Hồ Chí Minh và các thành thị vừa và nhỏ như các thị xã, thị trấn, mà còn diễn ra ở cả khu vực nông thôn như là một hệ quả tất yếu của sự phát triển đô thị hay quá trình đô thị hóa dưới t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_
NGUYỄN ĐỨC HOÀN
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG
TỪ THỰC TIỄN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Hà Nội, 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS VŨ QUỐC HUY
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các thầy, cô tại Khoa Phát triển bền Vững của Học Viện trong chương trình đào tạo Thạc sĩ về khoa học phát triển bền vững
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Vũ Quốc Huy đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn Với những chỉ dẫn và sửa chữa cụ thể của thầy đã giúp tôi hoàn thành luận văn và cho tôi nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Nghiên cứu Phát triển Bền vững Vùng đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia khóa đào tạo thạc sĩ này, và đã cho phép tôi tham gia các dự án của viện để tôi có thể có kinh nghiệm, kiến thức và cơ hội thực hiện luận văn này
Mặc dù bản thân tôi đã có sự nỗ lực cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều, nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý xây dựng và ủng hộ của quý thầy cô giáo để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Hoàn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG 12
1.1 Các khái niệm 12
1.2 Khái niệm phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững 18
1.3 Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI 28
2.1 Tổng quan quá trình đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội 28
2.2 Thực trạng phát triển bền vững về kinh tế 31
2.3 Thực trạng phát triển bền vững về xã hội và văn hóa 40
2.4 Thực trạng phát triển bền vững về môi trường ở hai làng Triều Khúc và An Khánh 49
2.5 Đánh giá chung những tác động của đô thị hóa đến An Khánh và Triều Khúc 55
2.6 Tiểu kết chương 2 57
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI 59
3.1 Bối cảnh phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn ngoại thành Hà Nội 59
3.2 Quan điểm và định huớng chính sách phát triển đô thị bền vững 63
3.3 Một số kiến nghị về phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn ngoại thành Hà Nội 74 3.4 Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình trồng trọt ở Triều Khúc và An Khánh (%) 31
Bảng 2.2 Tương quan nhóm tuổi và công việc lâu dài (%) 32
Bảng 2.3 Tương quan học vấn và công việc ổn định lâu dài (%) 33
Bảng 2.4 Tương quan giữa học vấn và thu nhập (%) 34
Bảng 2.5 Tương quan giữa đánh giá mức thu nhập và sự ổn định củacông việc (%) 35
Bảng 2.6 Trợ giúp của chính quyền địa phương cho hoạt động kinh doanh (%) 36
Bảng 2.7 Tình trạng việc làm ở Triều Khúc và An Khánh (%) 37
Bảng 2.8 Cơ cấu việc làm chính ở Triều Khúc và An Khánh (%) 37
Bảng 2.9 Thay đổi thu nhập so với 5 năm trước (2010-2016) (%) 39
Bảng 2.10 Thay đổi thu nhập gia đình (%) 39
Bảng 2.11 Nơi sinh của những người được phỏng vấn tại Triều Khúc và 42
An Khánh (%) 42
Bảng 2.12 Tình trạng nhà ở hiện nay so với 5 năm trước đây (%) 43
Bảng 2.13 Trình độ học vấn theo mẫu điều tra của Triều Khúc và An Khánh (%) 44
Bảng 2.14 Sự tiếp cận các dịch vụ học tập và đào tạo của hộ gia đình (%) 45
Bảng 2.16 Sự thay đổi thói quen giải trí ở hai làng Triều Khúc và An Khánh (%) 47
Bảng 2.17 Những thay đổi về chất lượng môi trường ở Triều Khúc và An Khánh (%) 50
Bảng 2.18 Số lần tổng vệ sinh/tuần 53
Bảng 2.19 Cách xử lý rác thải (%) 53
Bảng 2.20 Sự thay đổi ý thức của người dân (%) 54
Bảng 2.21 Vứt rác ra đường làng (%) 54
Trang 61
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay không chỉ diễn ra ở các thành phố, nhất là các thành phố lớn như tp Hà Nội và tp Hồ Chí Minh và các thành thị vừa
và nhỏ như các thị xã, thị trấn, mà còn diễn ra ở cả khu vực nông thôn như là một hệ quả tất yếu của sự phát triển đô thị hay quá trình đô thị hóa dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Các đô thị lớn là những cực tăng trưởng chính của đất nước và vùng, trong khi các đô thị vừa và nhỏ
có vai trò lan truyền ảnh hưởng về mọi mặt của các đô thị lớn ra các vùng nông thôn ven đô và xa hơn Sự phát triển của các đô thị vừa và nhỏ với tư cách là các đô thị
vệ tinh vì thế luôn đặt ra những vấn đề về quá trình đô thị hóa nông thôn mà ảnh hưởng của nó đang là một trong những vấn đề cấp bách cần nghiên cứu hiện nay
Bởi vì quá trình đô thị hóa hiện nay không chỉ có vai trò động lực thúc đẩy
sự biến đổi, tăng trưởng về kinh tế ở cả đô thị và nông thôn mà còn có thể có những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của cả nước trong hiện tại và tương lai
Vì thế việc nghiên cứu sự tác động qua lại giữa hai quá trình đô thị hóa và phát triển bền vững đã trở thành nhu cầu cấp thiết không chỉ của từng địa phương hay khu vực
mà còn của cả nước
Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ XII nêu rõ: “vấn đề Đổi mới cơ chế, chính sách, kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thân thiện với môi trường, gồm một số đô thị lớn, nhiều đô thị vừa và nhỏ liên kết và phân bố hợp lý trên các vùng; chú trọng phát triển đô thị miền núi, phát triển mạnh các đô thị ven biển Nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và năng lực cạnh tranh của các đô thị; chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của các đô thị động lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng, đô thị di sản, đô thị sinh thái, đô thị du lịch,
đô thị khoa học”
Trong khuôn khổ những nhiệm vụ nghiên cứu của “Viện nghiên cứu và phát triển bền vững Vùng” những năm qua, tôi đã được tham gia vào các đề tài nghiên
Trang 72
cứu về đô thị hóa ở khu vực ngoại thành Hà Nội Vì thế việc lựa chọn đề tài luận văn cao học: “Phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn ngoại thành Hà Nội” là dựa trên những kinh nghiệm nghiên cứu của cá nhân và qua đó góp phần vào công việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi các khái niệm về phát triển bền vững đã được mở rộng từ toàn cầu đến địa phương, đô thị bền vững đã trở thành một cụm từ thông dụng của các học giả, các phương tiện truyền thông và công chúng nói chung Trong báo cáo của Trần Minh
và cộng sự (2012)[32] cũng chỉ cho ta thấy rõ ở Việt Nam, các nghiên cứu về đô thị bền vững đều chủ yếu tập trung vào việc định nghĩa, thành tựu và đánh giá phát triển bền vững ở cấp địa phương Như vậy các nghiên cứu sâu về phát triển đô thị bền vững còn nhiều khiêm tốn
Theo một định nghĩa của World Bank, đô thị bền vững là đô thị được xây dựng dựa trên sự phối hợp tích cực, cũng như phụ thuộc ngày càng tăng về kinh tế
và sinh thái Tuy nhiên, World Bank cho rằng: tùy thực tế phát triển đô thị ở mỗi quốc gia mà định nghĩa chung này có thể được điều chỉnh cho phù hợp
Trên cơ sở phát triển bền vững, phạm trù phát triển bền vững đô thị cũng được xây dựng và mang tính đặc thù hơn Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị-Nông Thôn cho rằng, phát triển bền vững đô thị tập trung giải quyết các vần đề: (i) Phát triển kinh tế
đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị, (ii) Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội (iii) Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị Với đặc thù của một đô thị, phát triển đô thị bền vững có thể được hiểu là
“mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa: A) Kinh tế đô thị; B) Văn hóa xã hội đô thị; C) Môi trường - Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị và E) Quản lý đô thị” Báo cáo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (1990) cũng cho thấy, quá trình đô thị hóa không phải là một sự khủng hoảng, mà nó chỉ là một thách thức đối với tương lai Quá trình đô thị hóa tạo ra nhiều thuận lợi và bất lợi cần được phân
Trang 83
tích, mặc dù, đô thị hóa là con đường văn minh của loài người Nhiều lợi ích thu được từ quá trình đô thị hóa, nhưng con người cũng phải trả giá không ít vì những bất lợi đó và con đường tốt nhất để tránh được thách thức này là xây dựng sự phát triển bền vững cho đô thị
Trong thực tế, quá trình phát triển Hệ thống đô thị Việt Nam đang đối mặt
với nhiều thách thức: tốc độ tăng trưởng và đô thị hóa cao đã dẫn đến sự mất cân
đối trong khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, tắc nghẽn giao thông, thiếu chiếu sáng tại nhiều đô thị, môi trường đô thị ô nhiễm, xử lý nước thải sinh hoạt; nước thải sản xuất tại nhiều đô thị chưa tốt, chất thải chôn lấp chưa hợp vệ sinh, khí thải; tiếng ồn trong đô thị, khả năng dự báo của công tác quy hoạch chưa đáp ứng xu thế phát triển đô thị, phát triển các khu đô thị mới chưa phù hợp, kết nối hạ tầng giữa các khu đô thị chưa được quan tâm, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội triển khai chậm, thiếu đồng bộ, lãng phí đất đai trong các đô thị chưa được khắc phục, hiệu quả đầu tư xây dựng còn thấp…
“Quan niệm về Phát triển bền vững đô thị và những vấn đề đặt ra cho phát triển bền vững thủ đô và Hà Nội hiện nay” trong khuôn khổ hội thảo khoa học quốc
tế kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội do TS Đoàn Minh Huấn phân tích Xu hướng đô thị hoá làng xã là một đặc trưng của quá trình đô thị hoá đối với đô thị hiện đại Song quá trình này đặt ra nhiều vấn đề cho sự phát triển đô thị theo đúng nghĩa của nó về: cơ chế và tổ chức vận hành của bộ máy hành chính đô thị và tư duy quản lý, quy hoạch đô thị, lối sống của công dân từ "làng xã ra đô thị" Quá trình đô thị hoá diễn ra với đặc điểm trên, đô thị Hà Nội đang phải đang đối mặt với những thách thức cho sự phát triển bền vững: Mật độ xây dựng cao, diện tích và chất lượng nhà ở chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân Hệ thống hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ, chắp vá như hệ thống giao thông, mạng lưới cấp điện, cấp nước, hệ thống tiêu thoát nước mưa và nước thải Sự phát triển của hệ thống kỹ thuật luôn là một sự đối phó với tình trạng gia tăng dân số và sự mở rộng không gian đô thị không được chuẩn bị trước Những làng truyền thống, nghề truyền thống, những phong tục, tập quán và truyền thống văn hoá địa phương, những giá
Trang 94
trị văn hoá tinh thần được duy trì từ đời này sang đời khác đang dần bị mai một do tăng dân số cơ học quá cao, các làng xã bị đô thị hoá nhanh Đô thị chỉ có thể phát triển bền vững khi nó được vận hành theo đúng nguyên tắc là sự thống nhất hữu cơ của sự phát triển bền vững các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường trong một khuôn khổ thể chế phù hợp để thúc đẩy sự phát triển hài hoà với sự đồng thuận của các thành phần xã hội, nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai
“Đô thị hoá vùng ven đô – nghiên cứu sự biến đổi kinh tế - xã hội qua trường hợp xã Bà Điểm (Hóc Môn) và Vĩnh Lộc A (Bình Chánh)” của TS. Trương Hoàng Trương thuộc Đại Học Khoa học Xã Hội Nhân Văn phân tích về tác động của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vùng nông thôn kế cận các thành phố lớn đang trở thành địa bàn của các khu công nghiệp, nhà máy, khu dân cư; Đa số là nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp khi phần lớn ruộng đồng và khung cảnh sản xuất nông thôn không còn nữa Nhiều người phải đoạn tuyệt với nghề nông, tìm nghề mới, bắt đầu một hình thức sản xuất mới;Vùng chịu tác động về việc tăng dân
số cơ học, phải tiếp nhận dân cư, từ các nơi khác đến và từ nội thành giãn ra, tính thuần nhất của cư dân nông thôn bị phá vỡ Một bức tranh dân cư mới với nhiều thành phần, nhiều nguồn xuất cư, tôn giáo, dân tộc xuất hiện, đem đến nhiều vấn đề
về xã hội, văn hóa; Cư dân phải chuyển đổi lối sống - một kết quả hiển nhiên của sự kiện chuyển đổi nghề nghiệp
“Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ” do Viện đào tạo chuyên ngành đô thị
Hà Nội ấn bản năm 2006 đánh giá phân tích những thách thức của quá trình phát triển đô thị của Việt Nam dưới hai áp lực kinh tế và dân số, một mặt do sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa
và mặt khác do dân số đô thị tăng nhanh Hội nhập quốc tế và đô thị hóa nhanh, phát triển kinh tế như vũ bão , phân quyền/ phân cấp quản lý đô thị, hiện đại hóa hình thức xây dựng nhưng chưa kiểm soát tốt việc đô thị hóa vùng ven đô, biến đổi trong quan lý dịch vụ đô thị v.v là những đòi hỏi chính quyền địa phương phải tăng cường kỹ năng quản lý công trình đô thị
Trang 105
Bài viết “Vấn đề phát triển đô thị bền vững” do PGS.TS Tôn Nữ Quỳnh
Trân thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Bài viết phân tích
đô thị hóa làm tăng thêm các vấn đề của xã hội đô thị như tội phạm, sự nghèo đói, không có việc làm, xung đột xã hội, ma túy, ô nhiễm… và một loạt vấn đề khác mà người ta gọi chung là “ Khủng hoảng đô thị” Cuộc khủng hoảng này được thể hiện
rõ rệt với các hiện tượng: 1/ Sự phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc; 2/ Môi trường
bị ô nhiễm nặng nề; 3/ Các tệ nạn xã hội tăng trưởng nhanh; 4/ Cuộc sống văn hóa
bị rối loạn Trong trào lưu của tư tưởng phát triển bền vững, và với mục tiêu trên, các nhà khoa học áp dụng tư tưởng phát triển bền vững vào lĩnh vực phát triển đô
Bài tham luận của PGS.TS Ngô Thắng Lợi tại Hội thảo “Phát triển bền vững
thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình” về “Đô thị hóa ở Hà Nội nhìn từ góc độ phát triển bền vững” đánh giá đô thị hóa Hà Nội theo hướng bền vững là quá
trình kết hợp chặt chẽ, hài hòa của 3 mặt phát triển kinh tế - xã hội và môi trường Mục tiêu kinh tế: đạt được sự tăng trưởng cao và ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại; phát triển dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, theo hướng ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao, hiệu quả kinh tế lớn, ít gây ô nhiễm môi trường, phù hợp với
Trang 116
hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình đô thị hóa nói riêng và phát triển Hà Nội nói chung phải bảo đảm cho Hà Nội phát triển ổn định và bền vững kinh tế; trình độ dân trí và nguồn nhân lực; trình độ quản lý đô thị; dịch vụ đô thị; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội; đô thị sinh thái
Khi cụm từ phát triển bền vững xuất hiện, nó được coi như một nền tảng
cơ sở lý luận về phát triển, với 3 trụ cột quan trọng được đề xuất trước tiên “Kinh tế
- xã hội – môi trường”, và được vận dụng lan tỏa trong các ngành, các lĩnh vực, các vùng, địa phương…Các nội dung của phát triển bền vững được nhân rộng trong các nghiên cứu phát triển Với những thể hiện mũi nhọn về vai trò quan trọng của các
đô thị, cùng với những thách thức trong chiến lược phát triển hệ thống đô thị; cụ thể những hệ lụy trong tốc độ đô thị hóa, dẫn đến việc cần phải nghiên cứu sâu về vấn
đề phát triển đô thị bền vững, nhằm đáp ứng phù hợp với nhu cầu phát triển hiện tại
và giải quyết những kịch bản trong tương lai
Mặc dù các công trình khoa học; dự án; chương trình, các kết quả nghiên cứu về phát triển đô về đô thị trong phần tổng quan nêu trên chưa cho thấy có sự nghiên cứu đặc thù về phát triển đô thị bền vững vùng ngoại thành, vùng ven đô Hà Nội nhưng cho thấy các vấn đề về lý luận hầu như đều xuất phát từ các nguyên tắc
và nội dung cơ bản của phát triển bền vững làm cơ sở cho nghiên cứu phát triển đô thị bền vững Cùng với các vấn đề trong thực tiễn về phát triển đô thị, với các mục tiêu, định hướng, các giải pháp, các nhóm tiêu chí được đưa ra ở các quan điểm trên nhằm khắc phục những khiếm khuyết, thách thức hiện tại đối với các đô thị…được coi như như là những luận cứ quan trọng để nghiên cứu, triển khai xây dựng hoàn thiện các chỉ số phát triển đô thị bền vững trong tương lai
Trong khuôn khổ của luận văn cao học này, người viết sẽ cố gẳng tìm hiểu những tác động qua lại giữa quá trình đô thị hoá và sự phát triển về kinh tế, xã hội
và môi trường của vùng ven đô thị Hà Nội trong đó sự biến đổi vận động và phát triển của các yếu tố kinh tế , xã hội và thay đổi về môi trường được xem như là động lực chủ yếu cho sự phát triển toàn diện này Tính chất bền vững của sự phát triển này sẽ được xem xét và đánh giá theo từng yếu tố hay lĩnh vực cũng như trên
Trang 127
tính tổng thể của nó Tốc độ đô thị hóa phải tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh
tế, tránh các quyết định đô thị hóa vô cớ, đô thị hóa ồ ạt, dẫn đến các dự án đô thị hóa thiếu khả thi
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa và sự phát triển bền vững ở hai xã ven đô của thành phố
Hà Nội
4.2 Khách thể nghiên cứu
Người dân vùng ven đô thị trong quá trình đô thị hóa
4.3 Không gian nghiên cứu
Không gian nghiên cứu của luận văn bao gồm tất cả các xã ngoại thành Hà Nội Do những hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung vào các nghiên cứu so sánh trên địa bàn của hai xã là An Khánh và làng Triều Khúc
- Tân Triều Sự lựa chọn hai làng thuộc hai xã này đại diện cho hai loại hình đặc thù của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện nay: Làng An Khánh thuộc mô hình
đô thị hóa nảy sinh từ các quyết định hành chính và những tác động từ bên ngoài ; làng Triều Khúc thuộc mô hình đô thị hóa tự thân gắn với sự biến đổi của cơ cấu xã hội kinh tế từ bên trong
Trang 138
An Khánh là xă mới bắt đầu đô thị hoá từ những năm 2000 trở lại đâyvà sự tác động của đô thị hóa chủ yếu từ bên ngoài hay từ các quyết định hành chính Do quá trình đô thị hóa ở đây chỉ mới bắt đầu từ các quyết định hành chính và những tác động của công nghiệp hóa cũng chủ yếu đến từ bên ngoài thông qua sự quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn xã nên những khó khăn chính của địa phương này là sự thiếu hụt của cả hai yếu tố tạo nên sự biến đổi bên trong của nó
Vì thế, địa phương này sẽ phải đồng thời tìm cách thúc đẩy cả hai quá trình này và kết hợp chúng một cách hiệu quả nhất
Triều Khúc thuộc Tân Triều là xã đã trải qua quá trình công nghiệp hoá tự phát từ nhiều chục năm trước đây Hiện nay hầu hết các hộ gia đình trong xã, nhất
là ở làng Triều Khúc đều đã phi nông hoá, không còn làm nông nghiệp mà chuyển sang thủ công nghiệp với ngành nghề chính là tái chế rác thải và sản xuất các mặt hàng gia dụng với mô hình doanh nghiệp tư nhân và gia đình là chính, có đầu tư các công nghệ và phương tiện sản xuất hiện đại nhu các loại máy móc, ngoài ra còn có nhiều hộ gia đình chỉ làm kinh doanh dịch vụ sản xuất Nhưng vì những giới hạn địa
lý và hành chính của một xã nông thôn nên quá trình đô thị hoá của nó gặp nhiều khó khăn nhất là về bảo vệ môi trường và tổ chức xã hội
4.4 Thời gian nghiên cứu
Luận văn sẽ giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2004 đến 2016
4.5 Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Phạm vi vấn đề nghiên cứu tập trung vào hiện trạng của các quá trình đô thị hoá và những biến đổi trên các mặt kinh tế, xã hội, và môi trường ở các địa phương được nghiên cứu, nhằm tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình
đô thị hoá đến sự phát triển bền vững của các vùng ven đô và đưa ra một sô khuyến nghị cho những thay đổi trong tương lai tới đây
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành dựa trên hai phương pháp luận nghiên cứu cơ bản : phương pháp luận nghiên cứu xã hội học, cụ thể là phương pháp nghiên cứu xã hội
Trang 149
học đô thị về hiện tượng đô thị hóa ở các vùng ven đô được xem là đặc trưng của quá trình đô thị hóa hay « quá độ đô thị » ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
Quá trình đô thị hoá ở các vùng ven đô thường bắt đầu từ sự mở rộng ảnh hưởng của các trung tâm đô thị ra các vùng nông thôn xung quanh Sự xâm nhập lẫn nhau giữa hai cộng đồng dân cư nội đô và ven đô trên các không gian riêng biệt của
họ đã tạo ra sự biến đổi cơ cấu xã hội, nghề nghiệp của các cộng đồng dân cư nông thôn và do đó đồng thời từng bước làm thay đổi tất cả những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội và môi trường của nó Nhưng quá trình đô thị hoá, như đã nêu ở trên, không chỉ có những tác động tích cực mà cả những tác động tiêu cực đến các vùng nông thôn ven đô xét từ quan điểm của phát triển bền vững Vì vậy giả thuyết được nêu ra ở đây là quá trình đô thị hóa có những tác động đa chiều đến các lĩnh vực kinh tế xã hội và môi trường ở các vùng ven đô và do đó cũng tạo ra những phản ứng từ phía người dân như là những giải pháp tức thời cho sự tồn tại của họ hay chiến lược ứng phó lâu dài đóng góp vào sự phát triển bền vững ở địa phương
Sự nghiên cứu vấn đề đô thị hóa và những giải pháp ứng phó của người dân không
chỉ cho phép tìm hiểu những tác động của quá trình đô thị hóa ở các vùng ven đô
mà còn góp phần xây dựng chính sách phát triển đô thị bền vững của các vùng này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đã được tiến hành trước hết dựa trên các phương pháp quan sát, và các phương pháp nghiên cứu phát triển bền vững, xã hội học Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành của các khoa học xã hội về
đô thị hoá ở khu vực ngoại thành Hà Nội
Trong các nghiên cứu điền dã tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức và làng Triều Khúc - xã Tân Triều huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội, các phương pháp điều tra xã hội học phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc, thu thập số liệu thống kê nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã được đưa ra trước đó Các nghiên cứu định tính, bao gồm các phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 155.3 Khung phân tích
Sự phát triển kinh tế xã hội
Phát triển đô thị bền
vững
Quá trình đô thị hóa
Chính sách quản lý
Trang 1611
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, dự án hoặc các nghiên cứu về phát triển bền vững,
xã hội học, chính sách…góp phần hoàn thiện lý luận cũng như thực tiễn trong việc phát triển bền vững đô thị
Ý nghĩa thực tiễn : Luận văn là một công trình khoa học nghiên cứu tương đối có hệ thống về phát triển bền vững, đô thị, xã hội học đô thị, qua đó gợi mở một
số vấn đề để các cơ quan có thẩm quyền trong việc hoạch định và thực hiện quy hoạch đô thị cũng như các chính sách phát triển bền vững, phát triển đô thị cũng như an sinh xã hội các vùng ven đô hiện nay và trong tương lai
Luận văn có một số điểm mới :
Chỉ rõ đặc điểm của khu vực vùng ven đô thị, đặc trưng của đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven đô
Chỉ ra được những ưu điểm cũng như các hạn chế bất cập trong việc phát triển đô thị, các chính sách hỗ trợ, các chính sách về phát triển bền vững trong thực tiễn của khu vực ven đô
Nêu ra các quan điểm và giải pháp khắc phục, ứng phó với hiện trạng để có những chính sách phát triển bền vững phù hợp đối với các khu vực ven đô
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Đô thị hóa và phát triển đô thị bền vững
Chương 2: Những tác động của đô thị hóa đến đời sống, nhận thức và hành vi của nguời dân Triều Khúc và An Khánh
Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững đô thị ở các vùng ven đô
Trang 17Theo các nhà xã hội học về đô thị, khái niệm đô thị gần đây đã đươc xem là một
mô hình định cư có tính phủ định đối với các mô hình định cư nông thôn và thành thị
đã tồn tại trước nó Bởi vì mô hình định cư nông thôn hay mô hình định cư thành thị tiền công nghiệp luôn gắn với mô hình thành phố La Mã cổ đại, được hình thành bởi hai yếu tố là một lãnh thổ xác định rõ rệt về không gian và một cộng đồng dân cư, nơi mọi cá nhân tham gia vào đó dựa trên nguyên tắc có đi có lại trong một không gian riêng tư và cố định
“Trong ngôn ngữ phổ biến ngày nay, thành phố tiếp tục chỉ định địa điểm hoặc
sự hỗ trợ tĩnh của một sự giao tiếp ba chiều bảo đảm sự trao đổi thông tin, hàng hóa và cảm xúc Nó vẫn còn được quan niệm như một liên kết không thể tách rời của những
cái mà người La Mã gọi là l'urbs (lãnh thổ vật chất của thành phố) và civitas (cộng đồng của các công dân ở đó) hay như sự gắn bó với nhau của một thực thể không gian riêng tư và của một dân cư xác định »( Louiset, 2011.)[ 35 ]…
Khi bàn về đặc trưng của mô hình thành phố tiền công nghiệp của châu Âu, các nhà xã hội học nhất trí cho rằng nó mang đậm nét tính nông thôn vì nó không chỉ ở trong nông thôn mà còn thuộc về nông thôn
Về mặt từ nguyên, trong tiếng Pháp từ "thành phố" (ville) đến từ tiếng Latin
« villas », biểu thị một khu định cư nông thôn tự cung tự cấp là hạt nhân của các khu phố thời trung cổ Quan niệm từ nguyên học này nhấn mạnh sự gia nhập của thành phố tiền công nghiệp vào nông thôn Mumford, một trong những người đầu tiên cho chúng ta biết rằng ngoại trừ một vài trung tâm thành phố tắc nghẽn, các thành phố của thời Trung cổ không chỉ đơn giản là "ở trong nông thôn, mà còn là của nông thôn" (Văn hóa của các thành phố, 1938) và sự tương đối phụ thuộc lẫn nhau này hiện đang
Trang 18« Nhưng vào kỷ nguyên công nghiệp và những tập trung nhân khẩu học chưa từng có này đã cắt đứt cái mối liên kết ban đầu này …Cũng tại đây, cuộc cách mạng công nghiệp đã làm suy yếu một liên kết đầu tiên Nó đã phá vỡ mối quan hệ mang tính
bổ sung vốn thống nhất thành phố và nông thôn, và đã khoét sâu sự khác biệt nổi tiếng
mà Marx đã chỉ định cho chủ nghĩa cộng sản phải thủ tiêu nó Tuy nhiên không phải là bằng cuộc cách mạng xã hội, mà bằng sự phát triển thường xuyên của kỹ thuật mà sự xóa bỏ sự khác biệt này đã bắt đầu Người ta nhận ra rằng cái quá trình đang diễn ra và
có xu hướng thủ tiêu sự khác biệt này là vì lợi ích của một thực thể không còn là thành phố cũng không phải nông thôn là hai yếu tố mà về phương diện lô gich học cũng như
hiện tượng hoc, luôn dựa vào nhau để tồn tại » ( Louiset, 2011.)[26]
Sự xuất hiện của cách mạng công nghiệp đã làm cho các thành phố tiền công nghiệp phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu nhưng cũng đồng thời phá hủy chính
mô hình của nó khi thay thế mô hình thành phố (tiền công nghiệp bằng mô hình « đô thị » :
« Các nền văn minh đều có bắt đầu và kết thúc! Giống hệt như sự mất mát của một đối tượng đánh thức ý thức về sự tồn tại của nó, đó là ý tưởng về sự biến mất của các thành phố bởi sự phát triển quá lớn của nó làm cho định nghĩa về nó trở nên trống rỗng : sự tập trung và phát tán đô thị, không hề mang ý nghĩa là sự mở rộng của các thành phố, mà dẫn đến sự biến mất của chúng… Bởi vì thành phố và đô thị hóa ở đây không được coi là những từ đồng nghĩa Tính hàm súc của những gì thường được trình bày như là đặc biệt đô thị1 (dân cư tập trung, khả năng tiếp cận, tầm quan trọng của
1Đối lậpthành phố với đô thịcó thể cho thấy khôngthuận tiện trong mộtngôn ngữ không
có hình thứctính từcủa từ"thành phố" mà phải sử dụngtính từ"đô thị"
Trang 1914
những công trình đã xây cất) trái lại được diễn giải bởi F Choay (1965)[5] như là sự phủ định của thành phố, hoặc chính xác hơn là thành phố truyền thống." Sự phân biệt này của "thành phố truyền thống" và "đô thị" vả chăng đã trở nên đáng ghi nhớ : chính
là vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp có lẽ đã chỉ ra sự gián đoạn chia tách dứt khoát thành phố với đô thị Sự biến đổi đô thị triệt để này do đó không phải là một chuyển đổi giản đơn Nó được đồng nhất trong các tài liệu tham khảo của chúng ta với một sự thay đổi về bản chất Tới mức, từ "thành phố" rất có thể sẽ không còn thích hợp
để chỉ các thành phố quan trọng đương đại»( Louiset, 2011.)[35]
Từ đây chúng ta đã có thể nêu ra một quan niệm về đô thị như một thực thể không gian luôn mở, với mức độ tập trung dân cư cao Công nghiệp hóa luôn tạo ra các luồng nhập cư và làm tăng trưởng quy mô đô thị Nó tạo ra các nhóm xã hội mới và các hành vi ứng xử mới Cách tân kỹ thuật còn làm thay đổi mối quan hệ giữa con người với không gian và thời gian Hệ thống giao thông hiện đại làm cho đô thị có một đặc trưng chính phân biệt chúng với loại hình các thành thị trước đó: tính cơ động của chúng Sự vận động này là sự vận động mở rộng đô thị và những chuyển dịch liên miên của các thị dân Như vậy, sự mở rộng không ngừng về không gian và tính cơ động của dân cư đô thị chính là những cái tạo ra sự đối lập giữa đô thị hiện đại và thành phố tiền công nghiệp
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc : « đô thị (hay quần thể đô thị) bao gồm một đô thị trung tâm (thành phố) và vùng ven đô, tức là vùng có sự tập trung dân cư cao ở bên ngoài nhưng rất gần với các đường phân giới của nó » Vì thế chính cái đô thị trung tâm trở nên lớn hơn nhờ những thứ mà nó loại bỏ, những cái có thể mở rộng
ra tới mức nuốt chửng các thành phố vệ tinh, về đại thể tương ứng với cả thành phố và vùng ven đô của nó (BLAYO n.d.)[ 3 ]
Như thế cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XIX đã làm thay đổi hoàn toàn tính chất của thành phố tiền công nghiệp ở Tây Âu và Bắc Mĩ, dẫn tới sự ra đời của các đô thị, và từ đó làm nảy sinh quá trình đô thị hóa cho đến nay trên phạm vi toàn thế giới
Trang 2015
1.1.2 Quan niệm về đô thị ở Việt Nam
Quan niệm về đô thị ở Việt Nam được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh Nếu nhìn từ khía cạnh xã hội, đô thị thường được định nghĩa bằng cách so sánh với nông thôn Dưới góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội
Cụ thể, một định nghĩa theo văn bản pháp luật của Việt Nam đã đưa ra: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, có những chức năng là trung tâm chính trị, hành chính, kinh
tế, văn hoá, hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Theo TS Đào Hoàng Tuấn (2008): đô thị là một tổ chức tổng hợp, chuyên môn hóa cao các mặt của lãnh thổ, đòi hỏi phải có những chính sách, thể chế, quản lý đặc biệt phù hợp với từng đô thị (khác hẳn với hình thức tổ chức lãnh thổ dạng quần cư nông thôn) và một bộ máy quyền lực đặc thù có đủ năng lực để quản lý, điều hành, thực hiện những thể chế đó trong quá trình phát triển bền vững của mỗi đô thị trên nền tảng mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đô thị
1.1.3 Khái niệm vùng ven đô ngoại thành
Khái niệm vùng ven đô thị như đã nêu ở trên là vùng có sự tập trung dân cư cao, bao bọc các thành phố hay trung tâm đô thị, luôn trong quá trình vận động và phát tán những ảnh hưởng của nó ra bên ngoài nên cũng là những vùng diễn ra quá trình đô thị hóa, nhanh chóng và sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống của nó Các khu công nghiệp lúc đầu thường ở trong không gian nội đô của các thành phố, nhưng sau đó ngày càng chuyển dịch xa hơn ra các vùng ven đô, vì giá đất ngày càng trở nên đắt đỏ
và sức cạnh tranh của công nghiệp ngày càng thua kém các nghành dịch vụ Sự chuyển dịch các khu công nghiệp ra các vùng ven đô, đến lượt nó lại kéo theo sự tập trung các dân cư từ nội đô và từ các nơi khác đến đây tìm kiếm việc làm hay tìm chỗ ở phù hơp với thu nhập của họ Quá trình đô thị hóa ở các vùng ven đô của thành phố Hà Nội và
Trang 2116
thành phố Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay cũng dang chứng minh điều đó Hai thành phố này đã thâu tóm rất nhiều đất đai của các tỉnh xung quanh nó trong quá trình đô thị hóa của chúng
Vùng ven đô là điểm quá độ và vùng chuyển tiếp, là khu đệm giữa nông thôn và thành thị, giữa đặc thù của nông nghiệp, nông dân, nông thôn và yếu tố phát triển nhanh, hiện đại của thành thị, là nơi chuyển đổi nhu cầu của nông dân vào đô thị và ngược lại mang lối sống của đô thị vào nông dân Đây là chuyển động cơ bản của mối quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội và là nơi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phi nông nghiệp, là nơi chúng kiến sự hóa thân của người nông dân thành người thị dân (Trân, 1999)[ 40 ]
1.1.4 Khái niệm đô thị hóa
Theo các nhà xã hội học, sự phát triển đô thị chỉ thực sự bắt đầu cùng với cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XIX ở châu Âu và Bắc Mĩ Sự phát triển đô thị đồng thời được gắn liền với khái niệm đô thị hoá, nảy sinh chủ yếu từ các nước thuộc châu
Âu và Bắc Mĩ, có hai cách hiểu căn bản không hoàn toàn đồng nhất với nhau nhưng có thể bổ xung cho nhau.Trước hết, vào những năm 1960 (thế kỷ XX) khái niệm này chỉ
sự tập trung dân cư ngày càng tăng trong các vùng đô thị Vì thế khái niệm đô thị hóa (urbanization) thường đồng nghĩa với khái niệm “tăng trưởng đô thị” (Ledent n.d.)[26] Các nhà xã hội học cho rằng cách hiểu này chỉ nhấn mạnh vào quá trình tập trung dân cư đô thị, không phản ánh một cách toàn diện và hệ thống hiện tượng đô thị hóa trong thực tế Họ đề nghị một cách hiểu khác coi đô thị hóa là sự biến đổi của các
xã hội từ những dân cư ban đầu là phi đô thị, sống dựa vào sản xuất nông nghiệp và được tổ chức thông qua những cấu trúc xã hội nông thôn sang các xã hội chủ yếu dựa vào thị trường, công nghiệp hóa và đô thị hóa Trong trường hợp này khái niệm đô thị hóa được hiểu theo nghĩa của khái niệm “quá độ đô thị” (urbain transition) (Collin 2008)[6].Tuy nhiên quá trình đô thị hóa không phải là một quá trình biến đổi giản đơn của các thực thể xã hội tiền công nghiệp được thể hiện trong các khái niệm « nông thôn » và « thành thị » truyền thống mà là một quá trình biến đổi đột biến có tính phủ
Trang 2217
định các thực thể này trên tất cả các đặc trưng của chúng như lãnh thổ vật chất cố định , cộng đồng dân cư tương đối riêng tư hay khép kín (Trương, 2014)[ 41 ]
Theo Từ điển Bách Khoa Larousse (Larousse, 1960 - 1964)[ 21 ], đô thị hóa
là hiện tượng dân số tập trung ngày càng dày đặc tại những địa điểm có tính chất đô thị Đô thị hóa được xác định bằng sự kiện tăng dân số và sự phát triển không gian của thành phố Từ điển tiếng Việt cũng có định nghĩa tương tự và đồng thời nhấn mạnh vai trò của thành thị đối với phát triển xã hội: "Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội" Hai định nghĩa vừa nêu cũng dựa vào yếu tố dân
số, nhưng đồng thời có đưa thêm tính bành trướng của lãnh thổ đô thị và vai trò của
đô thị trong sự phát triển của quốc gia Từ điển Oxford chú ý đến sự chuyển đổi trong quá trình đô thị hóa và cho rằng đô thị hóa là thực thể mang tính chất phá hủy tính nông thôn (destroying rural quality)(Trương 2014)[41] Và cũng chính từ đặc điểm này của quá trình đô thị hóa mà vấn đề phát triển đô thị bền vững trở thành một chủ đề nghiên cứu hết sức cần thiết
Quá trình đô thị hóa của các nước đang phát triển hiện nay còn được đặc trưng bởi những lộ trình phản ánh những mức độ hội nhập quốc gia khác nhau vào nền kinh tế toàn cầu Theo quan niệm về quá độ đô thị này, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, hiện đang trải qua quá trình đô thị hoá mà sự khác biệt của chúng tuỳ thuộc vào mức độ hội nhập của mỗi nước vào kinh tế thế giới Có thể nhận thấy rằng các nước đã hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn thường là những nước
đã có những biến đổi nhanh nhất về cơ cấu kinh tế Điều này muốn nói rằng sự biến đổi của cơ cấu kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đô thị hoá và hội nhập kinh tế quốc tế (Collin, 2008)[ 8 ]
Trong bối cảnh của Việt Nam từ khi Đổi mới, các quá trình đô thị hoá thường nảy sinh từ ba nguyên nhân chủ yếu là:
1) Do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá và sự biến đổi cơ cấu kinh tế
2) Do tác động của quá trình đô thị hoá về mặt hành chính (mở rộng không gian địa lư hành chính của các đô thị);
Trang 23Mặt khác, tại Việt Nam, quá trình đô thị hoá theo lãnh thổ đang diễn ra mạnh
mẽ, nhưng sự xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội đô thị vẫn chưa theo kịp tốc độ đô thị hoá (chủ yếu là sự bành trướng lãnh thổ của đô thị sang khu vực nông thôn), nên một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị mất tư liệu sản xuất (đất đai) không kịp chuyển đổi ngành nghề sản xuất phù hợp đã bị rơi vào tình trạng nghèo đói hay bị lôi cuốn bởi mặt trái của lối sống đô thị dẫn đến các tệ nạn xă hội
Từ những ảnh hưởng hai chiều nói trên của quá trình đô thị hoá, mối quan tâm hàng đầu của xã hội hiện nay là phải phát triển những chính sách công không chỉ nhằm thúc đẩy và kiểm soát quá trình phát triển về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội ở các khu đô thị mà còn nhằm thúc đẩy quá trình đô thị hóa ấy theo hướng bền vững trên cả
ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường
1.2 Khái niệm phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững
1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững
Khái niệm về phát triển bền vững đầu tiên được đề cập vào năm1987 trong báo
cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới (Brundtland Commission 1987) Khái niệm này cho rằng sự phát triển phải thỏa mãn nhu cầu của con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cả tương lai, phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Năm 1991 Ngân hàng châu Á đưa thêm nội dung khi đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại phải đảm
bảo đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai vào khái niệm phát triển bền vững
Kể từ đó một phương pháp phát triển mới được định hình và được chấp nhận rộng rãi
Như vậy phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng: thứ nhất, phát triển sản xuất
phải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thứ hai, phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, thế hệ ngày nay phải có trách
Trang 24Báo cáo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (Năm 1990) đã chỉ ra rằng, quá trình đô thị hóa không phải là một sự khủng hoảng hay thảm kịch, nó chỉ là một thách thức đối với tương lai mà thôi Quá trình đô thị hóa tạo ra nhiều thuận lợi và bất lợi cần được phân tích Tuy nhiên, đô thị hóa là con đường văn minh của loài người, bởi các đô thị là nơi chủ yếu tạo ra của cải vật chất cho loài người Thu lợi nhiều từ quá trình đô thị hóa, nhưng con người cũng phải trả giá không ít vì những bất lợi của nó Chỉ có con đường duy nhất để tránh được thách thức này là tạo ra sự phát triển đô thị bền vững
Dù cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững của Brundtland, nhiều nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển đô thị bền vững Girardet (1999)[ 13 ] định nghĩa "một đô thị bền vững được tổ chức sao cho tất cả các công dân của mình có thể đáp ứng nhu cầu riêng của họ và nâng cao chất lượng sống mà không làm tổn hại đến thế giới tự nhiên hoặc gây nguy hiểm điều kiện sống của những người khác, hiện tại hoặc trong tương lai " Mitlin và Satterthwaite (1996)[ 25 ] cho rằng
"mục tiêu phát triển bền vững là đáp ứng của các nhu cầu của con người trong tất cả các thành phố (và khu vực nông thôn) với một mức độ sử dụng tài nguyên và phát sinh chất thải trong từng khu vực và trong phạm vi quốc gia và hành tinh phù hợp với sự bền vững sinh thái " và làm rõ ràng mục tiêu là để đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế và chính trị của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai bằng cách giảm thiểu sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên không tái tạo, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo và chất thải của thành phố giữ trong phạm vi khả nãng hấp thụ của địa phương và toàn cầu
Trang 2520
1.2.2 Khái niệm Phát triển đô thị bền vững
Trên cơ sở khái niệm chung về phát triển bền vững: Phát triển đô thị bền vững
là một mục tiêu quan trọng trong phát triển bền vững Đô thị phát triển bền vững vẫn được dựa trên nguyên tắc: Kinh tế đô thị - môi trường đô thị và văn hoá xã hội đô thị Phát triển đô thị bền vững được dựa trên một hệ thống nhóm các tiêu chí (Criteria) trong đó có rất nhiều tiểu tiêu chí (Sub - criteria) cụ thể khác Như vậy, có thể thấy mối quan hệ giữa các tiêu chí phát triển đô thị bền vững là một thể thống nhất, có liên hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau Thiếu một trong các nhóm tiêu chí cũng như các tiểu tiêu chí này sự phát triển đô thị có thể sẽ không thể có được sự tăng trưởng lành mạnh về kinh tế, tính hiệu quả trong quản lý môi trường, sự tiến bộ xã hội và do đó không thể đi tới sự phát triển bền vững Trên cơ sở nguyên lý phát triển bền vững, với đặc thù của một đô thị, khái niệm Phát triển đô thị bền vững có thể được hiểu là “mối quan hệ hữu
cơ, mật thiết giữa A) Kinh tế đô thị; B) Văn hóa xã hội đô thị; C) Môi trường - Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị và E) Quản lý đô thị” (Kế, 2006)[ 19 ]
Xét một cách tổng hợp, khi nhấn mạnh các yêu cầu về sinh thái học hay tính bền vững tự nhiên, các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vững bao gồm:
Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu và mặt bằng;
Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên và tính đa dạng sinh học
Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở;
Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị;
Khuyến khích tiết kiệm nước;
Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;
Tái sinh vật liệu phế thải
Trong khi đó, xét về khía cạnh kinh tế đô thị, các nhà kinh tế chú trọng đến lĩnh vực tài chính, chẳng hạn Ngân hàng Thế giới Theo đó, phát triển đô thị bền vững có 4 tiêu chí để đo lường bền vững kinh tế đô thị, bao gồm:
Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;
Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;
Nền tài chính lành mạnh ( nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);
Trang 26 Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị;
Sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý
Như vậy, xét một cách tổng hòa một đô thị bền vững là: “Đô thị đạt được sự
thống nhất trong một khuôn khổ bền vững cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới các nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai” Cụ thể, một đô thị bền vững khi nó được
định hướng đạt các mục tiêu sau đây:
Cung cấp đủ điều kiện phát triển con người và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Cung cấp một môi trường sống đầy đủ, an toàn, lành mạnh và hấp dẫn
Làm giảm thiểu các tác động sinh thái trên lãnh thổ
Bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các di sản văn hóa, thiên nhiên và lịch sử
Thúc đẩy công bằng, sự gắn kết cần thiết và hội nhập lãnh thổ và xã hội
Quy hoạch và quản lý thống nhất, thúc đẩy sự tham gia của tất cả các cơ quan
xã hội vào việc quản lý lãnh thổ
Những yêu cầu của nội dung phát triển đô thị bền vững trong quá trình đô thị hóa Đô thị hoá bền vững phải xuất phát từ quan điểm tổng hòa phát triển bền vững giữa kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, cân bằng các hệ sinh thái và bảo đảm cho một
tổ chức liên kết hữu cơ về không gian các chức năng hoạt động của đô thị, hệ thống
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, mối quan hệ chặt chẽ giữa đô thị - nông thôn
Đô thị xét trên tổng thể phải là một cấu thành chặt chẽ trong hệ thống phân bố dân cư theo xu thế xóa bỏ dần sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn
Trang 27Với quan niệm về phát triển bền vững đô thị như vậy thì chắ ắt hướng phát triển
đô thị bền vững phải đảm bảo yêu cầu: i Sự phát triển đô thị không làm tổn hại đến nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai về: quy hoạch phát triển, suy thoái môi trường,
nợ nần và suy thoá kinh tế, bất ổn xã hội, và các hậu quả xấu khác mà thế hệ hiện tài để lại; ii Sự phát triển đô thị đặt trong trạng thái cân bằng giữa các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường với một thể chế phù hợp Quá trình phát triển này được duy trì liên tục từ sự cân bằng này tới sự cân bằng khác trong quá trình phát triển; iii Đô thị phát triển đặt trong chuỗi các quan hệ về: chắnh trị, vãn hoá, thông tin và các phẩm vật phục vụ đời sống với vùng ngoại vi, phụ cận trong tổng thể phát triển bền vững chung của đất nýớc Để đạt những yêu cầu phát triển bền vững đô thị nêu trên thì nội dung của phát triển bền vững đô thị cần xét tới các mặt sau:
Một là, bền vững về môi trường: sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường trong sạch cho con người (diện tắch cây xanh, hồ chứa nước, cảnh quan ), bảo tồn các tài nguyên không được tái tạo Mục đắch của sự phát triển bền vững về môi trường chắnh là đảm bảo môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khắ và hệ sinh thái đô thị đáp ứng nhu cầu sống của con người
Hai là, bền vững về kinh tế: sự phát triển dựa vào cơ cấu kinh tế phù hợp, đạt hiệu quả cao, ổn định Điều này cũng có nghĩa là phát triển kinh tế phải đảm bảo cân bằng với nhu cầu sử dụng các tài nguyên thiên nhiên: nguyên vật liệu, năng lượng, chất thải
Ba là, bền vững về xã hội: vấn đề việc làm đầy đủ, thực hiện công bằng xã hội, vấn đề đảm bảo an ninh, giáo dục, y tế, sự tham gia đồng thuận của các tầng lớp dân cư nhằm chia sẻ và giải quyết các vấn đề phát sinh
Trang 2823
Bốn là, bền vững về văn hoá: bảo đảm các giá trị truyền thống, lối sống cộng đồng, những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, một nền tảng tư tưởng tiến bộ, ở đó các giá trị xã hội phù hợp, văn minh được đề cao, các giá trị cá nhân đúng chuẩn được tôn trọng
Năm là, bền vững về thể chế: cơ chế chính sách phù hợp với đặc điểm đô thị và
bộ máy quyền lực đặc thù đủ để quản lý, điều hành nhằm đảm bảo 2 nội dung quan trọng: quy hoạch và quản lý đô thị
Như vậy, với 5 nội dung đặc trưng đặt trong 3 yêu cầu cho sự phát triển bền vững đô thị nêu trên tạo hệ thống chỉnh thể về quan niệm phát triển bền vững đô thị hiện nay Và từ quan niệm này đặt ra cho sự phát triển bền vững đô thị Hà Nội trong thời gian tới (Huấn, 2010)[15]
Theo một định nghĩa của World Bank, đô thị bền vững là đô thị được xây dựng dựa trên sự phối hợp tích cực, cũng như phụ thuộc ngày càng tăng về kinh tế và sinh thái Tuy nhiên, World Bank cho rằng: tùy thực tế phát triển đô thị ở mỗi quốc gia mà định nghĩa chung này có thể được điều chỉnh cho phù hợp
Trên cơ sở các khái niệm về phát triển bền vững, phạm trù phát triển bền vững
đô thị cũng được xây dựng và mang tính đặc thù hơn Theo Viện Quy Hoạch Đô Nông Thôn-Bộ Xây Dựng (Dự án VIE) cho rằng, phát triển bền vững đô thị nhìn chung tập trung giải quyết các vần đề: (i) Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị, (ii) Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội (iii) Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị
Thị-Khi quan niệm cho rằng: đô thị là một hệ sinh thái mở, là cấu trúc không gian lãnh thổ, mà tự thân con người lựa chọn xây dựng nên không gian - môi trường nhân tạo thì đô thị đã trở thành một thực thể chịu sự tác động của những môi trường lớn hơn
do xã hội con người tạo ra và bởi môi trường tự nhiên xung quanh, như: vùng lãnh thổ chứa đựng đô thị, các vùng lãnh thổ mà đô thị phụ thuộc, sức hút giữa các đô thị trong
hệ thống đô thị, Mặt khác, sự phát triển bền vững của các đô thị ngoài việc phụ thuộc
Trang 2924
vào tính phát triển bền vững của vùng mà chúng chịu ảnh hưởng, chúng còn bị sự ràng buộc phần lớn vào “Tải trọng” của chúng đã được thiết kế bởi ý muốn chủ quan của con người về các mặt dân số, kinh tế, xã hội, môi trường: “sự thiết lập khuôn khổ về phát triển các khía cạnh tự nhiên, kinh tế và xã hội Khuôn khổ đó phù hợp với những nguồn tài nguyên thiên nhiên” (Chương trình đô thị của Liên hợp quốc), thông qua các
hệ thống các chỉ tiêu tiêu chuẩn của đô thị (Sự phân loại đô thị, qui hoạch xây dựng đô thị) Ví dụ: diện tích cây xanh, hồ, các khu công nghiệp, du lịch - nghỉ ngơi, giao thông, qui mô dân số, Tính bền vững của đô thị cũng sẽ mất khi sự phát triển nội tại của nó vượt quá “Tải trọng” thiết kế cho phép Đây là một vấn đề cơ bản quyết định đến nguyên tắc phát triển bền vững: “Đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”, hoặc: “làm giảm nguồn vốn tự nhiên và mang lại nợ nần”
Vấn đề đặt ra đối với sự phát triển bền vững của đô thị là cần phải có một chiến lược qui hoạch phát triển và quản lý từng đô thị theo không gian, thời gian, phù hợp giữa “Tải trọng” của đô thị trong mối quan hệ tương hỗ với qui mô lãnh thổ của nó và với các vùng ảnh hưởng và trong hệ thống đô thị quốc gia, khu vực Chiến lược - qui hoạch phát triển đô thị tốt thể hiện sự bền vững hài hòa các khía cạnh môi trường tự nhiên - kinh tế - xã hội, thông qua hệ thống chỉ tiêu tiêu chuẩn đô thị, phù hợp với trình
độ phát triển kinh tế - xã hội theo các thời kỳ Về cơ bản, việc xây dựng chiến lược - qui hoạch phát triển đô thị, thực chất là việc xây dựng chiến lược - qui hoạch phát triển tổng hợp của một không gian lãnh thổ đặc biệt (Có thể xem như là cấp vùng, địa phương), đòi hỏi phải có sự tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, quân sự, văn hóa, chính trị, Ngoài ra, một đô thị phát triển bền vững chỉ khi có một chiến lược - qui hoạch phát triển tốt với khả năng thực thi đảm bảo trong suốt quá trình phát triển: “Việc qui hoạch và quản lý phát triển thành phố bền vững đòi hỏi sự thỏa thuận và hợp tác hành động của mọi thành phần xã hội: nhà nước, tư nhân và cộng đồng, mọi cấp độ: địa phương, thành phố và quốc gia” ( Chương trình đô thị của Liên hợp quốc) (Tuấn, 2008)[42]
Một số tiêu chí phát triển đô thị bền vững:
Trang 3025
Phân bố và quy hoạch đô thị phù hợp với các vùng địa lý và điều kiện sinh thái
tự nhiên, bảo vệ môi trường: Có 4 tiêu chí: 1) 6 vùng địa lý; 2) Các thông số điều kiện
tự nhiên tại 6 vùng địa lý; 3) Khai thác tốt các vùng sinh thái tự nhiên, 4) Đảm bảo tốt môi trường đất, nước, bờ biển, rừng, sông, hồ
Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo nhiều việc làm đô thị ổn định, bền vững cho mọi thành phần kinh tế và mọi người dân đô thị: Có 5 tiêu chí: 1) Tăng trưởng các ngành công nghiệp, 2) Tăng trưởng thương mại và dịch vụ, 3) Tăng thu nhập từ thuế cho thành phố; 4) Có nền kinh tế đô thị mang tính cạnh tranh phát triển giữa các đô thị, 5) Tạo nhiều việc làm cho khu vực dân nghèo, thu nhập thấp
và khu vực cư dân không chính thức khác
Trình độ dân trí đô thị và nguồn lực phát triển đủ mạnh: Có 5 tiêu chí: 1) Đại học, 2) Cao đẳng; 3) Trung học, hoặc tương đương, 4) Tiểu học và 5) Thất học (thấp nhất có thể)
Trình độ quản lý phát triển đô thị đủ mạnh và bền vững: Có 3 tiêu chí: 1) Có đủ
số cán bộ có trình độ trên đại học và có kỹ năng quản lý đô thị theo hướng bền vững; 2) Có đủ số cán bộ có trình độ đại học và có kỹ năng quản lý đô thị, 3) Có đủ số cán bộ
có kỹ năng quản lý phát triển đô thị có trình độ trung học Số lượng cán bộ theo 3 tiêu chí trên với tỷ lệ 2/5/3
Dịch vụ đô thị đáp ứng yêu cầu cuộc sống đô thị ngày càng cao: Có 6 tiêu chí: 1) Chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, 2) Giáo dục đào tạo tốt, 3) Vui chơi giải trí thỏa mãn, 4) Tạo được không khí hoà nhập cộng đồng đô thị, 5) Thỏa mãn các nhu cầu dịch vụ, mua sắm và 6) Thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt khác
Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững: Có 6 tiêu chí: 1) Nhà ở đô thị đủ, tiện nghi; 2) Cây xanh đô thị thỏa mãn; 3) Có đủ các loại công trình giáo dục, đào tạo; 4) Có đủ các công trình chăm sóc sức khỏe; 5) Có đủ các công trình vui chơi giải trí; và 6) Có đủ các cơ sở sinh hoạt văn hoá, mở mang trí tuệ
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững: Có 7 tiêu chí: 1) Giao thông trong đô thị và đối ngoại: đáp ứng đầy đủ, an toàn và hiện đại; 2) Cấp nước đô thị đảm bảo chất lượng, đủ khối lượng, 3) Thoát nước đô thị với 2 hệ
Trang 3126
thống riêng, 4) Chất thải đô thị được phải được xử lý 100%, 5) Sử dụng năng lượng đô thị theo hướng tự nhiên ngày càng tăng, 6) Thông tin truyền thông đô thị thỏa mãn ở trình độ cao, 7) Tiếp cận kịp thời các yêu cầu về kỹ thuật hạ tầng và công nghệ đô thị tiên tiến
Lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch đô thị: Có 5 tiêu chí: 1) Tổ chức không gian xanh vùng và đô thị hợp lý, 2) Khai thác mặt nước tối đa có thể, 3) Giữ gìn tốt môi trường xã hội; 4) Đề xuất các giải pháp bảo tồn môi trường di sản đô thị hiệu quả nhất, và 5) Thực hiện các quy hoạch môi trường chuyên ngành trong đô thị
và vùng khi cần thiết
Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị: Có 5 tiêu chí: 1) Đóng góp ý kiến trong công tác quy hoạch đô thị, 2) Đóng góp ý kiến đầu tư phát triển đô thị, 3) Đóng góp ý kiến trong công tác quản lý đô thị, 4) Đóng góp ý kiến trong các điều hành của bộ máy quản lý đô thị liên quan, 5) Vai trò phụ nữ trong công tác đóng góp ý kiến về quy hoạch, đầu tư phát triển và quản lý đô thị
Hợp tác, phối hợp điều hành Vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có lợi và cùng phát triển: Có 5 tiêu chí: 1) Hình thành ranh giới và không gian vùng hợp lý, 2) Hình thành một cơ chế điều hành bình đẳng, hiệu quả, 3) Đảm bảo đem lại lợi ích cho các đô thị trong vùng, 4) Hợp tác để cùng nhau bảo vệ môi trường và PTBV, và 5) Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái đô thị (Kế, 2006)[19]
và cơ giới hóa mang lại đã làm cho đô thị trở thành nguyên nhân và động lực của quá trình đô thị hóa Do những đặc trưng hoàn toàn khác biệt của đô thị về các lĩnh vưc
Trang 3227
kinh tế, xã hội và văn hóa hay lối sống mà quá trình đô thị hóa là một quá trình biến đổi toàn diện của các thành phố và khu vực nông thông trong phạm vi ảnh hưởng của nó Những thay đổi toàn diện chưa từng có này không chỉ đem lại những hệ quảng đệm giữa khu vực nội đô và toàn tích cực như tăng trưởng kinh tế vượt bậc, đa số người dân được cải thiện về điều kiện sống, sự hưởng thụ văn hóa cao hơn nhờ cơ sở hạ tầng xã hội phát triển mà cả những hậu quả tiêu cực như sự bất bình đẳng xã hội ở những nhóm yếu thế, ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội
Với khu vực ven đô, tác động của đô thị hóa là không thể tránh cả về phương diện tích cực lẫn phương diện tiêu cực vì nó là vùng đệm giữa khu vực nội đô và vùng nông thôn xung quanh Đô thị hóa ở các vùng ven đô trước hết là do ảnh hưởng của quá trình tổ chức không gian đô thị thông qua việc tiếp nhận các khu công nghiệp dẫn đến sự hình thành các đô thị vệ tinh Vì thế chính các khu công nghiệp hay đô thị vệ tinh này sẽ là cơ sở kinh tế xã hội cho sự phát triển của các vùng ven đô
Khái niệm phát triển đô thị bền vững là sự vận dụng khái niệm phát triển bền vững vào nội dung của phát triển đô thị Phát triển đô thị bền vững vì thế sẽ bao gồm
ba yếu tố cơ bản được kết hợp chặt chẽ và đồng bộ với nhau là tăng trưởng kinh tế đạt hiệu quả cao, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Sự thành công của chính sách phát triển đô thị bền vững tùy thuộc vào sự cụ thể hóa các mục tiêu của nó ở mỗi nước, mỗi địa phương và ở mỗi thời kỳ Việt Nam đang ở thời kỳ đầu của công nghiệp hóa nên việc lựa chọn các nghành sản xuất và công nghệ phù hợp với trình độ lao động của người dân và tiêu chí bảo vệ môi trường là điều cần thiết Sự phát triển các nghề thủ công ở làng Triều Khúc là một ví dụ tốt về sự tạo việc làm và cải thiện cuộc sống cho người dân nông thôn ven đô, nhưng khi việc sử dụng công nghệ, công nghiệp vào sản xuất lại gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Tại An Khánh lại cho thấy một ví dụ khác khi người ta chỉ tạo ra các khu công nghệ cao xung quanh các làng nông thôn bị thu hồi hết đất nông nghiệp khiến phần lớn người dân nơi đây không thể chuyển đổi nghề tại chỗ, phải chấp nhận cuộc sống như trước hay không bằng trước đó
Trang 3328
Chương 2 PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI 2.1 Tổng quan quá trình đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội
Đặc trưng của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam bao gồm hai hình thức: hình thức
đô thị hóa tự phát do sự phát triển các nghề thủ công hay buôn bán đi cùng với sự tập trung dân cư ở các làng ven đô như trường hợp của làng Triều Khúc, và hình thức đô thị hóa có quy hoạch của Nhà nước được thực hiện thông qua các dự án phát triển các khu công nghiệp và các khu đô thị ven đô, đó là trường hợp đô thị hóa của xã An Khánh Do hai đặc trưng này mà những tác động của đô thị hóa đến mỗi làng cũng có những biểu hiện và mức độ khác nhau
2.1.1 Quá trình đô thị hóa tự phát ở làng Triều Khúc
Làng Triều Khúc thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì thuộc vùng ngoại ô phía Tây Nam thành phố Hà Nội Xã Tân Triều nằm ở bên cạnh quận Thanh Xuân, thuộc khu vực nội thành Hà Nội, được thành lập từ những năm 60 của thế kỷ 20 nhưng mới phát triển trong thời kỳ Đổi mới Trước những năm 90 của thế kỷ 20, khu vực này vẫn thuộc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội Vị trí ven đô của Tân Triều cho thấy lợi thế đặc biệt của nó khi nó có thể tham gia vào sự phân công lao động trên địa bàn thành phố
Tân Triều ngày nay là một xã ngoại ô nhưng đất hẹp người đông, diện tích đất
tự nhiên là 298 ha; trong đó đất nông nghiệp 183 ha chiếm 60,43% Dân số 19.211 người với 4.089 hộ Tổng số lao động toàn xã là 11.287 người Trong đó, lao động nông nghiệp thủy sản 3.270 người (28,9%), lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 6.979 người (61,8%), lao động dịch vụ thương mại 1.038 người (9,1%) Tuy diện tích tự nhiên của xã Tân Triều chỉ bằng 1/3 diện tích của xã An Khánh (38%) nhưng dân cư của nó rất đông, nếu tính cả những người sống tạm trú thì gần gấp đôi số dân của xã An Khánh Bởi nếu tính cả những người tạm trú, xã Tân Triều có tới có 5.665 hộ với 26.504 nhân khẩu, bao gồm 7 khu tập thể và 14 cơ quan, doanh nghiệp có trụ sở ở trên địa bàn (UBND xã Tân Triều – Thanh Trì.2008)[50]
Do sự chật hẹp của đất nông nghiệp nên cơ cấu kinh tế của xã Tân Triều từ lâu đã chuyển hướng tập trung vào các nghề thủ công hay các nghề phi nông như dệt khăn mặt, dệt và thêu các loại cờ thưởng và huân chương để bán cho thị trường hoặc phục vụ theo
Trang 3429
đơn đặt hàng của nhà nước Nghề thu gom phế liệu rất đặc trưng bởi mặt hàng chổi lông
gà của làng Triều Khúc nổi tiếng trên cả nước, còn làng Yên Xá rất nổi tiếng về mặt hàng thuốc nam Người làng hay đi thu gom những thứ đồ bị bỏ đi đem về chế tác lại thành sợi, len - nguyên liệu cho rất nhiều vật dụng nhỏ và thiết yếu trong gia đình thành thị, như chổi lau sàn, thảm chùi chân Nhưng nay, Triều Khúc còn có thêm nhiều nghề sản xuất khác
2.1.2 Quá trình đô thị hóa có quy hoạch ở An Khánh
An Khánh là một xã ngoại thành phía tây Hà Nội, đang ở trong quá trình đô thị hóa với dự án xây dựng một khu công nghệ cao vào năm 2020 Kế hoạch này dự kiến tạo ra 49 điểm đô thị hoá có kích quy mô khác nhau, bao gồm cả hai dự án được quy hoạch ở phía bắc và phía nam An Khánh
An Khánh trước năm 2008 là một trong 22 xã thuộc huyện Hoài Đức, thuộc tỉnh
Hà Tây (nay sáp nhập với TP Hà Nội) với dân số khoảng 16.600 người,bao gồm 4.800
hộ tập hợp thành năm làng (Yên Lũng, Phú Vinh, Văn Lũng, An Thọ và Ngãi Cầu) Hiện nay (2016) xã An Khánh có diện tích 846 ha, dân số hiện tại là 23.098 người, sinh sống ở 05 thôn cổ và 02 thôn mới thành lập.An Khánh nằm trên đường quốc lộ số 32 nối liền thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía tây; cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km, địa bàn có 3 tuyến đường giao thông quan trọng là Đại lộ Thăng Long, tỉnh lộ 423 và đường Lê Trọng Tấn Điều này cho thấy, là một xã thuần nông, nên cho dù ở rất gần thủ đô Hà Nội, An Khánh chỉ có thể tham gia vào quá trình đô thị hoá hay trở thành một vùng ngoại ô của Hà Nội bằng các quyết định hành chính hay một sự tác động từ bên ngoài
Năm 2015, toàn xã có 102 hộ nghèo, chiếm 1,7% số hộ, không có hộ đói Đối tượng hưởng chính sách xã hội có 1.114 người (trong đó có 818 hưu trí, 326 người có công)
Xã An Khánh có tổng diện tích là 830, 27 ha Ngay từ năm 2000, Nhà nước đã
có kế hoạch chuyển vùng An Khánh thành một khu công nghiệp và đô thị và giao cho chính quyền tỉnh Hà Tây thực hiện chương trình này Cho đến năm 2005, các dự án công nghiệp hoá và đô thị hoá đã lấy 700 trên tổng diện tích 830 ha (84%) của xã để triển khai các dự án đầu tư của mình Diện tích đất nông nghiệp của xã chỉ còn khoảng
80 ha (khoảng 10% tổng diện tích), chủ yếu dành cho 1000 hộ nông nghiệp với khoảng
4500 người, tức mỗi hộ chỉ còn 2 sào hay 800m² (UBND xã An Khánh.2008)
Trang 3530
Trong lĩnh vực chuyển đổi các hoạt động nghề nghiệp ở địa phương, việc hơn
3000 nông dân đột nhiên không còn đất canh tác đã gây ra một sự hụt hẫng lớn trong tâm thức của cộng đồng dân cư Trong khi đó các xí nghiệp thuộc các dự án ở đây chỉ tuyển mộ những công nhân có tay nghề đã được đào tạo hay có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên để đáp ứng những nhu cầu công việc của họ
Khi các dự án đã hoàn tất việc thu hồi đất, xây dựng cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động cũng là lúc người dân và chính quyền địa phương bắt đầu phải đối diện với những băn khoăn, lo lắng về cuộc sống Tại đây, đã có trên 20.000 công nhân được tuyển mộ vào làm việc trong các xí nghiệp công nghiệp trên địa bàn xã Con số này lớn hơn cả số dân trong xã, nhưng họ chủ yếu là những người được tuyển mộ từ nơi khác đến Một số đã mua đất làm nhà và ở lại đây, còn phần lớn là thuê nhà trọ hay đi về trong ngày Cho dù chưa có thống kê chính thức nhưng các cán bộ địa phương đều khẳng định là có rất ít người dân địa phương được tuyển vào làm trong các xí nghiệp này Theo thông tin của Bí thư Đoàn xã hiện mới có 200/309 đoàn viên và thanh niên trong xã làm việc tại các công ty bao bì, đồ điện và giải trí trên địa bàn xã Có tới 80%
số hộ được đền bù đã đầu tư vào việc xây sửa nhà cửa thay vì tìm cách đầu tư phát triển kinh tế
Trong khu vực không được quy hoạch này, người dân địa phương phải tự quy hoạch không gian sống cho mình theo kiểu tự biên tự diễn Họ đang xây lại một làng
An Khánh mới trên nền của làng nông thôn cũ, vốn đã tồn tại từ xa xưa với những hệ thống đường giao thông, cống rãnh trong làng vấn giữ nguyên như cũ, chỉ có hình dáng bên ngoài của các ngôi nhà là thay đổi và mang dáng dấp của một đô thị kiểu phố huyện hơn là một đô thị công nghiệp và hiện đại Tuy nhiên toàn bộ hệ thống thoát nước dựa trên hệ thống thủy lợi cũ đã bị san lấp nên tình hình thoát nước hiện nay không còn được như cũ
Tác động của đô thị hóa ở An Khánh có thể nói chỉ tạo ra những thay đổi kinh
tế mà không tạo những thay đổi về không gian xã hội trong làng; Rõ nhất là sự chuyển đổi hoàn toàn từ nông nghiệp sang các nghề thủ công truyền thống như làm chổi, mành trúc, thảm đay,v.v , nhưng chủ yếu là dành cho những người trung và cao tuổi Những người trẻ tuổi thường đi học nghề và đi làm ở bên ngoài để có thu nhập cao hơn Kết quả là trong một xã có tới 16.000 dân, chỉ còn hơn 300 người ở lại địa phương Những người trẻ này dẫu sao cũng đã có những đóng góp tích cực trong chuyển đổi
Trang 3631
nghề nghiệp ở địa phương khi chuyển sang kinh doanh dịch vụ hay thu gom sản phẩm thủ công hay nông nghiệp của địa phương (cành và cây đào cảnh) đi bán ở các chợ nội thành và ven đô Những người đi làm ngoài địa phương, thường được gọi là “đi làm công ty”, dù chỉ là làm bảo vệ, xây dựng, cơ khí và công việc không
ổn định, nhưng thu nhập của họ cũng đạt khoảng 4-6 triệu đồng/tháng, tức gấp đôi thu nhập từ nghề thủ công Những người đi học trung cấp rồi làm trong các khu công nghệ cao còn có thu nhập cao và ổn định hơn (5-7 triệu)
2.2 Thực trạng phát triển bền vững về kinh tế
2.2.1 Sự biến đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp
Bảng 2.1 sau đây xác nhận sự chuyển đổi hoàn toàn cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Triều Khúc.Tỷ lệ các hộ còn trồng trọt trong mẫu Triều Khúc chỉ còn 11,3%, trong khi trong quá khứ, tỷ lệ này ở mức 47,2% Sự chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp trong mẫu ở An Khánh cũng rất căn bản, từ 100%, trong quá khứ xuống 26% trong hiện tại, đành rằng trên thực tế sự chuyển đổi này mới dừng lại ở
sự từ bỏ phần lớn hoạt động sản xuất nông nghiệp
Nguồn: Khảo sát vùng ven đô thị Hà Nội của tác giả, tháng 6/2016
Sự duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp ở hai địa phương này do sức ép của kinh tế thị trường và sự gia tăng các nhu cầu tiêu dùng của người dân đô thị và ven đô cũng không thể giữ nguyên những đặc trưng của nó trong quá khứ Nếu như nông nghiệp ven đô trước đây chủ yếu vẫn là trồng lúa thì trong hiện tại vai trò chủ yếu của nông nghiệp ven đô là trồng rau và cây ăn quả Trong bảng 2.3 cho thấy, trong quá khứ, 85,2% số hộ trong mẫu Triều Khúc trồng lúa, nhưng trong hiện tại chỉ còn 16,7% Trong quá khứ tỷ lệ trồng rau ở đây chỉ là 14,8%, hiện nay lên tới 83,3% Tính chất thương mại và dịch vụ của nền nông nghiệp ven đô cũng đã thay thế tính chất tự cung
tự cấp truyền thống của nền nông nghiệp trước đây
Trang 3732
Ngay ở An Khánh, nền nông nghiệp ven đô cũng đã phải chuyển hướng sang sản xuất hàng hóa thay vì chỉ tự cung tự cấp như trước (bảng 2.2) Trước đây ở mẫu An Khánh có tới 71,3% số hộ trồng lúa và hoa màu (ngô, khoai, sắn) và chỉ có 19,8% số
hộ trồng rau, 5% số hộ trồng cây ăn quả và 4% trồng cây khác thì trong hiện tại, tỷ lệ
hộ trồng lúa chỉ còn 11,1% và không còn ai trồng hoa màu, tỷ lệ trồng rau (27,8%) và cây ăn quả (27,8%) lên tới 55,6%, đặc biệt là các loại cây khác lên tới 33,3%
Như vậy là bên cạnh sự chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và dịch vụ, sự chuyển đổi từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa cũng là đặc trưng của chuyển đổi cơ cấu kinh tế ven đô
Qua tương quan giữa nhóm tuổi ( được gộp làm 3 nhóm tuổi: nhóm 1 từ 33-50; nhóm 2 từ 51-60; nhóm 3 từ 61 tuổi trở lên) tương quan với nhận định có công việc ổn định lâu dài ta có thể nhận thấy nhóm 1 chiếm tỷ lệ cao hơn (88%) và có câu trả lời có công việc ổn định cao hơn hai nhóm còn lại (nhóm 2 và 3 mỗi nhóm chỉ 30% trả lời có công việc ổn định) Nhận định không có công việc ổn định, nhóm 1 chiếm tỷ lệ thấp nhất với 5%, nhóm 2 tăng lên 40% và nhóm 3 tăng lên 55% Qua đó ta có thể thấy tuổi càng tăng lên thì khả năng kiếm được công việc ổn định giảm đi Điều này là phù hợp bởi nhóm tuổi 33-50 đang là độ tuổi lao động ôn định nhất, hiệu quả nhất, được đào tạo tốt hơn, thích ứng tốt hơn Hai nhóm tuổi còn lại bắt đầu qua tuổi lao động, kém thích ứng trong giai đoạn chuyển đổi nhanh về đô thị hóa, công nghiệp hóa cùng với trình độ
và sức khỏe kém hơn nên khả năng lao động kém hơn là phù hợp
Nguồn: Khảo sát vùng ven đô thị Hà Nội của tác giả, tháng 6/2016
Bảng 2.2 Tương quan nhóm tuổi và công việc lâu dài (%)
Trang 3833
Qua bảng tương quan giữa trình độ học vấn và công việc lâu dài ổn định ta nhận thấy An Khánh có mức độ học vấn chưa cao với tỷ lệ hết cấp 2 chiếm cao nhất (50% trên tổng số người trả lời) Nhóm có trình độ học vấn hết cấp 3 trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất
có 15% trên tổng số người trả lời và dĩ nhiên có khả năng tìm được công việc ổn định cao nhất với 83.3% Nhóm hết trình độ tiểu học chiếm 35% trên tổng số người được hỏi với khả năng tìm được công việc ổn định lâu dài kém nhất với tỷ lệ công việc bất ổn là 45% Qua đây ta nhận thấy An Khánh vẫn chưa được đầu tư tốt cho đào tạo, chưa coi trọng học vấn trình độ; lao động có trình độ tương đối thấp, bị bó hẹp trong lao động nông nghiệp và thủ công đơn giản nên khả năng tham gia thị trường lao động cao hơn sẽ
bị thiệt thòi Bên cạnh đó dưới xu thế và áp lực của đô thị hóa và công nghiệp hóa thì lao động ở khu vực này sẽ ít có cơ hội cũng như năng lực đáp ứng được
Nguồn: Khảo sát vùng ven đô thị Hà Nội của tác giả, tháng 6/2016
Qua tương quan giữa nhóm học vấn ( được gộp làm 3 nhóm: nhóm 1: học vấn dưới trung học cơ sở, 2 trung học cơ sở và 3 trung học phổ thông) và 3 nhóm thu nhập ta có thể nhận thấy nhóm 3 tuy chỉ chiếm 11.5% trên tổng số nhưng có 66.7% số người trong nhóm có thu nhập trên 3 triêu./tháng Nhóm 2 là nhóm chiếm
đa số với 53.8% trên tổng số người trả lời, trong đó 42.9% nhóm 2 có thu nhập dưới 1.5 triệu/ tháng; 14.3% thu nhập trong khoảng 2 triệu/ tháng và cũng có 42.9% nhóm 2 có thu nhập trên 3 triệu/ tháng Nhóm 1 chiếm 34.6% trên tổng sô người trả
Bảng 2.3 Tương quan học vấn và công việc ổn định lâu dài (%)
1 Dưới THCS
Trang 3934
lời với mức thu nhập phổ biến trong khoảng 2 triệu đồng/ tháng là 50% của nhóm thu nhập trung bình Qua các con số nêu trên tại An Khánh ta nhận thấy mức thu nhập thấp tương ứng với học vấn không cao và tại đây thể hiện bức tranh lao động bấp bênh, duy trì trong khả năng tồn tại của người lao động với tâm lý muốn tìm công việc tốt hơn nhưng trình độ có hạn, lao động chỉ xoay quanh các công việc đơn giản như thủ công, làm thuê thời vụ ngắn hạn, buôn bán nhỏ lẻ
Bảng 2.4 Tương quan giữa học vấn và thu nhập (%)
1 Dưới THCS
Nguồn: Khảo sát vùng ven đô thị Hà Nội của tác giả, tháng 6/2016
Bảng tương quan giữa việc nhận định thu nhập hiện nay so với 5 năm trước đây và nhận định công việc có ổn định lâu dài không cho thấy nhóm có công việc
ổn định trả lời có mức thu nhập gần đây cao hơn với tỷ lệ 85.7%, bên cạnh đó nhóm này cũng có nhận định mức thu nhập không thay đổi ở tỷ lệ 57.9% cho thấy sự bất
ổn của nền kinh tế dẫn đến việc thu nhập không ổn định của các doanh nghiệp Ở nhóm không có việc làm lâu dài ổn định đánh giá thu nhập gần đây thấp hơn ở tỷ lệ 76.9% và không đổi là 42.1% khẳng định thị trường lao động và nền kinh tế của cả khu vực và địa phương ngày một khó khăn, việc làm ngày càng ít, đòi hỏi nhiều kỹ năng trong khi tiền công ngày một giảm
Trang 402 Không có việc làm ổn định
51.3 48.7 100.0 Việc làm NTL 100.0 100.0 100.0
Nguồn: Khảo sát vùng ven đô thị Hà Nội của tác giả, tháng 6/2016
2.2.2 Vai trò mờ nhạt của chính quyền địa phương trong sự biến đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp ven đô
Bên cạnh tác động của quá trình đô thị hóa, nhận thức của chính quyền địa phương về trách nhiệm của mình trong việc tạo cơ hội cho các hộ ở địa phương phát triển kinh doanh chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn Hầu hết những người được hỏi ở
cả hai mẫu (Triều Khúc: 89,1%; An Khánh: 84%) đều cho rằng họ không trông chờ vào sự giúp đỡ của các cơ quan Nhà Nước Ở Triều Khúc, có 5 người xác nhận sự trợ giúp của chính quyền trong tiếp cận thông tin về thị trường (1 người), thông tin pháp luật (1 người), tín dụng (3 người) Trong khi đó ở An Khánh, sự trợ giúp chủ yếu là thông tin luật pháp nên chưa có hiệu quả thiết thực