Trong xu thế đổi mới giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, vấn đề nổi lên hàng đầu là đổi mới để từng bước củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo. “Đổi mới hiện đại hóa chương trình giáo dục đại học… thực hiện tốt đào tạo theo chế độ tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp” . Trong đó, đổi mới quản lý giáo dục nói chung, đổi mới về tư duy quản lý chất lượng giáo dục đại học nói riêng được xem là khâu đột phá trong đổi mới phải triển giáo dục đại học. Trong thời đại toàn cầu hòa và hội nhập quốc tế, xu hướng hợp tác và cạnh tranh về “chất lượng” và “dịch vụ” càng nổi rõ hơn bao giờ hết, giáo dục đại học cũng nằm trong quỹ đạo ấy. Do đó, lúc này người ta quan tâm nhiều hơn đến chất lượng trong giáo dục đại học. Để thực hiện được điều này, trước hết cần thực hiện hoạt động đánh giá để có được những chỉ số phản ánh hiện trạng về chất lượng đào tạo. Có thể nói, sinh viên vừa là đối tượng của quá trình đào tạo nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập ở đại học. Vì vậy, xét trong quá trình đào tạo, chất lượng đào tạo trước hết phải được phản ánh thông qua kết quả học tập đạt được của người học trong quá trình học tập ở cấp độ môn học ở chương trình đào tạo. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của hoạt động đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên. Tuy nhiên, trong lý luận và thực tiễn đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên hiện nay đang tồn tại những mâu thuẫn chủ yếu sau: + Về mặt lý luận: đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo nói chung và trong việc đảm bảo, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập nói riêng trong xu hướng chuyển sang đào tạo theo tín chỉ hiện nay, những nghiên cứu lý luận về hoạt động đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên ở đại học có tác dụng chỉ đạo, định hướng khả thi trong thực tế giáo dục đại học vẫn còn bỏ ngỏ. + Về mặt thực tiễn: một số trường đại học đã thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến hạn cuối năm học 2010 – 2011, các trường đại học, cao đẳng trong cả nước phải áp dụng đào tạo theo tín chỉ . Trong lộ trình chuyển đổi ấy đã và đang vướng mắc nhiều khó khăn về đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở hạ tầng, nguồn học liệu, chương trình đào tạo, phương thức quản lý đào tạo,… Trong đó, vấn đề kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục nói chung và trong giáo dục đại học nói riêng được cho là còn nặng nề, tốn kém. Để nâng cao chất lượng giáo dục ở các bậc học thì việc cải tiến hệ thống kiểm tra, đánh giá kết quả sinh viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh việc sử dụng phương pháp truyền thống mà từ trước đến nay vẫn áp dụng để kiểm tra, đánh giá các môn học bằng phương pháp tự luận, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả thiết thực và kết quả khả quan. Các phương pháp đánh giá kết quả học tập rất đa dạng, mỗi phương pháp đều có những ưu thế và hạn chế của nó. Tùy theo mục tiêu cụ thể của từng môn học mà giảng viên lựa chọn phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp. Đặc biệt, đối với học phần Đại cương lịch sử Việt Nam trong giáo dục đại học, việc kiểm tra, đánh giá lại đòi hỏi một sự đổi mới vô cùng cấp bách, nhằm có phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp hơn, trên cơ sở phát huy những mặt ưu điểm và khắc phục những mặt hạn chế đang tồn tại. Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về “Đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học”, tôi lựa chọn đề tài “Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học phần Đại cương lịch sử Việt Nam bằng trắc nghiệm khách quan” cho bài tiểu luận của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
HỌC VIÊN: LÊ MINH PHÁT GVHD: PGS.TS ĐỖ ĐÌNH THÁI LỚP: NVSP KHÓA 71
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 4 năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
HỌC VIÊN: LÊ MINH PHÁT GVHD: PGS.TS ĐỖ ĐÌNH THÁI LỚP: NVSP KHÓA 71
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 4 năm 2021
Trang 31 Ban Giám hiệu trường Đại học Sài Gòn, Tp Hồ Chí Minh
2 Ban Lãnh đạo phòng Giáo dục Thường xuyên, trường ĐH Sài Gòn, Tp HCM
3 Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Đỗ Đình Thái
Tôi sẽ luôn nhớ mãi những sự giúp đỡ chân thành của các cá nhân, đơn vị và tự hứa sẽ luôn cố gắng, nỗ lực hết mình trong quá trình công tác sau này Cuối cùng, tôi xin được gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến với các cá nhân, đơn vị
Thân ái!
Học viên thực hiện
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾
Y
Tôi cam đoan rằng đề tài tiểu luận này là do chính chúng tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài tiểu luận là trung thực, không sao chép từ bất
cứ đề tài tiểu luận nào
Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 04 năm 2021
Học viên thực hiện
(Kí và ghi họ tên)
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm ……
Giáo viên hướng dẫn (Kí và ghi họ tên)
Trang 6MỤC LỤC
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI trang 1
II CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI NIỆM trang 3
II.1 Phương pháp trắc nghiệm khách quan trang 3 II.1.1 Phân loại phương pháp trắc nghiệm trang 3 II.1.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trang 4 II.2 Học phần Đại cương lịch sử Việt Nam trang 5 II.3 Vai trò và ý nghĩa của đổi mới kiểm tra, đánh giá trong giáo dục và giáo dục đại học trang 6
III ĐỔI MỚI VIỆC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC PHẦN ĐẠI CƯƠNG LỊCH
SỬ VIỆT NAM BẰNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN trang 8
III.1 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá học phần Đại cương lịch sử Việt Nam hiện nay trang 8 III.2 Nhu cầu đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học phần Đại cương lịch sử Việt Nam bằng trắc nghiệm khách quan trang 10 III.3 Xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan cho học phần Đại cương lịch sử Việt Nam trang 12 III.4 Những lưu ý để đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học phần Đại cương lịch sử Việt Nam bằng trắc nghiệm khách quan hiệu quả trang 14
IV KẾT LUẬN trang 16
Trang 7ĐỀ TÀI:
ĐỔI MỚI VIỆC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC PHẦN ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong xu thế đổi mới giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, vấn đề nổi lên hàng đầu
là đổi mới để từng bước củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo “Đổi mới hiện đại hóa chương trình giáo dục đại học… thực hiện tốt đào tạo theo chế độ tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp”1 Trong đó, đổi mới quản lý giáo dục nói chung, đổi mới về tư duy quản lý chất lượng giáo dục đại học nói riêng được xem là khâu đột phá trong đổi mới phải triển giáo dục đại học Trong thời đại toàn cầu hòa và
hội nhập quốc tế, xu hướng hợp tác và cạnh tranh về “chất lượng” và “dịch vụ” càng
nổi rõ hơn bao giờ hết, giáo dục đại học cũng nằm trong quỹ đạo ấy Do đó, lúc này người ta quan tâm nhiều hơn đến chất lượng trong giáo dục đại học Để thực hiện được điều này, trước hết cần thực hiện hoạt động đánh giá để có được những chỉ số phản ánh hiện trạng về chất lượng đào tạo
Có thể nói, sinh viên vừa là đối tượng của quá trình đào tạo nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập ở đại học Vì vậy, xét trong quá trình đào tạo, chất lượng đào tạo trước hết phải được phản ánh thông qua kết quả học tập đạt được của người học trong quá trình học tập ở cấp độ môn học ở chương trình đào tạo Điều đó cho thấy tầm quan trọng của hoạt động đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên Tuy nhiên, trong
lý luận và thực tiễn đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên hiện nay đang tồn tại những mâu thuẫn chủ yếu sau:
+ Về mặt lý luận: đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo nói chung và trong việc đảm bảo, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập nói riêng trong xu hướng chuyển sang đào tạo theo tín chỉ hiện nay, những nghiên cứu lý luận về hoạt động đánh giá kết quả học tập môn học của sinh
1 Ban Chấp hành Trung Ương (2009), “Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung Ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến nằm 2020”, Số 242-TB/TW, Hà
Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2009
Trang 8sở hạ tầng, nguồn học liệu, chương trình đào tạo, phương thức quản lý đào tạo,… Trong
đó, vấn đề kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục nói chung và trong giáo dục đại học nói riêng được cho là còn nặng nề, tốn kém
Để nâng cao chất lượng giáo dục ở các bậc học thì việc cải tiến hệ thống kiểm tra, đánh giá kết quả sinh viên đóng vai trò hết sức quan trọng Bên cạnh việc sử dụng phương pháp truyền thống mà từ trước đến nay vẫn áp dụng để kiểm tra, đánh giá các môn học bằng phương pháp tự luận, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả thiết thực và kết quả khả quan Các phương pháp đánh giá kết quả học tập rất
đa dạng, mỗi phương pháp đều có những ưu thế và hạn chế của nó Tùy theo mục tiêu
cụ thể của từng môn học mà giảng viên lựa chọn phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp Đặc biệt, đối với học phần Đại cương lịch sử Việt Nam trong giáo dục đại học, việc kiểm tra, đánh giá lại đòi hỏi một sự đổi mới vô cùng cấp bách, nhằm có phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp hơn, trên cơ sở phát huy những mặt ưu điểm và khắc phục những mặt hạn chế đang tồn tại
Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về “Đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học”, tôi lựa chọn đề tài “Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học phần Đại cương lịch sử Việt Nam bằng trắc nghiệm khách quan” cho bài tiểu luận của mình
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2008 – 2009, số 56/2008/CT-BGDĐT ngày 03 tháng 10 năm 2008
Trang 9II CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI NIỆM:
II.1 Phương pháp trắc nghiệm khách quan:
II.1.1 Phân loại phương pháp trắc nghiệm:
Trắc nghiệm là một phép lượng giá cụ thể mức độ khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người cụ thể nào đó (thí sinh)
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định
Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào một khoá học Phương pháp trắc nghiệm có thể được chia ra làm ba loại lớn: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết được minh hoạ qua sơ đồ dưới đây:
Hình 2.1 Sơ đồ các phương pháp trắc nghiệm
Trắc nghiệm
tự luận
Câu điền khuyết
Loại câu đúng - sai
Câu hỏi ghép
đôi
Loại câu hỏi nhiều lựa chọn
Trang 104
+ Phương pháp vấn đáp:
Thường thích hợp với trẻ em, có lợi khi nêu câu hỏi một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra
+ Phương pháp trắc nghiệm viết:
Là phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có một số ưu điểm cơ bản sau đây: Kiểm tra được nhiều học sinh trên một lần thi; Cung cấp một bản ghi rõ ràng các câu trả lời của học sinh để dùng cho việc chấm điểm; Dễ quản lý hơn vì bản thân người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra
II.1.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
+ Câu hỏi ghép đôi (Matching items):
Có thể xem đây là một dạng đặc biệt của dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, dạng câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi (hay câu dẫn) một cột là những câu trả lời (hay còn gọi là câu lựa chọn), yêu cầu sinh viên phải tìm cách ghép các câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột khác sau cho hợp lý
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thường phù hợp tâm lý học sinh Chúng ta có thể dùng dạng câu hỏi này để đo (đánh giá) các loại trí năng khác nhau Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan
+ Câu điền khuyết (Supply items):
Sinh viên phải nhớ lại kiến thức do đó trả lời bằng một hay một số từ cho một câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ Các loại câu này còn gọi là loại câu hỏi điền vào chỗ trống (completion items)
Ví dụ: “Tên của một dụng cụ dùng để đo nhiệt độ là gì?” Loại câu hỏi này có ưu
thế hơn các loại câu hỏi khách quan khác ở chỗ đòi hỏi sinh viên phải tìm kiếm câu trả lời đúng hơn là nhận ra câu trả lời đúng bằng các thông tin đã cho
+ Loại câu đúng sai (Yes/No questions):
Đó có thể là những phát biểu được đánh giá là đúng hay là sai hoặc chúng có thể
là các câu hỏi trực tiếp để trả lời là “có” hay “không” Các phương án trả lời là thích
hợp để gợi nhớ lại kiến thức và một khối lượng kiến thức đáng kể có thể được kiểm tra một cách nhanh chóng
Trang 11Tuy nhiên câu dẫn của loại câu hỏi này phải thật hoàn toàn rõ ràng để có thể trả lời
dứt khoát là “có” hay “không” Điều này tạo ra sự khó khăn khi áp dụng loại câu hỏi
này để kiểm tra trình độ hiểu biết cao hơn, nó không tạo cơ hội cho học sinh phân biệt những sắc thái tinh tế có ý nghĩa hay nhiều cách trả lời khác ở trình độ cao hơn
+ Loại câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple choice questions – MCQ):
Loại này thường có hình thức của một câu phát biểu không đầy đủ hay một câu hỏi dẫn được nối tiếp bằng một số câu trả lời mà học sinh phải chọn: Trả lời đúng rõ rệt; Câu trả lời tốt nhất trong nhiều câu chọn hợp lý; Câu trả lời kém nhất hay câu trả lời không có liên quan gì nhất, hay có nhiều hơn là một câu trả lời thích hợp
Những câu trả lời không đúng được gọi là các câu nhiễu (distracter) Câu dẫn có thể có dưới dạng sơ đồ hay đồ thị và không nhất thiết thuần túy bằng lời
Loại câu MCQ cần được xây dựng một cách thận trọng để tránh chỗ không rõ nghĩa, nhưng chúng có thể được dùng để kiểm tra những trình độ cao hơn về nhận thức tiện hơn các loại câu hỏi khách quan khác
II.2 Học phần Đại cương lịch sử Việt Nam:
Học phần cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, toàn diện về tiến trình lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến nay Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, các vấn đề về xây dựng bộ máy nhà nước, luật pháp, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và bảo vệ độc lập dân tộc sẽ được trình bày theo lịch đại, được phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học
Từ những kiến thức lịch sử, học phần giúp sinh viên rút ra nhiều bài học về: xây dựng chính quyền vững mạnh, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng và bảo vệ đất nước, ý thức trân trọng và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nền kinh tế
tự chủ,… để phát huy và vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đây là những kiến thức cơ sở, nền tảng giúp sinh viên tiếp cận nhiều môn khoa học thuộc các lĩnh vực của khoa học, xã hội và nhân văn, áp dụng vào thực tiễn công việc, nhất là đối với người làm công tác hướng dẫn viên du lịch, nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam
Trang 12nhiên, trong thực tế dạy học, việc kiểm tra đánh giá thường được coi là khâu “đi sau”
cuối cùng khi kết thúc bài học, chương học, môn học Cách quan niệm này có những hạn chế sau:
+ Không định hướng cho việc dạy và học;
+ Không bám sát vào mục tiêu dạy học;
+ Thiếu sự đa dạng;
+ Không cung cấp kịp thời thông tin về sự tiến bộ của người học;
+ Tạo “sức ỳ” cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy học
Có thể đưa ra một số khuyến nghị về tầm quan trọng và mục đích của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học như sau:
+ Đánh giá cần được thực hiện liên tục, song song với quá trình dạy học, bằng nhiều hình thức đa dạng phù hợp với việc dạy và học hàng ngày;
+ Đánh giá phải dựa trên các chuẩn, mục tiêu dạy học, theo các tiêu chí cụ thể đã được công bố trước cho người học;
+ Đánh giá được thiết kế dựa trên sự thu hút người học cùng tham gia đánh giá, khuyến khích tạo động lực học tập, nâng cao ý thức và niềm tin cho người học;
+ Đánh giá phải tuân theo nguyên tắc chính xác, khách quan, phân hóa và công bằng
+ Các thông tin đánh giá cần được phân tích, tích hợp (thậm chí dùng làm công cụ, phương tiện) ngay trong quá trình diễn ra bài học;
+ Thông tin đánh giá phải được lưu giữ và phân tích cẩn thận phục vụ cho các quá trình thành phần của dạy học;
+ Đánh giá dựa trên bằng chứng xác thực hơn là cảm tính;
+ Câu hỏi, bài kiểm tra cần đơn giản, trực tiếp, không quá dài, càng gắn với những vấn đề thực tế càng tốt
Trang 13Bảng 2.2 Bảng so sánh các quan điểm đánh giá
Quan điểm đánh giá truyền thống Quan điểm đánh giá hiện đại
Đánh giá “kín” (chủ yếu bằng hình thức
viết), do người dạy thực hiện
Đánh giá “mở”, có sự tham gia của người
học (dự án, trình bày vấn đề, báo cáo kết quả nghiên cứu…)
Đánh giá theo kết quả cuối cùng, theo nội
dung chương trình
Đánh giá theo quá trình, theo mục tiêu dạy học
Kiểm tra trí nhớ, mức độ nhớ “thông tin”,
kiến thức
Kiểm tra mức độ thấu hiểu, khả năng phân tích, tổng hợp, kiến giải và xử lí thông tin, kiến thức
Chức năng kiểm tra, giám sát, “trừng
phạt”
Chức năng theo dõi, cải tiến, phát triển
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư phát triển cho giáo dục, xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu Chúng ta cần phải tiến hành đổi mới cho giáo dục: đổi mới về nội dung chương trình, về phương thức thực hiện, về công tác quản lý
là khâu then chốt, đột phá về kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, bậc học
Việc đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá chất lượng là rất quan trọng, theo đó, các trường đại học có một số hoạt động bước đầu nâng cao chất lượng đào tạo cũng như đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đồng thời tổ chức hội thảo trao đổi thông tin về việc cải tiến hệ thống phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong nước và trên thế giới
Trang 14+ Đánh giá kết quả kiểm tra giữa kì: Hình thức kiểm tra giữa kì của giảng viên rất phong phú
Giảng viên có thể kiểm tra nhiều lần trong quá trình học với thời gian và hình thức thích hợp Thời lượng cho bài kiểm tra giữa kì có thể cả tiết học hoặc ngắn hơn Việc kiểm tra như vậy sẽ giúp giảng viên hiểu được trình độ học tập của sinh viên và giúp sinh viên tích cực hơn trong học tập
Với học phần Đại cương lịch sử Việt Nam, giảng viên đánh giá kết quả giữa kì dựa trên trình bày của cá nhân và nhóm về từng vấn đề được phân công Hình thức này giúp sinh viên có các kĩ năng làm việc theo nhóm, tranh luận, trao đổi trong quá trình chuẩn
bị và tăng cường khả năng thuyết trình của sinh viên trước đám đông
+ Đánh giá kết quả thi cuối kì:
Có nhiều hình thức đánh giá mà các giảng viên thường sử dụng để đánh giá kết quả thi cuối kì học phần Đại cương lịch sử Việt Nam của sinh viên Có 2 hình thức chính
là trắc nghiệm tự luận (ở hai dạng được tham khảo tài liệu hoặc không được tham khảo tài liệu) và thi vấn đáp
Về quy trình ra đề thi, sử dụng ngân hàng đề thi, nhận đề thi, coi thi, chấm bài thi, lưu giữ bài thi… tuân theo quy định của nhà trường