu xanh
và sản xuất lúa
36
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh
tế quốc dân, là ngành trực tiếp sản xuất ra lương thực thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho con người, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành kinh tế khác, góp phần rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị của các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
Trong xã hội hiện đại, vai trò của nông nghiệp không hề bị coi nhẹ mà còn có nhiều nét mới, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ công nghiệp và dịch vụ nông thôn phát triển, từng bước cải thiện cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống mọi mặt của người dân nông thôn Qua 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của nông nghiệp Nông nghiệp vẫn sẽ là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ đến
Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ V, khoá IX xác định nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là những vấn đề có tầm quan trọng chiến lược của nước ta Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta Ngày 05/8/2008, BCH TW Đảng khóa X đãban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, một lần nữa, Đảng ta xác định: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
Trang 8Ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Trong đó khẳng định phải phát triển nông nghiệp theo yêu cầu bền vững và đề
ra những vấn đề cần ưu tiên trong phát triển nông nghiệp bền vững (PTNNBV) ở nước ta Và ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong đó tiếp tục xác định “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển KT-
XH của cả nước, gắn với phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển bền vững; phát triển bền vững vừa là một quá trình, vừa là mục tiêu của ngành”
Nằm trong định hướng chung của cả nước và tỉnh Quảng Nam, huyện Quế Sơn là huyện trung du miền núi của tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ lao động, diện tích canh tác nông nghiệp cũng như đóng góp của ngành vào tăng trưởng kinh
tế rất lớn Trong giai đoạn 2011– 2015, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng khá; giá trị tăng bình quân hằng năm 3,65%, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích tăng từ 42,17 lên 54,15 triệu đồng/ha, năng suất lúa, các loại cây trồng tăng lên đáng kể (lúa đạt 46,77tạ/ha/2011 lên 53,28tạ/ha/2015), sản lượng lương thực (cây có hạt) đạt trên 36.000 tấn Cơ cấu mùa vụ, cây trồng, con vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực, xuất hiện một số mô hình nông - lâm kết hợp đạt hiệu quả Kinh tế rừng phát triển mạnh, tạo đột phá trong kinh tế nông nghiệp, giá trị thu nhập từ rừng khá cao, góp phần cải thiện đời sống nhân dân Đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh, giá trị chăn nuôi chiếm 37,5%
trong cơ cấu ngành nông nghiệp [1] Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp
của huyện chưa mang tính bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng sẵn
có Việc thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KH-KT), đưa cơ giới hóa vào sản xuất còn rất nhiều hạn chế, năng suất và thu nhập trong nông
Trang 9nghiệp còn thấp; công tác quy hoạch, bố trí vùng sản xuất chưa được chú trọng Hệ thống các Hợp tác xã (HTX) cung ứng dịch vụ nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu Kinh tế nông nghiệp chưa có sự phát triển đột phá tạo tiền
đề cho thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH)
Để khắc phục những vấn đề tồn tại nêu trên, nhằm tạo chuyển biến mạnh
mẽ trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở phát huy, khai thác tiềm năng, lợi thế tự nhiên của vùng, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn và giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, một trong những vấn
đề đặt ra là cần phải thực hiện tốt và có hiệu quả chính sách PTNNBV, nên tôi
đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực
tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” cho Luận văn thạc sỹ cao học của
mình và mong rằng đề tài này có thể góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách PTNNBV trên địa bàn huyện
2 Tình hình nghiên cứu
Chính sách PTNNBV không phải là vấn đề mới mà đã được đề cập nhiều tại các cuộc hội nghị của BCH Trung ương Đảng Bên cạnh đó, đến thời điểm hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững nói chung, PTNNBV nói riêng Có thể nêu một số công trình nghiên cứu sau:
Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2004), Chương
trình nghị sự 21, Hà Nội
GS.TS Hoàng Thị Chính (2010), Để nông nghiệp phát triển bền vững,
Tạp chí Phát triển kinh tế số tháng 6-2010
TS Trần Ngọc Ngoạn chủ biên (2008), Phát triển nông thôn bền vững,
những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Lưu Văn Sùng (2004), Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị
Trang 10GS.TS Nguyễn Kế Tuấn (chủ nhiệm), CNH, HĐH nông nghiệp và nông
thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
TS Nguyễn Từ (chủ biên) (2004), Nông nghiệp Việt Nam trong phát
triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Tập bài giảng về phát triển bền vững ở Việt Nam, thuộc dự án VIE/01/05
do nhiều cơ quan như Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, Nxb Kinh tế quốc dân năm
2006
Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững Nông thôn
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Những công trình, bài viết trên có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn cho PTNNBV ở nước ta Các tác giả đã nêu những lý luận cơ bản nhất về PTNNBV, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp nước ta thời gian qua
và đưa ra những những giải pháp về QLNN để phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách PTNNBV tại tỉnh Quảng Nam nói chung, huyện
Quế Sơn nói riêng Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển
nông nghiệp bền vững từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm luận
văn thạc sĩ của mình, luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của huyện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Học viên lấy nghiên cứu này làm luận văn tốt
nghiệp ngành khoa học chính sách công Vận dụng lý luận chính sách PTNNBV để xem xét thực tiễn thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Quế Sơn, tìm ra những bất cập trong thực hiện chính sách thời gian qua và từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính
Trang 11sách phát triển nông nghiệp bền vững hướng đến mục tiêu PTNNBV tại
huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong những năm đến
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững là gì?
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Thực trạng tổ chức thực hiện các chính sách PTNNBV tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Những giải pháp nào nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện
chính sách về phát triển nông nghiệp bền vững và quá trình thực hiện chính
sách phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam và trong khoảng thời gian từ năm 2011 - 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu
chính sách qua tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công
về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý
luận về chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin, phương
pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị Quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành ở
Trang 12Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thực hiện chính sách PTNNBV ở nước ta nói chung và thực tế huyện Quế Sơn nói riêng Đồng thời, thu thập, tìm hiểu
và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề thực hiện chính sách PTNNBV Phương pháp nghiên cứu định tính qua áp
dụng phương pháp phỏng vấn sâu một số chủ thể chính sách liên quan
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PTNNBV Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách PTNNBV ở nước ta
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1 Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm
vạch ra những định hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự phát triển, nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước Khái niệm chính sách
công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết
định có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ để thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục
tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [30]
Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phát triển phải đảm bảo được mục đích kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trường Hiện nay, có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về PTNNBV ở những góc độ khác nhau, như: PTNNBV là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ, vừa đáp ứng
nhu cầu của mai sau [28]; hay PTNNBV là quá trình đảm bảo hài hòa ba
nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thỏa mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai
[27] Từ những quan niệm trên, PTNNBV có thể hiểu rằng: Nền nông nghiệp
phát triển bền vững phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Về kinh tế, sản xuất nông nghiệp phải đạt hiệu quả cao, làm ra nhiều sản phẩm, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế Về xã hội, một nền nông nghiệp bền vững phải đảm bảo cho
Trang 14chất và tinh thần ngày càng được nâng cao Phát triển nông nghiệp bền vững
về khía cạnh môi trường là không hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ
nguồn nước ngầm trong sạch và không gây ô nhiễm môi trường [37]
Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững vừa là chính sách xã hội
vừa là chính sách kinh tế và vừa là chính sách bảo vệ môi trường nên có thể được hiểu là tổng thể các biện pháp tác động của Nhà nước có liên quan đến nông nghiệp và các ngành có liên quan, nhằm tác động vào nông nghiệp theo những mục tiêu phát triển bền vững Tùy theo định hướng mục tiêu lâu dài hay trước mắt mà Nhà nước có những chính sách cụ thể, thích hợp tác động vào phát triển nông nghiệp để quản lý, điều phối sự phát triển chung của nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững Theo xu hướng chung, chính sách PTNNBV cần phải hướng đến ba mục tiêu chính: bền vững về kinh tế; về
mặt xã hội; về tài nguyên và môi trường Vậy chính sách PTNNBV là “Tập hợp
các quyết định có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ để thực hiện giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững theo mục tiêu đã xác định của Đảng Cộng sản Việt Nam” Thực hiện chính sách PTNNBV là việc thực hiện các quyết định có liên
quan của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ, vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau; đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, phù hợp
về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội
1.2 Nội dung chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
1.2.1 Vấn đề chính sách phát triển nông nghiệp bền
Trãi qua 30 năm thực hiện đường lới đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến nay Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực; đóng góp to lớn vào thành quả đạt được có việc thực hiện tốt chính sách PTNNBV Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
Trang 15trương, chính sách để lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện chính sách ngày một tốt hơn như: Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ V, khoá IX xác định nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là những vấn
đề có tầm quan trọng chiến lược của nước ta; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ VII, BCH TW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam; Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; qua đó tạo cơ sở và điều kiện để tổ chức triển khai thực hiện tốt việc phát triển ngành nông nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới dân tộc
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách PTNNBV trong thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp có xu hướng chậm lại; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển theo hướng hiện đại, thiếu tính bền vững; hiệu quả sản xuất, khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản còn thấp; an toàn vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường vẫn là vấn đề bức xúc trong xã hội Quan hệ sản xuất chậm được đổi mới, kinh tế tập thể, hợp tác xã vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn được sản xuất với chế biến, tiêu thụ
và xuất khẩu Sự gắn kết giữa công nghiệp, dịch vụ với sản xuất nông nghiệp thiếu chặt chẽ; nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ Khoa học – Công nghệ (KH-CN) vào sản xuất nông nghiệp chưa được coi trọng; đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu Thu nhập và mức sống của dân cư nông thôn còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn ở mức cao, giảm nghèo ở nhiều vùng kém bền vững; chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục ở nhiều nơi còn thấp Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chậm được cải thiện Quản lý, sử dụng tài nguyên đất đai, rừng, biển kém hiệu quả Xây
Trang 16dựng nông thôn mới ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, kém chất lượng; mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2015 và 2020 khó đạt được nếu không có sự chỉ đạo quyết liệt, hỗ trợ mạnh hơn về cơ chế, chính sách và
nguồn lực [33]
Nguyên nhân của những vấn đề cụ thể nêu trên đó là: Trước hết do nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền ở một số nơi về thực hiện các chính sách PTNNBV chưa đầy đủ, thiếu vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương; còn xem nhẹ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa được thường xuyên, thiếu quyết liệt Tổ chức bộ máy, chất lượng công tác QLNN về nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn nhiều bất cập; sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành chức năng thiếu chặt chẽ; đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn còn rất hạn chế Một số cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn ban hành chưa hiệu quả, thiếu tính khả thi, chậm được sửa đổi; thiếu cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, nhất là doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; cơ cấu đầu tư có nơi chưa hợp lý Đóng góp của KH-CN vào giá trị gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp còn thấp Sự tham gia của các tổ chức CT-XH, đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn hạn chế, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình
1.2.2 Mục tiêu chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
1.2.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt
và lâu dài
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại; gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường
Trang 17sinh thái được bảo vệ Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường sống, nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đất nước
[23]
1.2.2.2 Mục tiêu cụ thể
* Giai đoạn 2011-2015: Phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng thu nhập, giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8% Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, phát triển liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh; phát triển doanh nghiệp nông thôn
Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn Cải thiện căn bản môi trường nông thôn; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, phòng chống thiên tai
Cộng đồng cư dân nông thôn chủ động, tích cực thực hiện xây dựng nông thôn mới, 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Giảm đáng kể tỷ lệ
hộ nghèo, đặc biệt ở các huyện còn trên 50% hộ nghèo
* Giai đoạn 2016-2020: Phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường
Trang 18Duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân 3,5-4%/năm Hình
thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị
trường quốc tế
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp
Phát triển lâm nghiệp, tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến
Trang 19Những vấn đề trên cho thấy, chính sách PTNNBV ở Việt Nam hướng đến một số giải pháp cơ bản Trước hết là phải thay đổi tư tưởng, nhận thức trong sản xuất nông nghiệp; ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức ở tất cả các cấp TW đến cơ
sở, người nông dân về tầm quan trọng và vai trò của chính sách PTNNBV trong quá trình phát triển xã hội Từ những vấn đề trên cho thấy, chính sách PTNNBV hướng đến một số giải pháp sau:
- Giải pháp về tăng cường sự quản lý của chính quyền các cấp trong thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp về phát huy vai trò công tác phổ biến, tuyên truyền trong thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giảm pháp về tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, giám sát, tổng kết và điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp về tăng cường huy động và sử dụng các nguồn lực trong việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng trong thực hiện chính sách PTNNBV
- Giải pháp về đổi mới các hình thức tổ chức kinh tế tập thể trong thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Giải pháp về công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Thực tiễn cho thấy, bất kỳ một chính sách nào nếu chỉ có các giải pháp chính sách nhưng không có các công cụ chính sách thì khó thực hiện được Công cụ chính sách là hệ thống những phương tiện truyền dẫn các phương thức tác động lên đối tượng chính sách, bao gồm: Công cụ dựa vào tổ chức; công cụ dựa vào quyền lực, công cụ tài chính và công cụ truyền thông Đối với chính sách PTNNBV, các công cụ chính sách cụ thể là: (1) Công cụ dựa vào tổ chức là các công cụ hành chính, tổ chức như kế hoạch, quy hoạch của
Trang 20Nhà nước, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mô hình tổ chức, bộ máy cán bộ công chức tham gia hoạch định, triển khai chính sách; (2) Công
cụ dựa vào quyền lực là các quy định mệnh lệnh và kiểm soát, quy định về trách nhiệm của từng cấp, từng ngành; (3) Công cụ tài chính là ngân sách, các quỹ, nguồn vốn, hệ thống đòn bẫy khuyến khích về mặt kinh tế, vật chất; (4) Công cụ truyền thông là các chiến dịch truyền thông, tuyên truyền, cổ vũ và thuyết phục qua báo chí, truyền hình hay tài trợ nghiên cứu
1.3 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
1.3.1 Cách tiếp cận thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Thực hiện chính sách PTNNBV là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết của
cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương và mọi người dân với mục đích là tạo động lực thúc đẩy phát triển KT-XH, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Có một số phương pháp tiếp cận khi thực hiện chính sách, trong đó phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” được xem là phương pháp truyền thống khi thực hiện một chính sách Cách tiếp cận này đảm bảo tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh, tránh được sự chồng chéo, mất tập trung khi thực thi
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT)
(Từ dưới lên) (Từ trên xuống)
Sở NN&PTNT cấp tỉnh/thành phố
Phòng NN&PTNT/ Phòng Kinh tế các quận, huyện
Xã, phường Tuy nhiên, nó không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thật sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình KT-XH của từng địa phương Ngược lại, phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những
Trang 21một số vấn đề khi thực hiện, bởi vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ chuyên trách Ngoài ra, phương pháp này chưa thật sự huy động được sự tham gia của người dân Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới, cũng như mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc (Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT cấp tỉnh/thành phố, Phòng NN&PTNT/Phòng Kinh tế các quận, huyện, các xã – tiếp cận mang tính hai chiều), theo chiều ngang (có sự phối hợp giữa các Bộ, các cơ quan, ban, ngành: Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp), sự tham gia của các bên liên quan, cộng đồng người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế Như vậy, cách tiếp cận đối với chính sách PTNNBV đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức đoàn thể, CT-XH thông qua các chiến lược, chính sách, nghị quyết về mặt chính trị Quốc hội thực hiện vai trò giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các vấn đề nông nghiệp, cùng với các
bộ ngành có liên quan khác đóng vai trò chủ chốt trong các lĩnh vực tương ứng như Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường Chính quyền địa phương thực thi chức năng quản lý nhà nước (QLNN) về các vấn đề nông nghiệp, xây dựng các chương trình, kế hoạch phù hợp với tình hình, điều kiện thực tiễn ở địa phương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng kế hoạch, tổ chức tuyên truyền đến người nông dân các chủ trương, chính sách về PTNNBV để người dân nắm bắt và tổ chức thực hiện đạt kết quả Bên cạnh đó, các cơ quan truyền thông tham gia vào quá trình truyền thông trong việc phát triển nông nghiệp, bao gồm nâng cao nhận thức trong mọi người nông dân về vấn đề PTNNBV; đồng thời thông tin các vấn đề liên quan để người dân tiếp cận, áp dụng trong hoạt động sản xuất
Trang 221.3.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Để đưa các chính sách nói chung và chính sách PTNNBV nói riêng vào cuộc sống cần phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đây là cơ sở, là công cụ quan trọng để triển khai thực hiện chính sách, các nội dung nhiệm vụ trong kế hoạch cung cấp các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách, việc kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách, việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách Hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của kế hoạch Cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể để có thể xác định được mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực, thời gian và giải pháp tổ chức thực hiện chính sách Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách PTNNBV cần được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách PTNNBV từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện gồm:
- Kế hoạch tổ chức điều hành
- Kế hoạch cung cấp các nguyên liệu
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc, thực thi đưa chính sách vào cuộc sống Ngoài ra, trong kế hoạch thực hiện chính sách PTNNBV cần phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách; về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức tham gia tổ chức điều hành chính sách; về biện pháp, giải pháp khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện Việc lập kế hoạch thực hiện chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi được khả thi và không phải qua điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện
1.3.3 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách PTNNBV là một hoạt động
Trang 23quan trọng trong thực hiện chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền không chỉ giúp người dân, các doanh nghiệp và toàn xã hội hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của chính sách, mà còn giúp các cơ quan Nhà nước, các cán bộ công chức, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách được nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, vai trò, quy mô của chính sách đối với người dân và đối với toàn xã hội Cần phải lựa chọn hình thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền khác nhau nhằm tạo mối quan tâm thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của người nông dân, của xã hội đối với việc PTNNBV; nghiên cứu xây dựng, phát triển các chương trình, sản xuất các sản phẩm truyền thông về phát triển nông nghiệp bền vững cho các kênh truyền thông đại chúng, hoạt động tư vấn, truyền thông trực tiếp thông qua hội nghị, hội thảo
1.3.4 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Trong tổ chức và thực hiện các chính sách nói chung, chính sách PTNNBV nói riêng thì công tác phân công, phối hợp thực hiện có ý nghĩa quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải phân công, phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở TW và địa phương Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học
sẽ phát huy được những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Trong phân công nhiệm vụ cần chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn, thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng
Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [29], Đảng lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức CT-XH, các đoàn thể quần chúng thông qua các chương trình, chính sách, nghị quyết mang tính chính trị và
Trang 24thông qua theo dõi giám sát việc thực hiện của các tổ chức này Đảng đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến công tác PTNNBV Ngày 05/8/2008, Tại Hội nghị lần thứ VII, BCH TW Đảng khóa X, Đảng ta một lần nữa xác định mục tiêu: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
cả trước mắt và lâu dài” [34] Thông qua chủ trương này, Đảng Cộng sản Việt
Nam mong muốn có sự cải thiện tích cực về mặt nhận thức, hành động trong lĩnh vực nông nghiệp đối với cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, các
tổ chức chính trị xã hội và toàn thể người dân
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao mọi hoạt động của Nhà nước Theo Luật Tổ chức Quốc Hội năm 2014 thì Quốc hội có 9 Ủy ban, trong đó có 4 Ủy ban sau có chức năng liên quan đến quá trình phát triển nông nghiệp: Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính và Ngân sách, Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường, Ủy ban Pháp luật
Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành
của Quốc hội [32] Chính phủ có thẩm quyền ban hành một số loại văn bản
quy phạm pháp luật như Nghị định, Quyết định, Chỉ thị Các Bộ chủ quản ban hành các Quyết định, Thông tư nhằm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp cao hơn Các cơ quan Nhà nước liên quan đến PTNNBV, cụ thể là: Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê
Trang 25Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã chịu trách nhiệm thực hiện chính sách PTNNBV đảm bảo phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương mình theo thẩm quyền được giao
1.3.5 Duy trì chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Duy trì thực hiện chính sách PTNNBV là làm cho chính sách được tồn tại và phát triển trong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại Tuy nhiên, trong thực tế khi thực thi thì lại vướng một số hạn chế nhất định, đó có thể là do nhà hoạch định chính sách không lường hết được kết quả ban hành chính sách hoặc do sự thay đổi môi trường chính sách trước và sau khi ban hành Vì vậy, các cơ quan QLNN về nông nghiệp Trung ương cần sử dụng hệ thống, công cụ quản lý để tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Các tổ chức, người dân và toàn
xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ, tăng cường thực hiện dân chủ để cùng tham gia quản lý xã hội Những hoạt động đồng bộ trên sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chính sách PTNNBV trong quá trình phát triển xã hội
1.3.6 Điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Điều chỉnh chính sách PTNNBV là một hoạt động cần thiết, diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách, nhằm mục đích đảm bảo cho chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Nó được thực hiện bởi cơ quan QLNN về nông nghiệp Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan đó điều chỉnh, bổ sung chính sách Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh cơ chế, biện pháp chính sách diễn ra khá linh hoạt, vì thế các cơ quan QLNN về nông nghiệp của từng địa phương cần chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của địa phương mình, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách PTNNBV
Trang 26là phải để chính sách đó tiếp tục tồn tại, chỉ được điều chỉnh cơ chế, các giải pháp thực hiện mục tiêu chính sách hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách PTNNBV thì xem như chính sách đã đó thất bại
1.3.7 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Để thực hiện tốt chính sách PTNNBV thì một trong những nhiệm vụ quan trọng cần tập trung thực hiện đó là tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chủ trương, đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện các mục tiêu về PTNNBV theo Kết luận số 97-KL/TW ngày 09/5/2014 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương
7, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Kiểm tra việc chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành của Trung ương đối với việc thực hiện các kết luận, chương trình, kế hoạch về PTNNBV và sự phối hợp của các ban, ngành tại địa phương khi thực hiện Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong QLNN về nông nghiệp, nhằm đảm bảo các chủ trương, chính sách
về phát triển nông nghiệp bền vững của Đảng, Nhà nước được thực hiện đem lại hiệu quả cao
Tuy nhiên, trên thực tế khi triển khai thực hiện chính sách PTNNBV không phải cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau Vì thế cần phải đôn đốc để vừa thúc đẩy các cơ quan, tổ chức, cá nhân nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời vừa phòng, chống các hành vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
1.3.8 Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Cùng với việc xây dựng và triển khai thực hiện thì việc đánh giá chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách “Đánh giá chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như sự
Trang 27phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai” hoặc “Đánh giá chính sách công
là các quy định, luật, nguyên tắc, thông lệ mà một nhóm hoặc tổ chức sử dụng
để mà thực hiện các quyết định và hành động liên quan đến đánh giá” [31].
Đánh giá tổng kết trong tổ chức thực hiện chính sách là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan Nhà nước trong hệ thống chính trị, các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội Nội dung đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành là chương trình hành động, kế hoạch được xây dựng để thực hiện chính sách PTNNBV và những văn bản hướng dẫn, văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách
Bên cạnh việc tổng kết đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn phải xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách phát PTNNBV của các tổ chức, người nông dân và toàn xã hội; đó là đánh giá việc tham gia thực hiện chính sách và tinh thần hưởng ứng mục tiêu, ý thức chấp hành những quy định của chính sách Việc đánh giá tổng kết trong thực hiện chính sách PTNNBV sẽ chỉ ra được chính xác những ưu điểm, hạn chế và từ
đó rút ra được những bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách
1.3.9 Ý nghĩa và các yêu cầu cơ bản của việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
- Ý nghĩa: Nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp,
nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở phát huy, khai thác tiềm năng, lợi thế
tự nhiên của vùng, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn và giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, một trong những vấn đề đặt ra là cần phải thực hiện tốt và có hiệu quả chính sách PTNNBV
Trang 28- Yêu cầu cơ bản của việc thực hiện chính sách PTNNBV: Việc thực hiện
chính sách PTNNBV phải đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra; đảm bảo tính hệ thống; đảm bảo tính pháp lý, khoa học và phải đảm bảo lợi ích thật sự cho đối
* Các cơ quan Nhà nước thuộc hệ thống Lập pháp
Theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 thì Quốc hội có 9 Ủy ban, trong
đó có 4 Ủy ban có chức năng liên quan đến việc phát triển nông nghiệp gồm:
- Ủy ban Kinh tế: Có trách nhiệm chủ trì, thẩm tra chương trình, dự án,
kế hoạch Nhà nước về phát triển KT-XH, báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch phát triển KT-XH Giám sát văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của tổ chức CT-XH thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách
- Ủy ban Tài chính và Ngân sách: Chịu trách nhiệm chủ trì, thẩm tra dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung ương và tổng quyết toán ngân sách Nhà nước Giám sát văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách
- Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường:
Thực hiện công tác giám sát hoạt động của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc thực hiện chính sách phát triển khoa học, công nghệ và
Trang 29bảo vệ môi trường sinh thái Giám sát văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách
- Ủy ban Pháp luật:
Giám sát văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị -
xã hội thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách
* Các cơ quan thuộc hệ thống Hành pháp
- Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc
phạm vi quản lý của Bộ [35] Đây là Bộ chủ quản trong quá trình triển khai
thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp trên địa bàn cả nước
- Bộ Y tế: Theo Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31/8/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế, trong đó Bộ Y tế có trách nhiệm quản lý về công tác an toàn thực phẩm Vấn
đề an toàn thực phẩm là vấn đề quan trọng, cần được triển khai thực hiện tốt trong quá trình thực hiện chính sách PTNNBV
- Bộ Công thương: Có trách nhiệm QLNN trong lĩnh vực công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến khác, xuất nhập khẩu, thương mại biên giới
Do đó, phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động quản lý trong công tác chế biến thực phẩm, hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp ra thị trường nước ngoài
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến
Trang 30lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển,
cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Có chức năng quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng, thủy văn Đây cũng là Bộ có vai trò, trách nhiệm hàng đầu trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
- Bộ Tài chính: Chịu trách nhiệm hướng dẫn các Bộ, ngành liên quan và UBND các cấp lập dự toán ngân sách hàng năm và dài hạn cho công tác phát triển nông nghiệp và đề xuất các chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính để phục cho công tác sản xuất nông nghiệp
- UBND các cấp: Chịu trách nhiệm phân bổ nguồn tài chính đến các cơ quan, đơn vị liên quan để triển khai thực hiện các chính sách về nông nghiệp; đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành hoạt động đảm bảo cho lĩnh vực nông nghiệp đạt được những kết quả theo kế hoạch đề ra Bên cạnh đó, tất cả các Bộ được nêu trên đều có các sở, ngành tương ứng tại địa phương hoạt động dưới sự quản lý của UBND Các sở, ngành liên quan tại địa phương là những đơn vị có trách nhiệm thực hiện các chính sách về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trong đó, Sở NN&PTNT tỉnh, Phòng NN&PTNT huyện đóng vai trò quan trọng nhất, là cơ chuyên môn trực tiếp tham mưu cho UBND cấp tỉnh, cấp huyện tổ chức triển khai thực hiện các chính sách về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
* Bên cạnh đó, các tổ chức, người nông dân và toàn xã hội cũng là chủ
thể có trách nhiệm cao trong việc thực hiện chính sách PTNNBV Vì chính sách PTNNBV có vai trò rất quan trọng, nó có tác động đến các ngành, các lĩnh vực khác và có tác động rất lớn đến sự phát triển mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội Vì vậy, các tổ chức, người nông dân và toàn xã hội tham gia vào quá trình thực hiện chính sách PTNNBV như một cách thức vừa trực tiếp (thực hiện những mục tiêu cụ thể của chính sách), vừa gián tiếp (hỗ trợ nguồn lực hoặc tạo dư luận đánh giá về thực hiện chính sách) Vai trò của các chủ
Trang 31thể này khá quan trọng bởi nó phản ánh tính đồng bộ, hiệu quả trong triển khai thực hiện chính sách
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố sau:
Một là, yếu tố quan trọng và chi phối đầu tiên đến chính sách PTNNBV
là thể chế chính trị Bản chất của chính sách là thái độ chính trị của Đảng cầm quyền, mỗi chế độ CT-XH khác nhau có bản chất và hình thức tổ chức Nhà nước khác nhau và cũng có những khác biệt nhất định khi xây dựng và thực thi hệ thống chính sách KT-XH, trong đó có chính sách PTNNBV Nhà nước thể chế hóa đường lối, chiến lược phát triển của Đảng thành những chính sách
cụ thể nhằm thực hiện thành công chủ trương lớn đó Chính sách PTNNBV được xây dựng phải dựa trên điều kiện kinh tế, trình độ phát triển của một quốc gia cụ thể Các mục tiêu và giải pháp của chính sách không thể vượt quá các điều kiện KT-XH của đất nước và từng khu vực, vùng miền Nếu thoát ly khỏi điều kiện thực thi, chính sách phát triển nông nghiệp sẽ khó có cơ hội thành công
Hai là, điều kiện kinh tế của quốc gia phát triển ổn định tạo động lực cho
sự quan tâm đến định hướng chiến lược phát triển kinh tế bền vững, từ đó có những cơ chế, chính sách phù hợp và đầu tư nguồn lực đảm bảo cho sự phát triển theo mục tiêu chung đã đề ra Yếu tố này luôn tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và PTNNBV, bao gồm: thị trường, hệ thống chính sách vĩ mô của nhà nước, cơ sở hạ tầng, sự phát triển của các khu, cụm công nghiệp, đô thị, dân số, lao động
Ba là, nhận thức về PTNNBV của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở cơ sở
còn hạn chế; việc tổ chức triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách đã ban hành
và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả chưa thực sự quyết liệt, còn lúng
Trang 32túng, thiếu đồng bộ; chưa tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân trong việc thay đổi phương thức, tập quán sản xuất chưa được nâng cao; tổ chức sản xuất chủ yếu theo kinh nghiệm, theo truyển thống Ý thức vươn lên thoát nghèo của một bộ phận người dân chưa cao, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước; chưa dám đầu tư nguồn kinh phí cho sản xuất nông nghiệp
Bốn là, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động mạnh
đến chính sách phát triển nông nghiệp Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng của các quốc gia không thể không hòa nhập vào khu vực và toàn cầu; các sản phẩm từ nông nghiệp đang được toàn cầu hóa Nó chi phối mạnh mẽ các chính sách phát triển nông nghiệp như: nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành nông sản Do vậy, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nền nông nghiệp nước ta cần phải có những đổi mới căn bản và toàn diện để theo kịp với sự phát triển chung của thế giới, tạo ra cho mình những đặc trưng riêng để tạo thành thế mạnh trong nền sản xuất nông nghiệp chung của thế giới
Năm là, sự tác động của cuộc cách mạng KH-KT đến chính sách phát
triển nông nghiệp Xu hướng tiếp cận và chuyển giao các tiến bộ KH-KT giữa các quốc gia trên thế giới có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của các quốc gia nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng Kinh tế - kỹ thuật ngày nay thực sự đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành động lực cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Chính mức độ và quy mô áp dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất nông nghiệp của một quốc gia sẽ quy định việc xây dựng và thực hiện chính sách nông nghiệp Khoa học - kỹ thuật phát triển sẽ tạo ra động lực và mục tiêu cho việc xây dựng và thực hiện chính sách PTNNBV ở mỗi quốc gia
Trang 33Sáu là, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất của
nhân loại trong thế kỷ 21, nó đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc các hệ sinh thái tự nhiên, đời sống KT-XH, quá trình phát triển, đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh môi trường, năng lượng, nguồn nước, lương thực trên phạm vi toàn cầu Chính sách PTNNBV ở một quốc gia mà có các điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ khác với các nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, biến đổi khí hậu với những tác động ngày một gia tăng và khó lường sẽ làm gia tăng mức độ cạn kiệt nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường; làm tăng khả năng bị tổn thương, là nguy cơ làm chậm quá trình phát triển KT-XH hoặc làm mất đi nhiều thành quả đã đạt được Các nguy cơ rủi ro do biến đổi khí hậu cần được tính đến trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, trong đó có chính sách PTNNBV
Bảy là, vai trò, sự phối hợp cũng như năng lực tổ chức thực hiện chính
sách phát triển nông nghiệp bền vững của các bên liên quan (nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức xã hội) và các nguồn lực cần thiết cho tổ chức thực hiện chính sách (tài chính, con người, mạng lưới tổ chức) cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Kết luận Chương 1
Chính sách PTNNBV là chính sách có vai trò quan trọng, góp phần vào
sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta Vì thế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm, tập trung ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững Đảng và Nhà đã xác định và
đề ra những mục tiêu để tổ chức triển khai thực hiện với những giải pháp và công cụ cụ thể, rõ ràng; xác định cách tiếp cận, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các chủ thể trong tổ chức triển khai thực hiện Bên cạnh
Trang 34đó, vấn đề đôn đốc, theo dõi, giám sát, tổng kết việc thực hiện chính sách cũng luôn được quan tâm thực hiện Những vấn đề lý luận cụ thể được xây dựng nhằm tổ chức triển khai thực hiện chính sách PTNNBV đảm bảo đem lại hiệu quả cao Tuy nhiên, những vấn đề lý luận trên khi được áp dụng vào thực tiễn cũng có những thay đổi, những vấn đề không phù hợp cần phải được điều chỉnh để đảm bảo thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao hơn
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUẾ SƠN, QUẢNG NAM
2.1 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Về xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững ở huyện Quế Sơn, Quảng Nam
Về kế hoạch tổ chức thực hiện:
Xác định được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch trong triển khai thực hiện chính sách PTNNBV nên trong những năm qua, huyện Quế Sơn luôn quan tâm đến vấn đề này Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách luôn được bám sát với chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên và từ tình hình thực tế của địa phương, như: Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ VII, BCH TW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Kết luận 97-KL/TW ngày 09/5/2014 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW7; Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam; Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”; Quyết định 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 của Bộ NN&PTNT về ban hành chương trình hành động thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”; Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011–2020 của Bộ NN&PTNT; trong đó khẳng định phải phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững và đề ra những vấn đề cần ưu tiên trong PTNNBV ở nước ta Nghị quyết 05-NQ/TU ngày
Trang 3601/9/2011 của Tỉnh ủy Quảng Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Quyết định 2577/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam về ban hành chương trình hành động triển khai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
Để triển khai thực hiện tốt các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn, đảm bảo cho ngành nông nghiệp của huyện phát triển theo hướng bền vững, căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên và điều kiện thực tế của địa phương, trong những năm qua Huyện ủy, UBND huyện Quế Sơn đã xây dựng các kế hoạch triển khai thực hiện đến các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, hội, đoàn thể liên quan và bà con nông dân trên địa bàn huyện:
- Chương trình công tác số 16-CT/HU ngày 10/11/2011 của Huyện ủy về triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy Quảng Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
- Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 19/12/2011 của UBND huyện Quế Sơn về triển khai thực hiện Chương trình công tác số 16-CT/HU ngày 10/11/2011 của Huyện ủy Quế Sơn
- Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 09/10/2014 của UBND huyện Quế Sơn về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020 theo Quyết định số 2577/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam
- Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 08/9/2014 của UBND huyện về chuyển đổi cây trồng đối với diện tích đất lúa không chủ động nước tưới giai đoạn 2015-2020
- Kế hoạch số 01/KH-BCĐ ngày 15/9/2014 của Ban Chỉ đạo thực hiện
Đề án phát triển chăn nuôi huyện về triển khai thực hiện “Đề án phát triển chăn nuôi huyện Quế Sơn, giai đoạn 2014-2020”
Trang 37Đánh giá việc ban hành các văn bản trong triển khai thực hiện chính
sách, Ông HVD – Lãnh đạo Văn phòng HĐND&UBND huyện cho biết “Việc
ban hành các kế hoạch triển khai thực hiện chính sách PTNNBV trên địa bàn huyện đảm bảo kịp thời, phù hợp với quy định, định hướng của cấp trên và tình hình thực tế của địa phương, từ đó góp phần to lớn trong quá trình thực hiện chính sách PTNNBV của huyện nói riêng, của tỉnh Quảng Nam và của
cả nước nói chung” [Phục lục 6]
Xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ phát triển nông nghiệp:
Để xây dựng một nền nông nghiệp đạt chất lượng cao, có tính bền vững, cần phải tập trung phát triển các loại hình dịch vụ nông nghiệp Do vậy, trong thời gian qua, huyện đã quan tâm xây dựng mạng lưới các loại hình dịch vụ
hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ngày càng đi vào hoạt động hiệu quả Trong đó, các khâu như cung cấp giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật là yếu tố then chốt
Hiện nay, trên địa bàn huyện Quế Sơn có 12 HTX nông nghiệp, các loại hình dịch vụ nông nghiệp chủ yếu do các HTX này cung ứng như: Giống, vật
tư, phân bón, tưới tiêu, bảo quản, quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực hiện liên kết với các doanh nghiệp để đầu tư sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Các HTX ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cùng với chính quyền địa phương tham gia phát triển kinh tế của địa phương, như: xây dựng kênh mương, giao thông nội đồng, dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, góp phần tăng năng suất, chất lượng, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích Bên cạnh đó, không ít HTX nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường, tạo sự liên kết, hợp tác với nhau và với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao HTX Quế Xuân 1, Quế Phú, Hương An đã mở rộng và nâng cao chất lượng phục
vụ với các dịch vụ như: dịch vụ tín dụng nội bộ, cung ứng thức ăn chăn nuôi;
Trang 38phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống lúa Một trong những khâu dịch vụ tiêu biểu của các HTX trên là tổ chức tiêu thụ lúa giống cho bà con nông dân Với nguồn cung cấp lúa giống khá dồi dào, năm 2015, bình quân mỗi HTX giúp bà con tiêu thụ gần 1000 tấn lúa giống Để làm tốt dịch vụ này, các HTX
đã liên kết với Công ty Cổ phần giống cây trồng miền Nam – Chi nhánh tại Quảng Nam theo hình thức hợp đồng bao tiêu sản phẩm có ứng trước giống lúa gốc Bên cạnh đó, dịch vụ làm đất cũng là lợi thế của các hợp HTX trên, đến nay dịch vụ làm đất của các hợp tác xã đã thu hút được 48 máy, trong đó
có 24 máy công suất lớn từ 21CV trở lên Ngoài những dịch vụ trên, các HTX
Quế Xuân 1, Quế Phú, Hương An cùng các HTX khác trên địa bàn huyện triển khai thực hiện tốt các dịch vụ về giống, vật tư, phân bón, tưới tiêu, quản
lý và khai thác cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp; bên cạnh đó các HTX luôn chú trọng đầu tư cơ sở kinh doanh, mở thêm các điểm bán hàng để cung ứng hàng hóa và bao tiêu sản phẩm cho xã viên Song song với các dịch
vụ trên, dịch vụ môi trường của các HTX cũng đã đi vào hoạt động nề nếp, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường Ngoài các HTX thì các doanh nghiệp trong và ngoài huyện cũng tham gia vào lĩnh vực cung ứng dịch vụ nông nghiệp như phân bón, giống cây trồng
Trong những năm qua, hoạt động của các loại hình dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ngày càng đi vào hoạt động hiệu quả, góp phần to lớn trong quá trình thực hiện chính sách PTNNBV trên địa bàn huyện Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế thì các hoạt động này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
và chưa đồng đều giữa các đơn vị Một số HTX việc cung ứng dịch vụ đạt hiệu quả thấp, chủ yếu cung ứng vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, còn các dịch vụ quan trọng khác như làm đất, bảo quản, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức; việc tổ chức hoạt động trông chờ vào các cơ quan Nhà nước Không những thế, một bộ phận cán bộ chủ chốt của một số HTX hiện nay tư duy phát triển sản xuất- kinh doanh chưa
Trang 39theo kịp cơ chế thị trường; thiếu tính nhạy bén, năng động trong tổ chức, điều
hành sản xuất, kinh doanh [3] Ông LQH - Xã viên của HTX nông nghiệp xã Quế Phú phản ánh “Hoạt động của HTX nông nghiệp tại địa phương chúng
tôi trong những năm qua đã có những bước tiến mới, các loại hình dịch vụ được hợp tác xã thực hiện ngày càng phong phú; bên cạnh đó, HTX cũng tích cực phối hợp với địa phương trong phát triển kinh tế Tuy nhiên, xét về yêu cầu thì hoạt động của HTX chúng tôi vẫn chưa đáp ứng được do nguồn vốn,
cơ sở hạ tầng của HTX còn thấp; bên cạnh đó, nhận thức về HTX kiểu mới và Luật HTX của một bộ phận cán bộ cơ sở và nông dân chưa cao” [Phục lục 6]
Về xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả:
Với mục tiêu thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển, giúp các hộ dân có thêm cơ hội để cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, UBND huyện đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả Đây được xem là một bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác nhân rộng mô hình:
Mô hình cánh đồng IPM quy mô thôn: Huyện đã khảo sát và chọn xã Quế Châu và thị trấn Đông Phú để tổ chức thực hiện Kết quả cho thấy hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp đã được nâng cao đáng kể:
Mô hình IPM tại Quế Châu:
Qua kết quả triển khai thực hiện cho thấy, sản xuất lúa theo mô hình IPM lãi tăng hơn so với sản xuất đại trà là: 162.500 đồng/sào (tương ứng với 1ha = 3.250.000 đồng) Để có kết quả này là do tiết kiệm được chi phí đầu tư 75.500 đồng/sào, nhưng năng suất lúa cao hơn 87.000 đồng/sào
Trang 40Bảng 2.1 So sánh hiệu quả kinh tế giữa ruộng IPM và ruộng làm theo tập
quán cũ tại thôn 4, xã Quế Châu
Số lượng
III Lợi nhuận