Từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên (cách đây khoảng 3500 đến 4000 năm) cho đến nay, trên đất nước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là quá trình hình thành công xã nông thôn, hay nói cách khác, đây là quá trình hình thành làng Việt.Mỗi làng bao gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định. Ở đây, bên cạnh quan hệ địa lý láng giềng, quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn và củng cố tạo thành kết cấu vừa làng vừa họ, hay kết cấu làng họ rất đặc trưng ở Việt Nam. Làng xã Việt như thế, là một loại hình của công xã Phương Đông, trong đó nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, làng xóm gắn liền với ruộng đất, nên tự nó mang tính ổn định cao. Tính ổn định cao này đã hoá thân thành tinh thần công xã, thành truyền thống xóm làng, nên nó trở thành nguồn sức mạnh tiềm tàng trong cuộc đọ sức nghìn năm với các mưu đồ nô dịch và đồng hoá của phương Bắc, chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.Có thể nói, làng xã Việt Nam là một trong những nhân tố góp phần quan trọng trong quá trình giữ nước của dân tộc ta. Đã có khá nhiều các nghiên cứu trước đây về làng xã Việt Nam nhưng đa số chỉ tập trung vào quá trình hình thành và phát triển, các loại hình, đặc trưng, v.v... nhưng thiếu sót đi những nghiên cứu, phân tích chuyên sâu mang tính học thuật, khoa học về vai trò thật sự của làng xã Việt Nam trong quá trình giữ nước. Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi xin thực hiện đề tài nghiên cứu Vai trò của làng xã Việt Nam trong vấn đề giữ nước.
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
VAI TRÒ CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỂ GIỮ NƯỚC
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:
I Lí do chọn đề tài:
Từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên (cách đây khoảng 3500 đến 4000 năm) cho đến nay, trên đất nước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là quá trình hình thành công xã nông thôn, hay nói cách khác, đây là quá trình hình thành làng Việt
Mỗi làng bao gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định Ở đây, bên cạnh quan hệ địa lý - láng giềng, quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn và củng cố tạo thành kết cấu vừa làng vừa họ, hay kết cấu làng họ rất đặc trưng ở Việt Nam Làng xã Việt như thế, là một loại hình của công xã Phương Đông, trong đó nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, làng xóm gắn liền với ruộng đất, nên tự nó mang tính ổn định cao Tính ổn định cao này đã hoá thân thành tinh thần công xã, thành truyền thống xóm làng, nên
nó trở thành nguồn sức mạnh tiềm tàng trong cuộc đọ sức nghìn năm với các mưu đồ nô dịch
và đồng hoá của phương Bắc, chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Có thể nói, làng xã Việt Nam là một trong những nhân tố góp phần quan trọng trong quá trình giữ nước của dân tộc ta Đã có khá nhiều các nghiên cứu trước đây về làng xã Việt Nam nhưng đa số chỉ tập trung vào quá trình hình thành và phát triển, các loại hình, đặc trưng, v.v nhưng thiếu sót đi những nghiên cứu, phân tích chuyên sâu mang tính học thuật, khoa học về vai trò thật sự của làng xã Việt Nam trong quá trình giữ nước Xuất phát từ lí do
đó, chúng tôi xin thực hiện đề tài nghiên cứu "Vai trò của làng xã Việt Nam trong vấn đề
giữ nước"
1
Trang 2II Mục đích nghiên cứu:
Với đề tài này, chúng tôi hi vọng rằng sẽ góp phần lí giải những yếu tố quan trọng cấu thành nên vai trò của làng xã trong vấn đề giữ nước, cung cấp những nguồn thông tin, tài liệu chính xác nhất nhằm nâng cao hiểu biết, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu của mọi người trong nghiên cứu, học thuật và củng cố nền tảng kiến thức, tài liệu hiện có về làng xã Việt Nam
III/ Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
1 Khách thể nghiên cứu:
Những đặc trưng của làng xã Việt Nam
Quá trình giữ nước của làng xã Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc
2 Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của làng xã Việt Nam trong vấn đề giữ nước
IV Giả thuyết khoa học:
Đa số chúng ta phần nào đều nhận thức được vai trò của làng xã đối với vấn đề giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc ta, phần nào lí giải những yếu tố góp phần hình thành nên vai trò đó, nhằm vận dụng, giải quyết những vấn đề một cách có hiệu quả trong xã hội Việt Nam hiện đại Nhưng đôi khi, việc vận dụng ấy chưa thật sự đúng đắn và chưa mang lại kết quả thiết thực như mong muốn vì ta chưa nắm vững được những yếu tố quan trọng nhất, chính xác nhất
V Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài, bao gồm các khái niệm cơ bản, lý luận về làng xã Việt Nam và cơ sở nghiên cứu của đề tài này
Nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của làng xã việt Nam Trên cơ sở đó nhận xét, đánh giá những mặt ưu, khuyết điểm và tập trung khai thác những đặc trưng chính hình thành nên vai trò của làng xã Việt Nam
Nghiên cứu vai trò của làng xã Việt Nam trong suốt quá trình giữ nước của dân tộc ta
Trang 3VI Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Trên vùng lãnh thổ Việt Nam, trọng tâm là khu vực Bắc Bộ
Thời gian: Từ thời kì văn hóa Phùng Nguyên (cách đây từ 3500 đến 4000 năm) đến thời kì kháng chiến chống Pháp năm 1945
VII Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được những nội dung trên, với những tư liệu đã thu thập được, phương pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng cho đề tài này là:
+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó
phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm, công cụ của đề tài
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tập hợp những ý kiến từ các chuyên gia trong
các lĩnh vực có liên quan nhằm hoàn thiện những nội dung trong đề tài nghiên cứu
VIII Đóng góp của đề tài:
Đề tài này có ý nghĩa nhất định trong việc khẳng định tầm vai trò quan trọng của làng
xã Việt Nam trong vấn đề giữ nước Từ đó góp phần lý giải những nguyên nhân chính góp phần giữ vững được đặc trưng văn hóa truyền thống của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch
sử đấu tranh chống ngoại xâm
Ngoài ra, đề tài này còn là nguồn tài liệu quan trọng trong việc củng cố nguồn thông tin, kiến thức cho các đề tài nghiên cứu với quy mô rộng hơn và cụ thể hơn
3
Trang 4IX Cấu trúc của đề tài:
Trang 5ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
VAI TRÒ CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỂ GIỮ NƯỚC
Làng là một khái niệm hết sức quen thuộc, mọi người đều dùng nhưng khi cần phải
định nghĩa về “làng” thì lại có những quan niệm không giống nhau Có người coi làng như
một cộng đồng, có người coi làng như một đơn vị cư trú trên một địa vực nhất định Nhiều chuyên gia phương Tây đã nêu lên 3 đặc trưng cơ bản của làng cổ truyền:
+ Về mặt chính trị là sự tự quản;
+ Về mặt kinh tế là tự cấp tự túc và về mặt xã hội là thuần nhất, cộng đồng Và
như thế có thể đồng nhất khái niệm làng cổ truyền với khái niệm “công xã nông thôn” 1
“Làng” là một từ thuần Việt, được sử dụng rất phổ biến trong dân gian, nhưng không
thấy ghi chép trong thư tịch cổ hay trong địa bạ, hương ước cổ Làng Việt được tổ chức rất chặt chẽ, không phải theo một mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, tạo nên nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp người khác nhau, khác nhau nhưng lại hoà đồng trong phạm vi
làng Về cơ bản, cơ cấu làng Việt (truyền thống và hiện đại) được biểu hiện dưới những hình thức tổ chức (liên kết, tập hợp người) sau đây:
+ Tổ chức làng theo huyết thống (gia đình), dòng họ: Ngoài các gia đình nhỏ,
gia đình hạt nhân, dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng trong làng Việt, là chỗ dựa vật chất,
và chủ yếu là tinh thần cho gia đình; có tác dụng trong định canh và xây dựng làng mới, như
là trung tâm của sự cộng cảm trong các gia đình đồng huyết… Có làng gồm nhiều dòng họ,
có làng chỉ một dòng họ và khi ấy làng và dòng họ (gia tộc) đồng nhất với nhau Điều đáng
1 GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, "Quan hệ Nhà nước - làng xã: Quá trình lịch sử và bài học kinh nghiệm",
đường link:
http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/383-quan-h-nha-nc-lang-xa-qua-trinh-lch-s-va-bai-hc-kinh-nghim-gsts-nguyn-quang-ngc.html.
5
Trang 6lưu ý là mức độ liên kết huyết thống trong phạm vi làng Việt là hết sức rạch ròi, chi li với
những tên gọi cụ thể (cố - cụ - ông - cha - bản thân - con - cháu - chắt - chút…).
+ Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú): Làng phân thành nhiều xóm, xóm phân
thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiều nhà… thành những khối dài dọc đường cái, bờ sông, chân đê, những khối chặt kiểu ô bàn cờ, theo hình vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi và phân bố lẻ tẻ, tản mát, xen kẽ với ruộng đồng… Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống tương đối riêng Mỗi làng có một địa vực nhất định coi như không gian sinh tồn gồm khu cư trú, ruộng đất, đồi gò, núi sông, ao đầm do cộng đồng làng hay các thành viên của cộng đồng làng sử dụng
+ Tổ chức làng theo nghề nghiệp, theo sở thích và lòng tự nguyện (Phe - Hội,
Phường nghề, ): Mỗi làng có thể có nhiều Phe (một tổ chức tự quản dưới nhiều hình thức câu lạc bộ): Phe tư văn quan trọng hơn; nhiều Hội: hiếu hỷ, mua bán, luyện võ, tập chèo, đấu
vật… các Phường nghề: mộc, nề, sơn, thêu, chèo, rối…
+ Tổ chức theo lớp tuổi (truyền thống nam giới): tổ chức giáp, hiện rất mờ nhạt
Đây là môi trường tiến thân theo tuổi tác, tổ chức dành riêng cho nam giới, phụ nữ không được vào Bé trai mới lọt lòng được vào giáp ngay, được lên đinh, ngồi chiếu giữa làng, được nâng dần địa vị, được lên lão… Nói chung, giáp gắn chặt với làng
+ Tổ chức làng theo cơ cấu hành chính: Làng có khi gọi là xã (có xã gồm nhiều
làng), có khi gọi là thôn (khi nhất xã nhất thôn) Tiêu chuẩn để phân định rõ nhất là chính cư
và ngụ cư (nội tịch và ngoại tịch) một cách rất rành mạch, nhiều khi cực đoan Tuy nhiên, có một điều mở là dân ngụ cư có thể chuyển thành chính cư khi có điền có điền sản và sống (cư
trú) ở làng 3 đời trở lên Dân cư trong làng được phân thành nhiều hạng, cơ bản là các hạng:
chức sắc (đỗ đạt hoặc có phâm hàm vua ban); chức dịch (có chức vụ trong bộ máy hành
chính); lão, đinh, ty ấu, người già, trai đinh, trẻ con (trong các giáp)…
Về mặt văn hoá mỗi làng thường có đình làng thờ thành hoàng làng, có chùa, đền,
miếu, am, quán, có cơ sở sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng và lễ hội chung (riêng các làng theo
Thiên chúa giáo các sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng tập trung ở nhà thờ).
Về mặt quản lý thời kỳ đầu có thể chỉ là hội đồng già làng, chủ yếu tổ chức, quản lý theo tục, sau đó đến Hội đồng kỳ mục rồi Hội đồng tộc biểu , quản lý thông qua hương ước
Trang 7Từ những luận điểm tra, ta có thể định nghĩa "làng" như sau: làng (kẻ, thôn…) là một
thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt trên cơ sở địa vực, địa bàn
cư trú; là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt; trồng trọt là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tự quản đa dạng và phong phú của người nông dân,
ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ
=> Tuy là một bước phát triển mới của công xã nông thôn nhưng làng đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt là trong các cơ cấu tổ chức làng (theo huyết thống, địa vực, ), về văn hóa và mặt quản lý Có thể nói, mô hình của một xã hội tự quản trong phạm vi nhỏ đã được hình thành, góp phần xây dựng những nét độc đáo, khác biệt, thế mạnh giữa những làng khác nhau nhau, tạo tiền đề quan trọng cho vai trò giữ nước của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc từ thời Bắc thuộc.
2 Xã là gì?
Là đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước, lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ VII dưới thời thống trị của nhà Đường Tuy nhiên phải đến khi họ Khúc giành được quyền tự chủ vào đầu thế kỷ thứ X, ý tưởng biến làng cổ truyền thành đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước trước đây mới được khẳng định và chính thống hoá
Mặc dù vậy, vai trò của cấp xã thời kỳ này cũng chưa thật rõ Thời kỳ đầu một xã chỉ
có một làng, nhưng dần dần trong quá trình phát triển, một xã có khi bao gồm vài ba làng, thậm chí nhiều hơn nữa Khi ấy sự khác nhau giữa xã và làng còn ở cả quy mô nữa
Xuất hiện đồng thời với "xã" là "thôn", chính vì thế ta thường lầm lẫn giữa 2 khái
niệm này Thôn cũng xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ X Cấp thôn ra đời chính là do nhu cầu quản lý hành chính của bản thân cấp xã Thôn là đầu mối giáp nối, gắn kết và điều hoà hai hệ thống quản lý hành chính và tự trị, luật pháp và tục lệ, chính trị và xã hội
Cả hai khái niệm “xã” và “thôn” đều có gốc từ Trung Hoa Trung Hoa thời cổ đại
cũng đã từng lấy xã làm đơn vị hành chính cơ sở Theo sách Từ hải thì thời cổ xưa ở Trung
Hoa cứ 25 nhà sinh sống trên một vùng đất vuông 6 dặm gọi là “xã” Tuy nhiên cách tổ chức
này không được duy trì lâu dài Sau này khi Trung Hoa mở rộng đất đai ra các vùng xung
7
Trang 8quanh, họ lấy “thôn” làm đơn vị hành chính cấp cơ sở ở khu vực nội địa, còn “xã” là đơn vị
hành chính cấp cơ sở tương đương ở khu vực ngoại vi phụ thuộc Như thế về hình thức mà xét thì đã có cấp xã tức là không có cấp thôn và ngược lại 1
=> Xã với thôn xuất hiện đồng thời, song hành và hỗ trợ cho nhau trong quản lý nông thôn, tuy nhiên nội dung và mức độ có khác nhau Xã là quản lý hành chính, bằng luật pháp của Nhà nước; còn thôn là nửa hành chính, nửa tự trị, nó có chức năng tham gia giải quyết các công việc hành chính dưới luật và nhất là phải xử lý các vụ việc xẩy ra mang tính nội bộ của cộng đồng làng Thôn có vai trò tổ chức và quản lý, tham gia giải quyết các công việc hành chính sự vụ dưới luật trên quy mô làng Trưởng thôn vừa chịu sự lãnh đạo của xã trưởng vừa phải thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng làng (ở đây là Hội đồng kỳ mục) giao phó Dù xuất hiện muộn hơn làng nhưng xã đã trở thành một đơn vị tổ chức xã hội lớn hơn, quy củ hơn và có sự phân chia quyền lực quản lý giữa các cấp theo hàng dọc Tuy vậy, sự gắn kết giữa các làng cùng một xã với nhau diễn ra không rõ nét và mạnh mẽ, khiến xã chỉ mang tính hành chính nhiều hơn.
3 Làng xã:
Là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng
đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở (ở đây ta chỉ nói về về trường hợp thời kỳ đầu một xã chỉ
có một làng) Cụm từ “làng xã” hết sức thông dụng, thậm chí nhiều người tưởng rằng làng
với xã chỉ là một và có cùng nguồn gốc rất lâu đời Thật ra khái niệm “làng xã” chỉ xuất
hiện sớm nhất là từ thế kỷ VII, nhưng phải đến thế kỷ X, sau khi cấp xã chính thức xuất hiện thì làng xã mới có điều kiện trở thành phổ biến trong xã hội 2
=> Làng xã như một bước đầu hình thành nên xã, là một bước đệm chuyển giao từ
mô hình xã hội nhỏ của làng để tiến đến mô hình tập hợp các làng của xã với mô hình quản
ly cấp cao hơn Tuy nhiên, do mỗi làng đều có thiết chế riêng và sự tách biệt mạnh mẽ giữa
1, 2 GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, "Quan hệ Nhà nước - làng xã: Quá trình lịch sử và bài học kinh nghiệm",
đường link:
http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/383-quan-h-nha-nc-lang-xa-qua-trinh-lch-s-va-bai-hc-kinh-nghim-gsts-nguyn-quang-ngc.html.
2
Trang 9các làng, cho nên nghiên cứu này tập trung khai thác cả về khái niệm làng (nói riêng) và làng xã (nói chung) khi đề cập đến cơ cấu tổ chức.
II ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM:
Do cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên, nên người làm nông nghiệp phải dựa vào nhau mà sống Mặt khác, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước, tính thời vụ càng cao, để kịp thời vụ con người buộc phải liên kết với nhau Chính sự liên kết, tương hỗ này tạo nên tình cộng đồng của làng xã Việt Nam Tính cộng đồng chú trọng nhấn mạnh vào sự đồng nhất: cùng họ là dòng tộc, cùng nghề là đồng nghiệp, cùng làng là đồng hương… Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hưởng tới những người khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại
Sản phẩm của tính cộng đồng ấy là một tập thể làng xã mang tính tự trị: làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào độc lập với triều đình phong kiến
Mỗi làng là một "vương quốc" nhỏ khép kín với luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương
ước) và "tiểu triều đình" riêng, trong đó hội đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí dịch là cơ
quan hành pháp; nhiều làng tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ Sự biệt lập đó tạo nên truyền thống phép vua thua lệ làng Tình trạng này thể hiện quan hệ dân chủ đặc biệt giữa Nhà nước phong kiến với làng xã ở Việt Nam
=> Tính cộng đồng và tính tự trị chính là hai đặc trưng bao trùm nhất, quan trọng nhất của làng xã; chúng tồn tại song song như hai mặt của một vấn đề 1 Cả 2 đều có những mặt ưu điểm và hạn chế khác nhau, chúng không tách biệt nhau mà tương hỗ, chi phối lẫn nhau, tạo nên những đặc trưng thống nhất, gắn kết mạnh mẽ giữa 2 yếu tố cộng đồng và tự trị Đây là nhân tố tiền đề quan trọng nhất góp phần lí giải vai trò của làng xã Việt Nam trong vấn để giữ nước.
1 Tính cộng đồng:
1 GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, "Cơ sở văn hóa Việt Nam", NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
9
Trang 10Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình - bến nước - cây đa Làng nào cũng có một cái đình Đó là biểu tượng tập trung nhất của làng về mọi phương diện Trước hết, nó là một trung tâm hành chính, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng, nơi hội họp, thu sưu thu thuế, nơi giam giữ và xử tội phạm nhân Tiếp đến, đình là một trung tâm văn hóa,
nơi tổ chức các hội hè, ăn uống (do vậy mà có từ đình đám), nơi biểu diễn chèo tuồng Đình
còn là một trung tâm về mặt tôn giáo, tình cảm
Do ảnh hưởng của trung Hoa, đình từ chỗ là nơi tập trung của tất cả mọi nghi dần dần
chỉ còn là chốn lui tới của đàn ông Bị đẩy ra khỏi đình, phụ nữ quần tụ lại nơi bến nước (ở
những làng không có sông chảy qua thì có giếng nước) - chỗ hàng ngày chị em gặp nhau
cùng rửa rau, vo gạo, giặt giũ, chuyện trò
Cây đa cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gốc cây có miếu thờ lúc nào cũng khói hương nghi ngút - đó là nơi hội tụ của thánh thần: thần cây da, ma cây gạo, cú cáo cây đề; Sợ thần
sợ cả lây da Nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở thành cánh cửa sổ liên thông làng với thế giới bên ngoài
1.1 Ưu điểm:
Tính cộng đồng nhấn mạnh vào sự đồng nhất Do đồng nhất (cùng hội cùng thuyền,
cùng cảnh ngộ) cho nên người Việt Nam luôn sẵn sàng đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi
người trong cộng đồng như anh chị em trong nhà: tay đứt ruột xót, chị ngã em nâng; lá lành
đùm lá rách Do đồng nhất (giống nhau) cho nên người Việt Nam luôn có tính tập thể rất cao, hòa đồng vào cuộc sống chung Sự đồng nhất (giống nhau) cũng chính là ngọn nguồn
của nếp sống dân chủ - bình đẳng bộc lộ trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn
cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp
1.2 Hạn chế:
Mặt khác, lại cũng chính do đồng nhất mà ở người Việt Nam, ý thức về con người cá
nhân bi thủ tiêu: Người Việt luôn hòa tan vào các mối quan hệ xã hội (với người này là em,
người kia là cháu, với người khác nữa là anh/chị ), giải quyết xung đột theo lối hòa cả làng
Sự đồng nhất (giống nhau) còn dẫn đến chỗ người Việt Nam hay dựa dâm, ỷ lại vào tập thể:
Trang 11Nước trôi thì bè trôi, Nước nổi thì thuyền nổ Tệ hại hơn nữa là tình trạng "Cha chung không
ai khóc"; "lắm sãi không ai đóng cửa chùa" Cùng với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởngcầu an (an phận thủ thường) và cả nể, làm gì cũng sợ rút dây động rừng nên có việc gì thường chủ
trương đóng cửa bảo nhau… Một nhược điểm trầm trọng thứ ba là thói cào bằng, đố kị,
không muốn cho ai hơn mình (để cho tất cả đều đồng nhất, giống nhau) Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho ở Việt Nam, khái niệm "giá trị" trở nên hết sức tương đối (nó khẳng định đặc điểm tính chủ quan của lối tư duy nông nghiệp): Cái tốt, nhưng mà tốt riêng rẽ thì trở thành xấu (khôn độc không bằng ngốc đàn); ngược lại, cái xấu,
nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường: Toét mắt là tại hướng đình, Có làng cùng toét, riêng mình đâu!
=> Từ đó ta có thể thấy, sân đình, bến nước, cây đa là biểu trưng cho tính cộng đồng của làng xã, là nhân tố gắn kết những con người trong cùng một làng với nhau, góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng mạnh mẽ, hễ việc của ai trong làng thì cả làng cùng quan tâm, giúp đỡ, xem nhau như anh em một nhà Khởi nguồn từ cuộc sống nông nghiệp, tính cộng đồng làng xã đã trở thành ý thức cộng đồng trong phạm vi quốc gia: Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn; Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng Tính cộng đồng trong phạm vi làng là cơ sở tạo nên tính đồng nhất trong hàng loạt lĩnh vực: đồng tộc, đồng niên, đồng nghiệp, đồng hương và tất yếu dẫn đến sự đồng nhất trong phạm vi quốc gia: đồng bào (sinh ra từ cùng một bọc trứng) Vậy nên, tinh thần "toàn dân đoàn kết" từ đó mà ra, là một trong những yếu tố chính thúc đẩy vai trò giữ nước của làng xã.
2 Tính tự trị:
Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre Rặng tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm: đốt không cháy, trèo không được, đào
đường hầm thì vướng rễ không qua (chính vì vậy mà tiếng Việt gọi rặng tre là luỹ, thành luỹ)
Luỹ tre là một đặc điểm quan trọng làm cho làng xóm phương Nam khác hẳn ấp lí Trung Hoa có thành quách đắp bằng đất bao bọc
11
Trang 12Nền tảng của tính tự trị trong làng xã đó chính là sự cố kết chặt chẽ, không thể tách rời khỏi thực thể làng của các bộ phận, tổ chức, cá nhân trong làng Làng là tập hợp của một đơn vị cư trú, một tổ chức sản xuất, tổ chức xã hội, tổ chức quân sự Sự đan xen nghề nghiệp; nông, công, thương và mối quan hệ đa dạng phường hội, họ hàng, xóm, giáp; sự dung hợp các hệ tư tưởng và tôn giáo… đã tạo cho làng cổ truyền một cơ sở vững chắc Mỗi
cá nhân đồng thời là thành viên của nhiều tổ chức, phe giáp, và là thành viên của cộng đồng làng, là bộ phận hữu cơ luôn gắn bó chặt chẽ với tổ chức làng Tâm lý cộng đồng là một trong những đặc trưng của văn hoá làng Kết cấu đa dạng và chặt chẽ của làng đã tạo ra một định hướng hành vi hành động của cá thể và toàn thể, đã tạo ra một sự thống nhất tương đối,
đồng thời có sự tự điều chỉnh và ổn định Chính sự liên kết bền vững này là "nội lực" cho làng xã có thể duy trì được tính tự trị của mình, nó tạo cho làng xã "sức mạnh" để chống lại
mọi sự thâm nhập từ bên ngoài
Với chế độ quân điền, ruộng đất của mỗi làng do làng ấy tự phân chia và sử dụng, Nhà nước phong kiến không trực tiếp phân chia ruộng đất Chính điều này đã làm cho tính tự trị của làng xã tiếp tục tồn tại và càng được củng cố
Thực chất, Nhà nước cũng không thể kiểm soát được việc thực hiện quân điền của làng xã Việc chia ruộng đất đòi hỏi phải có tổ chức đại diện các giáp, các họ cùng với hội đồng chức dịch bảo đảm sự phân chia cho hợp lý, tương đối công bằng Việc phân chia này
có lệ riêng của làng, có khi không theo đúng thể lệ quân điền của Nhà nước Chế độ quân điền thời Gia Long đề ra 3 năm một lần chia lại ruộng đất công, nhưng nhiều làng xã kéo dài tới 4 năm, thậm chí có làng 6 năm mới chia lại ruộng công Có năm Nhà nước đề ra phép chia ruộng theo số dân Nhưng tới làng xã thì thực hiện lại khác Vì ngoài việc chia ruộng theo suất đinh, làng còn những loại ruộng khác cho giáp, chùa, hội tư văn, cho các chức dịch
từ xã trưởng đến mõ 1…
=> Tính chất tự trị của làng xã tồn tại lâu đời là do nhiều nguồn nuôi dưỡng nó, nhưng cho rằng chính việc sử dụng quân điền và cách phân chia ruộng công trong thời kỳ phong kiến là nền tảng kinh tế vững chắc nhất cho tính chất độc lập của làng xã được duy trì Tính tự trị này chính là nguyên nhân chính, là sức mạnh chủ lực trong vai trò giữ nước
1 Huyền Diệu Thu, "Tính tự trị của làng xã Việt Nam trong lịch sử", đường link: http://www.ohdear.vn/?
Trang 13của làng xã trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc từ thời Bắc thuộc cho đến kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước.
2.1 Ưu điểm:
Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt Khởi đầu là sự khác biệt của cộng
đồng (làng, họ) này so với cộng đồng (làng, họ) khác Sự khác biệt - cơ sở của tính tự trị -
tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mỗi việc Vì phải
tự lo liệu, nên người Việt Nam có truyền thống, đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất bán lưng cho trời Nó cũng tạo nên lết sông tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi nhà có vườn rau, chuồng gà, ao cá - tự đảm bảo nhu cầu về ăn; có bụi tre, rặng xoan, gốc mít - tự đảm bảo nhu cầu về ở
=> Mỗi làng như một đơn vị xã hội thu nhỏ, có thể tự cung, tự cấp, không lệ thuộc vào sự biến đổi, áp đặt từ bên ngoài, chính vì lẽ đó, những chính sách đồng hóa, cai trị, cải cách của các thế lực ngoại xâm rất khó tiếp cận được, hơn thế, những chính sách ấy còn dễ dàng bị chuyển hóa, thay đổi sao cho chỉ còn những yếu tố phù hợp với văn hóa, xã hội, nề nếp làng xã Việt Nam mới được cư dân trong làng phần nào chấp nhận.
2.2 Hạn chế:
Mặt khác, cũng chính do nhấn mạnh vào sự khác biệt - cơ sở của tính tự trị - mà người Việt Nam có thói xấu là óc tư hữu ích kỷ: Bè ai người nấy chống; Ruộng ai người nấy đắp bờ; Ai có thân người nấy lo, ai có bò người nấy giữ, Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu
Óc tư hữu ích kỉ nảy sinh ra từ tính tự trị của làng xã Việt và đã luôn bị chính người Việt phê phán: Của mình thì giữ bo bo Của người thì để cho bò nó ăn; Của người bồ tát, lúa mình buộc lạt
Thói xấu thứ hai có nguồn gốc từ tính tự trị là óc bè phái, địa phương cục bộ, làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vẹn cho địa phương mình: Trống làng nào làng nấy đánh, Thánh làng nào làng nấy thờ; Trâu ta ăn cỏ đồng ta; Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Một biểu hiện thứ ba của tính khác biệt - cơ sở của tính tự trị - là óc gia trưởng - tôn ti: Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông thôn theo huyết thống, tự thân nó
13