Hiện nay dù có tham gia vào một số nghiệp vụ phái sinh nhưng hầu như các NHTMVN chỉ chú ý đến việc mua bán ngoại tệ nhằm mục đích thanh toán, cho vay ngoại tệ mà quên đi yếu tố bảo hiểm
Trang 1I TỶ GIÁ
1 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tỷ giá
Theo quan điểm của các học giả Mỹ, “ rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”, “ rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất” Rủi ro thường được đo lường bằng độ chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế với mức lợi nhuận dự kiến Đối với NH, rủi ro có thể hiểu là mối đe doạ bị tổn thất một phần vốn của mình và không đạt được thu nhập hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhất định
Rủi ro tỷ giá phát sinh khi NH kinh doanh mua bán cho chính mình, hay nói một cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi có sự dịch chuyển tỷ giá của các ngoại tệ mà NHTM giữ dưới dạng tài sản Có, tài sản Nợ hoặc cả hai tức là tạo trạng thái ngoại hối mở (open or unhedged position) để đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi Hiện nay, có 2 nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giátại các NHTMVN
Nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tỷ giá của các NHTMVN là do trạng thái ngoại hối không cân xứng, tức là có sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài
Nguyên nhân khách quan khác là do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi đối với ngân hàng Nguyên nhân của sự biến động này là : cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế, chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất đồng ngoại tệ và nội tệ
Tuy nhiên, khi đánh giá rủi ro người ta đánh giá sự ảnh hưởng của cả 2 yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến lãi (lỗ) của hoạt động kinh doanh Mối quan hệ
đó được thể hiện qua công thức tính lãi (lỗ) đối với từng loại ngoại tệ khi tỷ giá biến động như sau: Lãi (lỗ) đối với ngoại tệ i = (trạng thái ngoại hối ròngcủa ngoại tệ i) x (mức biến động của tỷ giá ngoại tệ i)
2 Đánh giá thực trạng rủi ro tỷ giá của các NHTMVN
2.1 Thực trạng rủi ro tỷ giá của các NHTMNN
- Tỷ giá VND/USD biến động thường xuyên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tỷ giá đối với các NHTMNN
Trang 2Tỷ giá VND/USD biến động thường xuyên qua các năm theo chiều hướng đồng Việt Nam có giá trị sụt giảm so với các đồng tiền nước ngoài Qua theodõi cho thấy: Trong suốt một quãng thời gian khá dài, tỷ giá VND/USD chỉ biến động tăng một chiều với một biên độ hẹp, thêm vào đó thị trường ngoại hối Việt Nam luôn rơi vào tình trạng khan hiếm ngoại tệ Các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ muốn tìm mọi cách kí hợp đồng kì hạn mua ngoại tệ để đảm bảo thanh toán hợp đồng xuất nhập khẩu
Ta thấy mức dao động năm 2000 biến động + 490 đồng (3,5%), năm 2001 biến động + 550 đồng (3,8%), năm 2002 biến động +321 đồng (2,13%), năm
2003 biến động +265 đồng (1,72%), năm 2004 là năm Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá biến động liên tục nhằm hạn chế tình trạng găm giữ ngoại
tệ của các NH nhưng mức độ biến động cũng không vượt quá 140 đồng (+ 0,89%) Như vậy, tỷ giá VND/USD có biến động nhưng không nhiều trong giai đoạn 2000-2004 và mức biến động cao nhất đạt ở mức 3,8% Nguyên nhân chủ yếu do cán cân vốn thặng dư, lượng kiều hối khá dồi dào hơn nữa
do USD mất giá so với EURO và một số đồng tiền khác, lãi suất USD vẫn duy trì ở mức thấp đáng kể so với lãi suất VND dẫn đến nhu cầu USD khôngtăng
- Những biến động này đã gây rủi ro cho các NHTMVN Rủi ro ở đây phụ thuộc vào trạng thái ngoại tệ mà NH đang duy trì Rủi ro tỷ giá là rủi ro tiềmtàng đối với các NHTMVN Rủi ro này thể hiện qua:
+ Trong hai năm 2003, 2004, 4 NHTM Nhà nước hàng đầu đều có trạng tháingoại hối mở tuy nhiên về cơ bản vẫn nằm trong giới hạn quy định của NHNN (không vượt quá 30% vốn tự có) Tuy nhiên, vị thế của các NH không hề giống nhau, một số NH có vị thế trường về ngoại tệ và một số NH
có vị thế đoản về ngoại tệ Điều đó có nghĩa là dù tỷ giá có biến động theo chiều hướng nào đều gây bất lợi cho các ngân hàng Nếu tỷ giá tăng thì những NH có vị thế đoản ngoại tệ bị thiệt hại và ngược lại nếu tỷ giá giảm thì những NH có vị thế trường về ngoại tệ sẽ bị thiệt hại
- Hầu như doanh số mua vào thấp hơn doanh số bán ra cũng do các NHTM thường duy trì trạng thái ngoại tệ tạm thời là đoản, do đó, phải đối mặt với rủi ro khi tỷ giá tăng Điều này cũng cho thấy thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển theo hướng một chiều, luôn ở tình trạng cầu lớn hơn cung
Thực tế Việt Nam cho thấy sự thay đổi mặt bằng lãi suất có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ giá giữa VND và USD Từ năm 2000 trở đi, đồng USD liên tục tăng giá so với VND, điều này thúc đẩy tâm lý muốn găm giữ ngoại tệ, các NHTM sẽ có nhận định là duy trì trạng thái ngoại hối trường ròng sẽ có lợi Tuy nhiên do chênh lệch lãi suất VND và USD quá lớn dẫn đến người nắm giữ USD lại có thu nhập thấp hơn người nắm giữ VND Điều đó có nghĩa là
Trang 3nếu ngân hàng huy động USD với lãi suất thấp và bán ngoại tệ trên thị
trường để cho vay với lãi suất cao, duy trì vị thế đoản ngoại tệ không những không bị thiệt hại mà còn có lợi mặc dù USD có tăng giá
2.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro
- Kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn để vận hành giao dịch và đo lường rủi
ro quá yếu kém, kĩ năng xử lí dữ liệu bằng điện toán chưa cao, chưa có những bộ phận nghiên cứu dự đoán sự thay đổi tỷ giá trên thị trường
Hiện nay dù có tham gia vào một số nghiệp vụ phái sinh nhưng hầu như các NHTMVN chỉ chú ý đến việc mua bán ngoại tệ nhằm mục đích thanh toán, cho vay ngoại tệ mà quên đi yếu tố bảo hiểm tỷ giá nên trong kinh doanh tiền tệ NH đóng vai trò chủ yếu là trung gian giao dịch hơn là nhà tạo lập thị trường Cũng chính vì tư tưởng trên nên NH rất yếu về phân tích tỷ giá mà đặc biệt là rất yếu về phân tích kĩ thuật Hầu như rất ít NH sử dụng phân tích
kỹ thuật như một công cụ hỗ trợ thêm cho phân tích cơ bản trong phân tích
tỷ giá Đó cũng là lý do vì sao mà ít NH mạnh về kinh doanh đầu cơ mà chủ yếu các NH chỉ kinh doanh cho khách hàng Thật sự thì cho dù NH kinh doanh với NH hay kinh doanh đầu cơ cho chính họ thì việc phân tích tốt sự biến động tỷ giá cũng như dự báo được sự biến động tỷ giá sẽ giúp cho NH quản lý rủi ro tỷ giá một cách hiệu quả
Một điểm bất lợi của các NHTMVN so với NH ở những nước phát triển như: Singapore, Hong Kong là tại VN chưa có hệ thống EBS (Electronic Brokerage System) nên giá mà các NH được cung cấp bởi Reuters hay các hãng tin khác cũng chỉ là tỷ giá tham khảo chứ chưa phải là tỷ giá giao dịch thật sự trên thị trường Bởi lẽ chỉ có thông qua EBS các nhân viên kinh doanh ngoại tệ (dealer) mới có thể thấy được các luồng tiền dịch chuyển trênthị trường, thứ hai, thông qua EBS các NHTMVN có thể thấy được lệnh trênthị trường bán/ mua ở mức giá nào, từ đó có thể biết được đâu là vùng cản (resistance), đâu là vùng nâng đỡ (support)và các lệnh ngăn lỗ (stop loss order –SL ODA) được đặt ở đâu Hơn nữa, các NHTM nên đầu tư cho bộ phận phân tích và dự báo tỷ giá Việc phân tích và dự báo tỷ giá của các NHTM cũng chỉ mới mang tính ngắn hạn và cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích cơ bản và rất ít dealer giỏi phân tích kĩ thuật, còn hầu như không ai tại
VN sử dụng mô hình phân tích hồi quy để dự báo tỷ giá trong dài hạn
Thường thì các dealer tại hầu hết các NHTMVN đều giao dịch trong ngày là chính nên họ cần phải đẩy mạnh khả năng phân tích kĩ thuật để tìm ra đâu là vùng cản, vùng nâng đỡ của thị trường và phối hợp với phân tích cơ bản và
Trang 4phân tích thông tin trên thị trường nhằm đưa ra các quyết định chuẩn xác về mua/bán một đồng tiền nào đó vào một thời điểm nhất định
- Các qui định pháp lí về cách xác định trạng thái ngoại hối chưa hoàn thiện gây rủi ro tỷ giá
Mặc dù NHNN đã thay đổi phương pháp xác định trạng thái ngoại tệ theo
QĐ 1081/2002/QĐ -NHNN cho phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam, tuy nhiên, việc tính toán trạng thái ngoại tệ cuối tháng được tính trên cơ sở
số dư tại thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng chỉ xét đến trạng thái ngoại
tệ được hình thành do các giao dịch mua bán ngoại tệ của NH mà chưa tính đến thu và chi phí trả lãi phát sinh từ các Tài sản Có và Tài sản Nợ sinh lời Nếu các khoản thu và chi này cộng dồn sẽ ảnh hưởng đến giá trị giữa trạng thái ngoại tệ thực tế và trạng thái ngoại tệ báo cáo gây rủi ro lớn
- Cơ chế tỷ giá hiện nay chưa phản ánh được quy luật cung cầu trên thị trường
Mặc dù thời gian qua NHNN đã xoá bỏ sự áp đặt chủ quan, duy ý chí trong việc thiết lập tỷ giá, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường
“chợ đen” dần dần được thu hẹp Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá trong những năm qua còn nhiều phức tạp Từ tháng 2/1999, tỷ giá đã được xác định trên
cơ sở tỷ giá bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; nhưng, trong thực tế, NHNN vẫn chưa thực hiện triệt để nguyên tắc này Cơ chế điều hành
tỷ giá còn quy định biên độ mua bán làm cho việc yết giá của các NHTM bị cứng nhắc, chưa phản ảnh đúng cung cầu ngoại tệ trên thị trường
3 Một số giải pháp và kinh nghiệm nhằm hạn chế rủi ro tỷ giá tại các
- Tạo lập được những nền tảng cần thiết để phát triển các dịch vụ và hoạt động giao dịch cầu nối (BTRS - Bridge Trading Room System) tận dụng dữ liệu thị trường để phục vụ cho các giao dịch KDNT hằng ngày
Trang 5- Chú trọng đầu tư các trang thiết bị hiện đại cho bộ phận phân tích và dự báo.
3.2 Giải pháp về tổ chức và nhân sự
Nên xây dựng phòng Kinh doanh ngoại tệ theo mô hình đạt tiêu chuẩn quốc
tế bao gồm các bộ phận sau:
- Bộ phận kinh doanh trực tiếp: Bao gồm các nhà kinh doanh tiền tệ là
những người ra các quyết định mua bán một đồng tiền nào đó Thông
thường trong bộ phận gồm hai nhóm nhân viên kinh doanh chính: các nhà kinh doanh phụ trách khách hàng (dealer) và những nhà kinh doanh ngoại hối chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi vị thế hối đoái của ngân hàng
(trader) Dealer có một số nhiệm vụ sau: 1/ Trực tiếp kinh doanh với khách hàng và yết giá khi cần thiết; 2/ Marketing cho bộ phận kinh doanh tiền tệ của ngân hàng tức là hỗ trợ cho khách hàng những thông tin cần thiết về khảnăng đồng tiền đó sẽ tăng hay mất giá; 3/ Tư vấn trong giao dịch mua bán tiền tệ cho khách hàng của mình Trader có nhiệm vụ: 1/ Trả lời các câu hỏi
về yết giá của các dealer; 2/ Kinh doanh đầu cơ bằng cách mua thấp bán cao;3/ Theo dõi các lệnh mua bán của khách hàng
- Bộ phận kế toán điều vốn: Là bộ phận chịu trách nhiệm về việc thanh toán cho NH đối tác cho mỗi giao dịch đã được thực hiện tại bộ phận kinh doanh
Họ cũng chịu trách nhiệm về việc theo dõi hạn mức tín dụng, hạch toán các bút toán cần thiết
- Bộ phận trung gian: là bộ phận hoàn toàn chịu trách nhiệm theo dõi hạn mức tín dụng, hạn mức giao dịch, theo dõi lãi lỗ trong kinh doanh tiền tệ, chịu trách nhiệm phối hợp với hai bộ phận kiểm tra nội bộ và kiểm toán để theo dõi và quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
3.3 Giải pháp về kỹ thuật kinh doanh
- Duy trì sự cân xứng về trạng thái ngoại hối giữa tài sản Có và tài sản Nợ Thứ nhất, đối với các khoản cho vay bằng ngoại tệ NH nên sử dụng mộtnguồn vốn huy động bằng ngoại tệ tương ứng Khi số dư tiền gửi ngoại tệ tạiNHTM tăng lên do khách hàng gửi nhiều ngoại tệ vào NH, NH chủ động tìmkiếm khách hàng có nhu cầu vay ngoại tệ, mở rộng cho vay ngoại tệ hoặc mua các giấy tờ có giá phát hành bằng ngoại tệ tương ứng với phần tiền gửi ngoại tệ tăng thêm tại NH Ngược lại, khi khách hàng rút tiền gửi bằng ngoại
tệ ra nhiều làm giảm số dư tiền gửi ngoại tệ, NH nên hạn chế cho vay, tích cực thu hồi các khoản vay quá hạn
Trang 6Thứ hai, NH nên tham gia các giao dịch về ngoại tệ sao cho tổng các giátrị hợp đồng mua vào một ngoại tệ nào đó bằng tổng giá trị các hợp đồng bán ra của ngoại tệ đó Tuy nhiên, việc duy trì sự cân xứng các khoản mục trong Bảng cân đối tài sản một cách tuyệt đối là hết sức khó khăn và các NHTM không thể chủ động được vì điều này phụ thuộc vào nhu cầu vay, gửi của khách hàng.
Thứ ba, NH không nên duy trì trạng thái mở của một đồng tiền ở mức
độ lớn để tránh những tổn thất lớn khi tỷ giá biến động Bởi lẽ, theo QĐ 1081/2002/QĐ-NHNN, tổng trạng thái ngoại hối mở ở mức 30% vốn tự có của NH, trong đó không phân biệt đồng USD (trước đây quy định đồng USDkhông vượt +/-15% VTC) Thực ra việc quy định cũng xuất phát từ thực tế giao dịch trong NH xuất phát từ đồng USD nhiều, giải quyết được nhu cầu căng thẳng trong NH Tuy nhiên, đứng ở góc độ quản lý rủi ro không nên lạm dụng điều này quá sẽ gây rủi ro tỷ giá
- Xây dựng tỉ giá các loại ngoại tệ so với VND một cách linh hoạt, đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh và lợi nhuận, tăng trưởng nguồn vốn và có ngoại
tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của khách hàng
- Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Đa dạng hoá lại là một kiểu chiến lược kinh doanh khác bằng cách giữ nhiều tài sản mang tính rủi ro thay vì tập trung vào một hay một vài loại tài sản nhất định Lựa chọn danh mục đầu tư bên cạnh việc tính toán mức lợi nhuận cao nhất phải tính toán đến tổng mức rủi ro của danh mục Chiến lượcnày cần phải được thiết kế và chú trọng vào 3 phương diện: Loại hình
nghiệp vụ; Loại ngoại tệ, Thị trường và các giải pháp tương ứng sau:
+ Giải pháp thứ nhất là phải đa dạng hoá các loại ngoại tệ trong kinh doanh
ở nước ta hiện nay, đồng tiền dùng trong giao dịch ngoại thương chủ yếu là USD, do vậy trong hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như của các NH đều lựa chọn đồng tiền này Trong điều kiện đa phương hóa
và đa dạng hóa các mặt hoạt động kinh tế đối ngoại, các đồng tiền của các quốc gia khác như GBP, JPY, EUR, AUD ngày càng được sử dụng nhiều trong thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại tệ ở các nước thì việc sử dụng chủ yếu một loại ngoại tệ như hiện nay đã ảnh hưởng đến sự mở rộng giao lưu kinh tế hàng hoá với nhiều nước trên thế giới Do vậy, khi tỷ giá của USD thay đổi thì hoạt động kinh doanh ngoại tệ bị ảnh hưởng nặng nề, hiệu quả kinh doanh ngoại tệ hầu như bị phụ thuộc vào sự tăng, giảm của tỷ giá Hơn nữa, việc kinh doanh nhiều loại ngoại tệ khác ngoài USD cũng là một
Trang 7phương pháp tăng lợi nhuận trong kinh doanh ngoại tệ do chênh lệch giữa giá bán ra, mua vào các loại ngoại tệ này lớn hơn nhiều so với USD.
+ Giải pháp thứ hai là đa dạng hoá loại hình nghiệp vụ kinh doanh Hiện nay, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM chủ yếu mới thực hiện nghiệp vụ giao ngay, còn các nghiệp vụ khác như mua bán có kỳ hạn, Swap quyền chọn thì mới được triển khai với số lượng khiêm tốn và chỉ giới hạn ởmột số NH Vì vậy, hoạt động kinh doanh ngoại tệ mang tính đơn giản, chưa
có sự kết hợp chặt chẽ với thị trường tiền tệ và hoạt động dự trữ, đầu cơ còn dừng ở mức độ nhất định Căn cứ vào tình hình thực tế thực hiện các loại hình kinh doanh ngoại tệ hiện nay, trước mắt, các NHTMVN nên đẩy nhanh việc kí thoả thuận ISDA với các đối tác nước ngoài để thực hiện các giao dịch Option trên thị trường quốc tế Xúc tiến việc thực hiện nghiệp vụ
Option ở trong nước và xây dựng mối quan hệ về mặt nghiệp vụ chặt chẽ vớinước ngoài là một việc làm hết sức cần thiết mang tính chất quyết định để thực hiện thành công và phát triển nghiệp vụ này Sau khi kí thoả ước ISDA thì các NHTMVN nên thực hiện ngay nghiệp vụ Swap lãi suất cho các khoản tiền lớn để phòng ngừa rủi ro (ví dụ khoản vay 275 triệu USD thời hạn 10 năm của Bộ Tài chính) bởi vì với xu hướng biến động lãi suất như hiện nay nếu không triển khai ngay nghiệp vụ này thì các NH có khả năng đối mặt với rủi ro rất lớn về lãi suất, nếu lãi suất quốc tế tăng mỗi năm 1% thì NHTMVN sẽ mất 2,75 triệu USD mỗi năm và ngược lại nếu lãi suất trên thị trường quốc tế giảm thì sẽ được hưởng lợi một khoản tương ứng Ngoài
ra, để góp phần thêm phong phú các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước tốt hơn thì bên cạnh việc phát triển các nghiệp vụ bán kì hạn, các NHTMVN cũng nên tăng cường thêm cả nghiệp vụ mua kì hạn Đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường sẽ tạo ra các công cụ phòng ngừa rủi ro trước những biến động của tỷgiá và lãi suất trên thị trường trong tương lai giúp cho các nhà xuất nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ động trong kinh doanh, thúc đẩy và phát triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn thiện thị trường hối đoái Việt Nam
+ Giải pháp thứ ba là phải có định hướng, kế hoạch để tiến hành mở rộng mạng lưới hoạt động của mình trên cả thị trường trong và ngoài nước Trướchết, đối với thị trường trong nước, việc mở rộng mạng lưới giao dịch nên tậptrung vào các vùng có tiềm năng phát triển kinh tế, có hiệu quả đầu tư cao, đặc biệt có hoạt động xuất nhập khẩu, vì đó là nơi có nhu cầu cao về sử dụngcác dịch vụ NH Càng nhiều chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu, qui mô kinh doanh của NH càng lớn, nhu cầu về vốn và chuyển đổi ngoại tệ càng nhiều, đồng thời sự tích luỹ vốn tiền gửi cho NH càng lớn Đối với hoạt
Trang 8động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường quốc tế, cần nhanh chóng nghiên cứu các thị trường khu vực, nâng cấp và mở rộng các văn phòng đại diện, công ty tài chính đồng thời triển khai thành lập mới các chi nhánh và văn phòng đại diện tại Châu á, Châu Âu, Châu Mỹ Mở rộng thị trường sẽ giúp các NHTMVN đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của mình, có điều kiện học hỏi thêm để chuẩn hoá và nâng cao chất lượng dịch vụ, mặt khác sẽgóp phần tăng thêm doanh số và lợi nhuận từng bước phát triển và hội nhập với các NH quốc tế.
II
1,Thanh khoản và rủi ro thanh khoảnThanh khoản
a.Thanh khoản : là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng
các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn
b.Khái niệm rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là tổn thất xảy ra
cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanhkhoản dự kiến Rủi ro thanh khoản ở mức ngân hàng phải gia tăng các chiphí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản sẽ làm giảm thu nhập ròng của ngânhàng; ở mức cao hơn, ngân hàng mất khả năng thanh khoản
c.Mục tiêu quản trị rủi ro thanh khoản:
- Đảm bảo khả năng chi trả kịp thời của ngân hàng với chi phí hợp lý
- Dự đoán các nguy cơ rủi ro thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra
2.Các phương pháp đo lường thanh khoản của ngân hàng: có ba
phương pháp đo lường yêu cầu thanh khoản bao gồm: Phương pháp tiếp cậnvốn và sử dụng vốn, phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn và phương pháp tiếpcận chỉ số thanh khoản Tất cả các phương pháp này đều được xây dựng trêngiả định rằng tất cả các ngân hàng chỉ có thể ước lượng gần đúng được mứccầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định
Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn:
Những bước chính trong phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụngvốn bao gồm:
Trang 91 Nhu cầu vay vốn và lượng tiền gửi cần phải được ước lượngtrong giai đoạn ngân hàng ước tính trạng thái thanh khoản (giai đoạn
Phòng kinh tế của ngân hàng hoặc phòng thanh khoản có thể phát triển
một mô hình dự báo như sau:
- Thay đổi dự tính qua tổng cho vay trong giai đoạn tới là một hàm của:+ Tốc độ tăng trưởng dự tính của nền kinh tế nơi ngân hàng hoạt động (ví
dụ GDP hay tổng doanh thu)
+ Thu nhập công ty dự tính theo quý
+ Tỷ lệ tăng trưởng hiện tại của cung tiền Quốc gia
+ Lãi suất cho vay cơ bản của ngân hàng trừ lãi suất giấy nợ ngắn hạn và
tỷ lệ lạm phát dự tính
- Thay đổi dự tính qua tổng tiền gửi trong giai đoạn tới là một hàm của:+ Tốc độ tăng trưởng dự tính của thu nhập cá nhân trong nền kinh tế + Mức tăng dự tính trong doanh thu bán lẻ
+ Tỷ lệ tăng trưởng hiện tại của cung tiền quốc gia
+ Tỷ lệ thu nhập dự tính từ tiền gửi trên thị trường tiền tệ
+ Tỷ lệ lạm phát dự tính
Sử dụng dự báo về cho vay và tiền gửi từ những mô hình nêu trên, nhàquản lý thanh khoản có thể ước tính yêu cầu thanh khoản đối với ngân hàngbằng cách tính:
Trang 10Thay đổi dựtính trong tổngcho vay
Một cách tiếp cận có phần đơn giản hơn trong việc ước tính lượng tiền gửi và cho vay trong tương lai là phân chia dự báo về sự tăng trưởng của tiền gửi và cho vay thành ba bộ phận chính:
1 Phần xu hướng: Ngân hàng có thể ước tính phần này bằng cáchxây dựng một đường xu thế sử dụng giá trị tại các thời điểm cuối năm,cuối quý, cuối tháng đối với tổng tiền gửi và cho vay trong vòng ítnhất 10 năm gần đây( hoặc theo một cơ sở thời gian khác, đủ dài đểxác định xu hướng hay tỉ lệ tăng trưởng dài hạn bình quân)
2 Phần mùa vụ: phần này đo lường sự thay đổi của tổng tiền gửi
và cho vay trong những tuần, những tháng nhất định dưới tác độngcủa yếu tố thời vụ trên cơ sở so sánh với mức tiền gửi và cho vay tạithời điểm cuối năm gần nhất
3 Phần chu kỳ: Phần này thể hiện sự sai lệch so với tổng lượngtiền gửi và cho vay dự tính ( đo được bằng phần xu hướng và phầnmùa vụ ), phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế trong năm
Áp lực thanh khoản chu kỳ là một yếu tố rất khó dự báo được trước Mộtvài phương pháp sau đây cũng giúp đưa ra được những dấu hiệu về độ lớncủa nhu cầu thanh khoản chu kỳ
Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn:
Thứ nhất: tiền gửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng được phân chia
thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút khỏi ngân hàng Để minhhọa, chúng ta có thể chia tiền gửi và những khoản mục vốn phi tiền gửithành 03 nhóm:
Trang 111 Vốn “nóng”- vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất hoặcđược dự tính sẽ bị rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch.
2 Vốn kém ổn định- các khoản tiền gửi của khách hàng trong đómột phần đáng kể (25-30%) sẽ có thể bị rút khỏi ngân hàng tại mộtthời điểm nào đó trong kỳ kế hoạch
3 Vốn ổn định (thường được gọi là tiền gửi cơ sở hay vốn cơsở)- khoản mục vốn mà nhà quản lý ngân hàng tin tưởng rằng ít cókhả năng bị chuyển khỏi ngân hàng (trừ một bộ phận rất nhỏ trongtổng số)
Thứ hai, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh
khoản tùy theo những nguyên tắc quản lý đối với mỗi nhóm vốn nêu trên
Ví dụ:
-các khoản vốn nóng : tỷ lệ dự trữ thanh khoản là 95% (từ dự trữ bắt
buộc mà ngân hàng phải nắm giữ) Dự trữ thanh khoản này có thể bao gồmtiền gửi có thể sử dụng tức thời tại các ngân hàng khác, đầu tư vào trái phiếukho bạc và các hợp đồng mua lại nếu như khoản vốn đầu tư có thể được thuhồi trong vài phút hay vài tiếng
-Đối với vốn tiền gửi và phi tiền gửi kém ổn định là ngân hàng nắm giữ
một tỷ lệ cố định của tổng số vốn (30%) dưới hình thức dự trữ thanh khoản
-đối với vốn cố định, ngân hàng có thể duy trì một tỷ lệ dự trữ thanh khoản thấp hơn (khoảng 15% trở xuống) trong tổng số vốn Do vậy, dự trữ
thanh khoản đằng sau vốn tiền gửi và phi tiền gửi của ngân hàng sẽ được xácđịnh như sau (ví dụ với tỉ lệ dự trữ lần lượt là : 0.95, 0.3 và 0.15):
Dự trữ thanh khoản vốn= 0.95 x (Vốn tiền gửi và phi tiền gửi nóng –
dự trữ bắt buộc) + 0.30 x (Vốn tiền gửi và phi tiền gửi kém ổn định – dự trữbắt buộc) + 0.15 x (Vốn tiền gửi và phi tiền gửi ổn định – dự trữ bắt buộc)
Trang 12 Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản:
Nhiều ngân hàng ước tính yêu cầu thanh khoản dựa trên kinh nghiệm
và mức bình quân ngành Điều này thường có nghĩa là sử dụng các chỉ số tàichính hay các chỉ số thanh khoản thông dụng Ví dụ:
1 Chỉ số về trạng thái tiền mặt: tiền mặt và tiền gửi tại các tổ chứcnhận tiền gửi khác cộng tài sản Một tỷ lệ tiền mặt cao hơn ngụ ý rằngcác ngân hàng có khả năng vững vàng hơn trong việc giải quyết yêucầu tiền mặt tức thời
2 Chỉ số về chứng khoán thanh khoản: chứng khoán của chínhphủ- tổng tài sản, so sánh những chứng khoán dễ tiêu thụ mà ngânhàng nắm giữ với tổng danh mục tài sản của ngân hàng Tỷ lệ chứngkhoán chính phủ càng cao, trạng thái thanh khoản của ngân hàng càngtốt
3 Chỉ số năng lực cho vay: cho vay và cho thuê ròng- tổng tàisản, là một chỉ số thanh khoản âm vì cho vay và cho thuê là những tàisản có tính thanh khoản thấp nhất mà ngân hàng nắm giữ
4 Chỉ số chứng khoán cam kết: chứng khoán cam kết- tổng chứngkhoán nắm giữ, cũng là một chỉ số thanh khoản ngược chiều bởi vìvới một tỷ lệ chứng khoán cam kết cho tiền gửi của chính phủ lớnhơn, chứng khoán có thể bán để tăng cường thanh khoản
5 Chỉ số tiền nóng: tài sản trên thị trường tiền tệ + vốn từ thịtrường tiền tệ = [tiền mặt + chứng khoán chính phủ ngắn hạn + chovay quỹ liên bang + hợp đồng mua lại (ngân hàng cho vay vốn thôngqua việc mua chứng khoán tạm thời)] + [ CD giá trị lớn + tiền gửiĐôla Châu Âu + vay quỹ ngân hàng nhà nước + hợp đồng mua lại(vay vốn bằng việc bán chứng khoán tạm thời)] Đây là chỉ số phảnánh trạng thái tương quan giữa vốn vay trên thị trường tiền tệ và tài
Trang 13sản trên thị trường tiền tệ, tài sản có thể bán được nhanh chóng để đápứng yêu cầu rút vốn từ thị trường tiền tệ.
6 Tỷ số đầu tư ngắn hạn trên vốn nhạy cảm: đầu tư ngắn hạn +vốn nhạy cảm, trong đó đầu tư ngắn hạn bao gồm tiền gửi ngắn hạntại ngân hàng khác, chứng khoán ngắn hạn và vốn nhạy cảm Tỷ sốnày càng cao gợi ý rằng trạng thái thanh khoản của ngân hàng đangđược củng cố
7 Chỉ số tiền gửi môi giới: tiền gửi môi giới có mức nhạy cảm lãisuất cao và có thể bị rút ra nhanh chóng, ngân hàng nắm giữ càngnhiều tiền gửi môi giới thì khả năng khủng hoảng thanh khoản cànglớn
8 Chỉ số tiền gửi cơ sở: tiền gửi cơ sở thường thuộc các tài khoảnquy mô nhỏ của khách hàng và các tài khoản này thường ít bị rút vốnbất thường và có yêu cầu thanh khoản không cao
9 Chỉ số cấu trúc tiền gửi: tiền gửi giao dịch + tiền gửi kì hạn,trong đó tiền gửi giao dịch bao gồm những khoản tiền gửi có thể đượcrút thông qua việc phát séc, trong khi đó tiền gửi kì hạn có kỳ hạn cốđịnh và phải chịu phạt nếu khách hàng thực hiện rút vốn trước hạn Tỷ
lệ này đo lường tính ổn định của cơ sở tiền gửi mà ngân hàng sở hữu;
tỷ lệ này giảm thể hiện tính ổn định cao hơn của vốn tiền gửi và do đóyêu cầu thanh khoản sẽ giảm
Những tiêu chuẩn cuối cùng cho việc đánh giá quản lý thanh khoản - Tínhiệu thị trường:
1 Lòng tin của công chúng
2 Sự vận động trong giá cổ phiếu
3 Phần bù rủi ro trên giá trị tiền gửi (CD) và các khoản đi vaykhác
Trang 144 Tổn thất trong việc bán tài sản.
3 Khủng hoảng thanh khoản:
3.1 Khái niệm:
Khủng hoảng thanh khoản của hệ thống ngân hàng xảy ra khi vì một lý
do nào đó, các ngân hàng thương mại không còn tiền mặt để cho vay và trả
nợ đến hạn, mà không vay được trên thị trường liên ngân hàng
3.2 Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng thanh khoản
Nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại
- Thứ nhất, khi các ngân hàng thương mại tăng trưởng tín dụng quá nóng, đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận
bằng mọi giá sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường có những biến độngkhông theo mong muốn, từ đó, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản Có
và tài sản Nợ do ngân hàng đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn đểcho vay dài hạn, chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối vớiNHTM
- Thứ hai, do việc quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại không đạt hiệu quả, đặc biệt trong khâu phân tích diễn biến thị trường, dẫn đến việc bị
động trước sự thay đổi của thị trường
- Thứ ba, với một quốc gia có hệ thống tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh, tính liên kết còn chưa chặt chẽ, thì khi có một ngân hàng gặp tình
trạng bất ổn thì sẽ khó nhận được sự san sẻ rủi ro, hay sự giúp đỡ từ phía cácngân hàng khác Khi ngân hàng này sụp đổ thì nguy cơ dẫn đến một cuộckhủng hoảng dây chuyền là rất lớn
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Trang 15Nguyến nhân khó điều tiết, Các ngân hàng có thể phải đối mặt với một cuộc
khủng hoảng thanh khoản chỉ do một tin đồn thất thiệt từ phía báo chí, dư
luận, hoặc lời phát ngôn của các cá nhân có tên tuổi Sau khi tin đồn đó đượclan ra, dù đúng hoặc sai, hậu quả kế tiếp chính là các vụ rút tiền tiết kiệmhàng loạt theo tâm lý số đông, khiến cho ngân hàng không kịp xoay sở vànhanh chóng rơi vào tình trạng mất tính thanh khoản
Nguyên nhân từ các chính sách điều tiết vĩ mô của chính phủ
- Thứ nhất, việc thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô quá đột ngột củachính phủ cũng có thể dẫn đến nguy cơ của một khủng hoảng thanh khoản.Chẳng hạn, khi chính phủ chuyển từ chính sách nới lỏng tiền tệ sang chínhsách thắt chặt tiền tệ quá nhanh bằng cách buộc các ngân hàng thương mạităng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mua trái phiếu kho bạc bắt buộc nhằm làm giảm
áp lực lạm phát Điều đó đẩy lãi suất huy động và lãi suất cho vay liên ngânhàng lên cao, tình trạng thanh khoản của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn,doanh nghiệp cũng khó tiếp cận nguồn vốn hoặc gặp rủi ro về lãi suất, khótrả được nợ
- Thứ hai, đối với các quốc gia có nợ nước ngoài ở mức cao hoặc nhận một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt lại là vốn FII, FPI, thì nguy
cơ phải đối mặt với khủng hoảng thanh khoản là rất cao, và một ví dụ thực
tế điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan năm 1997 Khi cácnhà đầu tư nước ngoài nhận thấy những dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế, họ
đã lựa chọn giải pháp thoái vốn, rút hết tiền đầu tư đang gửi tại các ngânhàng, đẩy các ngân hàng tại đây đi đến bờ vực của sự phá sản
4.thục trạng rủi ro thanh khoản ỏ các ngân hàng thương mại Việt Nam
-Giai đoạn 2007 đến quý 01 năm 2010 chứng kiến nhiều biến động trênthị trường ngân hàng Trải qua cuộc khủng hoảng thanh khoản cuối năm
Trang 162007 và khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009, hệ thống ngân hàng baogồm NNHN và các NHTM Việt Nam phải đối mặt với nhiều nguy cơ màtrực tiếp nhất là nguy cơ về rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, quãng thời giannày cũng cho thấy những mặt tích cực trong công tác quản lý thanh khoản vànhiều bài học đã ngay lập tức được áp dụng nhằm tăng cường công tác đềphòng và quản trị rủi ro thanh khoản trong các hoạt động của ngân hàng.Những dấu hiệu tích cực trong công tác quản lý rủi ro thanh khoản tại cácngân hàng Việt Nam có thể nhận thấy như:
- Sự phối hợp trong quản lý, điều hành của NHNN và sự thực hiện củacác NHTM Nhìn chung, NHNN đã có những động thái kịp thời trong việcchỉ đạo chính sách tiền tệ nhằm phòng tránh và hạn chế tối đa rủi ro thanhkhoản, ví dụ như việc gỡ bỏ lãi suất trần cho vay đầu năm 2010 nhằm đưalãi suất dựa theo các quy luật thị trường đã giảm gánh nặng về thanh khoảnđối với các NHTM Hệ thống văn bản hướng dẫn và quản lý đang từngbước được hoàn thiện dựa trên những quy chuẩn Quốc tế như Basel 1,2 gópphần giúp hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Namtiến gần với sự chuyên nghiệp và các chuẩn mực thế giới Sự hình thành vàphát triển của hoạt động thị trường mở (OMO) cũng giải quyết nhiều nhucầu thanh khoản cấp thiết của ngân hàng
- Về phía ngân hàng thương mại, các ngân hàng đã nhận thức rõ hơn tầmquan trọng của quản trị thanh khoản Mỗi ngân hàng đều xây dựng hệ thốngcác quy định về quản lý thanh khoản nhằm đưa ra những dự báo, quy tắcriêng dựa trên các quy tắc của NHNN Thành công của các quy định và hànhđộng của các ngân hàng có thể nhận thấy rõ qua các bảng số liệu thống kê vềcác chỉ số thanh khoản đều có những dấu hiệu khả quan từ 2007 đến quý 01-
2010
Trang 17Tuy nhiên, quản trị rủi ro thanh khoản là một vấn đề khó, không chỉ với
hệ thống ngân hàng Việt Nam mà còn cả đối với những hệ thống ngân hànglớn trên thế giới Trong quá trình phát triển còn non trẻ của mình, hệ thốngngân hàng Việt Nam không thể tránh khỏi một vài hạn chế còn tồn tại:
Đối với ngân hàng Nhà nước:
-Chính sách tiền tệ thiếu nhất quán và đa mục tiêu: trong giai đoạn đầu
năm 2010, có thể nhìn thấy rất rõ ngân hàng nhà nước phải đối mặt với việcthực hiện giữa mục tiêu tăng trưởng và điều hành lạm phát Việc NHNN tiếptục hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp và yêu cầu NHTM không được từchối các khoản vay đủ tiêu chuẩn của các doanh nghiệp góp phần làm căngthẳng tình hình thanh khoản của ngân hàng trong những tháng đầu năm
Đối với các ngân hàng thương mại:
- Hệ thống quản lý thanh khoản của NHTM chưa hiệu quả: cùng với
việc NHNN chưa đưa ra các chỉ tiêu chung và cụ thể trong đánh giácác chỉ tiêu thanh khoản, các NHTM ở Việt Nam cũng chưa xây dựngđược một mô hình dự báo phù hợp cho nhu cầu thanh khoản của ngânhàng Dựa trên các chỉ tiêu đánh giá, có thể thấy, các NHTM ở Việt
Trang 18Nam dựa quá nhiều trên cho vay tín dụng mà đánh giá thấp nguy cơxảy ra rủi ro thanh khoản Việc đa dạng hóa danh mục tài sản như tráiphiếu Chính phủ, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán sẵn sàng đểbán…để đề phòng nguy cơ khủng hoảng thanh khoản cũng bị xemnhẹ Ngoài ra, các NHTM Việt Nam có quy mô nhỏ, khả năng về tàichính còn yếu cũng là khó khăn trong việc đề phòng rủi ro thanhkhoản của ngân hàng ( tính đến ngày 31/03/2010 vẫn còn 30 ngânhàng chưa đáp ứng được nghị định 141/NĐ-CP của NHNN về việc
có tối thiểu 3000 tỷ đồng là vốn điều lệ, theo vneconomy.vn)
5.Các chỉ số đo lường thanh khoản của các ngân hàng thương mại từ
nwam 2007 đến hết quý 1/2010
Chỉ số H3:
Chỉ số H3 là chỉ số về trạng thái tiền mặt
H3 được tính theo công thức:
H3 = (Tiền mặt + Tiền gửi không kì hạn tại các tổ chức tín dụng)/Tổngtài sản “Có” (1)
Hoặc:
H3= (Tiền mặt + Tiền gửi thanh toán tại NHNN + Tiền gửi không kỳ hạntại các tổ chức tín dụng)/Tổng tài sản “Có” (2)
Cả hai công thức trên đều đo lường về trạng thái tiền mặt của ngân hàng
Sở dĩ trạng thái này quan trọng trong việc đánh giá tính thanh khoản là vì
tiền mặt cũng như các khoản được nêu trong phần tử số của hai công thức đều là những tài sản có tính lỏng cao
Chỉ số này càng lớn chứng tỏ tính thanh khoản của ngân hàng càng tốt.
Sự khác biệt giữa hai công thức là không đáng kể vì phần tiền gửi thanh toántại Ngân hàng Nhà nước của các ngân hàng thường là rất ít Vì vậy, nhằmđơn giản hóa việc nghiên cứu, chúng tôi tiến hành phân tích H3 theo côngthức (1)