1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

95 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 778,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cám ơn các bạn đã quan tâm đến tài liệu Nếu không thể thanh toán trực tiếp trên 123doc, các bạn có thể lựa chọn hình thức thanh toán bằng THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (sđtzalo của mình 0353.764.719 ) . hãy liên hệ sd9t , để được hỗ trợ tải tài liệu. Một lần nữa xin cám ơn các bạn. Chúc các bạn học tốt

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH THANH HÙNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH THANH HÙNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn

thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách phát

triển đô thị bền vững từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh” là

công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Danh Sơn Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Các tư liệu, trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung trên

Tác giả luận văn

Huỳnh Thanh Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 8

1.1 Các khái niệm 8

1.2 Tiêu chí đô thị bền vững 13

1.3 Chính sách phát triển đô thị theo hướng bền vững ở Việt Nam 16

1.4 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 22

1.5 Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 24

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28

2.1 Chủ trương và chính sách phát triển đô thị bền vững của thành phố Hồ Chí Minh 28

2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở quận Bình Tân thời gian qua 34

2.3 Kết quả đạt được và đánh giá 48

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆNCHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 63

3.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu phát triển đô thị bền vững quận Bình Tân 63

3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững quận Bình Tân thời gian tới 67

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PGS.TS Phó Giáo sư, Tiến sỹ

PPP Public – Private – Partnership (Mô hình đối tác công tư)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Phân loại đất theo mục đích sử dụng đất 35

Bảng 2.2 Phân loại đất theo đơn vị hành chính 36

Bảng 2.3 Quy mô dân số quận Bình Tân giai đoạn 2011 – 2017 38

Biểu 2.1 Tỷ trọng các ngành kinh tế quận giai đoạn 2011 – 2017 49

Biểu 2.2 Kết quả thu, chi ngân sách quận giai đoạn 2011 – 2017 49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam đã gắn kết với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đạt được nhiều kết quả quan trọng: hệ thống đô thị Việt Nam đã có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Theo số liệu thống kê của Cục phát triển đô thị (Bộ Xây dựng), tỷ lệ đô thị hóa tăng từ khoảng 19,6% với

629 đô thị năm 1999 lên khoảng 37,5% với 813 đô thị năm 2017, trong đó

có 02 đô thị đặc biệt (thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh), 19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV, 640 đô thị loại V

Đô thị hóa tăng nhanh tại các vùng kinh tế trọng điểm, vùng đô thị lớn phân

bố đồng đều hơn trên phạm vi cả nước Nhiều đô thị mới hình thành và phát triển, đô thị hiện hữu từng bước được nâng cấp cải tạo, mở rộng về quy mô đất đai, hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước thải, vệ sinh môi trường,…) và hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao,…),

bộ mặt đô thị đã có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại, đời sống dân cư đô thị từng bước được nâng cao

Cùng với xu thế phát triển đô thị chung của cả nước, quận Bình Tân là một đô thị trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh Trong những năm qua, quận Bình Tân đã thực hiện chủ trương phát triển kinh tế gắn với quy hoạch phát triển đô thị, giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội

và đã đạt được những kết quả tích cực Lãnh đạo quận Bình Tân luôn quan tâm coi trọng công tác quy hoạch phát triển đô thị nhằm hướng tới phát triển

đô thị bền vững, góp phần vào việc hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu xây dựng quận Bình Tân trở thành một quận “giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nghĩa tình”, một quận có môi trường đô thị văn minh, có thiên nhiên trong lành và đời

Trang 8

sống văn hóa cao; một trong những quận phát triển hài hòa, thân thiện Tuy nhiên, với đặc điểm là quận đô thị hóa, áp lực tăng dân số cơ học cao (từ 633.543 người năm 2013 tăng lên 729.367 người năm 2017), kèm theo đó là các nhu cầu về nhà ở, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, các dịch vụ tiện ích,… để phục vụ cho đời sống người dân đòi hỏi ngày càng cao, đây là một thách thức rất lớn đặt ra cho công tác quản lý phát triển đô thị của quận Mặc dù, quận Bình Tân hiện nay có nhiều khu đô thị mới đã và đang hình thành làm thay đổi diện mạo của quận, như: khu đô thị Lý Chiêu Hoàng, khu đô thị An Lạc – Bình Trị Đông, khu đô thị Nam Hùng Vương – Bắc Trần Văn Kiểu, khu đô thị Tên Lửa, khu đô thị dân cư mới Vĩnh Lộc,… Các khu đô thị mới này đã góp phần tích cực vào kết quả phát triển nhà ở mỗi năm, cũng như góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ đô thị, tạo lập môi trường đô thị hiện đại và giảm

áp lực cho khu vực nội đô của thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, nhìn chung các khu đô thị mới trên địa bàn quận Bình Tân vẫn chỉ là đáp ứng tức thời cho bài toán tăng quỹ đất ở, nhà ở, còn việc tạo lập một môi trường sống thực sự thì chưa thể đáp ứng nổi Và thực tế cũng còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong các đô thị Đó là tình trạng hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếu các tiện ích xã hội như: siêu thị, trường học, bệnh viện, công viên cây xanh, hệ thống giao thông công cộng, ô nhiễm môi trường nước, không khí, thu gom và xử lý rác thải, Đây là những biểu hiện của việc phát triển chưa thực sự bền vững Trong các nguyên nhân của tình trạng này có nguyên nhân

từ tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị theo hướng bền vững

Xuất phát từ thực tế phát triển đô thị ở quận Bình Tân, thành phố Hồ

Chí Minh học viên lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển đô thị

bền vững từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh” để làm

luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính sách phát triển đô thị bền vững là chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm với tiếp cận theo những góc độ khác nhau Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:

- Vụ Quản lý Kiến trúc Quy hoạch - Bộ Xây dựng (1998): Định hướng

quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020, Nxb Xây dựng,

Hà Nội

- Nguyễn Thế Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân (Chủ biên) (2002), Phát

triển đô thị bền vững, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội

- Đào Hoàng Tuấn (2008), Phát triển bền vững đô thị: Những vấn đề lý

luận và kinh nghiệm của thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

- Lê Hồng Kế và các cộng sự (2006), Phân tích những tác động của

chính sách đô thị hóa đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Lao

động xã hội, Hà Nội

- Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Phát triển bền vững ở

Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng, Nxb Lao động - xã

hội, Hà Nội

- Phạm Thị Bích Yên (2011), Đô thị hóa Việt Nam trong quá trình công

nghiệp hóa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011

- Lê Thanh Sang (Chủ biên) (2017), Đô thị hóa và phát triển bền vững

vùng Nam Bộ: lý luận, thực tiễn và đối thoại chính sách (kỷ yếu hội thảo Khoa học Quốc gia),Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

Các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đã phản ánh rất nhiều góc

độ khác nhau về tình hình quản lý quy hoạch phát triển đô thị cả nước nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Đặc biệt đã phản ánh sự cấp thiết cần có cơ chế, chính sách, giải pháp giải quyết vấn đề quản lý quy hoạch phát triển đô thị trong tiến trình tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội tại các

Trang 10

địa phương trong cả nước, đặc biệt là tại các đô thị lớn Mặc dù các nghiên cứu này các tác giả đã phản ánh tình trạng cấp thiết về quản lý quy hoạch phát triển đô thị và đề xuất được những giải pháp để ổn định đời sống của người dân trong tiến trình đô thị hoá và phát triển đô thị, nhưng về chính sách phát triển đô thị lớn, đặc biệt như thành phố Hồ Chí Minh, thì còn rất nhiều vấn đề đặt ra cả về tính chất đặc thù và cả về tổ chức thực hiện các đặc thù của chính sách phát triển đô thị trong bối cảnh mới hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các khái niệm về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, trong đó xác định tất yếu, các yếu tố cùng các tiêu chí đô thị bền vững mà chính sách phát triển đô thị hướng tới trong tổ chức thực hiện

- Vận dụng lý luận về chính sách công để nghiên cứu thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững qua thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu cùng nguyên nhân trong

tổ chức thực hiện chính sách

- Nghiên cứu đưa ra giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn quận Bình Tân, phù hợp với điều kiện thực tế đáp ứng nhu cầu phát triển, cũng như yêu cầu và vị trí, vai trò của quận

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề có liên quan đến thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở địa bàn cấp quận

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi thời gian: giai đoạn 2011 – 2017, trong đó 2011 là năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm (2011-2015) phát triển đô thị của quận Bình Tân cũng như của thành phố Hồ Chí Minh; và 2017 là năm có số liệu thống kê mới nhất cho đến thời điểm thực hiện luận văn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu, số liệu: Hệ thống tài liệu là

cơ sở quan trọng giúp cho việc hình thành và hoàn thiện cơ sở lý luận cũng như những nghiên cứu, phân tích cụ thể về lịch sử phát triển, sự biến đổi và phát triển của đô thị ở quận Bình Tân theo thời gian Hệ thống tài liệu thu thập được bao gồm: tài liệu liên quan đến lịch sử phát triển của quận Bình Tân, tài liệu về các văn kiện, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên

Trang 12

quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển đô thị bền vững

ở nước ta nói chung và thực tế quận Bình Tân nói riêng

- Phương pháp thống kê và so sánh: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm xử lý các số liệu thống kê đã thu thập được để phân tích đặc điểm của quá trình thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững khu vực nghiên cứu

- Phương pháp phân tích chính sách công, bao gồm kỹ thuật phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, từ đó tìm ra các vấn đề và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp thực địa: Khảo sát tình hình thực tế tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Bình Tân nhằm kiểm định và thu thập thêm thông tin

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở cấp quận trong bối cảnh mới (đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng phó với biến đổi khí hậu)

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp những chứng cứ thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tế quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh cùng các vấn đề được phát hiện cũng như các giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện chính sách

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 3 chương sau:

Trang 13

- Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam

- Chương 2: Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

- Chương 3: Một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Chính sách công và thực hiện chính sách công

- Chính sách công thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, do

đó khái niệm về chính sách công phụ thuộc nhiều vào bản chất của nhà nước Cho đến nay, một số nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các quan niệm

và định nghĩa về chính sách công như sau:

+ Theo James Anderson: “Chính sách công là một quá trình hành động

có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”

+ Thomas R Dye thì cho rằng “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” Đây là định nghĩa ngắn gọn, được nhiều học giả tán thành, nó phản ánh được nội hàm cơ bản của chính sách công

+ PGS.TS Lê Chi Mai cho rằng “Chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau”

+ Theo PGS.TS Đỗ Phú Hải nêu ra định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để “lựa chọn” mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”

Trang 15

Khái niệm chính sách công được sử dụng chính thức hiện nay được xác định tại Nghị định của Chính phủ số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy

phạm pháp luật, là “định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề

của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định” (Điều 3)

Từ những khái niệm trên ta thấy rằng bản chất của chính sách là công

cụ để Nhà nước tác động, điều chỉnh các hoạt động và hành vi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội hướng tới các mục tiêu phát triển

- Thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính

sách công, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng Tổ chức thực hiện chính sách là để thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực nên không thể cùng một lúc giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt và việc thực hiện chính sách công giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu chung, từ đó có thể giải quyết các vấn đề đặt ra

Thực hiện chính sách công có nghĩa là chính sách công được thực thi triển khai rộng rãi trong đời sống xã hội và đem lại kết quả mong muốn Kết quả này càng nhiều thì chính sách và thực hiện chính sách càng có hiệu quả

và ngược lại

1.1.2 Đô thị và phát triển đô thị bền vững

- Đô thị là một hình thức quần cư đặc biệt của xã hội loài người Đô thị

được hình thành là điểm tập trung dân cư, tài sản và có vai trò thúc đẩy sự

phát triển kinh tế, xã hội của một vùng nhất định [26] Từ hoàn cảnh, cuộc

sống thực tế, phong tục tập quán, nhận thức về xã hội khác nhau ở mỗi quốc gia trên thế giới mà định nghĩa, quan niệm về đô thị ở các nước cũng có những điểm khác biệt

Trang 16

Các quốc gia Châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, dùng ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố

để quyết định ranh giới của đô thị Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất Ngoài tiêu chí sử dụng đất thì đô thị còn

có điều kiện là mật độ dân số nhất định nào đó và đa phần dân số không hành nghề nông nghiệp hay đánh cá Tại Ba Lan thì định nghĩa chính thức về “đô thị” khá đơn giản, nó được hiểu là các địa phương có danh xưng là thị trấn, thành phố; vùng “nông thôn” là những vùng nằm ngoài ranh giới của các thị

trấn này.[30]

Ở Châu Mỹ mà cụ thể là nước Mỹ thì lại có khái niệm về khu đô thị,

cụ thể là có hai loại khu đô thị: một loại để chỉ các khu có trên 50.000 dân trở lên là urbanized area và một loại có dân số dưới 50.000 gọi là urban cluster Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa một khu đô thị như “những cụm thống kê cốt lõi có mật độ dân số ít nhất là 1.000 người trên một dặm vuông Anh và những cụm thống kê xung quanh nó có tổng mật độ dân số ít nhất là

500 người trên một dặm vuông” Tại Nhật Bản, đô thị được định nghĩa là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc, trong đó mật độ dân số phải

trên 4.000 người trên một cây số vuông.[30]

Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm đô thị đã được luật hóa trong Luật

Quy hoạch đô thị năm 2015 Theo đó, đô thị được định nghĩa: “Đô thị là khu

vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”

Ngày nay, đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức

Trang 17

năng về hành chính hoặc thương mại, mà đô thị đã trở thành một không gian

cư trú của dân cư, là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đóng vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc về một số mặt: hành chính, kinh

tế - xã hội của một vùng hoặc quốc gia, biểu hiện của nó là sự tập trung dân

cư với mật độ cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm

ưu thế, có cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại

- Phát triển bền vững: Lần đầu tiên, năm 1987, trong báo cáo “Tương

lai của chúng ta” Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) do

cựu thủ tướng Na Uy, Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch đã đưa ra ý tưởng

và khái niệm về phát triển bền vững Đó là“Những thế hệ hiện tại cần đáp

ứng các nhu cầu của mình, mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế

hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ” [38]

Tiếp theo sau đó, nhiều định nghĩa khác nhau lần lượt ra đời như:

+ Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) có đưa ra định

nghĩa:“Phát triển bền vững là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của

nhân loại trong phạm vi đáp ứng được của các hệ sinh thái” [38]

+ Ngân hàng thế giới –WB cho rằng:“Phát triển bền vững chính là sự duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người về mặt xã hội, kinh

tế, môi trường trong giới hạn khả năng chịu tải của các hệ sinh thái dịch vụ

và cơ sở tài nguyên của môi trường, nghĩa là vẫn đảm bảo tính bền vững của môi trường” [38]

+ Theo H.Barton, International Institute for environmental and

development – IIED:“Phát triển bền vững là một quá trình dàn xếp, thỏa hiệp

giữa các hệ thống kinh tế, tự nhiên và xã hội”, tức là phát triển bền vững phải đảm bảo 3 mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường hài hòa với nhau” [38]

+ Và theo Luật Bảo vệ môi trường 2014 của nước ta:“Phát triển bền

vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại

Trang 18

đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”

Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, về bản chất, phát triển bền vững là một quá trình biến đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm tạo ra sự tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người mà không làm tổn hại đến hệ các sinh thái và môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai Tổng quát hơn, phát triển bền vững chính là một quá trình liên tục cân bằng và hòa nhập các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Nó đảm bảo sự trường tồn của nhân loại Chính vì vậy, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược cho toàn cầu, cho từng quốc gia, cho từng khu vực, vùng đô thị, cũng như cho từng đô thị

- Phát triển đô thị bền vững: khái niệm về phát triển đô thị bền vững

phải xuất phát từ quan điểm tổng hòa phát triển các lĩnh vực trụ cột của đô thị (kinh tế, xã hội, môi trường), cân bằng các hệ sinh thái và bảo đảm cho mọi tổ chức liên kết hữu cơ về không gian các chức năng hoạt động của đô thị, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội; có mối quan hệ chặt chẽ giữa đô thị - nông thôn, nhất là với khu vực ven đô

Trên cơ sở nguyên lý phát triển bền vững, các nhà nghiên cứu và quản

lý về phát triển đô thị đều cho rằng khái niệm phát triển đô thị bền vững có thể được hiểu là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa các nhân tố cấu thành đô thị như một chỉnh thể, là: kinh tế đô thị, văn hóa - xã hội đô thị, môi trường - sinh thái đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị và quản lý đô thị

Hiện nay dưới tác động của biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp thế hệ mới 4.0, các nhà nghiên cứu và quản lý về phát triển đô thị còn đưa ra khái niệm phát triển đô thị/thành phố xanh (green city) và đô thị/thành phố

Trang 19

thông minh (smart city) Thực chất đô thị/thành phố xanh cũng là đô thị/thành phố bền vững được gắn với ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu; còn thực chất đô thị/thành phố thông minh cũng là đô thị/thành phố bền vững được gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để quản lý, nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống đô thị, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền thành phố và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên

1.1.3 Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững: là toàn bộ quá

trình hoạt động của các chủ thể bằng nhiều cách thức khác nhau tác động vào đối tượng quản lý nhằm hiện thực hóa các quyết định có liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững, với các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công

cụ chính sách theo định hướng của Đảng và Nhà nước

1.2 Tiêu chí đô thị bền vững

1.2.1 Tiêu chí đô thị bền vững của thế giới

Tùy thuộc vào bối cảnh phát triển quốc gia, khu vực mà các nước xác định cho mình các tiêu chí đô thị bền vững

Trong dự án đô thị bền vững ở châu Âu do Viện Môi trường Đô thị Quốc tế điều phối với sự tham gia của 12 thành phố: Aalborg (Đan Mạch), Amsterdam, Breda và DenHaag hay Hague (Hà Lan), Angers (Pháp), Brussels (Bỉ), Freiburg và Hannover, Leipzig (Đức), Leicester (Anh), Temi (Italia), Valencia (Tây Ban Nha) Dự án được thực hiện bởi sự tài trợ của ủy ban châu Âu với mục đích là phát triển một hệ thống các chỉ tiêu có thể đo

được chung cho các thành phố toàn châu Âu [52] Kết quả của 5 năm thực

hiện khảo sát và đánh giá (1985-1990), đã xây dựng được 10 chỉ tiêu cốt lõi bao hàm các nội dung bền vững sau đây cho hệ thống đô thị châu Âu:

(1) Môi trường trong lành, được đánh giá bằng số ngày trong năm có chất lượng không khí không vượt quá tiêu chuẩn địa phương

Trang 20

(2) Không gian xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số người đến được với vườn cây xanh ở khoảng cách nhất định

(3) Sử dụng hiệu quả tài nguyên, được đánh giá bằng toàn bộ năng lượng; nước tiêu thụ; phế thải đem loại bỏ (không kể số phế thải được tái chế hay sử dụng lại) tính theo đầu người trong một năm Tỷ lệ giữa các nguồn năng lượng có thể tái sinh và không tái sinh

(4) Chất lượng môi trường tin cậy, được tính bằng tỷ lệ không gian mở cho diện tích được dùng ô tô

(5) Khả năng đi lại, được tính bằng số kilomét đi bằng phương tiện giao thông (ô tô, xe đạp, vận tải công cộng…) tính theo đầu người trong một năm

(6) Nền kinh tế xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số công ty đã kết hợp các phương pháp kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS) hoặc các phương pháp tương tự

(7) Độ trường tồn, được đánh giá bằng số các hoạt động hoặc phương tiện văn hoá và xã hội (danh mục này còn đang được bổ sung)

(8) Sự tham gia của cộng đồng, được xác định thông qua số các nhóm hoặc tổ chức tình nguyện tính trên 1.000 dân và ước chừng số thành viên

(9) Công bằng xã hội, được phản ánh qua tỷ lệ phần trăm số người sống dưới mức nghèo khổ, và tỷ lệ số người không được tiếp cận tới những dịch vụ

cơ bản của đô thị như nhà ở, việc làm, độ ổn định của thu nhập, hưởng chăm sóc y tế, giáo dục chính quy…

(10) Phúc lợi, được đánh giá thông qua việc khảo sát sự thoả mãn của các công dân về chất lượng đời sống (nội dung khảo sát được địa phương quyết định)

Trên cơ sở những chỉ tiêu cốt lõi, các thành phố dựa vào đặc điểm địa phương của mình mà bổ sung thêm những chỉ tiêu cơ bản, dựa vào điều kiện

Trang 21

vùng mà bổ sung những chỉ tiêu đặc trưng vùng để hoàn thiện chỉ tiêu đô thị

bền vững cho từng đô thị cụ thể

1.2.2 Tiêu chí đô thị bền vững ở Việt Nam

Các nhà nghiên cứu và quản lý phát triển đô thị trên thế giới đã đề xuất xây dựng các tiêu chí đô thị bền vững Theo một tổng quan nghiên cứu đăng trên tạp chí Kiến trúc “Tích hợp hệ thống tiêu chí đô thị bền vững trong quy hoạch đô

thị tại Thành phố Hồ Chí Minh”

(https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen- quy-hoach-do-thi-tai-thanh-pho-ho-chi-minh.html) thì các tiêu chí đô thị bền

muc/phat-trien-ben-vung/tich-hop-he-thong-tieu-chi-do-thi-ben-vung-trong-vững của Chương trình “Thiên niên kỷ XXI” Liên Hiệp Quốc gồm 10 nhóm

tiêu chí bền vững trong quá trình đô thị hóa; của Ngân hàng thế giới (World

Bank) gồm 4 nhóm tiêu chí Bộ Xây dựng Việt Nam xác định 6 nhóm tiêu chí

đánh giá “Đô thị kiểu mẫu” (tại Thông tư số 15/2008/TT-BXD ngày

17/6/2008 hướng dẫn về việc đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu)

Thành phố Hồ Chí Minh đang nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chí xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh hiện đại, theo nghĩa là một thành phố xanh,

sạch, thông minh, phát triển theo hướng bền vững

Nhìn chung, cũng theo khái quát của nghiên cứu tổng quan trên, bộ tiêu chí đô thị bền vững gồm các nhóm thuộc tính sau:

- Nhóm thuộc tính về đô thị lành mạnh;

- Nhóm thuộc tính về đô thị hấp dẫn;

- Nhóm thuộc tính về đô thị an toàn;

- Nhóm thuộc tính về đô thị hiệu quả, công bằng

Chi tiết các tiêu chí trong từng nhóm nêu tại Phụ lục Ở Việt Nam chưa

xây dựng bộ tiêu chí đô thị bền vững, mà mới có bộ tiêu chí đánh giá “khu đô thị mới kiểu mẫu” (tại Thông tư của Bộ Xây dựng số 15/2008/TT-BXD nêu

Trang 22

trên) Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, theo tác giả luận văn, có thể vận dụng

bộ tiêu chí đô thị bền vững nêu tại Phụ lục

1.3 Chính sách phát triển đô thị theo hướng bền vững ở Việt Nam

1.3.1 Quan điểm

Theo Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ thì việc hình thành và phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025

và tầm nhìn đến năm 2050 phải dựa trên các quan điểm:

- Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển lực lượng sản xuất, với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam;

- Phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng Coi trọng mối liên kết đô thị - nông thôn, bảo đảm chiến lược an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng đô thị, bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp từng giai đoạn phát triển chung của đất nước;

- Phát triển ổn định, bền vững, trên cơ sở tổ chức không gian phù hợp,

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tiết kiệm năng lượng; bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái;

- Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật với cấp độ thích hợp hoặc hiện đại, theo yêu cầu khai thác, sử dụng và chiến lược phát triển của mỗi đô thị;

- Kết hợp chặt chẽ với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng và an toàn xã hội; đối với các đô thị ven biển, hải đảo và dọc hàng lang biên giới phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đề ra mục tiêu phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 là: “Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới đô

Trang 23

thị; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh

tế - xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc”

1.3.2 Chính sách quốc gia

1.3.2.1 Những định hướng chính sách

Việc phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 có các định hướng sau:

* Xác định rõ chức năng của từng loại đô thị trong hệ thống đô thị cả nước

- Các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh phải giữ được vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị xã hội, đào tạo kỹ thuật và là đầu mối giao thông trong vùng, cả nước và quốc tế, có cơ sở kinh tế theo hướng dịch vụ và công nghiệp

- Các đô thị vừa và nhỏ phải giữ được vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, dịch vụ của khu vực, có cơ sở kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ và du lịch

- Bên cạnh đó trong quá trình phát triển đô thị hiện nay các thị trấn, thị

tứ là trung tâm kinh tế, văn hóa và dịch vụ cho mỗi xã và cụm xã, nhằm đẩy mạnh đô thị hóa ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới Từ nay đến năm

2015 ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn và các khu kinh tế tổng hợp đóng vai trò là cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia; từ năm 2015 đến 2025 ưu tiên phát triển các vùng đô thị hóa cơ bản, giảm thiểu sự phát triển phân tán, cục bộ; giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2050 chuyển dần sang phát triển theo mạng lưới đô thị

* Định hướng mức tăng trưởng đô thị

Trang 24

- Năm 2015, dự báo dân số đô thị cả nước khoảng 35 triệu người, chiếm 38% dân số cả nước; năm 2020, dân số ở các đô thị khoảng 44 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước; năm 2025, dân số ở các đô thị khoảng 52 triệu người, chiếm 50% dân số cả nước

- Năm 2015, tổng số đô thị trong cả nước khoảng trên 870, trong đó đô thị đặc biệt là 02; loại I là 09; loại II là 23; loại III là 65, loại IV là 79 và loại

V là 687 đô thị Năm 2025, tổng số đô thị trong cả nước khoảng 1000 đô thị, trong đó đô thị loại I đến đặc biệt là 17; loại II là 20; loại III là 81, loại IV là

122, còn lại là đô thị loại V

* Định hướng về nhu cầu sử dụng đất đô thị

Dự báo đến năm 2015, nhu cầu đất xây dựng đô thị khoảng 335.000 ha, chiếm 1,06% diện tích tự nhiên cả nước, chỉ tiêu trung bình là 95m2/người Năm 2055, nhu cầu đất xây dựng đô thị khoảng 450.000 ha, chiếm 1,4% diện tích tự nhiên cả nước, chỉ tiêu trung bình là 85m2/người

* Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị

- Tại các đô thị lớn, cực lớn (đô thị đặc biệt, đô thị loại I và II) có tỷ lệ đất giao thông chiếm từ 20% - 26% đất xây dựng đô thị, các đô thị trung bình

và nhỏ (đô thị loại III trở lên) chiếm từ 15% - 20% đất xây dựng đô thị; tỷ lệ vận tải hành khách công cộng ở các đô thị lớn đạt trên 35% vào năm 2015 và trên 50% vào năm 2025

- Năm 2015 đạt trên 80%, năm 2025 trên 90% dân số đô thị được cấp nước sạch; 100% các đô thị được cấp điện sinh hoạt vào năm 2015; trên 80% các tuyến phố chính đô thị được chiếu sáng và trên 50% được chiếu sáng cảnh quan vào năm 2025; bảo đảm nước thải và chất thải rắn đô thị được thu gom

và xử lý triệt để đạt tiêu chuẩn theo quy định

- Cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị và hội nhập kinh tế quốc tế; năm 2015 đạt trên

Trang 25

80% và năm 2025 đạt 100% chính quyền các đô thị từ loại III trở lên áp dụng chính quyền đô thị điện tử, công dân đô thị điện tử

1.3.2.2 Các chính sách quản lý phát triển đô thị vững

Trên cơ sở những định hướng về phát triển đô thị ở Việt Nam, Chính phủ đã xác định chính sách quản lý phát triển đô thị Việt Nam theo hướng bền vững, trong đó các quy định chính sách cụ thể dựa trên các căn cứ pháp lý cơ bản tại Luật Quy hoạch đô thị (ban hành năm 2015) và Luật Xây dựng (ban hành năm 2014) Các văn bản quy phạm pháp luật dưới các luật này được ban hành dưới dạng nghị định, thông tư, quyết định của Chính phủ và các bộ ngành theo thẩm quyền cũng như quyết định của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cụ thể hóa chính sách quốc gia phù hợp với điều kiện địa phương Trên cơ sở Luật Quy hoạch đô thị, Chính phủ cũng đã ban hành Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 – 2020 (tại Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 7/11/2012)

Chính sách phát triển đô thị theo hướng bền vững ở nước ta bao gồm

các nội dung cơ bản sau:

* Tăng cường năng lực của bộ máy quản lý đô thị, đổi mới cơ chế, chính sách phát triển và quản lý đô thị

- Đổi mới cơ chế, chính sách phát triển đô thị trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý quy hoạch, quản lý nhà, đất; quản lý đầu tư xây dựng, quản

lý khai thác sử dụng công trình đô thị, tạo ra sự thay đổi cơ bản đối với hệ thống đô thị cả nước

- Nâng cao vai trò chức năng và quyền hạn của các Bộ, ngành và địa phương trong tổ chức, thực hiện, quản lý phát triển đô thị Tăng cường phân cấp quản lý đô thị; nâng cao quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền đô thị các cấp

* Tạo vốn phát triển cơ sở hạ tầng đô thị

Trang 26

- Hình thành hệ thống quỹ đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, mở rộng nguồn thu và phương thức thu tại các đô thị; xây dựng cơ chế phát triển hạ tầng đô thị bằng nhiều nguồn vốn, theo hướng khuyến khích sự tham gia của các khu vực ngoài nhà nước

- Đổi mới công tác quản lý đất đai và phát triển thị trường bất động sản; tiếp tục hoàn chỉnh và đổi mới chính sách về nhà và đất đô thị để ổn định đời sống và tạo nguồn lực phát triển đô thị

- Huy động tối đa các nguồn vốn trong nước và nước ngoài thông qua các biện pháp: xây dựng nhà để bán và cho thuê, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư vốn để xây dựng công trình phúc lợi công cộng

- Thực hiện thu phí sử dụng cơ sở hạ tầng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tranh thủ sự viện trợ và vốn vay của nước ngoài, khuyến khích người nước ngoài đầu tư trực tiếp hoặc chuyển giao công nghệ

* Phát triển nhà và sử dụng đất đô thị

- Xây dựng chiến lược phát triển nhà ở, xây dựng nhà ở đô thị, bổ sung hoàn thiện một số cơ chế, chính sách, tạo điều kiện phát triển nhà ở Phát triển nhà ở đô thị, phấn đấu đến năm 2015 bình quân đạt trên 15m2/người; năm

2025 đạt bình quân 20m2/người

- Thực hiện Luật đất đai và các văn bản pháp luật về đất đai, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng Sửa đổi bổ sung hoàn thiện hệ thống các văn bản quản lý và sử dụng đất đô thị

- Xây dựng Luật về nhà ở, đất đô thị nhằm tăng cường quản lý sử dụng đất đô thị, hoàn chỉnh chính sách, cơ chế đền bù, xây dựng khu tái định cư

* Quy hoạch và kiến trúc đô thị

- Tổng thể kiến trúc cảnh quan của mỗi vùng và đô thị phải có bản sắc riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế, tự nhiên, dân số - xã hội, trình độ khoa học, kỹ thuật, truyền thống văn hóa lịch sử của địa phương và các yêu cầu

Trang 27

phát triển mới Tổng thể kiến trúc của mỗi đô thị phải kết hợp hài hòa giữa cải tạo với xây dựng mới; đổi mới môi trường văn hóa kiến trúc truyền thống

- Hình thành bộ mặt kiến trúc cảnh quan đô thị mới hiện đại, có bản sắc, góp phần tạo nên hình ảnh đô thị tương xứng với tầm vóc đất nước của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đẩy mạnh công tác thiết kế đô thị nhằm nâng cao chất lượng không gian, chất lượng kiến trúc cảnh quan cho từng đô thị nói chung, không gian các khu vực trung tâm, các tuyến phố chính đô thị nói riêng

- Đặc biệt quan tâm đến kiến trúc các đô thị là trung tâm cấp quốc gia, khu vực và quốc tế như: Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; bảo vệ, tôn tạo kiến trúc cảnh quan tại các đô thị di sản, đô thị đặc thù như Huế, Hội An,

Đà Lạt, Sa Pa; các khu phố cổ, phố cũ; các di sản lịch sử, văn hóa và các công trình kiến trúc cảnh quan có giá trị…

* Bảo vệ môi trường đô thị

Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường Các đô thị cần xây dựng các quy định về xử phạt hành chính và thu thuế hoặc lệ phí bảo vệ môi trường, xây dựng chính sách lao động công ích, huy động sự đóng góp của cộng đồng dân cư vào việc bảo đảm vệ sinh đô thị

Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái

đô thị Xác định, bảo vệ và duy trì hệ khung thiên nhiên gồm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, hệ thống vườn quốc gia, cây xanh mặt nước v.v gắn với đặc điểm của điều kiện tự nhiên trong từng vùng và trong mỗi đô thị Khai thác và

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tiết kiệm năng lượng, nguồn nước, khoáng sản, rừng, v.v…vào mục đích cải tạo và xây dựng đô thị

Trang 28

1.4 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là toàn bộ

quá trình triển khai đưa chính sách đi vào cuộc sống, gồm các bước như sau:

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là quá trình phức tạp, diễn ra trong thời gian dài, vì vậy chúng cần phải được lập

kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động, toàn diện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Trong kế hoạch triển khai thực hiện chính sách cần phải xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ kế hoạch tổ chức, điều hành,

có phân kỳ thời gian cụ thể Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách từ

Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa đối với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn,tính khả thi của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định để họ tự giác thực hiện

theo yêu cầu quản lý của nhà nước

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Trang 29

Chính sách phát triển đô thị bền vững được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, vì vậy số lượng tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện chính sách là rất lớn Các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra cũng hết sức phong phú, đa dạng, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Do đó, để tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục

tiêu chính sách

1.4.4 Duy trì chính sách phát triển đô thị bền vững

Việc duy trì chính sách phát triển đô thị bền vững là hoạt động bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy được tác dụng trong thực tế Nếu gặp phải khó khăn do môi trường biến động thì các cơ quan nhà nước cần sử dụng các công cụ quản lý để tác động tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính

sách diễn ra thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả

1.4.5 Điều chỉnh chính sách phát triển đô thị bền vững

Hoạt động điều chỉnh chính sách phát triển đô thị bền vững là đều cần thiết trong thực tiễn, bởi quá trình hoạch định chính sách, các chủ thể có thẩm quyền không thể lường trước được hết những khó khăn, trở ngại và những bất cập trong thực tiễn Với tốc độ đô thị hóa hiện nay ở Việt Nam, đòi hỏi việc đánh giá thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững cần được thực hiện thường xuyên và theo định kỳ Việc điều chỉnh, bổ sung chính sách phát triển

đô thị bền vững phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách xem xét, quyết định; tuy nhiên chỉ có thể điều chỉnh biện pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung khác, nhưng không được làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu

thay đổi mục tiêu coi như chính sách thất bại

Trang 30

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển

đô thị bền vững

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách Đây là hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ quản lý làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong tổ chức thực hiện các

biện pháp theo định hướng chính sách đã đề ra

1.4.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Chính sách phát triển đô thị bền vững phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó, chủ thể quản lý có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực hiện chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách, đồng thời xem xét, đánh giá việc thực hiện của đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp

từ chính sách

1.5 Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

1.5.1 Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Chính sách phát triển đô thị bền vững là một trong những công cụ quản

lý của Nhà nước để điều hành hoạt động phát triển đô thị Vì vậy, chủ thể ban hành chính sách phát triển đô thị bền vững là Nhà nước, cụ thể là các cơ quan

có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước, đồng thời các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền

Trang 31

vững và đặc biệt là có sự tham gia của các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư là những đối tượng thực hiện chính sách Người dân vừa là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách

* Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Với tư cách là chủ thể ban hành

chính sách đồng thời là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững bao gồm các cơ quan Nhà nước như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các Bộ có liên quan (như: Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư), Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương

Từng cơ quan Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về

đô thị khác nhau theo phân cấp, cụ thể như sau:

- Ở cấp Trung ương:

+ Quốc hội (Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường): có chức năng, nhiệm vụ giám sát việc thực hiện Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ; giám sát hoạt động của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

+ Chính phủ: Là cơ quan thống nhất quản lý phát triển đô thị trong phạm vi cả nước; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách cụ thể để quản lý điều hành đảm bảo phát triển đô thị bền vững

+ Bộ Xây dựng: Là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển đô thị (quy hoạch, xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu

tư xây dựng; phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị; ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách phát triển đô thị,….)

Trang 32

+ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ: có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về phát triển đô thị trong ngành, lĩnh vực theo sự phân công của Chính phủ

về phát triển đô thị trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

* Đối với doanh nghiệp, cộng đồng dân cư: Đây là đối tượng thực hiện

quan trọng của chính sách, quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách Sự tham gia của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững với nhiều nội dung ở các lĩnh vực khác nhau, trong đó thể hiện rõ nét nhất đó là tham gia đóng góp nguồn lực tài chính để đầu tư các dự án về nhà ở, khu đô thị mới, cải tạo kiến trúc cảnh quan đô thị, đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, đảm bảo vệ sinh môi trường đô thị,… Đồng thời, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư cũng chính là người thụ hưởng những lợi ích từ chính sách phát triển đô thị bền vững mang lại

1.5.2 Các bên liên quan khác trong thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

Ngoài các chủ thể trên, quá trình thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững còn có sự tham gia phối hợp của hệ thống các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên,

tổ chức Công Đoàn,… Tùy theo chức năng, nhiệm vụ, điều lệ, quy chế của

Trang 33

từng tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội mà có sự tham gia phối hợp thực hiện chính sách phát triển đô thị ở từng lĩnh vực khác nhau, trong đó có thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội, chủ động góp ý giúp cơ quan nhà nước

có thẩm quyền kịp thời kiểm chứng lại chính mình để công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân và hiện thực hóa

được mục tiêu chính sách đã đề ra

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đã phân tích, hệ thống hóa các khái niệm cơ bản

về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam, trong đó học viên đã nghiên cứu, phân tích đưa ra các khái niệm về đô thị, phát triển đô thị bền vững, chính sách phát triển đô thị bền vững, các tiêu chí về xây dựng đô thị bền vững, xác định nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển

đô thị bền vững Trong chương này, học viên cũng đã nghiên cứu, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển đô thị

và các quan điểm, mục tiêu, định hướng cùng nội dung cơ bản của chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Chủ trương và chính sách phát triển đô thị bền vững của thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Chủ trương phát triển đô thị bền vững của thành phố Hồ Chí Minh và quận Bình Tân

Việc thực hiện chính sách phát triển đô thị hướng đến mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ được các cấp ủy, chính quyền của thành phố Hồ Chí Minh và quận Bình Tân hết sức quan tâm và đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để tổ chức thực hiện trong thời gian qua Cụ thể trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra chủ trương phát triển đô thị bền vững là: Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, thiết kế đô thị, quản lý quy hoạch - kiến trúc, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quản lý đô thị Có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu đô thị mới (Thủ Thiêm, Tây Bắc, Cảng Hiệp Phước) và các chương trình đột phá để giải quyết vấn đề bố trí dân cư và nhà ở cho nhân dân, giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường, gắn với mục tiêu kiểm soát quy mô dân số khoảng 10 triệu người Nâng cao chất lượng các dịch vụ đô thị theo hướng xã hội hóa Chủ động phối hợp với các bộ - ngành Trung ương và các địa phương liên quan xây dựng hệ thống đường sắt đô thị, phát triển đường vành đai, đường trên cao, đường cao tốc, luồng tàu đường biển, đường sông; cấp nước, thoát nước, chống ngập, xử lý chất thải, hạ tầng năng lượng và hạ tầng viễn thông kết

Trang 35

nối với kết cấu hạ tầng các tỉnh trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long, Nam Tây Nguyên Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; hỗ trợ nhà ở, việc làm và các điều kiện sinh sống cho dân cư các địa bàn đô thị hóa Tiếp tục phát huy và mở rộng các hình thức xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng Khai thác có hiệu quả quỹ đất đô thị để tạo nguồn vốn đầu tư Tăng cường quản lý ao, hồ, kênh, rạch, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng và hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu

và nước biển dâng

Đối với quận Bình Tân, tại Đại hội Đảng bộ quận lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra Nghị quyết xác định chủ trương về thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trong giai đoạn 2011-2015 là: “Ưu tiên đầu tư phát triển đô thị với cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hướng văn minh, hiện đại; công tác

vệ sinh môi trường phải được đảm bảo nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn quận”

2.1.2 Các văn bản chính sách về phát triển đô thị bền vững của thành phố Hồ Chí Minh và quận Bình Tân

Trên cơ sở thể chế hóa và cụ thể hóa hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển đô thị bền vững quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quận Bình Tân đã ban hành các văn bản quản lý sau:

* Văn bản của thành phố

- Chương trình hành động số 09-CTr/TU ngày 16/3/2011 của Thành

ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2015;

- Chương trình hành động số 10-CTr/TU ngày 16/3/2011 của Thành

ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành

Trang 36

phố lần thứ IX về Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị giai đoạn 2011 - 2015;

- Chương trình hành động số 11-CTr/TU ngày 16/3/2011 của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình

hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành phố giai đoạn 2011-2015;

- Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 16/3/2011 của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011 - 2015;

- Chương trình hành động số 13-CTrHĐ/TU ngày 16/3/2011của Thành

ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ngập nước giai đoạn 2011 - 2015;

- Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 16/3/2011của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2011-2015;

- Quyết định số 6012/QĐ-UBND ngày 26/11/2012 của UBND thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt đồ án quy hoạch chung xây dựng quận Bình Tân đến năm 2020;

- Quyết định số 3301/QĐ-UBND ngày 28/6/2014 của UBND thành phố

Hồ Chí Minh về phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch

sử dụng đất 5 năm (2011-2015) quận Bình Tân;

* Văn bản của quận Bình Tân

- Chương trình hành động số 09-CTr/QU ngày 13/5/2011 của Quận

ủy Bình Tân thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015 về công tác vận động nhân dân;

Trang 37

- Chương trình hành động số 10-CTr/QU ngày 13/5/2011 của Quận

ủy Bình Tân thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015 về lĩnh vực văn hóa - xã hội;

- Chương trình hành động số 11-CTr/QU ngày 08/6/2011 của Quận

ủy Bình Tân thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015 về lĩnh vực kinh tế;

- Chương trình hành động số 12-CTr/QU ngày 08/6/2011 của Quận

ủy Bình Tân thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015 về lĩnh vực quản lý và phát triển đô thị giai đoạn 2011-2015;

- Chương trình hành động số 13-CTr/QU ngày 12/7/2011 của Quận

ủy Bình Tân thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015 về quốc phòng - an ninh;

- Quyết định số 7417/QĐ-UBND ngày 29/6/2009 của UBND quận Bình Tân về phê duyệt Quy hoạch chi tiết mạng lưới trường học quận Bình Tân giai đoạn 2010-2020;

- Quyết định số 15662/QĐ-UBND ngày 30/12/2014 của UBND quận

về phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở vật chất ngành y tế trên địa bàn quận Bình Tân đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025;

- Quyết định số 13203/QĐ-UBND ngày 30/9/2014 của UBND quận Bình Tân về phê duyệt đồ án Quy hoạch mạng lưới cơ sở vật chất ngành Văn hóa – thể dục thể thao quận Bình Tân đến năm 2020 và tầm nhìn 2025

2.1.3 Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững của thành phố Hồ Chí Minh và quận Bình Tân

Bộ máy thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững của thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm:

UBND thành phố là cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý

nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an

Trang 38

ninh trên địa bàn thành phố, trong đó có cả lĩnh vực quản lý phát triển đô thị bền vững Thực hiện các chủ trương, biện pháp tạo nguồn tài chính, huy động vốn để phát triển đô thị; xây dựng và quản lý thống nhất công trình hạ tầng đô thị theo quy định của pháp luật Quyết định cơ chế khuyến khích phát triển công trình hạ tầng đô thị trên địa bàn thành phố

Sở Quy hoạch - Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chuyên

môn có chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố thực hiện quản lý Nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị trên địa bàn thành phố (quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn, kiến trúc đô thị, kiến trúc cảnh quan…) theo quy hoạch tổng thể thành phố đã được phê duyệt

Sở Xây dựng là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố, thực hiện

chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố quản lý nhà nước về các lĩnh vực: hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng;… Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủy quyền của UBND thành phố

Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành

phố, có chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố thực hiện quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư, bao gồm các lĩnh vực: tổng hợp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thực hiện và đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở thành phố; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, nguồn viện trợ phi Chính phủ; đấu thầu; đăng ký kinh doanh, Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công, ủy quyền của UBND thành phố

Các sở, ngành chuyên môn khác thuộc UBND thành phố như: Sở Tài

chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông vận tải, … theo chức

Trang 39

năng, nhiệm vụ được UBND thành phố phân công phối hợp tham gia thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn thành phố

Tương tự ở cấp quận, bộ máy thực hiện chính sách phát triển đô thị bền

vững của quận Bình Tân hiện nay bao gồm:

UBND quận là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương,

thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,… Chỉ đạo và

tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển hạ tầng đô thị, xây dựng, giao thông và không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị trên địa bàn quận theo phân cấp, ủy quyền của UBND thành phố

Phòng Quản lý đô thị là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND quận,

có chức năng tham mưu, giúp UBND quận thực hiện quản lý nhà nước về: xây dựng; kiến trúc; quy hoạch xây dựng; phát triển đô thị; nhà ở; vật liệu xây dựng; giao thông; hạ tầng kỹ thuật đô thị theo phân cấp quản lý (gồm: cấp, thoát nước; công viên, cây xanh; chiếu sáng; bến, bãi đỗ xe đô thị); phòng chống thiên tai (lũ, lụt, bão,…) Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch

về phát triển đô thị bền vững; triển khai đồ án quy hoạch chung xây dựng quận Bình Tân đến năm 2020

Phòng Tài chính - Kế hoạch là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND

quận, có chức năng tham mưu, giúp UBND quận thực hiện quản lý nhà nước về: kế hoạch và đầu tư trên địa bàn; về quản lý tài chính, thu, chi ngân sách của quận Có nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án,

đề án về phát triển đô thị bền vững ở địa phương Tổng hợp trình UBND quận

Trang 40

quyết định phân bổ chỉ tiêu kế hoạch hàng năm cho các hoạt động phát triển

đô thị bền vững trên địa bàn quận

Ngoài ra, còn có các phòng, ban chuyên môn khác như: phòng Tài

nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế, phòng Lao động Thương binh và Xã hội, phòng Tư pháp, phòng Văn hóa và Thông tin, … theo chức năng, nhiệm

vụ được quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm

2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, phối hợp tham gia thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn quận

2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở quận Bình Tân thời gian qua

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Bình Tân có ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Bình Tân là quận mới được thành lập trên cơ sở tách một phần lãnh thổ của huyện Bình Chánh (gồm các xã Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông, Tân Tạo

và thị trấn An Lạc) với diện tích tự nhiên là 5.202,09 ha (theo Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về việc tách huyện Bình Chánh thành quận Bình Tân và huyện Bình Chánh) và được chia tách thành 10 phường (An Lạc, An Lạc A, Bình Hưng Hòa, Bình Hưng Hòa

A, Bình Hưng Hòa B, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Bình Trị Đông B, Tân Tạo, Tân Tạo A) Quận Bình Tân có tọa độ địa lý từ 10o27’38” đến

10o45’30” vĩ Bắc và từ 106o27’51” đến 106o42’00” kinh độ Đông Ranh giới hành chính quận được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp quận 12 và huyện Hóc Môn;

- Phía Nam giáp quận 8;

- Phía Đông giáp quận 6, quận 8 và quận Tân Phú;

Ngày đăng: 27/06/2019, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w