1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT

18 5,9K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 127 KB
File đính kèm PHUONG NGU TIENG VIET.rar (25 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương ngữ là một trong những hiện tượng đặc biệt của ngôn ngữ Tiếng Việt. Ở mỗi vùng, mỗi miền trên đất nước ta đều có những phương ngữ riêng của mình, và nếu bạn không tìm hiểu rõ về phương ngữ thì chắc rằng bạn sẽ khó hiểu được hết tất cả những tiếng nói của người dân địa phương của mỗi vùng. Những nếu các bạn muốn tìm hiểu kĩ về phương ngữ thì điều đầu tiên các bạn phải có được những kiến thức cơ bản về phương ngữ. Chính vì điều này mà nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Những vấn đề chung về phương ngữ”, nhằm để tăng thêm vốn hiểu biết của mình và cũng để giúp các bạn hiểu thêm về những nét cơ bản của phương ngữ Việt Nam.

Trang 1

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Phương ngữ là một trong những hiện tượng đặc biệt của ngôn ngữ Tiếng Việt Ở mỗi vùng, mỗi miền trên đất nước ta đều có những phương ngữ riêng của mình,

và nếu bạn không tìm hiểu rõ về phương ngữ thì chắc rằng bạn sẽ khó hiểu được hết tất cả những tiếng nói của người dân địa phương của mỗi vùng Những nếu các bạn muốn tìm hiểu kĩ về phương ngữ thì điều đầu tiên các bạn phải có được những kiến thức cơ bản về phương ngữ Chính vì điều này mà nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Những vấn đề chung về phương ngữ”, nhằm để tăng thêm vốn hiểu biết của mình và cũng để giúp các bạn hiểu thêm về những nét cơ bản của phương ngữ Việt Nam

I. Khái niệm:

1 Phương ngữ là gì?

- Giải thích theo từ thì: “Phương” là địa phương, “ Ngữ” là lời nói Vậy “Phương ngữ” là lời nói của địa phương

- Nói theo một cách khái quát thì: phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ

sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở mỗi địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác

2 Phương ngữ học là gì?

- Phương ngữ học là một bộ môn của ngôn ngữ học để nghiên cứu một hay nhiều phương ngữ ( dialect)

II. Tính lịch sử của phương ngữ:

1 Quá trình hình thành phương ngữ:

- Câu hỏi đặt ra là: vì sao một dân tộc cùng nói một thứ tiếng lại có vùng này phát

âm khác vùng kia, có lớp từ vựng ở vùng này so với vùng kia có những khác biệt nhất định? Và Phương ngữ được hình thành từ khi nào?

- Ta thấy rằng quá trình hình thành phương ngữ gắn liền với quá trình phát triển

xã hội

Trang 2

• Thời kì Thị tộc: Đây là tổ chức xã hội đầu tiên và chung cho tất cả loài người Ở thời giai đoạn này mọi thứ đều thống nhất với nhau cho nên chưa hề xuất hiện phương ngữ mà chỉ có một ngôn ngữ thống nhất và duy nhất cho cả thị tộc

• Thời kì Bộ lạc: Khi mà dân số trong Thị tộc phát triển, thì bắt buộc Thị tộc phải

mở rộng phạm vi lãnh thổ để sinh sống, do đó họ tách ra thành nhiều bộ lạc, có những bộ lạc sẽ ở cách xa nhau, nhiều khi không còn tiếp xúc với nhau nữa Kết quả là những thay đổi khác nhau trong tiếng nói của từng bộ lạc đã đụng chạm tới một vài khía cạnh của cái mã chung, rồi được củng cố qua nhiều thế hệ mà trở thành những phương ngữ khác nhau Và khi đó phương ngữ đã bắt đầu được hình thành

• Nguyên nhân hình thành phương ngữ: Ngôn ngữ luôn luôn biến động, tiến hóa nhưng không phải mọi vùng, mọi nơi của ngôn ngữ đó đều có những điều kiện thay đổi, tiến hóa như nhau Chính vì thế hình thành sự khác biệt ngôn ngữ giữa các vùng Đó là nguyên nhân chính dẫ đến sự ra đời của phương ngữ, nhưng ngoài nguyên nhân trên thì nó còn có những nguyên nhân về vị trí địa lí Bởi lẽ như đã nói ở trên khi mà các bộ lạc sống ở xã nhau thì phương ngữ được hình thành, ở trong giai đoạn thị tộc, do có sự tiếp xúc thường xuyên giữa các thành viên, cho nên dù có xảy ra những biến đổi thì những biến đổi đó cũng nhanh chóng được phổ biến cho toàn thị tộc, và kết quả là không thể có phương ngữ Nhưng sang giai đoạn bộ lạc phát triển, do sự xa cách về địa lí ở các bộ lạc làm cho những thay đổi chỉ phổ biến ở trong cái vùng của bộ lạc này mà không lan ra vùng của bộ lạc khác, kết quả làm nảy sinh những sự khác nhau trong mã, dẫn tới những phương ngữ khác nhau

• Khi tổ chức bộ lạc phát triển đến giai đoạn nhà nước ra đời: Sự ra đời của nhà nước tạo nên một bước chuyển mới trong ngôn ngữ:

 Khi nhà nước ra đời thì tồn tại sự tập trưng quyền lực, và lúc này đòi hỏi phải có một công cụ giao tiếp chung cho cả nước, để tạo nên sự thống nhất cho cả nước

Và lúc này lần đầu tiên quá trình hợp nhất các phương ngữ đã diễn ra để tạo nên

Trang 3

ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ chung này là dựa trên cơ sở phương ngữ của một bộ lạc chiến thắng hay của bộ lạc đông hơn., có sự phát triển về văn hóa cao hơn, kinh tế mạnh hơn

 Ngôn ngữ toàn dân được củng cố, có uy tín và ngày càng trở thành tài sản quý báu của cả nước, góp phần hình thành nên ý thức dân tộc, và nhân dân có ý thức bảo

vệ ngôn ngữ này như một di sản vô giá của mình.Điều này giải thích hiện tượng: Tại sao dân tộc Việt Nam bị đô hộ trong một thời gian dài trên một ngàn năm, thế

mà tiếng Việt vẫn tồn tại không bị đồng hóa bởi tiếng hán

 Thứ ba, quá trình xuất hiện nhà nước, ở nhiều nơi cũng trùng với quá trình xuất hiện văn tự Nghĩa là đến lúc này chữ viết cũng đã xuất hiện Trong giai đoạn này thì các ngôn ngữ lại có xu thế nhích lại gần ngôn ngữ toàn dân Đây là một trong những hiện tượng nổi bật của phương ngữ học Việt Nam hiện đại

 Đến giai đoạn cát cứ: nếu ở giai đoạn trên các ngôn ngữ có hiện tượng xích lại gần nhau và sáp nhập vào nhau thì đến giai đoạn này lại xảy ra một tình trạng đi

ngược xu thế trên mà nó có xu hướng tách các phương ngữ, góp phần là củng cố các ngôn ngữ.Bởi lẽ vào giai đoạn các cứ thì các ông vua trong từng công quốc đều tìm cách bảo vệ quyền lợi của mình cho nên ủng hộ xu hướng phát triển tiếng địa phương của mình chống lại xu hướng thống nhất ngôn ngữ

 Sang thời kì tư bản chủ nghĩ và xã hội chủ nghĩa: Lúc này xã hội bước vào thời kì hội nhập Giữa các vùng trong nước có điều kiện tiếp xuc với nhau nhiêu hơn nên làm nảy sinh nhu cầu trao đổi vói nhau và mọi người thường sửa đổi phương ngữ của mình sao cho phù hợp với nơi mà mìh đến Được gọi là hiện tượng pha tiếng Đây là một nhu cầu thật sự cần thiết phải thực hiện để giao tiếp dễ dàng Những điều này tạo nên tiền đề cho các phương ngữ dần dần hòa làm một với ngôn ngữ toàn dân, đồng thời ngôn ngữ toàn dân cũng nhờ đó mà phong phú thêm

2 Phương ngữ là một phạm trù lịch sử:

- Phương ngữ không phải là một hiện tượng bất biến trong lịch sử Nó hình thành, phát triển và mất đi theo các thời kì lịch sử Như đã nói ở trên về quá trình phát

Trang 4

quá trỉnh hình thành nhà nước, khi xuất hiện bộ tộc thì nó trải qua một quá trình độc đáo: ở chỗ này có xu hướng hợp nhất với ngôn ngữ toàn dân, ở chỗ kia lại có

xu hướng tách ra trong tình trạng phong kiến cát cứ Sang thời kì dân tộc hiện đại hình thành thì nó lùi dần, và hòa dân vào ngôn ngữ toàn dân Trong xã hội hiện đại với sự phát triển của giao thông, thương nghiệp kỹ thuật, thông tin và nhất là

xu hướng tập trung kinh tế, chính trị, các phương ngữ sẽ lùi dần chứ không phát triển thêm nữa

- Hiện nay có những yếu tố phương ngữ đang mất dần vì vậy chugs ta phải ghi chép cho hết những yếu tố ấy Đó là những dấu vết vô cùng quý báu để chúng ta hiểu

về lịch sử tiếng Việt Khi tiến hành khảo sát các từ cũng như các cấu trúc của tiếng Việt trong sự thể hiện các phương ngữ ta mới có được những ví dụ sinh động để xây dựng lịch sử tiếng Việt

- Nghiên cứu một ngôn ngữ không chỉ là nghiên cứu dưới dạng chữ viết của hình thức ngôn ngữ văn học, mà còn là nghiên cứu về hình thức sống và hoạt động của

nó trong thực tế

- Chúng ta phải nghiên cứu phương ngữ để phát hiện ra những điểm mạnh của từng phương ngữ có thể góp phần vào ngôn ngữ toàn dân, cũng như để giúp cho các phương ngữ xích lại gần ngôn ngữ toàn dân hơn, phù hợp với cấu trúc của từng phương ngữ

- Tóm lại phương ngữ là một phạm trù lịch sử nó phản ánh lên quá trình phát triển của tiếng Việt, và quá trình phát triển của nó cũng gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử

III. Tính phức tạp của phương ngữ:

1 Phân biệt phương ngữ với ngôn ngữ thân thuộc:

Cần phân biệt phương ngữ với các ngôn ngữ thân thuộc – còn được gọi là các tộc ngữ

Khái niệm ngôn ngữ thân thuộc: Các ngôn ngữ thân thuộc là các ngôn ngữ thuộc

cùng một ngữ tộc, có cùng một mã chung nào đó, nhưng vẫn có mã riêng biệt của mình Ví dụ như tiếng Việt và tiếng Mường được coi là ngôn ngữ thân thuộc vì

Trang 5

chúng thuộc chung một cội nguồn, cùng một ngữ tộc là tiếng Việt – Mường, nhưng vẫn là hai ngôn ngữ khác nhau, mỗi ngôn ngữ đều có một mã riêng

Các ngữ tộc được phân loại theo cội nguồn hoặc hình thức

1.1 Phân biệt phương ngữ với ngôn ngữ:

Theo cách hiểu thông thường của phương ngữ: Nếu hai người nói tiếng mẹ đẻ của mình mà hiểu được nhau thì đó là hai phương ngữ, còn khi hai người không hiểu được nhau thì đó là hai ngôn ngữ

a Khi những phương ngữ ở trong phạm vi một quốc gia:

- Dù khi nói hai người đó không hiểu nhau vẫn không xem đó là hai ngôn ngữ Sở dĩ nói như vậy vì nếu không kể một số biến đổi về ngữ âm thì cấu trúc từ vựng và cấu trúc ngữ pháp vẫn là một

Ví dụ: Người Bắc Kinh nói với người Quảng Đông, hay người Phúc Kiến nói với người Thiểm Tây thì tiếng nói của họ vẫn được xem là phương ngữ vì nó có cấu trúc ngữ pháp và từ vựng giống nhau và cùng là tiếng Hán

- Cũng có trường hợp hai kết cấu phương ngữ khác nhau nhưng hai người nói hai phương ngữ vẫn hiểu nhau

Ví dụ: Phương ngữ Chăm ở Nam Bộ vẫn còn giữ cấu trúc của một ngôn ngữ đa tiết, trong khi đó phương ngữ Chăm ở Ninh Thuận đang chuyển sang cấu trúc của một ngôn ngữ đơn tiết, nhưng hai người ở hai nơi vẫn hiểu được nhau

b Khi hai phương ngữ đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thì không gọi là phương ngữ nữa:

Ví dụ: Tiếng Hà Lan và tiếng Flamang, tiếng Mã Lai và tiếng Indonexia, tiếng Lào và tiếng Thái Lan là những trường hợp như vậy Người Thái và người Tày Nùng ở Việt Nam vẫn hiểu phần nào tiếng nói của người phát thanh Thái Lan mặc

dù cấu trúc tiếng Thái của Thái Lan đã khác cấu trúc tiếng Tày Nùng nhưng ta không thể nào nói tiếng nới của người Thái ở Thái Lan và tiếng của người Thái và

Trang 6

người Tày Nùng ở Việt Nam là hai phương ngữ, vì chúng không ở cùng một quốc gia nên đây là hai ngôn ngữ Hoặc như đồng bào Chăm , Êđê nghe hiểu lõm bõm đài truyền hình bằng tiếng Indonexia cũng giống như trường hợp trên

- Sự chuyển từ phương ngữ sang ngôn ngữ không đột ngột trừ khi có những nguyên nhân lịch sử khiến hai tộc người tách hẳn nhau ra trong một thời gian dài Tiếng Việt và tiếng Mường khác nhau rõ ràng Nhưng khi xét ở cấp độ phương ngữ, so sánh phương ngữ Mường với phương ngữ Việt thì ta sẽ ngạc nhiên không biết tiếng Mường chuyển sang tiếng Việt từ lúc nào Khi chúng ta đi sâu vào nghiên cứu thì chúng ta sẽ khó vạch ra những biên giới của các phương ngữ Nhưng chúng ta không phải vì thế mà phủ nhận đi sự tồn tại của phương ngữ

- Hiện nay người ta dùng biện pháp định lượng để phân biệt phương ngữ với ngôn ngữ Ví dụ như khi nghiên cứu các ngôn ngữ trong nhóm Mã Lai- Đa Đảo, Dyen

đã đưa ra một tiêu chuẩn định lượng để phân biệt phương ngữ và ngôn ngữ

c Để tránh khỏi những điều rắc rối trên, ta biết rằng trong vấn đề nhận diện một phương ngữ có 2 mặt: mặt ngôn ngữ học và mặt xã hội – chính trị (Ngôn

ngữ học cung cấp cơ sở, nhưng sự giải quyết là thuộc phạm vi xã hôi – chính trị)

- Ngôn ngữ học, cụ thể là phương ngữ học , có nhiệm vụ khảo sát cách biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân dưới hình thức biến thể địa phương của nó Nó xác định xem sự khác nhau này đụng chạm tới cái mã ngôn ngữ đến mức nào Từ đó vẽ ra những bản đồ phưưong ngữ dựa vào các vùng cùng có chung một số hiện tượng ngữ âm, từ vựng

- Việc quy định nhóm người nói phương ngữ này đã có thể xem là một dân tộc hay không là thuộc phạm vi của dân tộc học Dân tộc học kết hợp mặt ngôn ngữ với nhiều mặt khác như phong tục, lịch sử, văn hóa và chính trị để quyết định Bởi

Trang 7

vì quy định một tộc người thuộc dân tộc nào, tuy có sử dụng những cơ sở của ngôn ngữ học nhưng không phải chỉ sử dụng đơn thuần cơ sở ngôn ngữ học

Ví dụ: Tiếng Tày – Nùng là hai phương ngữ chứ không phải là hai ngôn ngữ Vì những người nói phương ngữ này có thể không phải cùng một tộc người về nguồn gốc, nhưng trong quá trình cộng cư, ở xen lẫn với nhau đã trở thành một dân tộc

và ngôn ngữ của họ vốn đã là cùng một gốc, bây giờ lại cùng nhích lại gần nhau, nhất là càng bị ảnh hưởng tiếng Kinh sâu đậm

2 Phân biệt phương ngữ với thổ ngữ:

- Thế nào là thổ ngữ: Thổ ngữ là một phương ngữ đã bị thoái hóa, đã bị thu hẹp trong một làng, một xã, một địa phương nhỏ, dân cư ít Hơn nữa, các từ ngữ trong thổ ngữ còn bị hạn chế do những nhu cầu đời sống hàng ngày của một cộng đồng trong một vùng nông thôn nào đó mà thôi Tiếng nói trong một thổ ngữ thường hết sức đặc biệt, ngay cả so với phương ngữ quanh đó

- Nguyên nhân hình thành phương ngữ:

+ Một làng, một xã nào đó sống quá khép kín, không chịu giao tiếp với xung quanh, nên không bị ảnh hưởng bởi những biến đổi của bên ngoài

+ Hoặc do cơ tầng ngôn ngữ của những người nói thổ ngữ đó khác với ngôn ngữ

mà hiện nay họ đang dùng Nghĩa là trước đây những người này nói một thứ tiếng, nhưng vì một lí do nào đó, họ từ bỏ ngôn ngữ cũ để dùng một ngôn ngữ mới có

mã, khác về bản chất với mã của ngôn ngữ cũ

3 Sự xuất hiện và lan truyền những biến thể trong phương ngữ.

Hầu hết những sự biến đổi về hình thức trong phương ngữ đều xuất phát từ sự biến đổi ngữ âm học và âm vị học

a Biến đổi ngữ âm là sự biến đổi xảy ra đồng loạt trong mọi từ có âm ấy không trừ một ngoại lệ nào.

Trang 8

Ví dụ: theo người Thanh Hóa thì họ cho rằng [ê i ] là biến thể của [i:] nên họ có thể

nói “ chị” là “chậy” Còn người Hà Nội thì cho rằng “chị” và “chậy” là hai từ khác nhau chứ không phải là hai biến thể

Những biến thể ngữ âm thường là những âm tố nằm giữa giới hạn của hai âm vị hay là hai âm vị kể nhau trong hệ thống âm vị của một ngôn ngữ.

Ở Thanh Hóa:

i êi : chị chệi

u ôu : chục chộu c

Ở Nam Bộ:

i ư: bình bịch bừn bựt

u ư : um tùm ưm từm

Các biến thể ngữ âm có thể xuất hiện trong những bối cảnh ngữ âm phân bố bổ túc.

Ví dụ: trong phương ngữ Bắc Bộ, ta gặp cặp phụ âm cuối: [ nh – ch] sau những nguyên âm dòng trước, cặp phụ âm cuối: [ ng – k] sau những nguyên âm dòng giữa và cặp phụ âm cuối: [ ng m – k p ] sau những nguyên âm dòng sau tròn môi.

[inh ich] [ưng ưk] [ungm ukp]

[ênh ếch] [âng âk] [ôngm ôkp]

Trang 9

[enh ech] [ang ak] [ongm okp]

[ăng ăk]

Có những trường hợp các biến thể xuất hiện nhưng không ở thế phân bố bổ túc.

Ví dụ: trường hợp lẫn lộn l/n ở đồng bằng Bắc Bộ, s -> x, r -> z, tr -> ch ở hầu

khắp Bắc Bộ

Hai loại biến thể này do xảy ra do quy luật ngữ âm có tính chất đều đặn tức là nó bắt gặp ở toàn bộ các từ mang âm vị này không loại trừ một từ nào hết.

b Biến đổi âm vị học là âm vị mới đến thay thế cho âm vị cũ lần lượt hết từ này sang từ khác, tức là bằng con đương thâm nhập từ vựng.

Ví dụ: tương ứng với những âm ă, người ta sẽ gặp â trong phương ngữ Bắc Bộ ở

các từ như: tằm – tầm, rằm – rầm, màu – mầu, thày – thầy, bảy – bẩy…

Ngoài những từ này, hai âm ă – â trong những từ khác lại có giá trị phân biệt ý

nghĩa

Ví dụ: cau – câu , sau – sâu , tay – tây …

Sự thay thế âm vị học có thể xảy ra đối với nguyên âm cũng như đối với phụ âm

Ví dụ: b – v ở một số từ như bui – vui, bo – vo,….(ở Bắc Trung Bộ).

Sự biến đổi âm vị học là sự tranh chấp giữa hai âm vị cũ và mới trong từng từ một:(bảng 1)

Trang 10

Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ - Nam Bộ Bắc Bộ

Trời

Trăng

Trầu

Tranh

Trai

……

Trựa

Tra

Trời trăng Trầu Tranh Trai

……

Giữa Già

Giời Giăng Giầu Gianh Giai

……

Giữa Già

Phương ngữ Nam Trung Bộ - Nam Bộ phản ánh sự tranh chấp giữa hai biến thể tr

và gi.

Trong bảng trên cho thấy ở phương ngữ Bắc Bộ có thể dùng cả hai biến thế như

trời và giời, trăng và giăng, trầu và giầu,…nhưng trong ngôn ngữ nói hằn ngày ở

cả Trung Bộ và Nam Bộ thì chỉ tồn tại một biến thể: trời, trăng, trầu,…Việc dùng

song song cả hai biến thể trong một địa phương như ở Bắc Bộ cũng là bằng chứng của sự tranh chấp

IV Vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ:

1 Khái niệm về “chuẩn” và “chuẩn hóa”:

- Trong ngôn ngữ văn hóa, do có sự khác biệt giữa các phương ngữ ( phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam) và có những yêu cầu khác nhau của các phong cách (Phong cách ngôn ngữ trong văn học, sinh hoạt, nhà trường…) mà xuất hiện tình trạng “lưỡng khả”

Ngày đăng: 17/10/2016, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w