ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM: - Ở đây, nhóm chúng tôi xin được đề cập đến một trong những đặc trưng tiểu biểu của phương ngữ Nam Bộ, đó là cách xưng hô.. - Tình cảm của người Nam
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA VĂN HÓA – DU LỊCH
LỚP DVI 1101
HỌC PHẦN:
PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
PHƯƠNG NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG HẰNG NGÀY:
+ ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM VÀ Ở KHU VỰC SÀI GÒN + ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ TRUNG VÀ Ở KHU VỰC HUẾ
NGƯỜI THỰC HIỆN:
LÊ MINH PHÁT TRẦN VĂN QUỐC NGUYỄN KIM HẢO BÙI QUANG KHIÊM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS Nguyễn Đăng Khánh
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 05 năm 2011
Trang 2PHẦN 1: ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM VÀ
KHU VỰC SÀI GÒN:
A ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM:
- Ở đây, nhóm chúng tôi xin được đề cập đến một trong những đặc trưng tiểu biểu của phương ngữ Nam Bộ, đó là cách xưng hô
I/ Cách xưng hô trong gia đình:
- Ở hàng ông bà: Khác với miền Bắc, trong cách xưng gọi, người miền Nam ít dùng yếu tố gốc: ông,
bà mà thường dùng yếu tố phụ: nội , ngoại Ngược lại, khi nói với con cháu, các vị cũng tự xưng như thế
VD: “Ông Tư … cất tiếng gọi cháu:
- Tím ơi, rửa chén rồi chưa con ?
- Chút xíu nữa ngoại ơi !
- Ờ, rửa rồi ra đây ngoại biểu.”
- Tình cảm được thể hiện qua cách gọi để tăng tình cảm thân mật, gần gũi:
+ Chị hay em của ngoại mình cũng được gọi là ngoại nhưng kèm theo thứ: ngoại hai, ngoại bảy, ngoại tám, v.v…
+ Gọi ông bác, ông chú, ông cậu, bà cô, bà dì … của mình theo thứ tự của các vị đó, như: ông Năm,
bà Bảy, ông Út, bà Út, v.v…
- Ở hàng cha mẹ: Tiếng thường dùng nhất để gọi “cha” là “ba” Còn tía trước đây thường được dùng
ở các tỉnh có nhiều người Triều Châu sinh sống (Bạc Liêu, Sóc Trăng, Rạch Gía) Hiện chỉ còn một
số ít gia đình ở các vùng nông thôn còn giữ cách xưng hô này Cũng như ba, má, “vú” cũng được dùng phổ biến ở Nam Bộ với 2 nghĩa: “vú em” hay tiếng gọi “mẹ” (trường hợp người mẹ khó nuôi con)
- Ở hàng ngang cha mẹ: Cách gọi các vị ngàng hàng cha mẹ như bác, cậu, cô, dì, … cũng giống phương ngữ Bắc Bộ Ở Nam Bộ, “cậu” vẫn dùng để chỉ anh và em trai của mẹ, “cô” chỉ chị và em gái của cha, “dì” chỉ chị và em gái của mẹ, “dượng” trong phương ngữ Nam Bộ được dùng với ba nghĩa:
+ chồng của cô hay dì
+ tiếng người chị dùng để gọi chồng của em gái mình
+ cha ghẻ (cách dùng này giống ở phương ngữ Bắc Bộ)
- Tình cảm của người Nam Bộ đối với phía bên mẹ thường nặng hơn nên trong nhiều gia đình, các cháu cũng gọi “dì” của mình bằng “má” kèm theo tên hay kèm theo thứ: “má hai”, “má năm”, …
- Ở những vùng có nhiều người Triều Châu cư ngụ (như Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, …), những cách gọi: hia = anh, chế = chị, ỉ = dì, bà ỉ = bà dì được dùng khá phổ biến, nhất là trong cách gia đình
có quan hệ hôn nhân với người Triều Châu
- Ở ngôi thứ ba, cách dùng các danh từ thân tộc về cơ bản cũng giống như ở ngôi thứ hai, nhưng để phân biệt với ngôi thứ hai, người Nam Bộ dùng cả một loạt từ kiểu: ổng, bả, ảnh, chỉ, cẩu, mở, dỉ, dưởng … thay cho ông ấy, bà ấy, …:
VD: Anh có để ý thấy bàn tay ảnh bị nám đen không ?
- Người vợ gọi chồng là thầy thông, thấy phán hay thầy giáo là “thẩy”:
VD: Dầu tôi không gặp thẩy đi nữa, …
- Ngày nay giới trẻ ít dùng các cách gọi trên, thay vào đó là: “ảnh” hay “ông xã”
Trang 3- Trong cách xưng gọi, người miền Nam thường dùng tiếng “con” nhiều hơn “cháu” Cháu nói với ông bà cố hay ông bà nội, ông bà ngoại cũng xưng là “con” Cháu nói với bác, chú, cậu, cô, dì … cũng xưng là con Ngược lại, ông bà, chú bác, cô dì … cũng gọi cháu mình là “con”
VD: Đừng có nóng, con Chú nói lại cho con nghe đây, con cũng sẽ ngã ngửa như chú cho mà coi …
=> Nói chung, cách xưng hô trong gia đình ở phương ngữ Nam Bộ bình dân như ở phương ngữ Bắc
Bộ Ở Nam Bộ, ông bà, cha mẹ, chú bác … không bao giờ gọi con cháu của mình là cô, cậu, chú hay anh, chị mà lúc nào cũng là thằng X, con Y, bây, tụi bây, sắp nhỏ, …
VD: Má bây nấu cơm, vá lưới giùm tao Tội nghiệp, má bây cũng chưa vui …
- Này, còn chuyện của sắp nhỏ, chú thím tính sao ?
II/ Cách xưng hô ngoài xã hội:
- Trong phương ngữ Nam Bộ, cách xưng hô ngoài xã hội cũng mang đặc điểm chung của tiếng Việt:
Đó là dùng lại các từ chỉ quan hệ thân thuộc làm lời xưng gọi
- Ngoài hai tiếng ông, bà thông thường, nếu so với người đáng tuổi bác, chú, cậu, cô, dì, thím … thì gọi bác, chú, cậu, cô, dì, thím …
- Với người nữ lớn hơn mình một cấp thì gọi dì hoặc kèm theo thứ , như: dì Hai, dì Năm, … và tự xưng con Nếu ít thân mật hơn thì xưng là cháu Với người còn trẻ tuổi thì gọi là cô và tự xưng em hoặc tôi
- Đối với người đáng tuổi ông bà thì thường gọi ông, bà hay ông ngoại, bà ngoại Không gọi ông nội,
bà nội vì như thế là không kính trọng
VD: “Có anh la lên như con nít:
- Đi đâu dữ vậy bà nội ơi !”
- Trường hợp người lớn tuổi nói với người nhỏ tuổi, nếu thân mật thỉ gọi bằng con, ít thân mật thì gọi bằng cháu Cũng có thể gọi bằng “thằng + thứ” hoặc “con + thứ”: thằng Hai, con Ba, …
III/ Nhận xét về cách xưng hô trong phương ngữ Nam Bộ:
- Khuynh hướng dùng tên riêng kèm ngôi thứ trong gia đình ở phương ngữ Nam Bộ rất mạnh Những kiểu tên như Út Tịch, Sáu Ngàn, Ba Tín, … rất phổ biến ở phương ngữ Nam Bộ Trong quan
hệ hàng xóm láng giềng, người ta thường gọi theo thứ trong gia đình: Bác Sáu, cậu Ba, cô Tám, anh Bảy …
- Cách xưng gọi trong gia đình cũng như trong xã hội ở phương ngữ Nam Bộ mang nhiều tính bình dân hơn Nó không nhất thiết theo một tôn ti, trật tự bắt buộc
- Khuynh hướng hiện nay ở miền Nam nhất là ở thành thị, trong nhiều gia đình người ta thích gọi ba
và mẹ vì cho rằng tiếng “mẹ” tình cảm hơn Và xen giữa tiếng gọi nội, ngoại, tiếng gọi ông, bà cũng không phải là hiếm
B ĐỜI SỒNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ Ở KHU VỰC SÀI GÒN:
- Để có thể trình bày đời sống sử dụng của phương ngữ ở khu vực Sài Gòn một cách khái quát nhất, nhóm chúng tôi xin được đề cập đến các chủ đề chính sau: Tiếng lóng Sài Gòn sau 30/4/1975, Tiếng lóng học đường và Tiếng địa phương miền Nam trên báo viết ở thành phố Hồ Chí Minh
I/ Tiếng lóng Sài Gòn sau 30/4/1975:
1) Khái lược về tiếng lóng:
- Tiếng lóng (slang, argot) là một hiện tượng ngôn ngữ đặc thù có xu hướng ngày càng phát triển trong xã hội hiện đại
- Bắt nguồn từ sự phân hóa sâu sắc giữa các nghề nghiệp và thành phần xã hội
- Khái niệm: Tiếng lóng là khái niệm từ vựng chỉ những đơn vị từ ngữ khẩu ngữ, được nhiều thành phần xã hội khác nhau sáng tạo và sử dụng trong những giao tiếp không có tính chính thức xã hội và
Trang 4cần ngăn ngừa sự quan sát của người ngoài; chủ yếu nó được tạo thành từ những yếu tố sẵn có trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương để gọi t ên sự vật – hiện tượng khác với cách gọi chính thức hoặc theo những ý nghĩa được quy ước riêng
2) Đặc trưng về ngữ nghĩa của tiếng lóng Sài Gòn sau 30/4/1975:
- Có 2 cách phân loại tiếng lóng:
+ Phân loại theo nội dung: quy về những phạm trù ngữ nghĩa rộng, sẽ làm hiện rõ những chủ thể sáng tạo và sử dụng của tiếng lóng
+ Phân loại theo cách cấu tạo: thể hiện được những ý nghĩa ngôn ngữ học của tiếng lóng
- Tiếng lóng Sài Gòn sau 30/4/1975 thành 10 chủ đề ngữ nghĩa như sau:
a) Thương mại: am, bác, chặt, chặt đẹp, xế, xế hộp, xế nổ, xé điếc, v.v…
b) Trộm cướp: canh me, chĩa, chôm, địa, động, chuột, v.v…
c) Mại dâm: áo mưa, bề, bị, ẻm, dập, đi, đi làm, động, giết, ghẹ, khứa, xào khô, xào ướt, v.v…
d) Cờ bạc: bán (cái), cạch, dở, đặc, kinh, lỏng, lụi, tả, tay con, v.v…
e) Ăn chơi: cán, cháp, củi, đá, đô, giựt xộp, tẩy, thả, xỉn, v.v…
f) Ẩu đả: bơm, bụp, chó, chó lửa, dập, cọn, dứt, đồ chơi, hoạn, kênh, nghề, v.v…
g) Nghề chọi gà: bắt xác, câu độ, chầu (hiệp), chinh (cựa), xéo (cựa), phồn (hội gà), v.v…
h) Nghề xích lô: áo, cảo, lóc, mẹ nhiều con, v.v…
i) Quan hệ pháp luật: bể, bò vàng, bù độp, bò đói, cào cào, công ty xe muối, v.v…
k) Tính chất: bả, bần, bẹc, châm, chiến, chua, cứng cựa, tàu, tè, thủ, xì cúc, xịn, hộp, v.v…
=> Do yêu cầu nhanh gọn và chính xác trong sử dụng, các đơn vị tiếng lóng thường có tính đơn nghĩa, không có nghĩa phái sinh, nghĩa bóng, nghĩa ngữ cảnh
=> Tiếng lóng không hoàn toàn đồng nghĩa với những từ phổ thông vốn là tiền thân của nó
VD: nhót “nhảy đầm” với nhảy nhót, khuôn “ví, bóp” với khuôn mẫu, “nổ ba hoa” với bùng nổ
3) Đặc trưng về cấu tạo của tiếng lóng Sài Gòn sau 30/4/1975:
- Dùng nguyên một từ ngữ có sẵn nhưng biến nghĩa theo quan hệ liên tưởng ẩn dụ (giữa nghĩa gốc phổ thông và nghĩa lóng có điểm tương đồng), hoặc biến nghĩa hoàn toàn
VD: hét, vẽ, ca, chém, đập, bác, nhát, bò vàng, cào cào, mánh, bể, thua, thổi, nhảy dù, v.v…
- Dùng một từ tố (thường là hình vị không độc lập) trong từ ngữ có sẵn, rồi thu hẹp hoặc biến nghĩa nó:
VD: nhảy nhót -> nhót (khiêu vũ); khách khứa -> khứa (khách làng chơi), kênh kiệu -> kênh (khiêu khích), v.v…
- Biến âm một từ có sẵn, rồi giữ nguyên hoặc thu hẹp nghĩa
VD: tiền -> tẻn (tiền, đồng), em -> ẻm (gái điếm), vàng -> vảng (vàng), v.v…
- Phiên âm tiếng nước ngoài hoặc khẩu ngữ gốc Hán, rồi giữ nguyên hoặc mở rộng nghĩa:
VD: die -> đai (chết, thất mùa, thua thiệt), moire -> noa (đen, chợ đen), tài -> tại (tiền), v.v…
- Quy ước nghĩa cho một âm bất kì:
VD: chôm, quằm, bề, bẹc, châm, cháp, phê, địa, v.v…
=> Xu hướng nổi bật trong phương thức cấu tạo tiếng lóng là đơn tiết hóa
=> Dạng cấu tạo đặc biệt của một số tiếng lóng: tẻn, quởn, đổng, vảng, ẻm, xỉn, v.v… là hỏi hóa thanh điệu
=> Làm lộ rõ tính chất ký sinh của tiếng lóng đối với ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương: không phản ánh cái gì khác hơn những khái niệm đã được vốn từ toàn dân hoặc địa phương chuyển tải
=> Động lực tồn tại và tiến hóa của tiếng lóng chỉ có thể tìm thấy ở bên ngoài ngôn ngữ: đó là chủ thể sử dụng và mục tiêu sử dụng
Trang 54) Đặc trưng về phong cách của tiếng lóng Sài Gòn sau 30/4/1975:
a) Chủ thể, mục tiêu và phạm vi sử dụng:
- Trong xã hội hiện đại, tiếng lóng được các thành phần xã hội có lối sống và hoạt động không hợp pháp hoặc không đứng đắn được mệnh danh là giới giang hồ hoặc bụi đời Những từ ngữ có ý nghĩa tương ứng không mất đi, nhưng bị tiếng lóng thay thế hầu như hoàn toàn trong giao tiếp, nhất là giai tiếp trong cùng nhóm
- Tiếng lóng là một đặc trưng về ngôn ngữ của những chủ thể sáng tạo và sử dụng chính thuộc khu vục tệ nạn xã hội Và đây chính là nguyên cớ khiến cho xã hội có thành kiến không tốt đối với tiếng lóng
b) Tính khẩu ngữ và tình không chính thức xã hội:
- Tiếng lóng Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh mang màu sắc khẩu ngữ một cách cực đoan, và sắc thái biểu cảm thường là âm tính
c) Tác dụng văn hóa:
- Tiếng lóng gia nhập vào vốn từ toàn dân theo một tỷ lệ hết sức hạn chế, là nguồn bổ sung thứ yếu trong khi tác dụng chính là làm vẩn đục hệ thống chung đó
- Tiếng lóng là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến, tiếng lóng Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và tiếng lóng nói chung không thể bị chối bỏ một cách duy y chí
- Tiếng lóng có công dụng rõ rệt nhất khi được khai thác đưa vào ngôn ngữ văn học
II/ Tiếng lóng học đường:
1) Nguyên nhân phổ biến tiếng lóng học đường:
- Khi sử dụng tiếng lóng, người nói có cảm giác hợp thời và đúng điệu
- Người nói có cảm giác mình được chấp nhận và thuộc vào một nhóm bạn
- Sử dụng tiếng lóng đúng lúc, đúng đối tượng gây hiệu quả rất cao khi giao tiếp giữa bạn bè với nhau bởi vì nó cho thấy sự đồng điệu trong những kinh nghiệm xã hội và cảm xúc giữa những thành viên trong cùng nhóm bạn Là cách nói tắt đầy hiệu quả để diễn đạt những khái niệm Nó chia sẻ những kinh nghiệm và cảm xúc một cách ngắn gọn
- Nói tiếng lóng còn tuyệt vời ở chỗ nó mang lại cảm giác vui nhộn Là một quá trình đầy tính sáng tạo và hài hước Tạo ra tiếng lóng có thể xem như một hình thức chơi ngôn từ, đem lại sự thích thú cho người nói và người nghe
2) Đặc trưng của tiếng lóng học đường:
- Nét nghĩa “hạn chế”, chỉ có những người trong cùng nhóm mới hiểu nhau, từ ngữ lóng của sinh viên, học sinh thường không mang tính chất “bí mật, tăm tối”, mà dường như lấy yếu tố dí dỏm, hài hước, trong đó có cả yếu tố bất ngờ làm cơ sở Nhiều tiếng lóng đã được sáng tạo một cách thông minh, chủ yếu để làm tăng tính hấp dẫn, mới mẻ cho lời nói
- Là dạng ngôn ngữ “ký sinh” và “lâm thời”: xuất hiện nhanh và mất đi cũng nhanh Mất đi khi chúng không còn là từ ngữ lóng nữa mà đã nhập vào vốn từ chung
3) Sự phát triển của tiếng lóng trong sinh viên, học sinh thành phố Hồ Chí Minh:
- Xu hướng dùng tiếng lóng trong học sinh, sinh viên phát triển mạnh trong những năm gần đây
- Họ dùng những biểu tượng gần gũi trong cuộc sống và cấp cho nó một nghĩa khác, thường là nghĩa châm biếm, hài hước
+ Những từ ngữ lóng đã thịnh hành trong sinh viên, học sinh nhiều năm trước, nhưng đến nay vẫn chưa lỗi thời, như:
- bốn mắt (người cận thị)
- cây gậy (điểm 1)
- chậm tiêu (lâu hiểu, chậm hiểu)
Trang 6- con ngỗng (điểm 2)
- cua (tán tỉnh bạn khác giới, thường là nữ)
- cúp cua (trốn học)
- đá lông nheo, kết mô-đen (để ý người khác giới)
- giả nai (giả vờ thơ ngây)
- kết (thích)
- leo cây (bị lỗi hẹn)
- tụng (học bài)
- viêm màng túi (hết tiền)
+ Những từ ngữ lóng được dùng phổ biến trong trường học ngày nay:
- bắn đạn (được ba mẹ gửi tiền)
- cái chảo (mông)
- chảnh (kiêu kì, làm cao)
- cháp, xủ quẻ (ăn)
- chiêu (uống)
- đêm trường (môn học kéo dài dai dẳng)
- Hai Lúa (nhà quê)
- lên đoạn đầu đài (bị thầy cô gọi lên bảng làm bài)
- nếu cháo (nói chuyện điện thoại quá lâu)
- nổ (ba hoa)
- tẩy (ly có đá)
+ Mỗi ngành học lại có tiếng lóng riêng của mình, chẳng hạn sinh viên ngành hóa có những từ ngữ như:
- chlorophyl (sắc mặt xanh lè xanh lét)
- ion âm (con gái)
- ion dương (con trai)
- liên kết ion (bạn nam giúp bạn nữ)
+ Hiện nay trên các báo hay tập san của giới trẻ, học sinh, sinh viên như Mực tím, Hoa học trò, Tuổi trẻ cười, có nhiều tiếng lóng được dùng để phản ánh xu hướng “thích dùng và thích tạo ra những từ ngữ vui nhộn, mới lạ” của giới trẻ Ví dụ:
- Một tấm thiếp Xuân là đủ “lịch” rồi em (Mực tím, số 505, 24.01.02)
- Hai bạn gái trẻ dung dăng dạo một vòng ngắm những mẫu “độc” trên các manơcanh (TT, 23.10.2001)
- Nó rất “kết” chú Tư, vì nó nói chú Tư là người chịu chơi (TTC, 8.01)
4) Ý nghĩa của tiếng lóng:
- Là một hiện tượng ngôn ngữ không thể tránh được
- Là một sản phẩm văn hóa tất yếu của một xã hội hiện đại, phức tạp
- Có không ít tiếng lóng tốt, phản ánh hiện thực xã hội, phê phán, châm biếm những hiện tượng sai trái trong xã hội một cách dí dỏm, vui tươi
VD: quậy, nổ (ba hoa, khoe khoang); quê một cục; lẩu sư phụ (lẩu dê); gỡ lịch (ngồi tù), …
- Tiếng lóng của sinh viên, học sinh thật ra là một cách chơi ngôn từ thông minh và dí dỏm Tiếng lóng của giới trẻ chỉ nhằm mục đích vui đùa, làm tăng thêm tính hài hước, bất ngờ cho các cuộc giao tiếp giữa bạn bè với nhau
Trang 7- Nhiều tiếng lóng ở thành phố Hồ Chí Minh đã được dùng rộng rãi trong cả nước Điều đó nói lên khả năng tạo từ nhanh ở một thành phố đa dạng, năng động, nhiều tầng lớp xã hội
III/ Tiếng địa phương miền Nam trên báo viết ở Tp.Hồ Chí Minh:
- Ngoài việc được sử dụng trong các tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn lớn như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, v.v… tiếng địa phương còn xuất hiện ở các phương tiện truyền thông đại chúng ở thành phố Hồ Chí Minh, như: phát thanh, truyền hình, báo viết, …
1) Tình hình sử dụng tiếng địa phương miền Nam trên báo viết:
- Xét trên cơ sở số liệu nghiên cứu của các báo: Tuổi trẻ, Phụ nữ, Sài Gòn Giải phóng
- Bảng so sánh số từ phương ngữ Nam Bộ xuất hiện trên ba tờ báo này:
+ Báo Tuổi Trẻ:
- Có 11 trang chuyên đề và nhiều trang quảng cáo Trong đó, trang Thời sự có số từ phương ngữ Nam Bộ là 22%, trang Thành phố hôm nay 19%, trang Phóng sự - Ký sự 16,5%, Nhịp sống trẻ 12,7%, các trang còn lại khoảng 6,6%
- Mục “Chuyện thường ngày” ở trang Thời sự được viết dưới dạng đối đáp, dùng những từ xưng hô như: tui, ảnh, ổng, bả, tía, má; những từ cảm thán như: hén, nghen, vậy cà, hèn chi, …
+ Báo Phụ nữ:
- Có 11 trang chuyên đề và nhiều trang quảng cáo Trong đó, trang Thời sự có 15,3% từ phương ngữ Nam Bộ, trang Hôn nhân & Gia đình có 18%, những trang còn lại có khoảng trên dưới 6,6%
+ Báo Sài Gòn Giải phóng:
- Có 6 trang chuyên đề Trong đó, tranh Mọi miền đất nước có 25% từ phương ngữ Nam Bộ, trang Thời sự có 16%, những trang còn lại có khoảng trên dưới 5%
=> Sự xuất hiện của những từ địa phương miền Nam trên những trang báo trên có thể là một sự ngẫu nhiên và cũng có thể là sự sử dụng có chọn lọc, tạo cho người đọc sự cảm nhận về những điểm nhấn riêng của mỗi tờ báo
- Từ loại từ phương ngữ Nam Bộ được sử dụng nhiều là tính từ 75,8%, động từ 35,3%, danh từ 16,5%, mang đậm màu sắc Nam Bộ Một số từ thường xuất hiện ở đầu đề bài viết, như: dỏm, né, sành điệu, xé rào, …
VD:
- “Luyện thi dỏm lại mọc lên như nấm” (N.R – D.T.Dung, trang Giáo dục – Khoa học, T.T 26/9/02)
- “Né phí giao thông: xe vượt trạm làm hư đường xá” (Đ.Đạt – Ngọc Ẩn, trang Thời sự, T.T 28/902)
- “Giới trẻ Nhật Bản – Tiêu xài sành điệu, phó mặc tương lai” (Thanh Hà, T.T.C.N 02/11/02)
- “Dân lắc đổ về những điểm xé rào” (PV, trang Pháp luật – Nhà nước & Công dân, T.T 23/7/02)
=> Những bài viết có sử dụng từ địa phương miền Nam làm tựa đề như vừa nêu đều là những bài nói
về hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, gia đình, vì nò giàu hình tượng, giàu tính cường điệu, châm biếm, dí dỏm, lột tả một cách sâu sắc vấn đề mà tác giả nói đến và thu hút sự chú ý của người đọc
2) Tác dụng của việc sử dụng tiếng địa phương miền Nam trên báo viết:
- Ngôn ngữ văn học chuẩn mực rất cần sự đóng góp của phương ngữ nói chung, tiếng địa phương miền Nam nói riêng để đạt được sự thuyết phục trong đối thoại
Trang 8- Với vốn từ vựng phong phú mang những đặc điểm như: giàu hình tượng, dí dỏm, cường điệu, biểu cảm, … tiếng địa phương miền Nam đã làm nhiệm vụ in lại dấu ấn của xã hội một cách tích cực
PHẦN 2: ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ TRUNG VÀ
Ở KHU VỰC HUẾ:
A ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ TRUNG:
I Các vùng phương ngữ:
Ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương khác nhau về kinh tế, văn hóa sẽ khác nhau Ở Việt Nam chủ yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ bắc (Bắc Bộ), phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Các phương ngữ này khác nhau chủ yếu ở ngữ âm rồi đến từ vựng cuối cùng là một chút khác biệt ngữ pháp
II Bảng so sánh:
Bảng so sánh các đại từ
Trang 9III Đời sống sử dụng ngôn ngữ Trung Bộ:
Ví dụ: Từ nẫu và nậu trong phương ngữ trung bộ được dùng một cách hết sức linh hoạt
Trong ca dao Nam Trung Bộ
Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên
- Thuốc ngon chợ huyện
Giấy quyến Sa Huỳnh
Nẩu xa, mược nẩu, hai đứa mình đửng xa
Thương chi cho uổng tấm tình
Nẩu về xứ nẩu bỏ mình bơ vơ
hoặc: đứa con hỏi mẹ rằng: nẫu đi đâu về vậy mẹ
Qua đó cho ta thấy rằng phương ngữ trung bộ thường hay sử dụng từu nẫu và nậu trong rất nhiều tình huống giao tiếp của mình
Người nam trung bộ ít phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã
Ví dụ: Trái cây chín nẫu, buồn đến nẫu ruột
D ĐỜI SỐNG SỬ DỤNG CỦA PHƯƠNG NGỮ Ở KHU VỰC HUẾ:
I Đặc điểm của phương ngữ Huế:
1 Ngôn và từ:
Nói đến “tiếng Huế” là nói đến “ngôn từ xứ Huế”, có cả “ngôn” và “từ” tiếng Huế không chỉ có các
từ đơn mà còn có cả những câu, những câu thành ngữ, ca dao, tục ngữ mà người Huế thường hay dùng trong đời sống hằng ngày của họ ngôn từ phản ánh đầy đủ tâm tư và cuộc sống con người nên không thể tách biệt các từ Huế ra khỏi ngôn từ xứ Huế, cũng như không thể tách vua ra khỏi các quan nếu muốn có được hình ảnh của một triều đình ( giáo sư Nguyễn lân, tác giả từ điển từ và ngữ việt nam)
2 Tập hợp các lối nói:
Ngôn từ của người Huế có nhiều loại và được dùng với nhiều cách:
a Trước tiên, họ rất thường dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của họ các”phương ngữ” của Thừa Thiên Huế tức những tiếng địa phương của riêng Huế, những tiếng chỉ dùng ở Huế mà ít nơi nào khác trên đất nước dùng đến
Ví dụ: “côi” là trên, chộ là thấy ,“trốt” là đầu…Ngoài ra ở một vài vùng ở Thừa Thiên Huế, người dân ở đấy đã dùng những thổ ngữ của họ, đặc biệt và hiếm hoi hơn
b Ngoài ra người dân Huế cũng dùng các từ, các chữ chung của toàn dân nhưng có một số lớn những chữ, những câu đã được dân Huế dùng rất thường xuyên trong đời sống hằng ngày của họ với
“tần số sử dụng” rất cao so với các vùng khác của đất nước Họ đã dùng với nhiều cách:
- Cách nói văn hoa : họ dùng nhiều tục ngữ ca dao và nhiều t hành ngữ trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của họ Không một nới nào trong nước đã dùng các chữ văn hoa trong câu chuyện hằng ngày như vậy Người Huế dùng lối nói này chủ ý để nhấn mạnh ý mình muồn nói vì thế câu nói trở nên xúc tích hơn Ví dụ :“năm hạn tháng xung”,”bói ra ma quét nhà ra rác”, “đèn nhà ai nấy rạng”,…
- Cách nói chữ: họ dùng những câu chữ Hán thông thường trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của họ
Ví dụ: “bần cư tại thị vô nhân vấn,Phú tại sơn lâm hữu khách tầm”…
- Cách nói điển tích: họ cũng dùng điển tích trong câu chuyện hằng ngày của họ,phần lớn là điển tích lấy từ sử Tàu Ví dụ: điển tích trong nước như “vắng như chùa Bà Đanh” hoặc lấy từ các tích tuồng hát bội như” kéo cả bầy họ Tạ” trong tuồng Sơn Hậu…
- Cách nói lái: thường là với mục đích châm chọc hoặc châm biếm hay để phê bình người khác, một tật cố hữu của người Huế Ví dụ: tên o nớ là bách diệp tức “ trăm lá”, “trăm lá” là “tra lắm” (tức già
Trang 10lắm) để chê cô gái đã già Cách nói lái của họ nhiều khi đậm màu “thô tục” để vui cười, ví dụ: ‘Mụ Đắc”,” Tôn Lò”…
- Cách nói bóng nói gió: họ thường thích đàm tiếu,dị nghị chuyện nhà người ta với xu hướng dạy đời Ví dụ: “chị nớ đang trung hưng” tức “ chị ấy đang dấy lên” trong trường hợp không chồng mà cái bụng tự nhiên lớn phình lên…
- Cách nói lắt léo: không những nói lái để châm chọc hoặc phê bình người khác mà người Huế còn hay “nói lắc léo”, “nói cù lần”, ”nói ngụy biện” để chữa thẹn, để đánh lạc hướng câu chuyện đang nói không mấy lợi cho họ Ví dụ: Đã say mèm “say tít cung thang” mà còn chối là không say “tau
mô có say,say tình say nghĩa thì có” rồi nói lái qua tình nghĩa ở đời
- Cách nói tiếng lóng: dân Huế cũng có những tiếng lóng thong dụng riêng, cũng biết dùng tiếng lóng trong câu chuyện hằng ngày như mọi nơi khac Tiếng lóng của họ được dùng với mục đích chế giễu vui cười với nhau, không mấy ác ý Chẳng hạn “ cá long hội “ là “cá lôi họng” tức thứ cá rẻ tiền
ăn dễ bị mắc xương phải lôi họng ra lấy
- Cách nói lạc nghĩa và trệch chữ: người dân Huế phần lớn là ở thôn quê hay có tật nói trật nghĩa trệt chữ Ví dụ : họ nói “ anh nớ tính tình thâm trầm hiểm độc” có nghĩa là họ muốn nói “anh ấy ít nói”
“trung gian” là “ở giữa” thì họ đôi khi lại dùng như “bên trong” (trung gian chuyện ni, hai đứa có sự hiểu lầm mà ra)
- Cách nói kiểu cách: dân Huế nhất là ở chốn quan trường, trong các gia đình thể giá thường có các
từ ngữ riêng biệt và cách nói riêng biệt Ví dụ: họ dùng chữ “thời” thay vì chữ “ăn” (xin mời anh thời) họ “thưa gởi” khi nói với các bậc bề trên ( “thưa anh em đã làm rồi”,”thưa anh em đã hiểu ý anh”,…) Họ dùng chữ “dạy” khi nói đến “lời phán bảo” của các bậc trưởng thượng (anh đã dạy thì
em xin vâng)
- Cách nói tránh kỵ húy: người Huế thường tránh dùng những chữ có tên của các bậc trưởng thượng, của các vua chúa thời xưa và thường “nói lệch” chữ đó để tỏ lòng kính trọng Tên của bà cố là
“Hồng” thì họ đọc trệch lại là “ Hường” Tránh dùng chữ “Hoa” là tên của bà Hồ Thị Hoa, vợ của vua Minh Mạng thì họ dùng chữ “Huê” hoặc chữ “ba”, và do đó “Hoa viên” đã trở thành “huê viên” hoặc “ba viên”…
III Ví dụ đăc trưng cho phương ngữ Huế trong đời sống hằng ngày:
A rứa: thiệt thế, nhiều lắm ( Thấy thương anh a rứa!)
A rứa tê: lắm (Đẹp a rứa tê Làm bộ a rứa tê)
A rứa thê: lắm (Có tình a rứa thê Nghèo a rứa thê)
Ba cái lác đác: những đồ không ra gì (Trong nhà toàn chứa ba cái lác đác, không có cái mô thiệt có
giá trị cả)
Ba kẹ (ông ba kẹ), ông ba bị: Người dữ tợn (Để doạ con nít)
Ba lia: Không đáng tin cậy (Thằng ba lia, nói nhiều mà không làm, tin chi được)
Ba que xỏ lá: Lưu manh, lừa gạt (Đồ ba que xỏ lá ở chợ Đông Ba, chuyên môn lường gạt thiên hạ)
iết đâu, ai mà biết được ( Cứ hỏi hoài! Ai biết!)
Để khỏi: để tránh (Học để khỏi nghèo)
Để lộn bậy: sắp đặt không ngăn nắp (Trong tủ, áo quần để lộn bậy)
Để luột (để vuột mất): để qua cơ hội tốt (Tính toán kỹ quá để lượt mất cơ hội tốt)
Để mà coi: rồi sẽ thấy (Tiếng dọa dẫm) (Tau nói không nghe, để mà coi)
Can chi: không sao đâu
Can chi mô: không can hệ gì đâu
Cà gật cà tang: không thông suốt, có trắc trở
Cà kê dê ngỗng: chuyện không đâu vào đâu mất thì giờ
Cà rịch cà tang: chậm rãi, không nhanh nhẹn
Dễ ẹc: quá dễ