Báo cáo tập trung mô tả các kết quả khảo sát được tiến hành với hai nhóm đối tượng: Lãnh đạo doanh nghiệp tự đánh giá và cán bộ cấp dưới đánh giá về lãnh đạo đánh giá phản hồi 3600.. Nhó
Trang 1Lời dẫn: Báo cáo kết quả khảo sát Lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng là sản phẩm bước đầu Báo cáo tập trung mô tả các kết quả khảo sát được tiến hành với hai nhóm đối tượng: Lãnh đạo doanh nghiệp (tự đánh giá) và cán bộ cấp dưới đánh giá về lãnh đạo (đánh giá phản hồi 3600) Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ hoàn thiện báo cáo với các phân tích và đánh giá sâu hơn, đi vào những nguyên nhân và giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo của doanh nghiệp Việt Nam Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn EduViet, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam, Hội doanh nhân trẻ Hà Nội, Hội doanh nhân trẻ Đà Nẵng, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Sài Gòn, Ban quản trị HRlink.vn, Công ty Cổ phần Vinatest và đặc biệt là các lãnh đạo, cán bộ doanh nghiệp đã tham gia vào quá trình khảo sát
1 Giới thiệu nghiên cứu
Để đánh giá về lãnh đạo, nghiên cứu tiến hành 02 khảo sát Khảo sát thứ nhất hướng tới các lãnh đạo doanh nghiệp và khảo sát thứ hai hướng tới cán bộ cấp dưới Mô hình nghiên cứu được phác họa tại hình 1
Hình 1: Mô hình đánh giá về lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM 2012 (VIETNAM PRIVATE COMPANIES LEADERSHIP REPORT 2012) “2012 – THAY ĐỔI TƯ DUY CỦA LÃNH ĐẠO”
Nhóm nghiên cứu:
PGS.TS Phùng Xuân Nhạ
PGS.TS Lê Quân
ThS Hồ Như Hải
Trang 2Với khảo sát thứ nhất, khảo sát nhằm cung cấp thông tin về nhìn nhận của bản thân lãnh đạo doanh nghiệp về năng lực lãnh đạo của mình, về hoạt động điều hành của doanh nghiệp Đối tượng tham gia đánh giá là ban điều hành doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thường bao gồm các chức danh Tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) Trong đó, giám đốc điều hành (CEO) chiếm tỷ trọng trên 90% Phiếu khảo sát được thiết kế bao gồm 39 câu hỏi Quá trình khảo sát được thực hiện chủ yếu qua phiếu điều tra bản cứng (71%) và qua điều tra trực tuyến (khoảng 29%) Tổng số 478 phiếu khảo sát có giá trị sử dụng Các lãnh đạo đến từ 21 ngành nghề khác nhau Các ngành có lãnh đạo tham gia khảo sát nhiều là chứng khoán, công nghệ thông tin/viễn thông, xây dựng, bất động sản, thương mại, hóa mỹ phẩm, khách sạn, du lịch, dệt may, da giầy, chế biến thực phẩm
Với khảo sát thứ hai, cán bộ cấp dưới được lấy ý kiến về lãnh đạo của họ Phiếu khảo sát được thiết kế theo thang bậc Likert (5 cấp độ) với 72 biến Tổng cộng có 578 cá nhân tham gia cung cấp thông tin về lãnh đạo của
họ Qua xử lý, có 561 phiếu đánh giá có giá trị sử dụng Quá trình khảo sát thực hiện chủ yếu trực tuyến với hỗ trợ của máy chủ của Công ty cổ phần Vinatest
Quá trình triển khai hai khảo sát trên diễn ra từ tháng 01/06/2012 đến 15/09/2012 Khảo sát với nhóm đối tượng là cán bộ và nhân viên được thực hiện khá tốt Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng mở mục nhận xét về lãnh đạo trên diễn đàn nhân sự Việt Nam Các phiếu khảo sát được hoàn thiện khá đầy đủ Với lãnh đạo doanh nghiệp, các phiếu khảo sát thường được thực hiện qua các tiếp xúc trực tiếp Các câu hỏi lựa chọn được trả lời rất đầy đủ Tuy vậy, lãnh đạo doanh nghiệp hạn chế trả lời các câu hỏi về doanh thu, tỷ suất lợi nhuận,…
Mẫu nghiên cứu chủ yếu tập trung tại 5 thành phố và trung tâm lớn gồm
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hải Phòng Do đó, các cá nhân tham gia khảo sát ít đại diện cho các doanh nghiệp ở địa phương
2 Kết quả khảo sát lãnh đạo tự đánh giá
2.1 Lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn cao
Theo kết quả khảo sát, lãnh đạo nữ chỉ chiếm tỷ trọng 24.5% Lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn khá cao Có 58.5% lãnh đạo có trình độ đại học và cao đẳng Đáng lưu ý là trên 35% lãnh đạo có trình độ đào tạo sau đại học Kết quả này rất đáng khích lệ so với nhiều khảo sát công bố trước đây về trình độ học vấn của lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh (CIEM, 2000; Lê Quân, 2005) Tuy vậy, cũng lưu ý là mẫu khảo sát lần này chủ yếu đến từ các thành phố lớn và chưa mang tính đại diện toàn quốc
Bảng 1: Giới tính và trình độ học vấn (Nguồn: Kết quả khảo sát)
Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 3Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ (%)
Về tuổi, lãnh đạo tham gia khảo sát có tuổi bình quân là 38.6 Người lớn
tuổi nhất là 60 và người trẻ nhất là 19 Như vậy, tuổi bình quân của lãnh
đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh là khá trẻ Có đến trên 70% lãnh đạo
doanh nghiệp tham gia điều hành doanh nghiệp trước 35 tuổi
Bảng 2: Tuổi bình quân của lãnh đạo (Nguồn: Kết quả khảo sát)
Về kinh nghiệm quản lý nói chung (tham gia quản lý), có 34% lãnh đạo có
kinh nghiệm quản lý dưới 5 năm Số lãnh đạo có kinh nghiệm quản lý từ 5
đến 10 năm là 42.8%; và trên 10 năm là 22.6% Tương tự, kinh nghiệm của
lãnh đạo tại vị trí tham gia ban điều hành doanh nghiệp phổ biến là từ 3
đến 5 năm (44.7%) và trên 5 năm (29.6%) Có tới 24.5% lãnh đạo doanh
nghiệp mới tham gia ban điều hành được thời gian dưới 3 năm
Bảng 3: Kinh nghiệm quản lý và điều hành
Kinh nghiệm quản lý nói chung Số lượng Tỷ lệ (%)
Kinh nghiệm tại vị trí điều hành Số lượng Tỷ lệ
2.2 Lãnh đạo doanh nghiệp nhìn nhận thực tiễn hơn về bối cảnh
kinh tế Việt Nam và thế giới
Theo Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012 (Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chỉ ra kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay đang gặp những khó khăn lớn đến từ bên trong và bên ngoài Trên
thế giới, nền kinh tế kế thừa các khó khăn cơ bản từ 2011 với những dấu
hiệu phục hồi rất mong manh Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu thấp
và kém bền vững, tình hình thất nghiệp ở các nước vẫn rất cao và đồng
euro mất giá trong tương lai mù mịt của khối EU Tại Việt Nam, năm 2012
cũng là năm tái cơ nền kinh tế với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống tài
chính Kinh tế Việt Nam đứng trước thực tiễn suy giảm hiệu quả và năng
suất, đầu tư công có hiệu quả thấp và lấn át đầu tư tư nhân Thực tiễn số
lượng doanh nghiệp phá sản rất nhiều và hầu hết các doanh nghiệp gặp
khó khăn trong phát triển thị trường và tài chính
Trang 4Điều tra cảm nhận của lãnh đạo doanh nghiệp được tiến hành trong bối cảnh kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn nhấn vào các biến số chủ yếu: nhìn nhận của lãnh đạo về bối cảnh kinh tế và dự kiến các hành động cần làm của doanh nghiệp
Về nhìn nhận về chu kỳ kinh tế và dự kiến thời gian phục hồi của nền kinh
tế Việt Nam, 50.9% lãnh đạo cho rằng phải mất 24 tháng Số lãnh đạo cho rằng kinh tế phục hồi trong 12 tháng tới là 34.6% Số lãnh đạo cho rằng cuối
2012 và nửa đầu 2013 kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi chỉ chiếm 8.8% Kết quả khảo sát này rất khác so với kết quả khảo sát tại Ngày Nhân sự Việt Nam 2011 Trước đó, đa phần lãnh đạo doanh nghiệp cảm nhận kinh tế sẽ phục hồi sau 6 đến 12 tháng Thực tiễn này cho thấy nhìn nhận của lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam khi lập kế hoạch kinh doanh 2012 là khá lạc quan, và thời điểm hiện nay chắc chắn lãnh đạo doanh nghiệp điều chỉnh trong hành động bởi nhìn nhận đã kém lạc quan hơn Xu hướng nhìn nhận và dự báo với biên độ an toàn hơn đang hình thành trong lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam
Dường như khủng hoảng kinh tế liên tục diễn ra là bài học khá đắt nhưng
bổ ích cho lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam Thực tế khảo sát của chúng tôi với các CEO trong năm 2010 (Lê Quân, Trần Kiều Trang, 2010) đã chỉ ra các CEO khá thờ ơ với các chỉ số và dự báo kinh tế Rất nhiều lãnh đạo luôn lạc quan cho rằng kinh tế sẽ chỉ đi lên và chưa đủ năng lực quản trị rủi ro cho doanh nghiệp khi chu kỳ kinh tế ngày càng rút ngắn, và thời gian khủng hoảng suy thoái cũng kéo dài hơn so với trước đây Nhìn nhận này
sẽ rất nguy hiểm vì hệ lụy là lãnh đạo sẽ không chú trọng đến cân bằng tài chính, quản trị dòng tiền, quản trị khả năng thanh toán và chú trọng đầu
tư tăng trưởng và đa dạng hóa ngành nghề
="##>&?@ABDEB
Có 474 lãnh đạo cho ý kiến về bối cảnh kinh tế mới Trong bối cảnh khủng hoảng, nhìn nhận của lãnh đạo doanh nghiệp khá thực tiễn, có màu sắc hơi “bi quan” Kết quả thể hiện tại bảng 5
Quá trình ra quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp có vẻ ngày càng khó khăn khi mà các yếu tố đến từ môi trường kinh doanh bên ngoài ngày càng khó dự báo và bất ổn Hầu hết các lãnh đạo nhất trí cao rằng môi
Trang 5trường kinh doanh ngày càng phức tạp (4.119), rủi ro chính sách rất lớn
cho doanh nghiệp (3.917), ngày càng khó dự báo trong kinh doanh (3.81)
Quá trình ra quyết định cũng ngày càng khó khăn hơn khi các yếu tố thuộc
môi trường kinh doanh bên trong doanh nghiệp cũng có những áp lực
lớn Theo khảo sát, chi phí nhân công ngày càng tăng và là áp lực lớn cho
doanh nghiệp Bên cạnh đó, giá thành có xu hướng tăng lên do các yếu tố
đầu vào ngoài nhân lực cũng gia tăng cùng với lạm phát và bất ổn tỷ giá
hối đoái Xu hướng này tạo hệ quả tất yếu là xu hướng lãi gộp ngày càng
thấp đi và lãnh đạo doanh nghiệp thấy kinh doanh ngày càng khó khăn
2.3 Lãnh đạo không hài lòng về công tác điều hành trong năm 2011
Đánh giá về công tác điều hành trong năm 2011, các chỉ số đều đạt được
ở mức độ trung bình và dưới trung bình Cụ thể, các chỉ số về kết quả sản
xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của ban điều hành chỉ
đạt bình quân dưới 3.25
Công tác điều hành được đánh giá ở mức độ nhỉnh nhất là quản lý giá
thành, quản lý sản xuất và quản lý chất lượng (ở mức 3.3-3.45) Hoạt động
quản trị rủi ro được đánh giá đạt thấp (2.97%) Quản trị chiến lược và quản
trị nhân lực cũng nhận được mức độ hài lòng thấp Có thể nói, lãnh đạo
doanh nghiệp không hài lòng về công tác điều hành trên bình diện tổng
thể lẫn chức năng
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 471 1.00 5.00 3.1274 63641
Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của ban điều hành 462 2.00 5.00 3.2403 63576
Hoạt động quản trị nguồn nhân lực 459 1.00 5.00 3.1111 76400
Hoạt động quản trị tài chính 459 1.00 5.00 3.1699 72200
Hoạt động quản trị chiến lược 459 1.00 5.00 3.1176 77579
Hoạt động quản trị rủi ro 456 1.00 5.00 2.9737 88166
Hoạt động marketing 453 1.00 5.00 3.0530 77962
Hoạt động quản lý khách hàng 450 1.00 5.00 3.2467 73962
Hoạt động phát triển đối tác 447 1.00 5.00 3.2886 77195
Hoạt động quản trị sản xuất 438 2.00 5.00 3.3356 71541
Hoạt động quản trị chất lượng sản phẩm/dịch vụ 444 1.00 5.00 3.3446 68568
Tăng cường ứng dụng CNTT vào hỗ trợ quản lý và nghiệp vụ 447 1.00 5.00 3.2550 71644
Tiết kiệm, chống lãng phí 459 1.00 5.00 3.3791 71484
Năng suất lao động của doanh nghiệp 444 1.00 5.00 3.2432 65443
2.4 Phát triển bền vững đang được lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm
Quá trình lãnh đạo của doanh nghiệp dường như đang đứng trước một
thách thức lớn là đổi mới chuỗi giá trị Theo như nhìn nhận của lãnh đạo,
xu hướng kinh doanh lướt sóng không còn là lựa chọn sáng suốt (trung
bình chỉ đạt 2.89) Cùng với đó lãi gộp có xu hướng giảm, nhân lực giá
thấp trở lên không khả thi, cơ hội kinh doanh ngày càng ít đi Năng suất
lao động của doanh nghiệp trong năm 2011, 2012 đang được nhìn nhận
theo hướng giảm dần và chưa thấy nhiều cơ hội cải thiện Điều này cho
thấy, năm 2012 là năm bản lề của sự đổi mới với rất nhiều doanh nghiệp
Trang 6Việt Nam Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp cần nhìn nhận lại chuỗi giá trị và các lợi thế cạnh tranh để có những đột phá mới trong kinh doanh Nhìn nhận này nhận được sự đồng tình của nhiều lãnh đạo doanh nghiệp khi mà giá trị trung bình của biến số “cần tái cấu trúc thị trường theo hướng quốc tế hóa” đạt mức 3.74; và “cần tái cấu trúc doanh nghiệp” đạt mức 3.899
Bảng 5: Nhìn nhận của Ban điều hành về bối cảnh kinh tế mới
Một dấu hiệu tích cực là lãnh đạo doanh nghiệp vẫn cho rằng sản phẩm hiện nay vẫn còn chỗ đứng trên thị trường; công tác quản trị cũng được điều chỉnh theo hướng chu kỳ sống của sản phẩm sẽ rút ngắn lại và công
tư sẽ cần kết hợp nhiều hơn trong thời gian tới
2.5 Phát triển kinh doanh, tài chính và nhân sự là ba điểm yếu nhất của doanh nghiệp
Đánh giá về 3 điểm yếu nhất trong công tác quản trị doanh nghiệp, đa phần lãnh đạo doanh nghiệp chỉ ra rằng phát triển kinh doanh (phát triển thị trường, khách hàng mới), tài chính và nhân sự là các khó khăn lớn Bên cạnh đó, marketing/truyền thông và bán hàng cũng là mối quan tâm
ưu tiên Sản xuất đứng hàng cuối trong lo lắng của lãnh đạo Công nghệ thông tin cũng là điểm yếu được nhiều lãnh đạo quan tâm
Hình 3: Nhìn nhận về điểm yếu nhất của quản trị doanh nghiệp
(chọn 03 điểm yếu nhất)
N Min Max Trung bình
Môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp hơn 477 1 5 4.119497 Nhiều rủi ro thay đổi chính sách 474 1 5 3.917722
Sẽ cần tái cấu trúc doanh nghiệp 477 1 5 3.899371 Rất khó dự báo trong kinh doanh 474 1 5 3.810127 Cần tái cấu trúc thị trường theo hướng quốc tế hóa 474 1 5 3.740506 Chi phí nhân công là áp lực lớn cho DN 477 1 5 3.698113 Giá thành ngày càng tăng cao 477 1 5 3.679245 Lãi gộp có xu hướng giảm dần 477 1 5 3.616352 Kinh doanh ngày càng khó khăn hơn 474 1 5 3.556962 Chu kỳ sống sản phẩm ngày càng ngắn 474 1 5 3.455696 Công tư sẽ phải kết hợp nhiều hơn 477 1 5 3.45283 Doanh nghiệp có thể gặp bế tắc trong kinh doanh 474 1 5 3.373418
Cơ hội kinh doanh ngày càng ít đi 471 1 5 3.133758 Sản phẩm hiện nay sẽ mất dần thị trường 474 1 5 3.082278 Kinh doanh cần áp dụng lướt sóng nhiều hơn 474 1 5 2.892405
Trang 7Như vậy có thể thấy mục tiêu tăng trưởng và đổi mới trong kinh doanh
là ưu tiên của đa phần lãnh đạo Trong bối cảnh khủng hoảng nhưng tài
chính cũng chỉ đứng vị trí số 2 Lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm nhiều
đến tương lai kinh doanh của doanh nghiệp và còn thiếu tự tin về hệ
thống kinh doanh và kiểm soát thị trường của doanh nghiệp
2.6 Tái cấu trúc vốn và tài chính là quyết định ưu tiên hàng đầu
Các quyết định ưu tiên của lãnh đạo dường như được lựa chọn theo 3 cấp:
ưu tiên ngay cho quyết định ảnh hưởng đến hiệu quả trước mắt, sau đó
đến các quyết định ảnh hưởng đến trung và dài hạn
Để vượt khó khăn trong giai đoạn hiện nay, lãnh đạo doanh nghiệp cho
rằng quyết định ưu tiên hàng đầu là tái cấu trúc vốn và tài chính; cắt giảm
chi phí vận hành; loại bỏ hoạt động kinh doanh kém hiệu quả; cải cách
lương thưởng Đây là nhóm giải pháp ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và
hiệu quả kinh doanh trong ngắn hạn
Các quyết định được ưu tiên tiếp theo bao gồm xây dựng đội ngũ nhân sự
chủ chốt; hợp tác với đối tác; ứng dụng công nghệ thông tin Các quyết
định về tinh giản biên chế là lựa chọn cuối cùng của lãnh đạo doanh
nghiệp
Hình 4: Quyết định ưu tiên giúp doanh nghiệp vượt khủng hoảng kinh tế
2.7 Lo lắng phạm sai lầm là cản lực lớn nhất khi ra quyết định
Cũng dễ hiểu là trong bối cảnh khi mà các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài
đều khó dự báo và kiểm soát, lãnh đạo doanh nghiệp cảm thấy áp lực “sợ
sai” khi ra quyết định Có đến 44.2% lãnh đạo sợ sai khi ra quyết định và
25.6% gặp khó khi ra quyết định vì thấy rủi ro cao Bên cạnh đó, sự thiếu
nhất quán trong ra quyết định giữa ban điều hành và hội đồng quản trị
cũng là lý do được 10.9% lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọn
Trang 8Bảng 6: Cản trở khi ra quyết định
Cản trở Số lượng Tỷ lệ
Thiếu sự ủng hộ của HĐQT 51 10.9
Không có hệ thống đánh giá tin cậy 90 19.2
Để đánh giá mục tiêu ưu tiên của doanh nghiệp trong thời gian tới, lãnh đạo được yêu cầu chọn tối đa 03 mục tiêu Kết quả khảo sát cho thấy có
03 nhóm mục tiêu được lựa chọn:
- Nhóm 1: Nhóm ưu tiên bao gồm an toàn tài chính; nâng cao chất lượng
chăm sóc khách hàng và đối tác; và tăng doanh thu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
- Nhóm 2: Nhóm quan trọng bao gồm nâng cao chất lượng sống và mức
độ hài lòng của nhân viên; nâng cao thương hiệu và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ; đổi mới và sáng tạo
- Nhóm 3: Nhóm cuối bảng bao gồm phát triển sản phẩm mới/thị trường
mới; lợi nhuận/tỷ suất lợi nhuận; trách nhiệm xã hội Có hai điểm khác biệt giữa kết quả tại biến số này với các biến số khác
Nếu như lãnh đạo cho rằng phẩm chất chú trọng phát triển bền vững và mục tiêu an toàn là quan trọng hàng đầu, thì trách nhiệm xã hội lại chưa được coi là mục tiêu ưu tiên Dường như mục tiêu trách nhiệm xã hội chưa gắn nhiều với triển khai quan điểm phát triển bền vững Tiếp theo, dù lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng phát triển kinh doanh là điểm yếu lớn của doanh nghiệp, nhưng thời gian tới cũng không ưu tiên mục tiêu này
Hình 5: Mục tiêu của DN ưu tiên nhất trong giai đoạn tới
(chọn 03 mục tiêu ưu tiên nhất)
Trang 92.9 Tầm nhìn và phát triển bền vững là phẩm chất được đề cao
nhất
Các nghiên cứu trước đây của chúng tôi (Lê Quân, 2010) nhấn mạnh
nhiều về sáng tạo, học hỏi, công bằng, gây ảnh hưởng (kỹ năng lãnh đạo)
Nhưng kết quả khảo sát trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế 2012 lại
chỉ ra ba phẩm chất quan trọng nhất của lãnh đạo doanh nghiệp là chú
trọng phát triển bền vững, say mê công việc và sẵn sàng chấp nhận rủi ro
Dường như ba phẩm chất này phù hợp để lãnh đạo vượt khủng hoảng
Khi mà chú trọng sự bền vững được lãnh đạo đặt lên hàng đầu, thì đó là
tín hiệu tốt cho kinh tế Việt Nam những năm tới
Hình 6: Phẩm chất quan trọng nhất cần có của CEO
(chọn 03 phẩm chất quan trọng nhất)
Trong kết quả khảo sát này, dũng cảm và chấp nhận rủi ro được nhìn nhận
khác nhau Nhìn nhận rõ rủi ro và chấp nhận nó khác với phẩm chất dũng
cảm và chấp nhận hy sinh Bên cạnh đó, các phẩm chất như nhìn xa trông
rộng, tư duy toàn cầu, hiểu biết rõ về ngành nghề cũng được khá nhiều
lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọn Có lẽ chưa bao giờ tầm nhìn và tính thực
tiễn được đề cao như giai đoạn hiện nay
Do khảo sát chỉ cho phép lãnh đạo chọn 03 phẩm chất mà họ cho là
quan trọng nhất, nên lãnh đạo phải lựa chọn Sự lên ngôi của các phẩm
chất về tầm nhìn được đẩy lên cao, đồng nghĩa với các phẩm chất quan
trọng khác sẽ phải xuống hạng Cầu thị, công bằng và khiêm tốn do vậy
được xếp cuối trong các lựa chọn của lãnh đạo doanh nghiệp trong giai
đoạn 2012
2.10 Tạo động lực và giao quyền là các kỹ năng ưu tiên học hỏi
trong 5 năm tới
Dù lãnh đạo có quan tâm nhiều đến phát triển kinh doanh, hay đặt ưu tiên
hàng đầu về tầm nhìn cho phẩm chất cần có của người lãnh đạo, thì quản
trị con người vẫn được đặt lên hàng đầu trong phát triển kỹ năng của lãnh
đạo doanh nghiệp Việt Nam, 5 kỹ năng được coi là cần phát triển nhất của
lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam trong 5 năm tới bao gồm:
Trang 10t Quản lý và lập kế hoạch;
t Tạo động lực cho cấp dưới;
t Giao quyền hiệu quả;
t Quản lý thay đổi;
t Ra quyết định
Bên cạnh đó, các kỹ năng quan trọng khác là giải quyết vấn đề, giải quyết xung đột, truyền cảm hứng Các kỹ năng hay được các nghiên cứu coi là điểm yếu của lãnh đạo doanh nghiệp như kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng huấn luyện cấp dưới thuộc nhóm cuối bảng trong ưu tiên của lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ hơn là khi kỹ năng quản lý và lập kế hoạch tốt, kỹ năng quản lý thời gian mới tốt Quản lý thời gian thực chất là tổ chức công việc cho bản thân và tổ chức công việc cho người khác Khi giao quyền hiệu quả, cũng đồng nghĩa là quản lý thời gian và lập kế hoạch công việc tốt, huấn luyện nhân viên tốt
Hình 7: Kỹ năng cần nâng cao trong 5 năm tới
(chọn 5 kỹ năng quan trọng nhất)
3 Đánh giá của cấp dưới về lãnh đạo doanh nghiệp
Khảo sát đánh giá lãnh đạo bởi cấp dưới được tiến hành theo tiếp cận khảo sát 360o trong quản trị nhân lực Cấp dưới sẽ đánh giá lãnh đạo dựa trên các nhóm năng lực chính thuộc về năng lực lãnh đạo (leadership)
3.1 Cấp dưới nhìn nhận lãnh đạo có học vấn và tiếng Anh tốt
Về trình độ học vấn của lãnh đạo, trong số 561 cá nhân cung cấp thông tin, lãnh đạo có trình độ đại học và cao đẳng chiếm 52.4% Đặc biệt, tỷ lệ lãnh đạo có trình độ đào tạo sau đại học chiếm đến 44.4% Trình độ học vấn phổ thông trung học và trung cấp chỉ chiếm 3.2% Kết quả này tương đồng với khảo sát 1 trình bày phía trên của báo cáo này