1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới và các khuyến nghị cho giáo dục đại học Việt Nam

22 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 64,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đại học từ khi xuất hiện cho đến nay đã có những bước phát triển liên tục và mạnh mẽ, đặc biệt trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện nay, giáo dục đại học đã có nhiều động lực để phát triển: yêu cầu đa dạng, xu hướng quốc tế hóa, đại chúng hóa, đòi hỏi học tập suốt đời, công nghệ giáo dục, trách nhiệm xã hội trước những vấn đề lớn của thời đại và của nhân loại, sự thay đổi vai trò của chính phủ... Có thể thấy giáo dục đại học ngày nay có tính phổ quát, vai trò và trách nhiệm của trường đại học với xã hội ngày càng cao, ngày càng có những tác động mạnh mẽ cũng như chịu sự tác động mạnh mẽ của xu hướng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và của thế giới. Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, của tri thức và những thay đổi trong cơ cấu dân số, những thách đố của kinh tế tri thức, những bài toán toàn cầu sẽ dẫn tới những biến đổi tất yếu trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trên toàn thế giới. Không nằm ngoài xu hướng đó, giáo dục đại học Việt Nam cũng cần có sự chuẩn bị, sẵn sàng cho sự phát triển của mình trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những xu hướng phát triển của giáo dục đại học đang diễn ra trên thế giới. Xuất phát từ việc làm rõ các luận điểm trên, tôi chọn đề tài “Các xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới và các khuyến nghị cho giáo dục đại học Việt Nam” cho bài tiểu luận của mình.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI

VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ CHO GIÁO DỤC

ĐẠI HỌC VIỆT NAM

HỌC VIÊN: LÊ MINH PHÁT GVHD: TS HỒ KỲ QUANG MINH

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 4 năm 2021

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI

VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ CHO GIÁO DỤC

ĐẠI HỌC VIỆT NAM

HỌC VIÊN: LÊ MINH PHÁT GVHD: TS HỒ KỲ QUANG MINH

Trang 3

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 4 năm 2021

Trang 4

Nhân đây, tôi xin được gửi lời chân thành nhất của mình đến với những cá nhân,đơn vị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình hoàn thành tốt họcphần của mình, đó là:

1 Ban Giám hiệu trường Đại học Sài Gòn, Tp Hồ Chí Minh

2 Ban Lãnh đạo phòng Giáo dục Thường xuyên, trường ĐH Sài Gòn, Tp HCM

3 Giáo viên hướng dẫn: TS Hồ Kỳ Quang Minh

Tôi sẽ luôn nhớ mãi những sự giúp đỡ chân thành của các cá nhân, đơn vị và tựhứa sẽ luôn cố gắng, nỗ lực hết mình trong quá trình công tác sau này Cuối cùng, tôixin được gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến với các cá nhân, đơn vị

Thân ái!

Học viên thực hiện

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN





Tôi cam đoan rằng đề tài tiểu luận này là do chính chúng tôi thực hiện Các sốliệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài tiểu luận là trung thực, không sao chép

từ bất cứ đề tài tiểu luận nào

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 04 năm 2021

Học viên thực hiện

(Kí và ghi họ tên)

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Tp Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm ……

Giáo viên hướng dẫn (Kí và ghi họ tên)

MỤC LỤC

Trang 7

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI trang 1

II BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC trang 1

II.1 Bối cảnh trong nước trang 1II.1.1 Về kinh tế trang 2II.1.2 Về xã hội trang 2II.2 Bối cảnh quốc tế trang 3

III CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI trang 5

III.1 Quốc tế hóa trang 5III.2 Hợp tác nghiên cứu trang 6III.3 Xu hướng di chuyển trong sinh viên trang 7III.4 Tập trung vào đảm bảo chất lượng trang 7III.5 Áp lực tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp trang 9III.6 Số hóa trong giáo dục đại học trang 10

IV CÁC KHUYẾN NGHỊ CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM trang 11

V KẾT LUẬN trang 13

Trang 8

xã hội trước những vấn đề lớn của thời đại và của nhân loại, sự thay đổi vai trò củachính phủ

Có thể thấy giáo dục đại học ngày nay có tính phổ quát, vai trò và trách nhiệmcủa trường đại học với xã hội ngày càng cao, ngày càng có những tác động mạnh mẽcũng như chịu sự tác động mạnh mẽ của xu hướng phát triển kinh tế xã hội của quốcgia và của thế giới

Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, củatri thức và những thay đổi trong cơ cấu dân số, những thách đố của kinh tế tri thức,những bài toán toàn cầu sẽ dẫn tới những biến đổi tất yếu trong giáo dục nói chung vàgiáo dục đại học nói riêng trên toàn thế giới

Không nằm ngoài xu hướng đó, giáo dục đại học Việt Nam cũng cần có sự chuẩn

bị, sẵn sàng cho sự phát triển của mình trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những xu hướngphát triển của giáo dục đại học đang diễn ra trên thế giới

Xuất phát từ việc làm rõ các luận điểm trên, tôi chọn đề tài “Các xu hướng phát

triển của giáo dục đại học trên thế giới và các khuyến nghị cho giáo dục đại học Việt Nam” cho bài tiểu luận của mình.

II BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:

II.1 Bối cảnh trong nước:

1

Trang 9

Trong nhưng năm gần đây bên cạnh một số thuận lợi như tình hình chính trị – xãhội tiếp tục ổn định, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được tăng cường, quan hệ quốc tếkhông ngừng được mở rộng, chúng ta còn phải đối mặt với những khó khăn vốn cócủa nền kinh tế trình độ thấp và những khó khăn, thách thức mới phát sinh như xuấthiện các dịch bệnh dịch, thiên tai và những biến động phức tạp về thời tiết và khí hậu,khủng hoảng tài chính toàn cầu và lạm phát

II.1.1 Về kinh tế:

Trong những năm vừa qua nền kinh tế tăng trưởng khá cao, GDP tăng bình quânkhoảng 7,5%/năm Năm 2005 – 2007 tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt trên 8,0%.Năm 2008 do ảnh hưởng của lạm phát và khó khăn của nền kinh tế nên mức tăngtrưởng được điều chỉnh giảm khoảng 7,5% và đến 2009 – 2010 khoảng 6 – 6,5 %.Cùng với tăng trưởng kinh tế, chúng ta đã bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội,quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được lợi thế của đất nước, của từng vùng vàtừng ngành Đó là những điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư phát triển giáo dục nóichung và giáo dục đại học nói riêng Cơ cấu đầu tư có sự chuyển dịch theo hướng tíchcực, tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng về kinh tế – xã hội Đầu tư cho cholĩnh vực xã hội chiếm 25,6%, trong đó giáo dục đào tạo chiếm 3,8%

II.1.2 Về xã hội:

Trong giai đoạn 2000 – 2010 tốc độ tăng dân số khoảng 1,2%, quy mô dân sốđạt khoảng 86 triệu người, trong đó dân số nữ chiếm 50,8%; dân số khu vực thành thịchiếm 30% và dân số nông thôn chiếm 70% Chủ trương duy trì mức giảm sinh, mỗigia đình chỉ nên có 1 hoặc 2 con, đã tạo điều kiện tốt để chăm sóc và đầu tư học hànhcho trẻ em Tuy nhiên, từ năm 2003 trở lại đây, tỷ lệ phát triển dân số đã có xu hướngtăng trở lại, thể lực và tố chất của người Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa – hiện đại hóa, do vậy, phát triển giáo dục sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, chuyển gánh nặng dân số sang lợi thế nhân lực trong nền kinh tế trí thức toàncầu hoá

2

Trang 10

Thị trường lao động của Việt Nam đã từng bước được phát triển Trong 5 nămqua đã hình thành gần 200 trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm và gần 1.000 tổ chứcgiới thiệu việc làm trong các doanh nghiệp, tạo điều kiện nâng tỷ trọng lao động quađào tạo tăng từ 13,87% (năm 1999) lên 31% (năm 2010) Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm khámạnh Năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 17,5%, đến năm 2010 tỷ lệ này đã giảmxuống còn dưới 10%, trung bình mỗi năm giảm 2%

Mặc dù mức độ giảm nghèo giữa các vùng tuy khác nhau, nhưng nhìn chung tỷ lệnghèo đều giảm xuống Do vậy điều kiện để phát triển giáo dục ở các vùng khó khăn

đã được cải thiện, góp phần làm giảm khoảng cách chênh lệch về phát triển giáo dụcgiữa các vùng miền trong cả nước

Chất lượng nguồn nhân lực có bước chuyển biến, khoa học công nghệ có bướctiến bộ Đổi mới giáo dục cùng với việc củng cố kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáodục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã được triển khai tích cực Quy môgiáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng với tốc

độ cao Hệ thống các trường sư phạm tiếp tục được mở rộng Đầu tư cho sự nghiệpgiáo dục – đào tạo tăng, cơ sở vật chất được cải thiện Khoa học – công nghệ có bướcphát triển mới, quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học – công nghệ bước đầu đượcnâng cao Tiềm lực và trình độ khoa học – công nghệ trong nước đã có bước phát triểnđáng kể

Tuy nhiên về lĩnh vực văn hoá– xã hội cũng còn những yếu kém khuyết điểm đãảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc triển khai thực hiện chiến lược phát triểngiáo dục Đó là: Cơ chế, chính sách về văn hoá – xã hội còn chậm được đổi mới và cụthể hoá; nhiều vấn đề bức xúc và phức tạp chưa được giải quyết tốt Kết quả xoá đóigiảm nghèo chưa vững chắc; việc làm còn căng thẳng Nhiều vấn đề xã hội quan trọng(xã hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá; phân hoá giáu nghèo; tín ngưỡng, mê tín) chưađược nghiên cứu chu đáo Giáo dục – đào tạo chất lượng thấp, cơ cấu còn bất hợp lý,chưa đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo nhân lực, nhân tài Cơ chế quản lý khoa học và côngnghệ chậm đổi mới Quản lý Nhà nước đối với một số lĩnh vực y tế (dược, an toànthực phẩm, vệ sinh môi trường…) còn buông lỏng Môi trường sinh thái ô nhiễm nặng;tài nguyên không được quản lý tốt, bị khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí Tội phạm

3

Trang 11

và một số tệ nạn xã hội khác có mặt gia tăng Nạn tham nhũng, lãng phí rất nghiêmtrọng Tai nạn giao thông không giảm.

II.2 Bối cảnh quốc tế:

Bước sang thế kỷ 21 trên thế giới đang tiếp tục diễn ra cuộc cách mạng khoa học– công nghệ, sự chuyển biến từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin vàphát triển kinh tế tri thức Sự ra đời của các công nghệ cao đã giúp các nước phát triểntái công nghiệp hoá, và giúp các nước đang phát triển rút ngắn con đường công nghiệphoá, làm thay đổi cơ cấu công nghiệp nhiều nước Thế giới bước sang kỷ nguyên của

xã hội thông tin Cách mạng thông tin đã thúc đẩy sự ra đời của nền kinh tế tri thức.Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng đã trởthành lợi thế quyết định đối với mỗi quốc gia Đào tạo và phát triển nguồn nhân lựcđặc biệt trong giáo dục đại học nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới này trở thành quốcsách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồnnhân lực và nhân tài cho sự phát triển khoa học và công nghệ, cho sự hình thành vàphát triển của xã hội thông tin và tạo nguồn trí lực cho nền kinh tế tri thức và sự pháttriển khoa học – công nghệ cũng tạo ra phương tiện mới giúp cho quá trình giáo dụchiệu quả hơn Trong hợp tác và cạnh tranh kinh tế, thương mại và khoa học – côngnghệ, thì giáo dục trở nên bí quyết thành công của các quốc gia

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là quátrình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước để bảo vệ lợi íchquốc gia Xu thế toàn cầu hoá làm nảy sinh sự hội nhập của các nền kinh tế quốc giavào nền kinh tế thế giới, sự ra đời các tổ chức kinh tế quốc tế

Nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin tạo điều kiện cho sự phát triển văn hoá,động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Mạng viễn thông và Internet tạo thuậnlợi cho giao lưu và hội nhập văn hoá giữa các quốc gia, hình thành những cộng đồngvăn hoá Trong bối cảnh đó đòi hỏi các dân tộc phải có chiến lược để bảo tồn các nềnvăn hoá yếu trước nguy cơ đồng hoá của các nền văn hoá mạnh

Hội nhập văn hoá là là một xu hướng tất yếu, buộc các quốc gia phải giải quyếtmối quan hệ giữa bản sắc dân tộc và sự hội nhập văn hoá, bảo tồn và phục hồi nhữngđặc trưng văn hoá dân tộc và đồng thời tiếp nhận có chọn lọc nền văn hoá của các

4

Trang 12

quốc gia khác Hệ thống giáo dục có vai trò bảo tồn nền văn hoá dân tộc tạo cơ sở đểgiao lưu, hợp tác và duy trì an ninh

Sự phát triển khoa học và công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu ngành trong nền kinh

tế, cơ cấu ngành nghề của nhân lực lao động trong xã hội, đòi hỏi giáo dục và đào tạođiều chỉnh cơ cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ đào tạo sao cho phù hợp với yêu cầucủa nền kinh tế Việc thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ của nhân lực lao độngtrong xã hội nảy sinh nhu cầu lớn của người lao động được bồi dưỡng nâng cao trình

độ nghề nghiệp và đào tạo lại để chuyển đổi vị trí làm việc cũng như nghề nghiệp Bối cảnh trên đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm vềchất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệthống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoạivới xã hội và gắn với xã hội, gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – công nghệ vàứng dụng; đầu tư cho giáo dục từ chỗ đựơc xem là phúc lợi xã hội nay được xem nhưđầu tư cho phát triển

Vì vậy, các quốc gia đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục

và đã tiến hành đổi mới giáo dục, để đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn,trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước

III CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI:

III.1 Quốc tế hóa:

Bên cạnh nhiệm vụ phát triển nghiên cứu, giảng dạy và đổi mới, sự quốc tế hóatrong giáo dục ngày càng được xem là phương tiện để phát triển tầm nhìn và ảnhhưởng của cơ sở đào tạo và của quốc gia Báo cáo của Hội đồng Anh về các chính sáchquốc gia liên quan đến sự tham gia quốc tế vào giáo dục đại học cho thấy, số lượng cácquốc gia cam kết vào sự quốc tế hóa trong giáo dục đại học gia tăng Ví dụ, 23 trong

số 26 quốc gia được nghiên cứu hiện đang có các chính sách hiệu quả nhằm thúc đẩycác chương trình du học; trao đổi học tập của sinh viên Các quốc gia được đánh giá làcởi mở nhất trong các chính sách ủng hộ việc trao đổi và quốc tế hóa là Australia, Đức,Anh, Malaysia và Trung Quốc1

1 University of Oxford (2017), International Trends in Higher Education 2016 – 17.

5

Trang 13

Một số quốc gia khác, như Pháp cũng đang thúc đẩy xu hướng đó Năm 2013,các trường đại học tổng hợp, các trường đào tạo kỹ sư và các trung tâm nghiên cứu(như CNRS) đã hợp nhau lại thành các cụm nghiên cứu với các chính sách nghiên cứu,điều phối và đào tạo được quyết định ở phạm vi khu vực chứ không phải ở phạm vi cơ

sở đào tạo (được gọi là COMUE) Các quy định mới về cấp thị thực nhập cảnh và yêucầu đơn giản hóa thủ tục hành chính cho sinh viên quốc tế đã được thực hiện, thêm vào

đó, việc gia tăng số lượng các khóa học bằng tiếng Anh và các lớp học tiếng Pháp chosinh viên quốc tế không thuộc khối Pháp ngữ là một phần của sự quốc tế hóa này.Giáo dục xuyên quốc gia (Transnational education, TNE) là một phần của sựquốc tế hóa trong giáo dục đại học

Giáo dục xuyên quốc gia được hiểu là sự cung cấp giáo dục mà “người học ở

một quốc gia khác với quốc gia đặt cơ sở giáo dục”2, có thể gọi là xuất khẩu giáo dục.Trên bình diện toàn cầu, một cuộc khảo sát năm 2011 về các chương trình liênkết và cấp bằng quốc tế đã làm sáng tỏ mức độ phổ biến của chúng Phần lớn cácchương trình đều ở trình độ thạc sĩ (53%), ngoại trừ Úc phần lớn ở trình độ tiến sĩ và ở

Mỹ phần lớn là các khóa đào tạo đại học Các lĩnh vực phổ biến nhất là kinh doanh,quản lý và kỹ thuật Các cơ sở đào tạo của Pháp, Đức và Ý có xu hướng đưa ra cácchương trình liên kết và chương trình song bằng từ những năm 1990, trong khi Anh và

Úc bắt đầu gần đây hơn Hình thức mở các chi nhánh đại học quốc tế vẫn đang pháttriển rộng rãi Có khoảng 200 chi nhánh đại học trên toàn thế giới, phục vụ khoảng120.000 sinh viên Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất là quốc gia chủ nhà phổ biếnnhất với 37 chi nhánh đại học và Hoa Kỳ là nguồn cung cấp phổ biến nhất với 78 chinhánh đại học trên toàn thế giới Úc là một trong những nước có các chi nhánh đại họchiện diện ở bất kỳ quốc gia nào Khoảng một phần tư các trường đại học của Úc đượcđặt ngoài nước Úc Các đối tác hàng đầu của Úc là Trung Quốc, Singapore vàIndonexia

III.2 Hợp tác nghiên cứu:

2 Council of Europe (2002) “Code of Good Practice in the Provision of Transnational Education” Directorate

General IV DGIV/EDU/HE (2002).

6

Trang 14

Theo Số liệu của Scopus và Thomson Reuters3, tổng số bài báo nghiên cứu toàncầu chỉ tập trung vào một số ít các quốc gia: trong thời gian từ 1996 – 2010, chỉ có 5quốc gia chiếm hơn một nửa tổng số (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Anh, Nhật và Đức) và 15quốc gia chiếm hơn ba phần tư tổng số.

Hợp tác quốc tế về nghiên cứu có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, tỉ lệtrung bình hiện nay khoảng 45% ở Anh, 30% ở Mỹ, 15% ở Trung Quốc, 45 – 50% ởĐức và Hà Lan, và cao nhất 65% ở Thụy Sĩ Năm 2010, các quốc gia hàng đầu về xuấtbản các bài báo nghiên cứu học thuật thông qua hợp tác quốc tế là Mỹ (143.000), Anh(62.000), Đức (58.000), Trung Quốc (47.000), Pháp (44.000), Canada (35.000) và Ý(30.000)

Có mối tương quan chặt chẽ giữa tỉ lệ hợp tác nghiên cứu quốc tế và trích dẫn tàiliệu Mặc dù đó không phải là mối quan hệ nhân quả, nhưng mối liên hệ này là tíchcực và có ý nghĩa thống kê (năm 2010, 80% sự thay đổi trong chỉ số trích dẫn tài liệuđược lí giải bởi tỉ lệ hợp tác nghiên cứu quốc tế)

III.3 Xu hướng di chuyển trong sinh viên:

Số lượng sinh viên lựa chọn học tập tại một trường đại học ở nước ngoài đã tăngmạnh trong những thập kỷ gần đây, tăng gần gấp bốn lần từ 1,3 triệu vào năm 1990 lên

5 triệu vào năm 2014 Báo cáo về xu hướng năm 2015 nhấn mạnh, sự di chuyển toàncầu trong sinh viên đã thay đổi đáng kể từ hơn một thập kỷ qua, từ chỗ sinh viên dichuyển theo một hướng duy nhất từ đông sang tây sang một trào lưu di chuyển đahướng và bao gồm cả việc gửi đi và đón tiếp ở các quốc gia phi truyền thống 6% sinhviên đại học thuộc khối các quốc gia OECD là quốc tế, tỉ lệ này có sự khác biệt lớngiữa các quốc gia Hơn một phần năm (21,1%) sinh viên ở Anh là sinh viên quốc tế –nhiều hơn bất kỳ quốc gia lớn nào khác, tiếp đến là Úc với 20,7%, so với 8% ở Đức và5% ở Hoa Kỳ4

Các con số đã khẳng định sự gia tăng của một xu hướng mới trong di chuyển củasinh viên, đó là xu hướng du học gần nhà Ở Mỹ La tinh, tỉ lệ sinh viên du học trongkhu vực tăng từ 11% năm 1999 lên 23% năm 2007, trong khi tỉ lệ sinh viên Đông Á

3 British Council (2012), The shape of things to come: Higher education global trends and emerging

opportunities to 2020.

4 University of Oxford (2017), International Trends in Higher Education 2016 – 17.

7

Ngày đăng: 19/06/2021, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w