Vì vậy, hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí, phân tích biến động chi phí giữa thực tế và dự toán nhằm tăng cường kiểm soát chi phí cũng như phân tích thông tin chi phí để ra quyết đị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Người hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Ngọc Phi Anh
Trang 2MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan 2
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
7 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 Khái niệm và vai trò của kế toán quản trị chi phí 7
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 7
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí 9
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 11
1.2.1 Phân loại chi phí 11
1.2.2 Dự toán chi phí 17
1.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 21
1.2.4 Phân tích biến động chi phí 25
1.3 Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 29
1.3.1 Tổ chức quá trình thu thập thông tin 29
1.3.2 Tổ chức quá trình xử lý thông tin 30
Trang 31.3.3 Tổ chức hệ thống thông tin đầu ra 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHÍ TÍN 33
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần Chí Tín 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.2 Tình hình hoạt động xăng dầu của Công ty 34
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý Công ty 34
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại Công ty 36
2.2 Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín 40
2.2.1 Phân loại chi phí 40
2.2.2 Thực trạng công tác lập dự toán chi phí tại Công ty 42
2.2.3 Công tác Hạch toán và tập hợp chi phí tại Công ty 43
2.2.4 Phân tích chi phí phục vụ cho kiểm soát chi phí tại Công ty 49
2.3 Đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín 51
2.3.1 Những kết quả đạt được 51
2.3.2 Một số hạn chế 52
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHÍ TÍN 56
3.1 Sự cần thiết và yêu cầu phải hoàn thiện Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín 56
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín 59
3.2.1 Hoàn thiện phân loại chi phí tại Công ty 59
3.2.2 Hoàn thiện lập dự toán chi phí tại Công ty 62
Trang 43.2.3 Hoàn thiện về phân tích, kiểm soát chi phí tại Công ty 63
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí tại Công ty 67 3.2.5 Hoàn thiện tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí tại Công ty 70 3.3 Các điều kiện cần thiết để thực hiện giải pháp 70
3.3.1 Đối với các doanh nghiệp 70
3.3.2 Đối với cơ quan nhà nước 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
KẾT LUẬN CHUNG 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 63.7 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(Doanh thu xăng Ron chiếm 96%, dầu Do chiếm 4%) 66
3.8 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(Doanh thu xăng Ron chiếm 93%, dầu Do chiếm 7%) 66
3.10 Bảng phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
3.11 Báo cáo kết quả kinh doanh theo sản phẩm 69
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty 37
2.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký
Hình
2.1 Sổ chi tiết TK 632, 642, 511 tại Công ty 455
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế đang trên đà hội nhập, đặc biệt kể từ khi Việt Nam tham gia vào WTO và ký kết các hiệp định thương mại tự do là một
cơ hội để Việt Nam chứng tỏ và nâng cao vị thế của mình trong khu vực và cả thể giới Việc gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời để tận dụng cơ hội và hạn chế rủi ro Để có được các quyết định kinh doanh đúng đắn thì nhà quản trị phải có các thông tin kịp thời, chính xác và có hiệu quả Kế toán quản trị chi phí có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí trong doanh nghiệp Tuy nhiên tác dụng cung cấp thông tin cho nhà quản trị khác nhau là khác nhau Kế toán quản trị chi phí được coi là công cụ quản lý khoa học và có hiệu quả nhằm kịp thời xử lý và cung cấp thông tin về chi phí đáp ứng nhu cầu thông tin cho nhà quản trị Vì vậy thông tin do bộ phận kế toán quản trị cung cấp có tầm ảnh hưởng rất quan trọng trong việc ra quyết định của các Nhà quản lý Ở các nước phát triển, kế toán quản trị được vận dụng triệt để, giúp các doanh nghiệp lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Tuy nhiên ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, nên việc vận dụng nó vào các doanh nghiệp chưa thực sự có hiệu quả
Công ty Cổ phần Chí Tín với lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính là mua bán xăng dầu Ngành xăng dầu là ngành đặc thù, mang tính chất riêng biệt so với một số ngành khác Việc lập dự toán chi phí là công việc rất cần thiết để cung cấp thông tin cho nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và ra quyết định Công ty Cổ phần Chí Tín về công tác kế toán quản trị chưa thực
sự hoạt động có hiệu quả, còn hạn chế về nhiều mặt Tuy nhiên, trên thực tế
từ phương hướng xây dựng đến tổ chức thực hiện thì việc ứng dụng kế toán
Trang 92 quản trị chi phí trong các nội dung này vẫn chưa được tổ chức khoa học và quan tâm đúng mức còn mang nặng nội dung của kế toán tài chính, chưa thực
sự là công cụ cung cấp thông tin cho nhà quản trị xem xét, phân tích làm cơ
sở ra quyết định Điều này có ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng và hiệu quả các quyết định quản trị và là một trong các nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh của công ty còn hạn chế Vì vậy, hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí, phân tích biến động chi phí giữa thực tế và dự toán nhằm tăng cường kiểm soát chi phí cũng như phân tích thông tin chi phí để ra quyết định kinh doanh tại Công ty là vấn đề hết sức cấp thiết giúp cho nhà quản trị đưa ra được các quyết định đúng đắn Xuất phát từ yêu cầu và tính chất của hoạt động xăng dầu, việc hoàn thiện bộ phận kế toán quản trị để góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý và lợi nhuận của Công ty Do vậyxuất phát từ tính cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín”
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả đã tham khảo, tìm hiểu
tư liệu và các đề tài đã nghiên cứu trên cùng lĩnh vực có liên quan đề tài này,
cụ thể:
Đề tài “Xây dựng KTQT trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam” của tác giả Huỳnh Lợi, Luận án tiến sỹ (2008), đã nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm xây dựng KTQT, thực trạng trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam,
mô hình và cơ chế vận hành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam
Đề tài “KTQT chi phí trong các doanh nghiệp dệt ở Đà Nẵng, thực trạng
và giải pháp hoàn thiện” của tác giả Đoàn Thị Lành, Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kế toán (2008), đã khái quát được các vấn đề lý luận chung về KTQT chi phí, tầm quan trọng của KTQT chi phí trong việc cung cấp thông tin chi phí cho quản trị doanh nghiệp và nêu rõ nội dung của KTQT chi phí từ khâu lập kế hoạch, dự toán chi phí đến khâu lập các báo cáo làm cơ sở để kiểm tra
Trang 103 đánh giá chi phí cho đến khâu phân tích chi phí để ra các quyết định kinh doanh Tuy nhiên luận văn cũng chưa nghiên cứu sâu về KTQT chi phí áp dụng cụ thể phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Công ty
Đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Viễn Thông Quảng Ngãi”, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Tâm (năm 2010) Tác giả đã khái quát được tình hình tổ chức, đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như thực tế vận dụng kế toán quản trị tại đơn vị Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu trên, đó là: xác định giá phí, xây dựng hạn mức chi phí, việc lập dự toán và phân tích đánh giá các yếu tố chi phí
Đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần bia Phú Minh” của tác giả Ngô Thị Hường (2010) Tác giả đã trình bày về công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Công tác lập dự toán trong đơn
vị này được thực hiện theo sản lượng sản xuất ước tính do phòng kế hoạch của đơn vị đề xuất, vì vậy các dự toán chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần bia Phú Minh được lập dựa trên sản lượng bia ước tính sản xuất Từ nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng các đề xuất hoàn thiện kế toán quản trị chi phí bao gồm: xây dựng định mức nguyên vật liệu theo sản lượng sản xuất và lập dự toán linh hoạt theo sản lượng sản xuất
Đề tài “Xây dựng KTQT trong doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hồ Thị Huệ, Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kế toán (năm 2011), đã nghiên cứu về KTQT trong những doanh nghiệp và ứng dụng nội dung kế toán phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài “Hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại Công ty TNHH đồ gỗ Viễn Thông” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Luận văn thạc sĩ kế toán (2014),
đã đi sâu vào tìm hiểu hệ thống lý thuyết về KTQT chi phí sản xuất, thực trạng KTQT sản xuất và một số giải pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại Công ty
Đề tài “Xây dựng KTQT tại Công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ Tiến Đạt” của
Trang 114 tác giả Lê Thị Kim Oanh, Luận văn thạc sĩ kế toán (2014), đã hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về KTQT để vận dụng vào doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Các mô hình tổ chức KTQT cơ bản của các nước trên thế giới và những kinh nghiệm về việc tổ chức công tác KTQT tại các doanh nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó hình thành những nội dung công tác KTQT cần được xây dựng phù hợp với Công ty
Đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Bình Định” của tác giả Mang Đức Thanh (2014), đã đi sâu nghiên cứu lý thuyết về kế toán quản trị chi phí và thực tế công tác quản trị chi phí tại các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Bình Định Từ đó đề xuất một
số giải pháp hoàn hiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
Đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty xăng dầu Quảng Bình” của tác giả Lê Anh Tuấn (2014) Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung về kế toán quản trị chi phí, thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin về chi phí cho công tác quản trị chi phí đối với lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
Luận án “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam” (2015) của tác giả Đào Thúy Hà đã tiến hành nghiên cứu định lượng để đánh giá nhu cầu thông tin và mức độ đáp ứng thông tin cho nhà quản trị trong việc thực hiện chức năng quản lý, đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp có cơ cấu giản đơn, trực tuyến chức năng và đơn vị chiến lược trong ngành thép ở Việt Nam Luận án cũng đã nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí dựa trên hoạt động, phương pháp chi phí mục tiêu hay phương pháp tiêu chuẩn
Đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp mía
đường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Lê Thị Minh Huệ (2016) đã khái quát, hệ thống hóa và phát triển những lý luận chung về KTQT chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Tác giả đã có những khảo sát thực tế, phân tích
Trang 125
và đánh giá thực trạng công tác KTQT chi phí trong doanh nghiệp mía đường Thanh Hóa Công trình đã đề ra được những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mía đường
Đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần cấp thoát nước Bình Định” của tác giả Ngô Thị Mỹ Linh (2017) Tác giả
đã có những nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác KTQT chi phí tại Công ty cấp toát nước Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần cấp thoát nước Bình Định
Ngành xây xăng dầu là ngành đặc thù, nó mang tính chất riêng biệt, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu áp dụng tại công ty cụ thể Vì vậy, tác giả đã nghiên cứu cụ thể tại Công ty Cổ phần Chí Tín, từ đó tác giả đưa ra giải pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp
- Nghiên cứu thực trạng vận dụng kế toán quản trị chi phí tại Công ty
Cổ phần Chí Tín
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí của Công ty hướng đến mục tiêu tiết kiệm chi phí
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là công tác kế toán quản trị chi phí; các luận giải, nội dung và phương pháp kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần
Chí Tín trong năm 2017 - 2018
Công ty Cổ phần Chí Tín ngoài hoạt động xăng dầu còn có hoạt động khác Tuy nhiên hiện nay, hoạt động mua bán xăng dầu vẫn chiếm tỷ
Trang 136 trọng chủ yếu, khoảng 90% Vì vậy, mà luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu và hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho hoạt động mua bán xăng dầu của Công ty
5 Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện việc nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp
thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, kiểm
chứng dựa trên dữ liệu thứ cấp tại Phòng Kế toán – Tài chính
- Ngoài ra, tác giả quan sát, tìm hiểu những tồn tại, hạn chế trong việc
áp dụng kế toán quản trị chi phí tại Công ty trong quá trình hạch toán, kiểm soát chi phí
- Vận dụng lý thuyết về kế toán quản trị chi phí để mô tả, giải thích và
đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp
- Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí, bảo đảm thông tin kế toán cho các yêu cầu quản trị ở Công ty trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín
Trang 147
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và vai trò của kế toán quản trị chi phí
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Sự phát triển của nền kinh tế xã hội và đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có sức mạnh cạnh tranh cao và có khả năng tự điều chỉnh kịp thời với những biến động của môi trường kinh doanh Vì vậy, thông tin kế toán cung cấp đòi hỏi ngày càng phong phú, đa dạng hơn nhằm phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp một cách kịp thời,
có hiệu quả Thông tin kế toán cung cấp không chỉ phản ánh những gì đã xảy ra
mà cần cung cấp thông tin về kế hoạch, định hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp Tức cần có thông tin của kế toán quản trị
Theo Luật Kế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm
2015 tại Khoản 10, Điều 3 “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích
và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán
Kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”
Kế toán quản trị theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ là: “một lĩnh vực của
kế toán liên quan đến việc định lượng các thông tin kinh tế và hỗ trợ nhà quản trị trongviệc đưa ra các quyết định tài chính, đặc biệt trong việc hoạch định kế hoạch vàquản lý giá thành”
Theo tác giả cuốn “Advancend mangagement accounting”, ông Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson, kế toán quản trị được định nghĩa: “hệ thống
Trang 15kĩ thuật tập hợp, tính toán, phân tích và kiểm soát Đối tượng của quản trị chi phí là các thông tin về chi phí Chỉ cần một thay đổi của chi phí sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp Do đó, để hoạt động của quản trị chi phí đạt hiệu quả thì các doanh nghiệp cần phải sử dụng công cụ hỗ trợ trong công tác quản trị chi phí, trong đó có kế toán quản trị chi phí
Theo Ngô Thị Ngọc Điệp và Đặng Thị Liên (2013): “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của cấu thành của kế toán quản trị, được phát triển gắn với nhu cầu thông tin của những nhà quản trị trong doanh nghiệp sản xuất Kế toán QTCP trong doanh nghiệp sản xuất có vai trò thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và dự đoán xu hướng trong tương lai dưới dạng thông tin phi tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường”[3, tr.20]
Chi phí là một trong những yếu tố quan trọng của quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, vấn đề được đặt ra là làm sao có thể kiểm soát được tất cả các khoản chi phí KTQT chi phí là công cụ hữu hiệu đáp ứng nhu cầu thông tin chi phí cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định kinh doanh, cơ
sở cho việc kiểm soát, sử dụng chi phí của đơn vị một cách hiệu quả
Tóm lại, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể có những định
nghĩa khác nhau về kế toán quản trị Tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều Các định nghĩa trên đều nhìn nhận kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống kế toán, có nhiệm vụ tổ chức thông tin kế toán trong đơn vị, kế toán quản trị có quan hệ chặt chẽ với kế toán tài chính
Trang 169 trong việc sử dụng số liệu kế toán chi tiết của kế toán tài chính, song kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết Có thể nói, nhìn từ góc độ phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định thì kế toán quản trị là công việc ghi chép, thu thập, đo lường, phân tích và xử lý các thông tin kinh tế tài chính nhằm phục
vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh
Từ đó có thể đưa ra khái niệm chung về kế toán quản trị như sau:
Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản trị trong quá trình ra các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Theo Janet A Hume-Schwarz (2007) thì vai trò của kế toán quản trị chi phí thể hiện trong chức năng quản lý, cụ thể là khả năng lập kế hoạch, kiểm soát quá trình kinh doanh, đánh giá các hoạt động, đưa ra các quyết định quản
lý từ đó dự báo xu hướng biến động của thị trường có ảnh hưởng đến mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp [16, tr.53] Chức năng của kế toán quản trị chi phí được thể hiện như sau:
- Chức năng lập kế hoạch: Để trợ giúp cho nhà quản trị thực hiện lập kế hoạch, kế toán quản trị chi phí sẽ thực hiện lập dự toán chi phí Kế toán quản trị chi phí đã cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các hoạt động thành các dự toán sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc đối tượng khác theo yêu cầu của quản lý nhằm giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp
- Chức năng tổ chức thực hiện: Tổ chức thực hiện là sự phối hợp các hoạt động và nguồn nhân lực để thực hiện các kế hoạch đặt ra một cách thông
Trang 1710 suốt Khi tổ chức thực hiện kế hoạch, nhà quản trị sẽ cần đến thông tin chi phí
về các hoạt động thường xuyên để có thể điều phối nguồn lực Thông tin chi phí về hoạt động do kế toán quản trị chi phí cung cấp luôn là thông tin quan trọng giúp nhà quản trị xác định được hoạt động tạo ra và không tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp để từ đó nhà quản trị có thể điều chỉnh kịp thời các hoạt động và phân phối lại nguồn lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất
- Chức năng kiểm tra, đánh giá hoạt động: Với nhiệm vụ cung cấp thông tin phản ánh thực trạng kinh doanh cho nhà quản trị, kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp thông tin để nhà quản lý kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động Việc cung cấp thông tin chi phí và phản hồi thông tin về các hoạt động là cốt lõi của quá trình kiểm soát Dựa trên những so sánh số liệu cung cấp và số liệu dự toán của kế toán quản trị chi phí sẽ phản hồi thông tin cho nhà quản lý trong việc kiểm soát và hoàn thiện quá trình sản xuất
- Chức năng đánh giá thực hiện kế hoạch: Những thông tin mà kế toán quản trị chi phí cung cấp sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm soát, đánh giá kết quả thực hiện, những vấn đề còn tồn tại đồng thời khắc phục cho việc lập kế hoạch, dự toán kỳ tiếp theo
- Chức năng ra quyết định: Sau khi nhà quản trị thực hiện lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá hoạt động, đánh giá thực hiện kế hoạch
sẽ đưa ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu nhất cho hướng phát triển của doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin, phân tích số liệu, lập báo cáo phân tích, đề cập đến thông tin thích hợp để đưa ra cho nhà quản trị tham khảo quyết định tốt nhất
Như vậy, kế toán quản trị chi phí có vai trò như sau:
- Kế toán quản trị chi phí có vai trò hỗ trợ quản lý điều điều hành doanh nghiệp: Để điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh, các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch và lập dự toán chi phí trên cơ sở đã đặt ra mục tiêu, tổ chức điều hành thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá việc thực hiện
Trang 1811
kế hoạch Trong đó kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp đóng vai trò là công cụ giúp cho các nhà quản trị trong việc thực hiện cụ thể hóa các thông tin chỉ đạo điều hành của nhà quản trị
Thông tin do kế toán quản trị chi phí cung cấp đã chính thức hóa các mục tiêu thành các chỉ tiêu kinh tế, lập dự toán chung và các dự toán chi tiết, cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời các kết quả thực hiện kế hoạch, cung cấp các báo cáo thực hiện kế hoạch và phân tích nguyên nhân chênh lệch, phát hiện kịp thời các hoạt động không hiệu quả để tổ chức lại quá trình sản xuất cho phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị
- Kế toán quản trị chi phí góp phần quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực: Những phân tích của kế toán quản trị chi phí giúp định hướng cho các nhà quản trị có thể tính toán, lựa chọn để đưa ra quyết định tối ưu nhất cho việc phân bổ các nguồn lực có sẵn một cách hiệu quả hơn Thông tin kế toán quản trị chi phí cung cấp về tình hình chi phí, thu nhập và kết quả lợi nhuận thu được của từng mảng hoạt động, từng dự án, đồng thời cho phép nhận diện rủi
ro, hạn chế của doanh nghiệp trong từng dự án như: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản… từ đó đưa ra các thông tin đánh giá kết quả tài chính, phân tích
nguyên nhân của từng dự án
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.2.1 Phân loại chi phí
1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động
có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục
vụ, được chia thành hai loại: Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là chi phí phát sinh trong phạm vi sản xuất của doanh nghiệp đó là sự tiêu hao của các yếu tố sản xuất như lao động, máy móc thiết
Trang 1912
bị, nguyên vật liệu và các chi phí khác để tạo ra giá thành sản phẩm hay dịch
vụ trong kỳ Chi phí sản xuất được chia làm ba khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên vật liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng
- Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm lương và các khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí phục vụ
và quản lý quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng Khoản mục này bao gồm: Chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định, sửa chữa và chi phí mua ngoài, …
Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là các khoản chi phí phát sinh ngoài sản xuất của doanh nghiệp, Chi phí ngoài sản xuất thường bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí bán hàng: Là những khoản chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của doanh nghiệp Chi phí này bao gồm những khoản chi phí liên quan với các hoạt động quảng cáo, nghiên cứu thị trường, xúc tiến bán hàng, đóng gói,… Nói cách khác, chi phí bán hàng gồm các khoản chi phí nhằm tạo ra nhu cầu đối với sản phẩm, và các khoản chi phí của chuỗi hoạt động bắt đầu bằng việc nhận thành phẩm từ bộ phận sản xuất,
Trang 2013 làm cho chúng sẵn sàng để chuyển giao cho khách hàng và kết thúc khi đã hoàn tất giao hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí của quá trình quản lý tổ chức, là lập kế hoạch điều hành và kiểm soát các hoạt động của tổ chức, chi phí quản lý không liên quan với các chức năng sản xuất, bán hàng, phân phối hay nghiên cứu và phát triển Bao gồm chi phí nhân viên quản lý, khấu hao tài sản cố định cho quản lý, chi phí vật liệu cho quản lý và chi phí dịch vụ mua ngoài cho quản lý, …
- Chi phí tài chính: Là những khoản chi phí liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: Chi phí lãi vay, chiết khấu thanh toán cho người mua, …
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với kỳ xác định kết quả kinh doanh
Khi xem xét cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợi nhuận trong từng kỳ kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất được chia thành hai loại: Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua các giai đoạn sản xuất Tùy thuộc vào phương pháp tính giá thành được áp dụng mà chi phí sản phẩm có khác nhau Với phương pháp giá thành toàn bộ, chi phí sản phẩm gồm các khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi nhuận từng kỳ
kế toán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ trong kỳ
đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối
Trang 2114
kỳ sẽ được lưu giữ như là giá trị tồn kho và sẽ được kết chuyển để xác định lợi nhuận ở các kỳ sau khi mà chúng được tiêu thụ Vì vậy chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí tồn kho
Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Bao gồm chi phí bán hàng, chi phí QLDN, chi phí tài chính Chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển hết để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ còn gọi là chi phí không tồn kho
1.2.1.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Sự thay đổi của chi phí theo cách ứng xử của chi phí gọi là sự ứng xử của chi phí Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, kế toán quản trị chia chi phí thành ba loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
Biến phí
Biến phí là các chi phí thay đổi theo sự tăng giảm của mức độ hoạt động Biến phí chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng biến phí sẽ tăng hoặc giảm tương ứng với sự tăng hoặc giảm của mức độ hoạt động, nhưng biến phí tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản mục chi phí nguyên vật liệu, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp thể hiện rõ nhất đặc trưng của biến phí Ngoài ra, biến phí còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung, như chi phí vật liệu phụ, chi phí lao động gián tiếp trong chi phí sản xuất chung hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp như chi phí vật liệu, phí hoa hồng
Trong thực tế, không phải tất cả các biến phí đều có cách ứng xử giống nhau theo mức độ hoạt động Xét theo cách ứng xử khác nhau đó, biến phí còn được chia thành hai loại: Biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
Trang 2215
- Biến phí tỷ lệ: Là loại biến phí mà tổng của nó biến động theo tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ gồm các khoản chi phí như chi phí NVLTT, chi phí NCTT,
- Biến phí cấp bậc: Là loại biến phí mà tổng của nó chỉ biến động khi mức hoạt động biến động nhiều và rõ ràng Biến phí cấp bậc không đổi khi mức hoạt động căn cứ thay đổi ít
Định phí
Định phí là những chi phí thực tế phát sinh thường không có sự thay đổi trong phạm vi của quy mô hoạt động Vì tổng số định phí là không thay đổi cho nên, khi sản lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ trong quy mô giới hạn thay đổi thì định phí cho một đơn vị sản phẩm thay đổi
Trong doanh nghiệp thương mại, các loại định phí thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, quảng cáo,
Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, định phí được chia thành hai loại: Định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc
- Định phí bắt buộc: Là những khoản định phí mang tính chất cơ bản, lâu dài và không thể cắt giảm hoàn toàn được Đó là chi phí liên quan đến việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, …
- Định phí không bắt buộc: Là những khoản chi phí có thể thay đổi trong từng kỳ kế hoạch Nhà quản trị có thể quyết định mức độ hay thay đổi dễ dàng khi lập kế hoạch hàng năm Ví dụ: Chi phí quảng cáo, đào tạo nhân viên
Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí bao gồm cả các yếu tố định phí và biến phí Ở mức hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, còn với mức độ hoạt động quá mức cơ bản lại thể hiện đặc điểm của biến phí
Định phí phản ánh phần chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì sự phục vụ
và để giữ cho dịch vụ luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ
Biến phí phản ánh phần thực tế phục vụ hoặc phần vượt quá mức căn
Trang 2316 bản, do đó phần này sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức sử dụng trên căn bản Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phân tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố biến phí và định phí Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong ba phương pháp: Phương pháp cực đại, cực tiểu; Phương pháp đồ thị phân tán; Phương pháp bình phương bé nhất
1.2.1.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Chi phí trực tiếp
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng và được gọi là chi phí trực tiếp
Chi phí gián tiếp
Các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ phù hợp, ta gọi là chi phí gián tiếp
Thông thường, khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp là các khoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí gián tiếp
Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí
1.2.1.5 Các cách phân loại khác nhằm mục đích kiểm soát và ra quyết định
Chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là những khái niệm chi phí phản ánh khả năng kiểm soát của nhà quản trị đối với những khoản chi phí phát sinh trong phạm vi trách nhiệm Một khoản chi phí kiểm soát được đối với một nhà quản trị nào đó, khi nhà quản trị đó có thể kiểm soát và tác động đến mức độ của khoản chi phí đó Những chi phí mà nhà
Trang 2417 quản trị không thể tác động được gọi chi phí không kiểm soát được
Chi phí chênh lệch
Chi phí chênh lệch là những chi phí có trong phương án này nhưng lại không hoặc chỉ có một phần trong phương án kia, do đó tạo ra chênh lệch chi phí Chi phí chênh lệch là những thông tin hữu ích để người quản lý thấy được sự khác biệt giữa chi phí và các lợi ích của mỗi phương án, giúp lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất
Chi phí chìm
Khái niệm chi phí chìm chỉ phát sinh khi xem xét các chi phí gắn liền với các phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chọn Chi phí chìm được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác, chi phí chìm được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính vì vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý
Chi phí cơ hội
Là lợi ích tiềm tàng bị mất đi do lựa chọn phương án (hoặc hành động) này thay vì chọn phương án (hoặc hành động) khác Chi phí cơ hội không thể hiện trên bất cứ sổ sách kế toán nào nhưng lại là cơ sở rất cần thiết để lựa chọn phương án kinh doanh
1.2.2 Dự toán chi phí
1.2.2.1 Mục đích lập dự toán chi phí
Dự toán chi phí rất cần thiết để quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Dự toán chi phí là một bộ phận của dự toán tổng thể doanh nghiệp, cung cấp thông tin về toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm tới một cách có hệ thống và đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra Ngoài ra, việc lập dự toán chi phí còn có
Trang 2518 những tác dụng khác như sau:
- Xác định rõ các mục tiêu về chi phí cụ thể để làm căn cứ đánh giá việc thực hiện sau này
- Lường trước được những khó khăn tiềm ẩn để có phương án xử lý kịp thời và đúng đắn
- Liên kết toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp bằng cách hợp nhất các kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận khác nhau Chính vì vậy, dự toán đảm bảo các kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp
- Đánh giá hiệu quả quản lý và thúc đẩy hiệu quả công việc
1.2.2.2 Trình tự lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh
Dự toán chi phí thường do các phòng ban hoặc bộ phận chuyên môn thực hiện Căn cứ vào điều kiện thực tế của quá trình sản xuất kinh doanh và định mức tiêu hao chi phí mà các bộ phận tiến hành xây dựng các dự toán chi phí sản xuất kinh doanh Sau đó dự toán chi phí được chuyển lên cấp quản lý cao hơn kiểm tra, đánh giá tính khả thi của dự toán, từ đó hoàn thiện dự toán Việc xem xét và kiểm tra lại các dự toán của cấp dưới là cần thiết nhằm tránh những nguy cơ có những dự toán lập ra thiếu chính xác Cuối cùng dự toán được gửi cho cấp quản lý cao nhất để phê duyệt và tiến hành thực hiện
Dự toán được thực hiện từ cấp có trách nhiệm thấp nhất đến cấp có trách nhiệm cao nhất Dự toán ở cấp nào do chính người quản lý ở cấp đó thực hiện rồi trình lên cấp trên Mỗi cấp quản lý đều có trách nhiệm với những chi phí thuộc phạm vi kiểm soát của mình Người quản lý ở mỗi cấp chịu trách nhiệm
về những biến động chi phí của kết quả thực hiện dự toán
1.2.2.3 Các dự toán chi phí
* Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí NVLTT phản ánh tất cả chi phí NVLTT cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối lượng sản phẩm sản
Trang 2619 xuất Để lập dự toán chi phí NVLTT cần xác định: Định mức tiêu hao NVL
để sản xuất một sản phẩm; Đơn giá xuất NVL; Mức độ dự trữ NVLTT vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho [15]
Dự toán chi phí NVLTT xuất dùng cho sản xuất:
Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần sử dụng được xác định trên cơ
sở mối quan hệ đầu vào, đầu ra Mối quan hệ này thường do bộ phận thiết kế
kỹ thuật xác định, hoặc căn cứ vào mức độ hao phí NVLTT tính trung bình cho một đơn vị sản phẩm những kỳ trước mà quá trình sản xuất đạt mức hiệu năng bình thường
Đơn giá nguyên vật liệu không chỉ là giá mua trên hóa đơn của người bán mà còn bao gồm cả các chi phí phát sinh trong quá trình thu mua Mức giá nguyên vật liệu do bộ phận mua hàng xác định Bộ phận mua hàng cần lựa chọn những cung cấp nguyên vật liệu có chất lượng cao và mức hợp lý nhất Các nhà quản lý cần đưa ra một mức giá dự kiến hợp lý trên cơ sở phân tích quá khứ cũng như xem xét xu hướng biến động giá đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp sử dụng
* Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí NCTT được xây dựng từ dự toán khối lượng sản xuất, cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí
sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán
về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất Để lập dự toán chi phí NCTT doanh nghiệp cần xây dựng: Định mức lao động để sản xuất sản
Trang 2720 phẩm; Tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu doanh nghiệp trả lương theo sản phẩm [15]
Và chi phí NCTT cũng được xác định tương tự:
* Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí SXC là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất phát sinh trong nhà máy ngoài chi phí NCTT và chi phí NVLTT, gồm có dự toán biến phí SXC và dự toán định phí SXC
Dự toán biến phí SXC: Trường hợp biến phí SXC được xây dựng theo từng yếu tố chi phí (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp…) theo mỗi đơn vị hoạt động thì quá trình lập dự toán biến phí SXC được thực hiện tương tự như dự toán chi phí NVLTT, dự toán chi phí NCTT [15]
Dự toán định phí SXC: Dự toán định phí SXC cũng cần phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí tùy ý Đối với các yếu tố định phí SXC bắt buộc, căn cứ vào định phí SXC cả năm chia đều cho bốn quý để xác định định phí SXC hàng quý Đối với các yếu tố định phí SXC tùy ý, căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán thích hợp [15]
Dự toán định phí
Định phí SXC thực tế kỳ trước x
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí SXC theo dự toán
Trên cơ sở dự toán biến phí và dự toán định phí SXC, ta có thể kiểm soát được chi phí SXC bằng công thức sau:
Dự toán chi phí SXC = Dự toán biến phí SXC + Dự toán định phí SXC
* Dự toán chi phí bán hàng
Dự toán chi phí bán hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp Do vậy, khi lập dự toán nhà quản trị phải tính đến mối liên
Trang 28Dự toán biến phí bán hàng
* Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí QLDN thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, chi phí này liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp mà không liên quan đến từng bộ phận hoạt động Tương tự dự toán chi phí bán hàng, dự toán biến phí QLDN thường sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ
lệ biến phí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các
kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ [16]
Dự toán
biến phí QLDN =
Dự toán biến phí đơn vị QLDN
x Sản lượng tiêu thụ theo dự toán
Đối với định phí QLDN thường không thay đổi theo mức độ hoạt động,
dự toán định phí QLDN căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu
tố chi phí
1.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.2.3.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các
bộ phận chịu phí hoặc các đối tượng chịu phí làm cơ sở cho việc tính giá thành
+ Các trung tâm chi phí là những bộ phận trong doanh nghiệp mà nhà quản trị ở bộ phận đó chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh trong kỳ Ở doanh nghiệp trung tâm chi phí có thể là từng phân xưởng, từng đội sản xuất, đơn vị sản xuất
+ Sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại hay một hoạt động, một chương trình nào đó như chương trình tiếp thị, hoạt động sửa chữa TSCĐ Đối tượng tập hợp chi phí trong trường hợp này thường không quan tâm đến các bộ phận phát sinh chi phí mà quan tâm đến chi phí phát sinh cho
Trang 2922 việc gì, ở hoạt động nào
- Phương pháp xác định đối tượng tập hợp chi phí:
+ Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất, hoặc có thể là một nhóm sản phẩm, đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm cuối cùng; Doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến Còn đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm ở bước cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo
+ Căn cứ vào loại hình sản xuất, doanh nghiệp có loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng chi phí là đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng hạch toán giá thành là sản phẩm của từng đơn hàng; Doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn, tuỳ thuộc vào quy trình công nghệ là đơn giản hay phức tạp mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, giai đoạn công nghệ Còn đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm
+ Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: Nếu nhân viên kế toán có trình độ cao thì có thể chi tiết đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm và ngược lại
- Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá trình cung cấp dịch vụ cần được tính giá để phục vụ các yêu cầu quản lý Trong doanh nghiệp sản xuất, đối tượng tính giá có thể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất
1.2.3.2 Tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất, được
Trang 3023 tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành Theo phương pháp tính giá toàn
bộ, giá thành sản phẩm hoàn thành bao gồm ba loại phí: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Tập hợp chi phí sản xuất: Trên cơ sở hạch toán các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đến cuối kỳ, kế toán tổng hợp các chi phí sản xuất để chuẩn bị cho việc tính giá thành sản phẩm Các chi phí sản xuất được tập hợp và phân
bổ cho từng đối tượng tính giá thành
Tính giá thành sản phẩm được xác định tùy thuộc vào phương pháp giá thành được chọn
- Phương pháp tính giá thành giản đơn (trực tiếp): Được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước (quặng, than, gỗ ) Đối tượng kế toán cho trường hợp chi phí tại các doanh nghiệp này là từng loại sản phẩm, dịch vụ Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính bằng cách lấy tổng số chi phí sản xuất cộng hoặc trừ số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành
- Phương pháp tổng cộng chi phí: được áp dụng cho các doanh nghiệp
mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ Đối tượng kế toán chi phí là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất các giai đoạn, bộ phận sản xuất được tạo nên thành phẩm:
Trang 3124 cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng sản phẩm mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành các loại sản phẩm:
Giá thành đơn vị
Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm Tổng sản phẩm gốc (kể cả quy đổi) Giá thành đơn vị
sản phẩm từng loại =
Giá thành đơn vị
Hệ số quy đổi sản phẩm từng loại
+
Tổng CPSX phát sinh trong kỳ
- Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
- Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ chi phí: Được áp dụng trong các doanh nghiệp mà trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất, kết quả sản xuất được một nhóm sản phẩm cùng loại với nhiều chủng loại, phẩm cấp, quy cách khác nhau (như doanh nghiệp sản xuất ống nước, may mặc…) Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất của cả nhóm sản phẩm, còn đối tượng tính giá thành là từng quy cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó Kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo kế toán
Trang 3225
1.2.4 Phân tích biến động chi phí
Phân tích biến động chi phí là so sánh chi phí thực tế với chi phí định mức để xác định mức biến động (chêch lệch) chi phí, trên cơ sở đó đánh giá
và tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động và đề xuất biện pháp thực hiện nhằm tiết kiệm chi phí
* Phân tích biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp do biến động của hai nhân tố: Nhân tố số lượng và nhân tố giá mua nguyên vật liệu [9]
Biến động số lượng nguyên vật liệu:
Là sự chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với lượng nguyên vật liệu theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến
động về lượng do những nguyên nhân sau [9]:
- Doanh nghiệp thay đổi định mức nguyên vật liệu sử dụng, do thay đổi loại sản phẩm sản xuất;
- Tình trạng máy móc thiết bị;
- Tay nghề người lao động;
- Nguyên vật liệu không đảm bảo;
- Việc tổ chức quản lý nguyên liệu tại khâu sản xuất chưa tốt,
Biến động về lượng nguyên vật liệu trực tiếp được xác định như sau :
tế sử dụng
-
Lượng NVLTT theo dự toán
sử dụng
x
Đơn giá NVLTT theo
dự toán
Biến động giá nguyên vật liệu
Là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán Biến động về giá nguyên vật liệu do những
nguyên nhân sau [9]:
- Do quan hệ cung cầu trên thị trường thay đổi;
- Chính sách thuế thay đổi tác động đến chỉ số giá hàng hóa;
Trang 3326
- Giá nguyên vật liệu trên thị trường biến động;
- Thay đổi loại nguyên vật liệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm;
- Thay đổi phương pháp xuất kho,
Biến động về giá nguyên vật liệu trực tiếp được xác định như sau [9]:
Ảnh hưởng của nhân
tố giá đến biến động
CPNVLTT
=
Đơn giá NVLTT thực tế
-
Đơn giá NVLTT theo
dự toán
x
Lượng NVLTT thực
tế sử dụng
* Phân tích biến động của chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất Biến động của CPNCTT do biến động của hai nhân tố: Nhân tố thời gian lao động và giá nhân công trực tiếp [9]
Biến động về thời gian lao động
Là chêch lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động về thời gian lao động do các nguyên nhân sau [9]:
- Sự thay đổi cơ cấu lao động;
- Năng suất lao động cá biệt của từng bậc thợ công nhân;
- Tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị;
- Chính sách trả lương cho công nhân,
Biến động thời gian lao động đến CPNCTT được xác định như sau:
Ảnh hưởng của thời
gian lao động đến
CPNCTT
=
Thời gian lao động theo thực tế
-
Thời gian lao động theo dự toán
x
Đơn giá NCTT theo
dự toán
Biến động giá nhân công trực tiếp
Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động về giá nhân công trực tiếp
do các nguyên nhân sau [9]:
Trang 3427
- Do quan hệ cung cầu lao động trên thị trường thay đổi;
- Chính sách lương thay đổi;
- Giá lao động trên thị trường biến động,
Biến động giá NCTT đến CPNCTT được xác định như sau [9]:
Ảnh hưởng của nhân
tố giá nhân công đến
biến động CPNCTT
= Đơn giá NCTT theo thực tế -
Đơn giá NCTT theo
dự toán
x
Thời gian lao động thực tế
* Phân tích biến động của chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung và biến động của định phí sản xuất chung [9]
Biến động CPSXC = Biến động định phí
Biến động biến phí
SXC
Biến động biến phí sản xuất chung
Biến phí sản xuất chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục
vụ và quản lý hoạt động sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Biến động của biến phí sản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp
Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do nhiều nguyên nhân, như tình hình thay đổi SX theo nhu cầu kinh doanh, điều kiện trang thiết bị không phù hợp phải giảm lượng SX hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết bị giảm, Biến động của nhân tố lượng đến biến phí SXC được xác định [9]:
Ảnh hưởng của
lượng đến biến
phí SXC
= Mức độ hoạt động thực tế -
Mức độ hoạt động dự toán x
Đơn giá biến phí SXC
dự toán
Trang 3528 Biến động của nhân tố giá đến biến phí SXC được xác định:
Biến động định phí sản xuất chung:
Định phí sản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn như tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo lương thời gian, chi phí bảo hiểm, là những chi phí không thay đổi theo quy mô sản xuất trong phạm vi hoạt động Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp [9] Phân tích biến động định phí sản xuất chung nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực tài sản cố định
Biến động của nhân tố định phí sản xuất chung được xác định như sau:
Biến động định phí SXC = Định phí SXC
Định phí SXC
dự toán
* Phân tích biến động chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm; còn chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí phát sinh trong quá trình quản lý hành chính và các chi phí chung khác của toàn doanh nghiệp Biến động của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là do sự biến động của cả biến phí và định phí [9]
* Đối với sự biến động của biến phí
Để phân tích đánh giá biến động của loại chi phí này cần tiến hành theo từng loại chi phí cụ thể Khi phân tích biến động của biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, người ta cũng phân tích hai nhân tố ảnh hưởng là: Nhân tố lượng và nhân tố giá
- Ảnh hưởng của nhân tố lượng đến biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp được xác định theo công thức sau [9]:
Trang 36-
Mức độ hoạt động dự toán
x
Đơn giá biến phí bán hàng và quản lý dự toán
- Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp được xác định theo công thức sau [9]:
Ảnh hưởng của
nhân tố giá =
Đơn giá biến phí bán hàng và quản lý thực tế
-
Đơn giá biến phí bán hàng và quản lý dự toán
x Mức độ hoạt động thực tế
* Đối với sự biến động của định phí
Việc phân tích biến động của định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp là nhằm đánh giá năng lực sử dụng tài sản cố định và năng lực quản lý trong quá trình bán hàng và hoạt động quản lý nói chung Và được phân tích theo công thức sau [9]:
1.3 Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.3.1 Tổ chức quá trình thu thập thông tin
Các chứng từ kế toán ban đầu sử dụng phải thích hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở doanh nghiệp để có thể ghi nhận được đầy đủ thông tin nội dung nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh Các doanh nghiệp đều phải sử dụng hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc để phục vụ KTTC, đồng thời có thể thiết kế các chứng từ chi tiết phù hợp, phản ánh đầy
đủ các yếu tố, nội dung để phục vụ cho việc thu nhận, xử lý, hệ thống hoá thông tin và lập được báo cáo KTQT chi phí, giá thành theo yêu cầu quản lý nội bộ doanh nghiệp
Tiếp theo cần quy định việc ghi nhận thông tin của từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ánh vào chứng từ Sau đó, phải tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, hợp lý
Trang 3730 Khi chứng từ được chuyển đến phòng kế toán, việc đầu tiên kế toán cần thực hiện là kiểm tra tính hợp lệ, hợp lý và hợp thức của chứng từ Kế toán có thể ghi đầy đủ thêm các yếu tố liên quan hoặc từ chối không nhận chứng từ bất hợp lý Chứng từ hợp lý, hợp lệ là yếu tố quan trọng đầu tiên đảm bảo cho
số liệu kế toán đáng tin cậy
1.3.2 Tổ chức quá trình xử lý thông tin
Các doanh nghiệp thường đứng trước nhiều phương án khác nhau Mỗi phương án gắn liền với mỗi tình huống, với số lượng, chủng loại, các khoản mục chi phí, thu nhập khác nhau liên quan, đòi hỏi kế toán quản trị cũng phải được tổ chức để có thể cung cấp các thông tin cụ thể này Vì vậy quá trình phân tích, phân loại và xử lý thông tin trong doanh nghiệp là rất quan trọng Đây là quá trình tiến hành phân tích, phân loại, đánh giá dựa trên các thông đã thu nhận được, để đưa ra các chỉ tiêu phù hợp và cần thiết Đây là công đoạn quan trọng nhất của một hệ thống thông tin, nó sẽ quyết định chất lượng đầu
ra của một hệ thống Nếu thông tin được xử lý tốt và chính xác, thì các thông tin đầu ra sẽ là những thông tin hữu ích giúp cho doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn Ngược lại, nếu thông tin không được xử lý chính xác thì thông tin đầu ra không những không giúp được cho các nhà quản trị trong công tác ra quyết định mà thậm chí còn khiến các quyết định được ban hành một cách sai lầm dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
Sau khi xử lý và phân tích tổng hợp các thông tin liên quan đến các chỉ tiêu quản lý, kế toán quản trị phải đảm bảo cung cấp thông tin cho nhà quản lý theo từng tình huống cụ thể, nhận xét, đánh giá và trình bày ý kiến cho từng phương án Việc ra quyết định lựa chọn phương án tốt nhất thuộc về quyền của người lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp Tuy nhiên, họ phải tham khảo các ý kiến khác nhau đã được trình bày trong các báo cáo kế toán quản trị Vì vậy, lựa chọn phương án đúng hay không phụ thuộc rất nhiều vào quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin của kế toán quản trị
Trang 3831
1.3.3 Tổ chức hệ thống thông tin đầu ra
Báo cáo kế toán quản trị là kết quả đầu ra của công tác kế toán quản trị chi phí, Báo cáo kế toán quản trị chi phí là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách chi tiết, cụ thể tình hình chi phí của doanh nghiệp theo yêu cầu quản lý của các cấp quản trị khác nhau trong doanh nghiệp để ra các quyết định quản
về tài chính và hoạt động của doanh nghiệp Cùng với chức năng hệ thống hoá việc lập kế hoạch, các thông tin trên báo cáo Dự toán cũng đưa ra những tiêu chuẩn cho việc đánh giá kết quả hoạt động, hoàn thiện sự truyền tải thông tin và sự hợp tác trong nội bộ tổ chức
Các báo cáo Dự toán còn hữu dụng với các nhà quản lý trong quá trình
ra quyết định tài trợ và điều hành Loại báo cáo này thường bao gồm: Báo cáo
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, báo cáo Dự toán chi phí nhân công trực tiếp, báo có dự toán chi phí sản xuất chung, báo cáo Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp,
- Báo cáo phục vụ cho quá trình kiểm tra, đánh giá (báo cáo kiểm soát chi phí) và ra quyết định: Các báo cáo này được lập nhằm kiểm tra tình hình thực hiện chi phí, Dự toán chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp Báo cáo này có thể lập theo nhiều phương pháp khác nhau, cho nhiều đối tượng và phạm vi khác nhau, tùy theo yêu cầu quản
lý cụ thể của từng doanh nghiệp mà xây dựng loại báo cáo này cho phù hợp
Trang 3932
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị, là công cụ hữu hiệu cung cấp thông tin chi phí cho việc thực hiện các chức năng quản trị trong doanh nghiệp Công tác kế toán quản trị chi phí là tiền đề cho các nhà quản trị tìm được giải pháp tiết kiệm chi phí hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, gia tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận
Trong Chương 1 tác giả đã hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp trên các vấn đề sau: Trình bày bản chất kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị trong doanh nghiệp, nêu vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu quản trị doanh nghiệp trong quá trình lập kế hoạch, kiểm soát, kiểm tra đánh giá và ra quyết định Từ đó tập trung vào nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản của
kế toán quản trị chi phí về phân loại chi phí, xây dựng định mức và lập dự toán chi phí, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành, phân tích biến động chi phí phục vụ kiểm soát chi phí và ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp, hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí
Những vấn đề ở Chương 1 là cơ sở lý luận để nghiên cứu, đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Chí Tín ở Chương 2 nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty ở Chương 3 của luận văn
Trang 40Công ty đã đăng kí thay đổi lần thứ 9 ngày 05/08/2014 (kèm theo bảng sao giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 4101072431) Với số vốn điều lệ đăng kí là 10.000.000.000 đồng
Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN CHÍ TÍN
Địa chỉ: Thôn Định Tố, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Ngành nghề kinh doanh: lĩnh vực kinh doanh của công ty là mua bán xăng dầu, xây dựng và dịch vụ
Công ty có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh độc lập Được tự chủ về tài chính và quản lý thực hiện theo Luật doanh nghiệp của Nhà Nước Trong những năm qua, Công ty đã tham gia thi công, giám sát nhiều công trình xây dựng trên địa bàn Huyện Công ty được các chủ đầu tư, các
cơ quan Ban, ngành đánh giá tương đối cao về mặt chất lượng và tiến độ Máy móc thi công gồm nhiều loại mới, hiện đại như: Máy đào, máy ủi, máy đầm, xe tải, máy trộn bê tông, Công ty có đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, kỹ
sư, chuyên viên nghiệp vụ, công nhân lành nghề có trình độ cao và giàu kinh nghiệm
Tuy nhiên những năm gần đây hoạt động xây dựng của Công ty ngày càng giảm, chủ yếu hiện tại là kinh doanh mua bán xăng dầu