1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp

540 482 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 540
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về về lý thuyết của Quản trị doanh nghiệp và hình thành khả năng vận dụng các lý thuyết đã học vào thực tế với các nội dung cơ bản gồm: - Cá

Trang 1

Bài giảng môn học Quản trị doanh nghiệp

( Biên soạn cho bậc đào tạo Đại học của chuyên ngành QTNL và Kế

toán thuộc trường ĐH LĐ- XH)

1 Khối lượng: 5 đơn vị học trình, trong đó:

Số giờ học lý thuyết: 45 tiết

Số giờ thảo luận, kiểm tra: 15 tiết

Số giờ SV tự học và đi thực tế: 15 tiết

2 Học phần tiên quyết: Kinh tế chính trị, Kinh tế vĩ mô, vi mô, Quản trị học, Luật Kinh tế

3 Học phần học trước khác và song hành: Không

4 Tài liệu học tập chính: Tập bài giảng môn Quản trị doanh nghiệp dành cho hệ

ĐH ngành Kế toán do Th.s Phan Thị Phương- Trường ĐH Lao động- Xã hội biên soạn

5 Tài liệu tham khảo:

- Giáo trình Quản trị DN, PGS- TS Lê Văn Tâm và TS Ngô Kim Thanh-

Bộ môn Kinh tế, khoa Quản trị kinh doanh công nghiệp và xây dựng -Trường

ĐH KTQD HN, NXB Lao động- Xã hội, 2004

- Giáo trình Quản trị DN, PGS- TS Đồng Thị Thanh Phương, ThS Nguyễn

Đình Hoà, ThS Trần Thị ý Nhi, Khoa Kinh tế- Trường Đại học bán công Tôn

Đức Thắng- Thành phố Hồ chí Minh, NXB Thống kê, 2005

6 Mục tiêu của học phần

Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về về lý thuyết của Quản trị doanh nghiệp và hình thành khả năng vận dụng các lý thuyết đã học vào thực

tế với các nội dung cơ bản gồm:

- Các vấn đề khái quát về quản trị doanh nghiệp và môn học quản trị doanh nghiệp- Chương 1 và 2 (Khái niệm; Chức năng; Nguyên tắc; Phương pháp; Bộ máy và Công cụ quản trị doanh nghiệp)

Trang 2

- Công tác quản trị trong một số lĩnh vực và hoạt động quan trọng của doanh nghiệp (Các lĩnh vực Quản trị Sản xuất; Quản trị hoạt động Khoa học kỹ thuật Công nghệ; Quản trị nhân lực; Quản trị tài chính; Quản trị chiến lược; Quản trị Marketing và Quản trị Chất lượng)

7 Nhiệm vụ của sinh viên

- Đến lớp và làm đủ các bài tập mà giáo viên giao và quy định của nhà trường

- Tham dự kiểm tra quá trình và tham quan thực tế theo đúng qui định

- Dự thi hết môn

8 Cách đánh giá tiếp thu học phần của sinh viên:

- Đánh giá quá trình qua các bài viết, thảo luận, thu hoạch đi thực tế của cá nhân hoặc theo tổ, nhóm

- Đánh giá hết môn qua bài thi hết môn

9 Nội dung chi tiết của học phần:

Trang 3

Chương 1: Khái quát về Quản trị doanh nghiệp

(Thời lượng: 12 tiết Trong đó giảng 9 tiết, thảo luận 3 tiết)

I Khái quát về doanh nghiệp

1 Đặc trưng, nhiệm vụ của doanh nghiệp

1.1 Khái niệm, đặc trưng của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đơn vị thực hiện sản xuất hàng hoá hoặc cung ứng dịch

vụ theo nhu cầu thị trường để thu lợi nhuận

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của luật pháp nhằm mục

đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”- (Trích Điều 4- chương I- Luật doanh nghiệp ban hành ngày 12/12/2005)

Trong đó, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Đặc trưng của doanh nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hợp pháp

Doanh nghiệp được thành lập là để tiến hành hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp là một tổ chức sống

1.2 Nhiệm vụ của doanh nghiệp

Những nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là:

1 Sản xuất kinh doanh đúng mặt hàng đăng ký, trên cơ sở không ngừng tăng về số và chất lượng các sản phẩm- dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội để thu lợi nhuận tối đa

2 Bảo toàn và phát triển vốn

3 Chăm lo việc làm, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của người lao

động trong doanh nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội

4 Thực hành nghiêm túc chế độ hạch toán kinh tế

Trang 4

5 Chấp hành nghiêm pháp luật và làm trong sạch môi trường pháp lý

6 Bảo vệ sản xuất, môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

7 Tham gia giữ gìn an ninh khu vực và làm nghĩa vụ quốc phòng

2 Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế

Doanh nghiệp có những vai trò quan trọng, như:

Là tế bào kinh tế của nền kinh tế quốc dân

Là nơi sáng tạo của cải vật chất tinh thần cho thị trường, xã hội

Là nguồn tạo tích luỹ quan trọng cho Ngân sách

Là một tế bào xã hội, văn hoá

3 Phân loại doanh nghiệp

Sau đây là một số phân loại cơ bản:

3.1 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động; Các doanh nghiệp được chia thành:

- Các doanh nghiệp Nông nghiệp (Trồng trọt; chăn nuôi; lâm nghiệp; )

- Các doanh nghiệp công nghiệp (Dệt; may; nhuộm; thuộc da; khai thác mỏ; chế biến thực phẩm và đồ uống; thiết bị văn phòng )

- Các doanh nghiệp thương mại (Phân phối hàng hoá )

- Các doanh nghiệp dịch vụ (Ngân hàng, vận tải, du lịch, y tế )

-

3.2 Phân loại theo tính chất sở hữu tài sản, có:

- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ

vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối

- Doanh nghiệp thuộc chế độ sở hữu cá nhân: Là loại doanh nghiệp, ở đó toàn bộ tài sản và họat động của doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản riêng của mình

- Doanh nghiệp đa sở hữu: Là loại doanh nghiệp, ở đó toàn bộ tài sản và hoạt động là do nhiều cá nhân (tổ chức) góp lại

3.3 Căn cứ vào độ lớn (quy mô);

Trang 5

- Các loại quy mô của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp sẽ xếp vào một trong 3 loại độ lớn (quy mô) sau:

Các doanh nghiệp có quy mô lớn

Các doanh nghiệp có quy mô vừa

Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

- Các tiêu thức phân chia theo quy mô

Việc phân loại theo quy mô thường dựa trên cơ sở các tiêu thức như: Tổng vốn đầu tư; Doanh thu; Lợi nhuận; Số lượng hàng hoá- dịch vụ, lao động,

ở Việt nam, theo quy định hiện hành- Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/ 11/ 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định:

Doanh nghiệp có quy mô lớn phải có số vốn đăng ký > 10 tỷ đồng trở lên;

có số lao động trung bình hàng năm > 300 người trở lên

Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa có số vốn đăng ký <=10 tỷ đồng, có

số lao động trung bình hàng năm <= 300 người

3.4 Căn cứ vào hình thức pháp lý:

Hệ thống các doanh nghiệp gồm có:

3.4.1 Doanh nghiệp Nhà nước

Như đã nêu trên “ Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước

sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối”

- Phân loại doanh nghiệp Nhà nước:

+ Theo mục đích chính trong hoạt động, có:

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích

+ Theo tính chất hoạt động, các doanh nghiệp Nhà nước chia thành:

Doanh nghiệp Nhà nước độc lập

Doanh nghiệp Nhà nước thành viên

+ Theo cách thức tổ chức quản lý, có:

Trang 6

Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị

Doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng quản trị

- Đặc trưng pháp lý cơ bản của doanh nghiệp Nhà nước, là:

Có tư cách pháp nhân Nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc vốn góp chi phối (>50% vốn điều lệ) Thành lập và giải thể theo yêu cầu của Nhà nước

Hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật doanh nghiệp

- Thuận lợi và khó khăn:

Doanh nghiệp Nhà nước có một số thuận lợi cơ bản như :

Nhà nước là chủ đầu tư , nên dễ có cơ hội thực hiện các dự án lớn Giữ vai trò chủ đạo, nên có vị thế cao trong nền kinh tế quốc dân

Có ưu thế về kỹ thuật, công nghệ và phương thức kinh doanh

Các doanh nghiệp này có một số bất lợi trong hoạt động, đặc biệt là nguy cơ dễ sinh tư tưởng ỷ lại, vô trách nhiệm, tham ô, lãng phí

3.2.2 Hợp tác xã

Đó là những tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình (gọi chung

là xã viên) tự nguyện góp vốn, góp sức và thành lập theo quy định của pháp luật cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao

đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

- Đặc trưng pháp lý cơ bản của hình thức doanh nghiệp này:

Là tổ chức kinh tế tự chủ của xã viên, số lượng tối thiểu là 7 thành viên

Trang 7

hợp tác xã thường phải đối mặt với một số bất lợi trong quá trình hoạt động, như:

sự hạn chế về hiệu lực và hiệu quả trong quản lý; sự phát triển về quy mô và hiệu quả hoạt động kinh doanh thường không cao

Nguồn vốn huy động dồi dào

Chuyển nhượng quyền sở hữu vốn dễ dàng

Và những bất lợi có thể kể đến là: Sự khó kiểm soát thông tin

3.2.4 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại doanh nghiệp được thành lập dựa trên cơ sở tính đối nhân trong liên kết kinh doanh giữa các thành viên cùng công ty

- Đặc trưng pháp lý của loại hình kinh doanh này là:

Các thành viên đóng góp vốn trên tinh thần tự nguyện với nhiều mức độ và hình thức khác nhau (vàng, bất động sản, bí quyết công nghệ, năng lực quản

lý ) và chịu trách nhiệm chỉ trong phạm vi vốn góp đó

Không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào

- Các loại công ty trách nhiệm hữu hạn:

Trang 8

Căn cứ vào số lượng, thành phần, cơ cấu các thành viên tham gia, công

ty trách nhiệm hữu hạn được chia làm hai loại, đó là:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên

Đặc điểm pháp lý cơ bản của loại công ty trách nhiệm hữu hạn này là:

Và bất lợi đáng kể là sự khó kiểm soát thông tin liên quan Trong các công

ty này, mỗi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đối với các quyết định của bất

cứ thành viên nào trong công ty Tất các các hoạt động độc lập dưới danh nghĩa công ty của một thành viên bất kỳ nào đều có sự liên quan, ràng buộc đối với các thành viên khác Cho nên sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau là yếu tố quan trọng Nếu thiếu thông tin và sự hiểu biết lẫn nhau đó sẽ dễ dẫn tới sự bất đồng, suy giảm quyền lực và những tranh cãi triền miên có thể dẫn đến giải thể công ty

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Là loại công ty trách nhiệm hữu hạn do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Đặc trưng pháp lý cơ bản của hình thức công ty này là:

Do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ

Có tư cách pháp nhân Chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ

Không được phát hành chứng khoán

Thuận lợi cơ bản của loại công ty này là:

Trang 9

Thành lập dễ dàng

Chủ sở hữu được chịu trách nhiệm hữu hạn

Bất lợi đáng kể là nguồn vốn bị hạn chế

3.2.5 Công ty hợp danh

Là loại doanh nghiệp do ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung và chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty

- Đặc trưng pháp lý cơ bản của loại công ty này là:

Có ít nhất 2 thành viên hợp danh là các cá nhân- chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản riêng về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra có thể có thành viên góp vốn, chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty

Có tư cách pháp nhân

Không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

+ Thuận lợi lớn nhất của loại công ty này là nguồn vốn dồi dào

+ Bất lợi: Một số bất lợi có thể kể đến đối với hình thức doanh nghiệp này là: Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn; Dễ bị giải thể

Trang 10

Giữ được bí mật kinh doanh

- Bất lợi Những bất lợi đáng ngại của hình thức doanh nghiệp này là: Vốn kinh doanh bị hạn chế và chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp

4 Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp

Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp bao gồm các nhóm cơ bản sau:

4.1 Các mục tiêu kinh tế Trong đó các mục tiêu quan trọng của nhóm này là:

- Mục tiêu lợi nhuận

- Mục tiêu cung cấp khối lượng vật phẩm- dịch vụ tối đa, thoả mãn các nhu cầu của xã hội

- Mục tiêu phát triển doanh nghiệp

4.2 Các mục tiêu chính trị

- Xây dựng và phát triển đội ngũ những người lao động có đủ phẩm chất chính trị và chuyên môn, tác phong lao động phù hợp yêu cầu xã hội ở trong nước và nước ngoài

- Góp phần thực hiện các mục tiêu chính trị của Đảng và Nhà nước

4.3 Các mục tiêu xã hội

Các mục tiêu chủ yếu của nhóm này là:

- Bảo vệ, thoả mãn nhu cầu, quyền lợi của các thành viên trong doanh nghiệp

- Bảo vệ quyền lợi của bạn hàng, của người tiêu dùng

- Tham gia công tác chăm lo xã hội, từ thiện, an ninh

4.4 Các mục tiêu bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Thuộc nhóm này có các mục tiêu chính như:

Mục tiêu bảo vệ môi trường

Mục tiêu tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Trang 11

5 Cơ cấu tổ chức (cơ cấu chung) của doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp thành

và mối quan hệ giữa chúng trong hệ thống sản xuất kinh doanh Cụ thể bao gồm:

5.1 Bộ phận sản xuất kinh doanh chính

Là bộ phận kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp, có chức năng sản xuất, thực hiện hầu hết các vật phẩm- dịch vụ thuộc nhiệm vụ của doanh nghiệp để cung cấp cho thị trường, xã hội

Bộ phận này có vai trò quyết định đối với doanh thu của doanh nghiệp

5.2 Bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và phục vụ

Bộ phận sản xuất kinh doanh phụ là bộ phận được tổ chức ra, nhằm tận thu các năng lực dư thừa từ sản xuất kinh doanh chính

Bộ phận phục vụ là bộ phận được tổ chức ra nhằm phục vụ các nhu cầu của bộ phận sản xuất sản xuất kinh doanh chính hoặc phụ

Vai trò: Tận dụng các yếu tố sản xuất; bổ sung, hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh chính, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

5.3 Bộ phận quản trị và hành chính gián tiếp khác

Là bộ phận gián tiếp trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các phòng ban chức năng quản trị

Vai trò: Có vai trò quyết định đối với doanh nghiệp về phương diện định hướng, triển khai, giám sát các hoạt động trong toàn doanh nghiệp

6 Các yếu tố cơ bản trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

6.1 Yếu tố Vốn

Khái niệm: Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản dùng trong

và ngoài sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp bao gồm:

Vốn trong sản xuất kinh doanh (Vốn cố định; Vốn lưu động; Vốn khác) Vốn ngoài sản xuất kinh doanh (Vốn cố định; Vốn lưu động; Vốn khác)

Trang 12

Vốn có vai trò là điều kiện tiên quyết đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

6.2 Yếu tố Lao động

Là số và chất lượng của tập thể lao động- lực lượng các lao động trực tiếp

và gián tiếp của doanh nghiệp

Biểu hiện qua: số lượng, cơ cấu nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, các phẩm chất nghề nghiệp khác của đội ngũ lao động trong doanh nghiệp và mức

độ phù hợp với quy mô, tính chất của sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Vai trò: Là yếu tố động nhất quyết định mức độ sáng tạo, năng suất và hiệu quả trong các hoạt động nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng của doanh nghiệp

6.3 Môi trường kinh doanh

6.3.1 Khái quát về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố bên ngoài vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp- thể hiện ở (hình 1.1)

Hình 1.1 Các yếu tố môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 13

Hình 1.1 cho thấy: môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có biểu hiện rất đa dạng, bao gồm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, như: Môi trường văn hoá; Chính trị - pháp lý; môi trường Kinh tế; Công nghệ và các yếu tố thuộc môi trường vi mô, như: Yêú tố khách hàng; Nhà cung cấp; Đối thủ cạnh tranh;

Mỗi sự biến động của các yếu tố môi trường nói trên, ở những mức độ khác nhau, đều có ảnh hưởng- hoặc tạo thuận lợi, cơ hội thành công hoặc gây khó khăn, nguy cơ thất bại đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Việc nghiên cứu, đo lường ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh là yêu cầu cần thiết để các doanh nghiệp có những ứng xử phù hợp, có lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó đặc biệt đáng quan tâm là các yếu tố như Công nghệ, khách hàng, các nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài ngành

6.3.2 Các yếu tố quan trọng trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

- Yếu tố công nghệ và sự phát triển của công nghệ

Trong thời đại hiện nay, công nghệ là nhân tố có sự thay đổi năng động nhất trong các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh Sự thay đổi này đem lại những cơ hội và nguy cơ đối với các doanh nghiệp

Những thành tựu của công nghệ đã làm thay đổi lớn về phương pháp và hiệu quả làm việc của con người trong tất cả các lĩnh vực, phạm vi và các loại tổ chức trong đó có các doanh nghiệp Kết quả của sự thay đổi đó là những sản phẩm mới luôn thay thế cho sản phẩm cũ; những công nghệ hiện đại, tiên tiến hơn thay chỗ cho những công nghệ lỗi thời Tự động hóa và hiện đại hoá; truyền thông không gian và sợi quang học; kỹ thuật siêu dẫn và mạng lưới truyền dẫn

điện tử đã làm tăng năng lực của con người lên rất nhiều lần

Sự tiến bộ của công nghệ tác động mạnh mẽ đối với sản phẩm, dịch vụ, thị trường, nhà cung cấp, nhà phân phối, khách hàng và cả vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Những thay đổi này thể hiện ở:

+ Chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng ngắn hơn

+ Vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn hơn

Trang 14

Mỗi năm có nhiều sản phẩm mới được tung ra thị trường, trong số đó có nhiều kiểu mẫu sản phẩm còn đang thịnh hành nhưng đã được cải tiến Điều này cho thấy là các sản phẩm ngày nay có chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn

Kết quả là nếu doanh nghiệp không có chiến lược sản phẩm thích hợp thì rất có thể bị thua lỗ, bởi hàng hoá rất có thể bị chất đống trong kho do tốc độ lỗi thời của chúng diễn ra rất nhanh chóng

+ Cuộc cách mạng công nghiệp mới

Ngày nay ngành công nghệ vi điện tử đang đi vào giai đoạn hưng thịnh và

là giai đoạn mở đầu của một cuộc cách mạng công nghiệp mới Cuộc cách mạng này với những đột phá sẽ ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp và mọi mặt của xã hội

Với sự hỗ trợ của mạng lưới máy tính, các nhà quản trị có thể điều hành và kiểm soát tất cả mọi hoạt động của văn phòng hay phân xưởng Họ có thể thu thập, xử lý, gửi và nhận các thông tin, các bức thư, các mệnh lệnh và lưu trữ những nội dung cần thiết mà không mất nhiều thời gian

Ngoài ra, với sự kết hợp giữa tự động hoá và mạng thông tin toàn cầu cho phép các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch kinh doanh quốc tế, luân chuyển vốn đầu tư một cách nhanh chóng, nhờ đó nâng cao khả năng hoạt động, năng suất và hiệu quả Doanh nghiệp có thể giảm chi phí văn phòng do tiết kiệm mặt bằng, nhân công, thời gian đi lại và tránh nạn kẹt xe tại các thành phố lớn; sẽ có nhiều nhà máy không có công nhân mà chỉ có những người máy làm việc dưới

sự chỉ huy của các máy vi tính được lập trình sẵn Do đó năng suất lao động sẽ ngày càng cao, chất lượng hoàn hảo hơn và con người sẽ dành nhiều thời gian cho công tác hoạch định, tư duy và duy trì sự thông suốt của hệ thống sản xuất

Song công nghệ cao, mới cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp Nhiều lao động sẽ bị mất việc làm và không có khả năng tìm được việc làm mới nếu họ không thích nghi được với công nghệ mới

- Yếu tố môi trường vật chất

Môi trường vật chất bao gồm các yếu tố: tài nguyên thiên nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế

Trang 15

+ Tài nguyên thiên nhiên

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm các loại khoáng sản tài nguyên trên bề mặt và trong lòng đất, dưới đáy biển như các loại quặng kim loại, dầu

mỏ, than, khí đốt, uranium, nguồn nước, không khí, rừng tự nhiên

Các nguồn tài nguyên ngày càng trở nên khan hiếm, mặc dù ngày nay nhờ công nghệ hiện đại con người đã sử dụng chúng tiết kiệm hơn trước, nhiều nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt Còn môi trường tự nhiên thì ngày càng bị bị tàn phá nặng nề, tầng ozone bị thủng, lụt bão xảy ra thường xuyên, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề Điều đó cũng tăng thêm những khó khăn cho các doanh nghiệp

+ Cơ sở hạ tầng kinh tế, bao gồm: mạng lưới giao thông- vận tải, đường sá, cầu, cống, phương tiện vận chuyển; mạng lưới thông tin- bưu chính- viễn thông; nguồn nhân lực; tính hữu hiệu của các dịch vụ ngân hàng, tài chính

Những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các doanh nghiệp Chẳng hạn, sự ngần ngại đầu tư vào một khu vực có mạng lưới thông tin- bưu chính- viễn thông kém Do đó, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế là những

điều kiện tiên quyết đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

- Yếu tố khách hàng

Khách hàng là các cá nhân hay tổ chức mua sản phẩm- dịch vụ của doanh

nghiệp Khách hàng bao gồm: Người tiêu dùng; Các trung gian phân phối: các nhà bán sỉ, lẻ và đại lý; Khách hàng công nghiệp; Khách hàng cơ quan

Doanh nghiệp không thể tồn tại nếu thiếu khách hàng Khách hàng luôn mong muốn nhận được sản phẩm- dịch vụ có chất lượng ngày càng cao hơn với giá rẻ hoặc phải chăng Họ có quyền mặc cả, thương lượng về giá cả và tự do lựa chọn sản phẩm- dịch vụ của một số nhà sản xuất nào đó Những vấn đề đó cũng

sẽ tạo áp lực đối với doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp phải coi trọng, lấy sự thoả mãn nhu cầu của họ là mục tiêu quan trọng

- Nhà cung cấp

Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các loại nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm (hay dịch vụ) cho doanh nghiệp

Trang 16

Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời hạn giao hàng Khả năng thương lượng về giá cả của các nhà cung cấp tuỳ thuộc vào mức lãi và chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ) mà họ dự định cung ứng cho doanh nghiệp Ngoài ra, các loại bằng phát minh, sáng chế thường góp phần nâng cao ưu thế cho các nhà cung cấp Bởi chúng ngăn cản các đối thủ cạnh tranh của nhà cung ứng những công nghệ hay hàng hoá tương tự cho doanh nghiệp

Như vậy, những ưu thế và đặc quyền của các nhà cung cấp cho phép họ có những ảnh hưởng nhất định , họ có thể tạo ra những áp lực đối với doanh nghiệp

Sự tranh đua giữa các đối thủ cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp phải

áp dụng những chiến lược nhằm giành ưu thế như giảm giá bán, đẩy mạnh khuyến mãi, quảng cáo, nâng cao dịch vụ khách hàng, bảo hành và cải tiến chất lượng sản phẩm (dịch vụ)

Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng cải thiện vị thế của họ trên thị trường và tìm cách phản công lại các đối thủ khác bằng cách giảm giá bán thì các doanh nghiệp khác cùng ngành thường nhanh chóng giảm theo, làm cho giá bán trên thị trường giảm xuống Điều này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng và sẽ làm cho một số doanh nghiệp bị phá sản, một số sẽ chuyển sang ngành kinh doanh khác có suất lợi nhuận trung bình cao hơn Có thể nói, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tạo thành những áp lực rất gay gắt đòi hỏi mỗi doanh nghiệp luôn phải đối phó trong mọi thời điểm

- Các doanh nghiệp mới gia nhập ngành Sự gia tăng mức độ cạnh tranh trong một ngành tuỳ thuộc vào mức độ khó khăn đối với các doanh nghiệp mới gia nhập ngành để cạnh tranh với doanh nghiệp hiện tại trong ngành

Trang 17

Nếu một ngành có những “chướng ngại” gia nhập ngành thấp thì mức độ cạnh tranh sẽ rất ác liệt và ngược lại Chẳng hạn, ngành chế biến thức ăn nhanh

là ngành có những “trở ngại” gia nhập ngành cao, nên mức độ cạnh tranh trong ngành thấp hơn những yếu tố thường được coi là “chướng ngại” đối với các doanh nghiệp khi gia nhập một ngành kinh doanh là: Sản xuất quy mô lớn, sự chuyên biệt hoá sản phẩm, nhu cầu vốn đầu tư và quy chế của Chính phủ

- Các cơ quan chính quyền

Các cơ quan chính quyền đại diện cho luật pháp theo dõi, quản lý các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo pháp luật Do đó, họ có quyền can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của doanh nghiệp

Chẳng hạn, toà án kinh tế có thể đưa ra những phán quyết đối với các vụ tranh chấp kinh tế và các doanh nghiệp có liên quan phải chấp hành Cơ quan thuế có thể kiến nghị cấp chính quyền có thẩm quyền rút giấy phép kinh doanh hay phạt nặng nếu phát hiện một doanh nghiệp trốn thuế

- Các nhóm quyền lợi trong doanh nghiệp

Một doanh nghiệp thường liên quan đến nhiều nhóm quyền lợi khác nhau Các nhà quản trị cần được thoả mãn nhu cầu về thu nhập và địa vị, những người lao động có nhu cầu về việc làm và thu nhập để nuôi sống gia đình họ; Các chủ

sở hữu có nhu cầu đầu tư sinh lợi, còn nhu cầu cần được thoả mãn của Chính phủ

là có được nguồn thu cho ngân sách và tạo việc làm cho xã hội

Trong trường hợp, quyền lợi của các nhóm này xung đột, mỗi nhóm đều

có thể tạo những áp lực nhất định đối với doanh nghiệp theo cách thức của họ

Thông qua việc bảo vệ quyền lợi riêng, các nhóm có quyền lợi trong doanh nghiệp luôn tìm cách tác động trực tiếp đến các quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Thêm vào đó, sự can thiệp của các cơ quan Chính phủ nhằm duy trì hiệu lực của luật pháp sẽ có những tác động nhất định, thậm chí có thể làm cho doanh nghiệp đóng cửa

Cho nên để tồn tại và phát triển tốt, các doanh nghiệp phải dung hoà quyền lợi của họ ở mức độ hợp lý mà tất cả các bên đều có thể chấp nhận được

Trang 18

6.3.3 Vai trò của môi trường kinh doanh:

Là yếu tố bên ngoài nhưng có ảnh hưởng (Tạo thuận lợi hoặc cản trở) đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở những mức độ khác nhau Từ

đó ảnh hưởng tới các hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

II Khái quát về Quản trị doanh nghiệp

1 Đặc trưng và vai trò của Quản trị doanh nghiệp

1.1 Đặc trưng của quản trị doanh nghiệp

- Khái niệm: Có nhiều khái niệm khác nhau về “Quản trị doanh nghiệp”, sau đây là một trong số đó

“Quản trị doanh nghiệp là sự tác động của chủ thể quản trị tới đối tượng quản trị để tổ chức, phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”

- Đặc trưng của hoạt động quản trị doanh nghiệp:

+ Quản trị là một dạng hoạt động chuyên nghiệp đặc biệt của Nhà quản trị trong doanh nghiệp- Hoạt động này không tạo ra sản phẩm chung của tổ chức

+ Có chức năng, nhiệm vụ và các kỹ năng làm việc riêng:

Nhiệm vụ: làm tốt các chức năng: Dự báo; kế hoạch; tổ chức; kiểm tra; Lãnh đạo- điều hành;

Các kỹ năng quan trọng của Nhà quản trị doanh nghiệp là: Kỹ năng kỹ thuật; Kỹ năng làm việc với con ngưòi và kỹ năng tư duy

- Mục đích của quản trị doanh nghiệp: Nhằm tạo ra sự phối hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh; thống nhất hoạt động của các cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp theo các mục tiêu chung một cách có hiệu quả nhất

1.2 Vai trò của Quản trị doanh nghiệp:

- Có vai trò quyết định tới hiệu quả các hoạt động, từ đó có vai trò quyết

định với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trang 19

- Có vai trò cơ sở đối với quản lý vĩ mô nền kinh tế

2 Các chức năng và lĩnh vực Quản trị doanh nghiệp

2.1 Các chức năng của Quản trị doanh nghiệp

- Các quan điểm về các chức năng quản trị doanh nghiệp

+ Quan điểm của Henry Fayol

Henry Fayol là một nhà khoa học quản trị người Pháp Có thể coi ông là người thành công nhất về nghiên cứu quản trị đầu thế kỷ 20 Đặc biệt cách phân loại của ông về chức năng quản trị cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị khoa học Trong cuốn "Quản trị Công nghiệp và tổng quát" viết năm 1916, ông chia quá trình Quản trị doanh nghiệp thành 5 chức năng, cụ thể:

Chức năng Hoạch định; chức năng Tổ chức; chức năng Phối hợp; chức năng Chỉ huy và chức năng Kiểm tra

+ Quan điểm của L Gulick và L.Urwich

L Gulick (Mỹ) và L.Urwich (Anh), trong cuốn “Luận cứ về khoa học quản trị”, hai nhà khoa học này đã phát triển lý thuyết của Henry Fayol thành 7 chức năng trong quản trị (viết tắt là: POSDCORB), cụ thể gồm:

Chức năng Hoạch định; chức năng Tổ chức; chức năng Nhân sự; chức năng Chỉ huy; chức năng Phối hợp; chức năng Báo cáo và chức năng Ngân sách

+ Quan điểm của H Koontz và C.O'Donnell

Năm 1955, trong cuốn “Các nguyên tắc quản trị”, hai nhà khoa học người

Mỹ này đã quay trở lại phát triển và nhấn mạnh hơn nữa phân loại của Henry Fayol trong một cuốn giáo trình có ảnh hưởng khắp thế giới Theo quan điểm của nhóm này, hoạt động quản trị doanh nghiệp gồm có 4 chức năng cơ bản, là:

Chức năng xác định triết lý, giáo lý và chính sách kinh doanh

Chức năng kế hoạch kinh doanh và kiểm tra

Chức năng tổ chức và chỉ huy

Chức năng phát triển quản trị viên

- Nội dung cụ thể của các chức năng cơ bản trong Quản trị doanh nghiệp:

Trang 20

Kế hoạch dài hạn (Thời gian thực hiện > 5 năm)

Kế hoạch trung hạn (Thời gian thực hiện > 1 năm và <= 5 năm)

Kế hoạch ngắn hạn (Thời gian thực hiện <= 1 năm)

Lựa chọn phương án kế hoạch tốt nhất

Định hướng cho công tác chuẩn bị thực hiện kế hoạch

Hoạch định có vai trò lớn trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, thể hiện: Đó là kim chỉ nam cho hoạt động của nhà quản trị và doanh nghiệp

Là công cụ để nhà quản trị triển khai hoạt động chủ động và hiệu quả nhất Góp phần giảm bớt rủi ro trong kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

+ Chức năng tổ chức

Tổ chức là một chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp, bao gồm việc xác định vị trí không gian và thời gian, thiết lập các bộ phận cấu thành doanh nghiệp, triển khai và duy trì các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hành và trách nhiệm giữa các bộ phận trong mọi hoạt động của doanh nghiệp

Nội dung bao gồm các hoạt động cơ bản, như:

Xác định vị trí địa lý của doanh nghiệp

Thiết kế, xây dựng mô hình nhân sự của doanh nghiệp

Bố trí không gian, thời gian cho các bộ phận, các họat động

Thiết kế chế tài, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cá nhân, bộ phận Phân công, phân nhiệm

Đưa ra các cơ chế, quy định cho sự phối hợp giữa các cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp

Trang 21

Chức năng tổ chức có vai trò:

Tạo sự trật tự, nền nếp, thuận lợi trong công tác quản trị doanh nghiệp Tạo tiền đề cho phối hợp có hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp + Chức năng chỉ huy (Lãnh đạo- điều hành)

Đó là một quá trình tác động đến con người nhằm định hướng, điều khiển việc thực hiện và phối hợp tập thể lao động trong phấn đấu hoàn thành những mục tiêu của doanh nghiệp

Nội dung chức năng này được phản ánh trong hai hoạt động cơ bản, là: Hoạt động lãnh đạo (Chỉ đạo, định hướng chiến lược, chiến thuật )

Hoạt động điều hành doanh nghiệp: triển khai, điều chỉnh, bổ sung thực hiện các chỉ đạo của lãnh đạo

Đây là chức năng quan trọng, đặc trưng của quản trị, có vai trò chỉ huy các hoạt động hướng tới các mục tiêu đã định trước của doanh nghiệp

+ Chức năng kiểm tra

Kiểm tra là quá trình xem xét, giám sát, kiểm soát, đo lường việc thực hiện nhằm đôn đốc và đảm bảo thực hiện có hiệu quả hơn nữa các mục tiêu đã

đặt ra của doanh nghiệp

Nội dung của chức năng này được thể hiện qua các hoạt động cụ thể, như: Kiểm soát; Thanh tra; Kiểm kê

Đối tượng kiểm tra là tất cả các yếu tố, các cá nhân, bộ phận, các hoạt

động của quá trình hoạt động trong và ngoài sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các hình thức kiểm tra (thường xuyên, định kỳ, có báo trước- đột xuất; kiểm tra tổng thể, toàn diện- chọn mẫu; kiểm tra trực tiếp- gián tiếp )

Các hoạt động của kiểm tra thực sự có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, đôn đốc và chấn chỉnh kịp thời những sai lệch trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động để đạt được mục tiêu đã đề ra trong sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp

2.2 Các lĩnh vực của quản trị doanh nghiệp

Trang 22

2.2.1 Quản trị lĩnh vực sản xuất, gồm có các nhiệm vụ chính sau đây:

Hoạch định sản xuất

Tổ chức thực hiện các quá trình sản xuất

Kiểm tra sản xuất

Giữ gìn bản quyền, bí quyết, kiểu dáng và ứng dụng các sáng chế phát minh trong sản xuất của doanh nghiệp

2.2.2 Quản trị lĩnh vực Vật tư, gồm có các nhiệm vụ cơ bản là:

Phát hiện nhu cầu vật tư

Phát triển nhân viên (đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt )

Xây dựng hệ thống thù lao lao động

Quản lý nhân sự thông qua hồ sơ dữ liệu nhân sự, qua thống kê hoạt động của nhân viên và hỗ trợ đời sống

2.2.4 Quản trị lĩnh vực tổ chức, thông tin, gồm các nhiệm vụ lớn sau đây:

Quản trị trong lĩnh vực tổ chức ( Lập kế hoạch )

Quản trị trong lĩnh vực thông tin ( Lập kế hoạch )

2.2.5 Quản trị lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, gồm có các nhiệm vụ chính là:

Trang 23

Lập kế hoạch và thực hiện các nghiên cứu cơ bản có liên quan

Nghiên cứu ứng dụng khoa học và phát triển vào thực tiễn doanh nghiệp

Tổ chức nghiên cứu và thẩm định các tiến bộ khoa học

Thẩm định hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng

2.2.6 Lĩnh vực tài chính và kế toán, gồm có các nhiệm vụ cơ bản sau:

Tạo vốn

Sử dụng vốn

Quản lý vốn

Lĩnh vực kế toán

2.2.7 Lĩnh vực Marketing, gồm có các nhiệm vụ quan trọng như:

Thu thập các thông tin về thị trường;

Xây dựng chiến lược thị trường;

Hoạch định các chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối, hỗ trợ tiêu thụ; Kiểm tra, đánh giá thực hiện các chiến lược và chính sách Marketing

2.2.8 Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vụ, gồm có các nhiệm vụ:

Thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh nghiệp;

Tổ chức các hoạt động mang tính quần chúng trong doanh nghiệp;

Các hoạt động hành chính và phúc lợi doanh nghiệp

Sự phân chia trên đây chỉ mang tính khái quát, trên thực tế quản trị, các lĩnh vực được tiếp tục chia nhỏ hơn nữa để đạt hiệu quả cao hơn trong quản trị hoạt động của doanh nghiệp

2.3 Mối quan hệ giữa quản trị theo chức năng và theo lĩnh vực

2.3.1 Quan hệ giữa hai cách phân loại:

Trang 24

Phân loại theo chức năng là sự quán triệt các nguyên lý của khoa học quản trị Còn phân loại theo lĩnh vực là sự tiếp cận đúng đắn vào hoàn cảnh kinh doanh thực tiễn của một doanh nghiệp

Hai cách phân loại trên không gạt bỏ nhau mà ngược lại nó có mối quan

hệ trực tiếp, hữu cơ với nhau

Có thể thấy được mối quan hệ giữa hai phân loại quản trị đó qua bảng sau:

Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa phân loại quản trị theo chức năng và lĩnh vực

Chức năng

Lĩnh vực

Dự kiến (DK)

Tổ chức (TC)

Phối hợp ( PH)

Điều hành (ĐH)

Kiểm tra (KT) Vật tư

TC vật tư

TC

PH vật tư

PH

CHvật tư

ĐH

KT vật tư

KT

2.3.2 Mục đích của sự phân loại theo lĩnh vực quản trị

Trước hết nó chỉ ra tất cả các lĩnh vực cần phải tổ chức thực hiện quản trị trong một doanh nghiệp, đây là một căn cứ quan trọng để thiết lập bộ máy quản trị của doanh nghiệp

2.3.3 ý nghĩa của sự phân loại theo chức năng

- Sự phân loại theo chức năng đảm bảo quán triệt các yêu cầu của khoa học quản trị, nó đảm bảo cho bất kỳ một hoạt động quản trị nào cũng đều được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ

- Đó là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình quản trị tại một doanh nghiệp để từ đó tìm ra cách tháo gỡ

Trang 25

- Với cách thể hiện này, mỗi lĩnh vực quản trị đều phải được thực hiện theo tất cả các chức năng

III Lịch sử ra đời và phát triển của Quản trị doanh nghiệp

1 Lịch sử ra đời và phát triển của quản trị doanh nghiệp trên thế giới

+ Các trường phái của khoa học về Quản trị kinh doanh hình thành và phát triển muôn màu sắc

+ Khoa học này trở thành một khoa học độc lập vào năm 1945 và ngay sau

đó được đưa vào giảng dạy ở các trường với tư cách là một môn học, một khoa chuyên môn

1.3 Giai đoạn từ 1946 đến nay

- Khoa học này ngày càng hoàn thiện và phát triển, nhiều nước thành lập trường chuyên đào tạo những Nhà quản trị kinh doanh ở mọi cấp, từ thấp đến cao (Điển hình là Mỹ, Nhật, Đức, Anh )

- Phát triển theo cả chiều rộng và sâu, hiệu quả

Trang 26

2 Lịch sử ra đời và phát triển của quản trị doanh nghiệp ở Việt nam

2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Nền sản xuất Việt nam ở giai đoạn này mang đặc trưng của sản xuất nhỏ,

tự cung, tự cấp với 2 ngành chủ yếu là Nông nghiệp và Công nghiệp Chưa có sản xuất hàng hoá

2.2 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8/45 đến tháng 12/86

- Thời kỳ từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến 1954

+ Do thực dân Pháp đô hộ, nền kinh tế Việt Nam có những thay đổi đáng

kể theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá nhỏ

+ Cách thức quản trị kinh doanh phương Tây được du nhập, trình độ quản trị kinh doanh của các Nhà doanh nghiệp (đặc biệt trong Công nghiệp) có được nâng lên

Khoa học về quản trị kinh doanh bắt đầu thời kỳ phôi thai

Trang 27

2.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay

- Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VI- tháng 12/1986, đánh dấu bước ngoặt

về sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam Từ sau đại hội này nền kinh tế nước ta chuyển sang “Cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước”

- Cùng với sự chuyển đổi cơ chế đó, các chuyển biến về lý lụân và thực tiễn của phương thức kinh doanh mới ngày càng mạnh mẽ, khoa học “Quản trị kinh doanh” nhanh chóng trở thành môn học được giảng dạy trong các trường chuyên nghiệp Sau đó phát triển lên thành khoa, trường chuyên đào tạo kiến thức về “Quản trị kinh doanh” trong phạm vi cả nước và ngày càng được hoàn thiện hơn về cả nội dung và hình thức Ngày nay, hoạt động Quản trị kinh doanh

đã được coi là một nghề

3 Tình hình phát triển kinh doanh ở Việt Nam trong những năm gần đây

Sau mốc son Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta bước vào “Thời kỳ đổi mới”, trong đó có sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế

Từ đó đến nay, trải qua hơn 20 năm của “Quá trình Đổi mới”, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta, vượt nhiều khó khăn, thử thách trong lĩnh vực Kinh tế và mọi mặt hoạt động khác của đất nước và đến nay ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn, nhất là ở phương diện Kinh tế

Cùng với quá trình đó, các tế bào của nền kinh tế nước ta cũng có sự chuyển đổi cơ bản về cả hình thức và nội dung Từ các tổ chức kinh tế có chức năng cơ bản là thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch của cấp trên giao, từng bước chuyển thành các doanh nghiệp đích thực- là những đơn vị kinh tế, có nhiệm vụ sản xuất- kinh doanh hàng hoá với tính độc lập, chủ cao “tự chịu trách nhiệm, tự trang trải chi phí và mục đích chính là lợi nhuận”

Trong những năm 1986- 1991, thời kỳ đầu của sự nghiệp chuyển đổi cơ chế quản lý, nền kinh tế thị trường của Việt Nam đã trải qua vô vàn khó khăn với thực tế nan giải nhiều mặt, rất đáng lo ngại, như: Tỷ lệ lạm phát tăng cao; Các nguồn viện trợ ngày càng thu hẹp

Trang 28

Nhưng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nền kinh

tế nước ta đã dần thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng Chỉ hai năm sau khi thực hiện “Khoán 100”, lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo xếp hàng thứ ba trên thế giới (Sau Hoa kỳ và Thái Lan) Tăng trưởng Công nghiệp hàng năm ở mức 2 con số, lạm phát được đẩy lùi, sản xuất hàng tiêu dùng phát triển, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh và những thành tựu này được bảo

vệ ổn định trong suốt những năm qua Đến nay, có thể nói, nền kinh tế nước ta

đã từng bước hoà nhập vững chắc với nền kinh tế thế giới và khu vực, nhất là sau

sự kiện Việt Nam là thành viên thứ bảy của khối ASEAN vào tháng 9/ 1995

Những bước phát triển vững chắc này được khẳng định qua sự yên tâm của các nhà đầu tư quốc tế khi tham gia kinh doanh ở Việt Nam Sau tám năm kể

từ ngày Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài được ban hành, nước ta đã thu hút

được hơn mười tám tỷ USD vốn đăng ký và thực hiện gần sáu tỷ USD từ các nguồn đầu tư quốc tế trực tiếp Đây là một tỷ lệ thu hút vốn đầu tư quốc tế thuộc loại khá cao so với các quốc gia trong khu vực

Giai đoạn hiện nay đã mở ra rất nhiều cơ hội hợp tác, kinh doanh trong nước, trong khu vực và trên trường quốc tế cho các doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam “Vận hội mới” cũng sẽ đồng thời xuất hiện những “thách thức mới”, nhưng thời cơ kinh doanh và phát triển đã được mở ra cho mỗi người, mỗi doanh nghiệp và mỗi nhà kinh doanh Việt Nam

- Cơ hội Các hoạt động kinh doanh hiện nay đang đứng trước những thời cơ và điều kiện khá thuận lợi như: Nền kinh tế nước ta đạt được sự phát triển khá vững chắc trong những năm gần đây, mức tăng trưởng hàng năm khá cao, tỷ lệ lạm phát thấp và được Chính phủ kìm giữ, đảm bảo cho sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế; Thị trường Việt Nam với dân số hơn tám mươi triệu người là một thị trường khá hấp dẫn trong khu vực Ngoài ra, tài nguyên nước ta còn khá dồi dào, lực lượng lao động hùng hậu, có tỷ lệ bình quân về trình độ văn hoá thuộc loại khá so với các nước trong khu vực, giá nhân công rẻ; Môi trường kinh tế, chính trị, pháp lý ổn định và ngày càng được hoàn thiện Đây là những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam

Trang 29

- Thách thức Bên cạnh những thuận lợi nói trên, cũng xuất hiện những những khó khăn, trở ngại, như: Do khả năng tiếp thị còn hạn chế và chất lượng hàng hoá chưa cao nên hàng hoá nước ta chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới, sứccạnh tranh thấp, thường bị ép giá và chịu nhiều thiệt thòi; Mức tăng dân số hàng năm vẫn ở mức khá cao (2,1%), có nguy cơ làm giảm tác dụng của tăng trưởng kinh tế; Nguồn vốn trung dài hạn đầu tư cho sản xuất trong nước còn gặp rất nhiều khó khăn và có sự mất cân đối giữa nguồn vốn đầu tư dài hạn và ngắn hạn trong nền kinh tế; Các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất hoạt

động chưa hiệu quả cao trong mục tiêu hỗ trợ phát triển sản xuất

Nhưng nhìn chung, sự phát triển kinh tế trong những năm gần đây nước ta với thành công lớn của đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam vạch ra, nên mặc dù còn rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng đó là những vấn đề tất yếu và trước mắt của quy luật trong quá sự phát triển Những cơ hội mới ngày càng được mở ra cho mọi người cho các doanh nghiệp, cho các nhà kinh doanh Việt Nam nhiều hứa hẹn về một tiền đồ tươi sáng Họ cần được rèn luyện và trau dồi về kiến thức, bản lĩnh và kinh nghiệm để có đủ năng lực đón nhận

IV Đối tượng, nội dung nghiên cứu của Quản trị doanh nghiệp

1 Đối tượng nghiên cứu của môn học

Các hoạt động quản trị diễn ra trong tất cả các lĩnh vực ở tất cả hình thức doanh nghiệp ở Việt nam

2 Nội dung nghiên cứu của môn học

Nội dung cơ bản của môn học, được trình bày trong 2 phần, 9 chương sau: Phần 1: Giới thiệu lý thuyết chung về Quản trị doanh nghiệp, cụ thể: Chương 1: Khái quát về doanh nghiệp và Quản trị doanh nghiệp Chương 2: Bộ máy Quản trị doanh nghiệp

Phần 2: Giới thiệu về hoạt động quản trị trong một số lĩnh vực quan trọng trong doanh nghiệp, cụ thể:

Trang 30

Chương 3: Quản trị sản xuất trong doanh nghiệp Chương 4: Quản trị khoa học- kỹ thuật- công nghệ

Chương 5: Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp Chương 6: Quản trị tài chính trong doanh nghiệp Chương 7: Quản trị chiến lược trong doanh nghiệp

Chương 8: Quản trị chất lượng trong doanh nghiệp

Chương 9: Quản trị hoạt động Marketing trong doanh nghiệp

V Phương pháp nghiên cứu môn học Quản trị doanh nghiệp

Trang 31

Tóm tắt chương 1

1 Các hình thức của tổ chức kinh doanh theo pháp luật quy định

- Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân; Công ty TNHH; Công

ty cổ phần; Hợp tác xã; với cấu thành, đặc điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và điều kiện pháp lý trong thành lập và hoạt động

- Ba hình thức phổ biến của các tổ chức kinh doanh thuộc khu vực ngoài quốc doanh (Doanh nghiệp tư nhân; Công ty TNHH; Công ty cổ phần)

- Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

2 Hoạt động quản trị doanh nghiệp:

- Các chức năng, lĩnh vực quản trị

- Các quan điểm, trường phái trong lịch sử hình thành và phát triển lý thuyết quản trị kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

Câu hỏi củng cố và thảo luận ở chương 1:

1 Phân biệt doanh nghiệp với kinh doanh cá thể

3 Vị trí, mối quan hệ giữa nền kinh tế quốc dân và doanh nghiệp Doanh nghiệp phải làm gì để đóng góp cho nền kinh tế và xã hội?

5 Những trách nhiệm của hệ thống kinh doanh là gì?

Hoạt động của sinh viên

1 Nghiên cứu Luật doanh nghiệp hiện hành

2 Tìm hiểu, phân biệt 3 hình thức doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay (Công ty tư nhân; Công ty TNHH và Công ty cổ phần)

3 Tự liên hệ tìm hiểu về một doanh nghiệp cụ thể, với các nội dung cơ bản: Tên doanh nghiệp, địa điểm, mặt hàng kinh doanh, lý do chọn mặt hàng, địa điểm và loại hình doanh nghiệp )

Trang 32

Chương 2: Bộ máy quản trị doanh nghiệp

(Thời lượng: 6 tiết Trong đó giảng 3 tiết, thảo luận 3 tiết)

I Khái quát về bộ máy quản trị DN

1 Các bộ phận cấu thành của bộ máy quản trị doanh nghiệp

Bộ máy quản trị doanh nghiệp là tập thể những người lao động quản trị

trong doanh nghiệp được phân chia thành nhiều bộ phận và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp

Bộ máy quản trị doanh nghiệp- bộ não của mỗi doanh nghiệp, được cấu tạo bởi các cấp quản trị (cấu tạo dọc) và các bộ phận quản trị (cấu tạo ngang)

1.1 Các cấp trong bộ máy quản trị doanh nghiệp:

Bộ máy quản trị các doanh nghiệp thường có 3 cấp cơ bản, là:

- Cấp lãnh đạo, quản lý cao nhất

Thuộc cấp này thường gồm các thành viên trong Đảng uỷ; Hội đồng quản trị (nếu có);Ban giám đốc và một số trợ lý, cố vấn cho Ban giám đốc (nếu có)

Các nhà quản trị ở cấp này là bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan đầu não của doanh nghiệp Với vị trí cao nhất trong bộ máy, họạt động chính của họ

là lãnh đạo mọi hoạt động trong phạm vi toàn doanh nghiệp Họ có ảnh hưởng và vai trò quyết định lớn tới các vấn đề quan trọng, lớn lao của toàn doanh nghiệp

- Cấp lãnh đạo, quản lý trung gian

Hình2.1- Những nhà quản trị và các cấp quản trị

Trang 33

Trong doanh nghiệp thuộc cấp này thường bao gồm các trưởng, phó các phòng ban chức năng, những người quản trị hoạt động sản xuất- kinh doanh ở cấp trung gian (Quản đốc, phó quản đốc phân xưởng trong sản xuất Công nghiệp; đội trưởng, đội phó trong các đội công trình Xây dựng, Nông nghiệp )

Các nhà quản trị ở cấp này ở vị trí trung gian, là khâu kết nối giữa các cấp quản lý cao nhất và các cấp quản lý thấp nhất- cấp cơ sở trong bộ máy quản trị doanh nghiệp Họ có hoạt động và vai trò khá đa dạng (Vừa là nhà lãnh đạo vừa

là nhà thừa hành) trong bộ máy quản trị doanh nghiệp

1.2 Các bộ phận trong bộ máy quản trị doanh nghiệp:

- Bộ máy bao gồm nhiều bộ phận, có sự khác biệt nhau về lĩnh vực hoạt

động quản trị

- Ví dụ: Cấp trung gian có các nhà lãnh đạo, quản lý các phòng chức năng (Phòng hành chính- quản trị; phòng Kế toán- tài vụ, Kỹ thuật, Vật tư, Lao động- tiền lương ), Quản đốc, phó quản đốc các phân xưởng (Phân xưởng gò, hàn,

đúc ), đội trưởng các tổ, đội sản xuất, đội công trình (đội công trình 1, 2,3 )

Các nhà quản trị ở các bộ phận dù cùng cùng doanh nghiệp, nhưng tương

đối độc lập với nhau về lĩnh vực chuyên môn, nên ít quan hệ mật thiết về quản

lý, ngay cả khi họ là những nhà quản lý đồng cấp

2 Nhà quản trị doanh nghiệp

2.1 Khái niệm:

Trang 34

Là những thành viên của đội ngũ lao động quản trị trong doanh nghiệp

2.2 Các tiêu chuẩn của Nhà quản trị doanh nghiệp

Các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải có những tiêu chuẩn cơ bản sau:

- Có phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong tốt, thể hiện cụ thể là:

Nắm và vận dụng tốt những quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ

Tuân thủ luật pháp Nhà nước quy định

Có đạo đức cá nhân tốt, luôn là tấm gương về quan điểm sống đúng đắn, tinh thần hăng say, tận tuỵ với công việc Có đạo đức trong kinh doanh

- Có trình độ chuyên môn sâu và rộng, thể hiện bằng:

Độ vững vàng, sâu sắc về lĩnh vực chuyên môn đang công tác (làm việc)

Sự hiểu biết về các chuyên môn lân cận và các chuyên môn có liên quan

- Có năng lực quản lý tốt, đặc biệt là năng lực tổ chức, biểu hiện qua năng lực thực hiện các công việc của quản trị, nhất là năng lực tổ chức

- Có tuổi tác và sức khoẻ phù hợp

- Các phẩm chất khác: Tính năng động, nhạy bén, quyết đoán, dũng cảm

2.3 Các kỹ năng của Nhà quản trị doanh nghiệp

Các kỹ năng cơ bản của Nhà quản trị doanh nghiệp, bao gồm:

+ Kỹ năng tư duy Thể hiện ở mức độ đúng đắn, chính xác và hiệu quả trong suy nghĩ, nhận thức, phán đoán, tầm nhìn trong lãnh đạo, điều hành

+ Kỹ năng kỹ thuật, chuyên môn: Được thể hiện qua mức độ thành thạo, hiệu quả trong xử lý các vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn được phụ trách

+ Kỹ năng làm việc với con người Kỹ năng này được đo lường qua độ khéo léo, linh hoạt và hiệu quả trong làm việc với con người (trong ứng xử với khách hàng; người lao động; đối tác; các cơ quan hữu quan )

Các nhà quản trị ở các cấp có sự khác nhau về phạm vi, tầm quản trị, nên yêu cầu về năng lực và các kỹ năng cơ bản cũng khác nhau Kỹ năng tư duy và giao tiếp có xu thế giảm dần mức độ yêu cầu và ngược lại kỹ năng chuyên môn

Trang 35

có xu thế yêu cầu tăng dần đối với các quản trị viên ở các cấp thấp hơn- theo chiều từ trên xuống

Trong đội ngũ các quản trị viên, giám đốc doanh nghiệp là quản trị viên cấp cao, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp, nhất là trong hoạt

động điều hành

3 Phong cách của các nhà quản trị trong quản trị doanh nghiệp

3.1 Phong cách mệnh lệnh

- Đặc trưng của phong cách mệnh lệnh:

Trong quá trình hình thành, ra quyết định và tổ chức thực hiện nhà quản

trị không cần tham khảo ý kiến của người giúp việc hoặc người dưới quyền

- ưu, nhược điểm của phong cách mệnh lệnh:

ưu điểm: Người có tác phong này thường là người có năng lực, am hiểu sâu sắc công việc của mình, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm

Nhược điểm: Nhà quản trị có phong cách này dễ rơi vào tình trạng độc

đoán, quan liêu trong quản trị

3.2 Phong cách dân chủ

- Đặc trưng của phong cách dân chủ

Trong quá trình làm việc, nhà quản trị có phong cách này thường:

Theo đa số, hay do dự trước quyết định của mình

Khi cần đánh giá cấp dưới, họ thường hay phụ thuộc vào ý kiến của tổ chức cấp trên, vào ý kiến quần chúng

Không sát sao việc chỉ đạo và kiểm tra thực hiện các quyết định quản lý, thường phó mặc cho cấp dưới

Không có tính quyết đoán, hay xuê xoa, dễ dãi, đại khái

- ưu, nhược điểm của phong cách dân chủ

ưu điểm: Người có phong cách này thường tạo được bầu không khí quản

lý vui vẻ, gần gũi, không căng thẳng

Trang 36

Nhược điểm: Không kịp thời, hiệu quả hạn chế trong quản trị

3.3 Phong cách dân chủ- quyết định

- Đặc trưng của phong cách Dân chủ- quyết định

Trong quá trình công tác, nhà quản trị có phong cách này thường:

Thăm dò ý kiến của nhiều người, đặc biệt những người có liên quan trước khi ra quyết định, đặc biệt là những quyết định quan trọng

Khi đã ra quyết định thì thường rất tự tin, không dao động

Dám quyết đoán các vấn đề nhưng không độc đoán, luôn theo dõi, uốn nắn, động viên cấp dưới

Khen, chê có chính kiến, cơ sở và đúng mức

- ưu, nhược điểm:

ưu điểm của phong cách này này là tạo được bầu không khí tin tưởng, sáng tạo, trách nhiệm mà không căng thẳng trong môi trường quản trị

Nhược điểm: Phong cách này không có nhược điểm đáng kể

II Nhà Doanh nghiệp và Giám đốc doanh nghiệp

1 Nhà doanh nghiệp (doanh nhân)

1.2 Đặc trưng của các nhà doanh nghiệp

- Chấp nhận đối mặt với những rủi ro nhiều mặt

Trong suốt quá trình tham gia kinh doanh, các doanh nhân thường phải

đương đầu với những rủi ro trong kinh doanh và nhiều phương diện khác (Tài

Trang 37

chính, hôn nhân ) Đây là vấn đề mang tính tất yếu và các chủ doanh nghiệp phải chấp nhận

- Động cơ làm chủ doanh nghiệp phải rõ ràng

Có nhiều động cơ khi làm nhà doanh nghiệp, nhưng “Trở thành ông chủ của chính mình” là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhiều cá nhân trở thành doanh nhân

- Sự độc lập: Chủ doanh nghiệp là những người có khả năng sử dụng học vấn, kinh nghiệm và bản lĩnh của mình để mở doanh nghiệp riêng Là người

đứng đầu doanh nghiệp, bất kể quy mô lớn hay nhỏ, họ đều có quyền tự mình chủ động đưa ra những quyết định, thời gian biểu riêng của mình

Điều quan trọng chính là con đường sự nghiệp của những cá nhân này sẽ không phụ thuộc vào những quyết định của những người khác

Robert Levin là tổng giám đốc quản trị 32 tuổi của Cabletron, một hãng sản xuất máy tính có trị giá tài sản 105 triệu đôla

Ông tin rằng việc ra các quyết định nhanh chóng rất quan trọng đối với sự thành công Ông tự hào tuyên bố rằng ở Cabletron "chúng tôi tự biên soạn quy tắc làm việc của riêng mình"

- Sự trưởng thành cá nhân và nghề nghiệp : Những thách thức của việc xây dựng một doanh nghiệp thực sự đòi hỏi sự trưởng thành của cá nhân Nhiều cá nhân đã trở thành doanh nhân sau khi trải qua bước trưởng thành này

- Một lựa chọn tốt hơn so với một công việc không hài lòng Thực tế cho thấy: nhiều doanh nhân đã từng là những cán bộ điều hành và công nhân viên của những công ty lớn, trở thành doanh nhân khi mà họ không vừa lòng với công việc của mình Cũng có khá nhiều người thành đạt ở giới kinh doanh đã quyết

định rời khỏi đó để theo đuổi một loại công việc hoàn toàn khác (từ việc khởi sự một tổ chức phi lợi nhuận đến việc mở trường dạy trượt tuyết )

Những lý do chung được các tổng giám đốc của 500 công ty (500 công ty tư nhân phát triển nhanh nhất ở Hoa kỳ) nêu ra để rời bỏ các chức vụ của công ty lớn trước khi thành lập công ty tư nhân là buồn chán vì sự thiếu quan tâm của

Trang 38

công ty đối với công việc của họ hoặc sự chậm chạp của quá trình ra quyết định

ở các công ty đó

Chủ doanh nghiệp thường là người dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để thực hiện những mục đích, cao vọng riêng, đặc biệt là: Ham muốn làm giàu

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một số công trình nghiên cứu nhằm xác

định xem các doanh nhân có khác biệt rõ rệt so với những nhà quản trị về tính cách và những đặc điểm khác hay không

Các công trình nghiên cứu đã phát hiện thấy rằng các doanh nhân có nhu cầu về sự độc lập và quyền chủ động lớn hơn rất nhiều so với những nhà quản trị

Họ có nhu cầu rất lớn về chuyện thành đạt và có khả năng chấp nhận, xử lý những tình huống bất chắc và mơ hồ Nhiều doanh nhân rất giàu nghị lực, sức chịu đựng, lòng tự trọng cao, có vai trò nổi trội, có nhu cầu đảm nhận, khống chế

và chỉ đạo người khác Những nét đặc trưng cá nhân đó của các doanh nhân có

xu hướng đưa họ tách ra khỏi cơ cấu của doanh nghiệp và hướng đến sự độc lập

Các công trình nghiên cứu còn phát hiện thấy rằng các chủ doanh nghiệp

có ít nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội so với những nhà quản trị Họ không phải là người chơi hay tham gia vào một đội nào Một số điểm khác biệt rõ rệt về những

đặc điểm của các tổng giám đốc quản trị và các cán bộ điều hành cấp cao của

500 công ty do Forthune khảo sát

+ Thu nhập và tiền: Thực tế và nghiên cứu cho thấy: Nhiều doanh nhân có thu nhập cao, có lợi nhuận đáng kể từ sự thành đạt doanh nghiệp Tuy nhiên, số may mắn như vậy là rất nhỏ, phần lớn thu nhập đó là số đầu tư thu hồi Cá biệt

có nhiều doanh nhân không xem tiền bạc là động lực hàng đầu

Ví dụ những doanh nhân trong số 500 công ty tư nhân thành công nhất ở Hoa kỳ, đã xếp tiền bạc vào hàng thứ tư về mức độ quan trọng (sau sự bất mãn,

độc lập và sự tự quyết định đời mình) Tuy nhiên, đối với những doanh nhân làm việc bán thời gian tiền bạc vẫn là yếu tố quan trọng nhất

2 Giám đốc doanh nghiệp

2.1 Đặc điểm lao động của giám đốc

Trang 39

Giám đốc là người có quyền hạn, trách nhiệm và vị trí cao nhất trong hệ thống điều hành doanh nghiệp Lao động của giám đốc có những đặc trưng như:

- Lao động của giám đốc là lao động trí tuệ, mang tính sáng tạo cao

- Đối tượng quản trị của giám đốc là toàn bộ con người và cơ sở vật chất trong doanh nghiệp, đòi hỏi họ phải có kiến thức nhiều, cao và toàn diện

- Sản phẩm lao động của giám đốc là những quyết định quản trị có tầm quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện, ở phạm vi toàn doanh nghiệp

2.2 Vai trò của giám đốc doanh nghiệp

- Là người đứng đầu trong bộ máy quản trị doanh nghiệp

- Là người quyết định về tổ chức bộ máy, nhân sự của doanh nghiệp

- Là người chịu trách nhiệm toàn diện về doanh nghiệp (việc làm, thu nhập, đời sống tinh thần và vật chất khác của doanh nghiệp)

- Là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm hoàn toàn về sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp

2.3 Những tố chất của giám đốc doanh nghiệp

Để thành công, các giám đốc doanh nghiệp cần có các tố chất như:

- Có kiến thức chuyên môn và các kiến thức cần thiết khác

3 Đào tạo nghề Quản trị kinh doanh ở một số nước trên thế giới

Ngày nay, Quản trị kinh doanh đã thực sự trở thành một nghề

Những người theo đuổi nghề này không chỉ để kiếm sống mà còn để thành

đạt và thể hiện sự đam mê Hầu hết những người thành đạt đều được qua đào tạo

Trang 40

Từ những năm đầu thế kỷ 20, nhiều nước trên thế giới đã chú trọng và thành công trong công tác đào tạo đội ngũ các nhà quản trị kinh doanh Hiện tại việc đào tạo các nhà quản trị kinh doanh đã khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới ở tất cả các hệ và cấp đào tạo Điển hình như:

- Đào tạo giám đốc ở Nhật

Nước nhật rất tự hào về trướng đào tạo giám đốc nổi tiếng của mình nằm dưới chân núi Phú sỹ quanh năm phủ tuyết Nhà trường giảng dạy khoảng 2sy môn cơ bản

Trường bắt buộc giám đốc tương lai phải rèn luyện tổng hợp cả kiến thức chuyên môn và ý thức tổ chức kỷ luật Thí dụ rèn luyện về cách thức giao tiếp xã hội, học đánh máy, nói chuyện qua điện thoại sao cho nhanh gọn và lễ phép

Thực tế nhiều giám đốc tương lai do không chịu được học tập và rèn luyện quá khắt khe đã bỏ hoặc bị rớt qua các kỳ thi Trong nhiều năm trường đã đào tạo được hàng chục ngàn giám đốc điều hành trên khắp đất nước Nhật

- Đào tạo giám đốc ở Mỹ

Một giám đốc công ty ở Mỹ, tối thiểu phải học qua trình độ MBA Chứng chỉ MBA ở Hoa kỳ được xem như tấm hộ chiếu để thành đạt trong đời” của các giám đốc kinh doanh Nhà trường đầu tiên trên thế giới về thương mại và công nghiệp là trường Penxivania, ra đời từ năm 1881 Việc đào tạo và quản lý tại Hoa

kỳ đã có những thành công lớn vào những năm 60 và đã dẫn tới việc thành lập cả một hệ thống trường kinh doanh khắp thế giới

Những trường đã được dựa trên mô hình trường kinh doanh Ha- vớt có cả các trường của anh ở Luân đôn và Man- set- xtơ

Tiêu chuẩn để vào các trường này là phải có bằng tốt nghiệp đại học Sau khi tốt nghiệp người học sẽ được trang bị trình độ nghiệp vụ và quản lý xuất sắc

- Đào tạo giám đốc ở Cộng hoà liên bang Đức

ở Cộng hoà liên bang Đức, số giám đốc kinh điển có khoảng từ 50 đến

100 nghìn người Để chọn ra những giám đốc khá nhất, khoảng một nửa công ty

Ngày đăng: 18/10/2016, 23:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 7.5   Những thuận lợi và bất lợi của cơ cấu ma trận - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Bảng 7.5 Những thuận lợi và bất lợi của cơ cấu ma trận (Trang 56)
Bảng so sánh đặc điểm chủ yếu của các sản phẩm- dịch vụ. - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Bảng so sánh đặc điểm chủ yếu của các sản phẩm- dịch vụ (Trang 75)
Hình 3.5. Sơ đồ mô tả về Phương pháp mô hình mạng. - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 3.5. Sơ đồ mô tả về Phương pháp mô hình mạng (Trang 106)
Hình 4.4. Thời điểm thay thế công nghệ. - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 4.4. Thời điểm thay thế công nghệ (Trang 136)
Sơ đồ 5.3. Xác định nhu cầu đào tạo  3.2. Tác dụng của thăng tiến: - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Sơ đồ 5.3. Xác định nhu cầu đào tạo 3.2. Tác dụng của thăng tiến: (Trang 185)
Sơ đồ 5.4. Xác định nhu cầu đào tạo - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Sơ đồ 5.4. Xác định nhu cầu đào tạo (Trang 186)
Hình 6.1. Tổng hơp các loại nguồn  tài chính của doanh nghiệp - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 6.1. Tổng hơp các loại nguồn tài chính của doanh nghiệp (Trang 242)
Hình 6.2. Nguyên tắc chung trong tập hợp các loại nguồn tài chính ở DN - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 6.2. Nguyên tắc chung trong tập hợp các loại nguồn tài chính ở DN (Trang 245)
Hình 6.8. Đồ thị Đồ thị hoà vốn theo đường cong - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 6.8. Đồ thị Đồ thị hoà vốn theo đường cong (Trang 268)
Hình 6.9. Đồ thị biến động của định phí - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 6.9. Đồ thị biến động của định phí (Trang 269)
Hình 7.2. Sơ đồ về quá trình quản trị chiến lược trong doanh nghiệp - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 7.2. Sơ đồ về quá trình quản trị chiến lược trong doanh nghiệp (Trang 278)
Hình  7.3. Sơ đồ phân tích PEST. - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
nh 7.3. Sơ đồ phân tích PEST (Trang 287)
Hình 7. 5.  Mô hình của Porter về 5 lực lượng cạnh tranh. - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 7. 5. Mô hình của Porter về 5 lực lượng cạnh tranh (Trang 291)
Hình  7.7. Sơ đồ cách tiếp cận bảng điểm cân bằng. - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
nh 7.7. Sơ đồ cách tiếp cận bảng điểm cân bằng (Trang 302)
Hình 8.3. Sơ đồ nhân quả (Sơ đồ xương cá) - Bài giảng môn quản trị doanh nghiệp
Hình 8.3. Sơ đồ nhân quả (Sơ đồ xương cá) (Trang 409)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w