...............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1Thực trạng về thị trường OTC
Trên thế giới:
Thị trường OTC Mỹ Thị trường OTC Mỹ là mô hình thị trường OTC điển hình, được phát triển từ thị trường phi tập trung, tự do truyền thống, giao dịch qua thương lượng giá trực tiếp ' mặt đối mặt", giao dịch điện thoại Thị trường này có sự quản lý của nhà nước từ sau luật chứng khoán sửa đổi (luật Ma/oney) 1935 Thị trường OTC qua mạng máy tính
Nasdaq dược thành lập từ năm 1971, là bộ phận lớn nhất của thị trường thứ cấp Mỹ xét về
số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường này, có tổng số khoảng trên 15.000 chứng khoán được giao dịch trên thị trường NASDAQ, lớn hơn rất nhiều so với số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường giao dịch tập trung (có khoảng 4.500 chứng khoán giao dịch trên tất cả các thị trường sở giao dịch cộng lại, trong đó NYSE có 2.600 chứng khoán,
AMEX có 800 chứng khoán) Tuy nhiên, thị trường NASDAQ đứng thứ hai về tổng giá trị cổ phiếu giao dịch (khoảng 2398 tỷ USD), sau NYSE (3083 tỷ USD) Chứng khoán
được giao dịch trên NASDAQ rất da dạng về loại hình và chất lượng, chủ yếu là chứng khoán của các công ty mới thành lập, công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao cho đến các công ty lớn có chất lượng cao như Intel, Microsoft, trái' phiếu Các loại chứng khoán này cũng được phân thành nhiều bảng giao dịch theo chất lượng chứng khoán Thị trường này được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường và các nhà môi giới, có khoảng 500 nhà tạo lập thị trường hoạt động tích cực trên NASDAQ, trung bình mỗi nhà tạo lập thị trường làm nhiệm vụ tạo lập cho 8 loại cổ phiếu NASĐAQ chịu sự quản lý hai cấp của Uỷ ban chứng khoán Mỹ (S~FC) và Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán Mỹ (NASD) Thị trường NASDAQ hiện nay đã được nối mạng toàn cầu với nhiều thị trường OTC trên thế giới Tiêu chí chứng khoán được niêm yết trên Nasdaq có nhiều loại nhưng nói chung bao gồm các tiêu chuẩn về tổng giá trị tài sản công ty; vốn và lợi nhuận; số cổ phiếu do công chúng nắm giữ; số lượng cổ đông; số lượng các nhà tạo lập thị trường cho loại chứng khoán này (tối thiểu phải là hai nhà tạo lập thị trường) Dôi với thị trường
NASDAQ quốc gia (NNM) tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán cao hơn à o với thị trường Nasdaq thông thường, cần có thêm các tiêu chí về lợi nhuận rònglnăm, giá mỗi cổ phiếu, giá từ thị trường của cổ phiếu lưu hành SỐ chứng khoán giao dịch trên NNM của
NASĐAQ khoảng 6.000 CƠ chế xác lập giá chủ yếu là thoả thuận giá trên cơ sở báo giá tập trung, tuy nhiên có một bộ phận của thị trường (gọi là hệ thống khớp lệnh nhỏ tự động của NASDAQ - SOES) cung cấp dịch vụ khớp lệnh tập trung đối với các lệnh nhỏ dưới 1.000 cổ phiếu Ngoài ra Hiệp hội các n tà kinh doanh chứng khoán NASD còn cung cấp dịch vụ báo giá điện tử qua mạng Nasdaq cho hơn 15.000 chứng khoán khác không đủ tiêu chuẩn niêm yết trên 'thị trường NASDAQ (còn gọi là OTC BB – OTC Bullentin Board), tạo điều kiện cho những công ty chửng khoán tham gia thị trường này có thể báo giá chứng khoán mà họ làm nhà tạo lập thị trường, cập nhật báo giá tức thời; truy cập thông tin về báo giá của các nhà tạo lập thị trường khác
2 Thị trường OTC Nhật Bản CÓ hai thị trường OTC tại Nhật Bản Thứ nhất là thị trường JASDAQ (còn được gọi là NASDAQ Nhật Bản), hoạt động từ năm 1991 trên cơ sở phát
Trang 2triển thị trường OTC truyền thống hoạt động từ tháng 2-/963 do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý, có hình thức thương lượng giá tay đôi giữa các công ty chứng khoán với nhàu hoặc giữa công ty chứng khoán với khách hàng buột chứng khoán sửa đổi năm 1983 đã đưa thị trường OTC vào quỹ đạo quản lý nhà nước, cơ chế thương lượng giá dược đổi sang cơ chế đấu giá tập trung I~lệ thống các nhà tạo lập thị trù~lng gắn liền với cơ chế thương lượng giá dược áp dụng lại từ năm 1987 để
cạnhtranh với thị trường tập trung và tạo tính thanh khoán cho thị trường OTC hiện nay trên thị trường ~ASDAQ Có 449 công ty làm tạo lập thị trường IIỆ thống giao dịch và thông tin tự động qua mạng ~JASDAQ theo mô hìnhbNASDAQ Mỹ được chính thi ~ dưa vào hoạt động từ năm 1991 để thúc đẩy thị trường OTC, hiện nay hệ thống này bao gồm hai mạng, mạng giao dịch và mạng thông tin Mạng giao dịch được sử dụng để khớp các lệnh giao dịch tự động và mạng thông tin được dùng cho các nhà tạo láp thị trường báo giá tập trung, thông báo về các giao dịch đã thoả thuận và truyền phát các thông tin khác Chứng khoán giao dịch trên OTC là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty có chất lượng hạng hai, công ty công nghệ cao Tiêu chí niêm yết trên Nasdaq chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn như thời gian thành lập công ty, tài sản ròng, lợi nhuận ròng, tổng giá trị thị trường của chứng khoán, số lượng cổ đông, số lượng chửng khoán lưu hành, ý kiến kiểm toán và các tiêu chí khác Tính đến tháng 9-/997 đã có 800 chứng khoán được giao dịch trên thị trường này, tăng hơn gấp 2 lần so với năm 1990 (300 chứng khoán) Chứng khoán không đủ điều kiện giao dịch trên thị trường này và thị trường sở giao dịch cũng được sự hỗ trợ để giao dịch qua mạng ĐASDAQ tương tự như đối với thị trường NASDAQ
Mỹ Thứ hai là thị trường J-net mới được đưa vào hoạt động tháng 4-/999, dây là thị trường được thành lập mới, chịu sự quản lý trực tiếp của SỞ giao dịch chứng khoán Osaka cho các chứng khoán không được niêm yết trên SỞ giao dịch Osaka nhằm đáp ửng yêu cầu tiết kiệm thời gian và chi phí của các đối tượng tham gia thị trường, có phương thức
thương lượng giá Thành viên của SỞ giao dịch chứng khoán Osaka, người đầu tư và trung tâm quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông qua một mạng điện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối tượng này có thể chia sẻ thông tin thị trường Đặc trưng của J-net
là dịch vụ rẻ - nhanh - tiện lợi, có thể truy cập trực tiếp thị trường - thông tin thị trường, người đầu tư có thể thực hiện giao dịch bất kỳ khi nào - bất kỳ nơi nào - với bất kỳ ai J-net cũng là mạng được nối với các mạng khác trong nước và mạng quốc tế Đây là mạng được đánh giá có tiềm năng hữu dụng lớn trong tương lai đối với thị trường chứng khoán trong
và ngoài nước
3 Thị trường OTC Hàn Quốc Thị trường OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập tháng 4-/987 nhằm tạo môi trường hoạt động cho các chứng khoán không được niêm yết trên SỞ giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KSE), chịu sự kiểm soát của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán (KSDA), thành lập năm 1953 Tháng 4-/997 Chính phủ Hàn Quốc quyết định tổ chứclại à thúc đẩy phát triển thị trường này bằng việc thành ập thị trường mạng máy tính điện tử KOSDAQ nhằm ạo điều kiện cho các công ty mạo hiểm, công ty công nghệ ao, quỹ ương ô và các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu huẩn niêm yết trên thị trường tập trung có thể uy động vốn trực tiếp Đây là một thị trường được xây dựng theo
mô hình NASDAQ (Mỹ), giao dịch qua mạng điện tử có sự kiểm soát trung tâm Các tổ
Trang 3chức niêm yết trên thị trường KOSDAQ nhải đáp ứng một số tiêu chí cơ bản như mức vốn điều lệ tối thiểu, tỷ lệ phát hành ra công chúng, v.v Tuy nhiên, việc định giá được thực hiện theo phương thức đấu lệnh tập trung tương tự như sở giao dịch Cho đến nay thị trường KOSDAQ rất nhát triển, cạnh tranh với thị trường của những chứng khoán có chất lượng cao KSE Tốc độ tăng thị phần hàng năm của thị trương này lớn hơn nhiều so với thị
trường tập trung và chiếm 98% tổng giao dịch trái phiếu của thị trường chửng khoán Tính đến tháng 12- 1999 giá ta giao dịch bình quân của KOSDAQ là khoảng 113 so với KSE Thì dường KOSDA~ là một trong những thị trường được quản lý khá hiệu quả Tháng 3-2000 thị trường thứ ba (OTC-BB) theo mô hình NASDAQ OTC-BB (Mỹ) chính thức đì vào hoạt động tạo diều kiện huy động vốn cho các trái phiếu và các cổ phiếu chưa đủ tiêu chuẩn niêm yết trên KSE và KOSDAQ Thí trường này sử dụng mạng điện tử KOSDAQ để giao dịch tương tự như thị trường OTC-BB Mỹ Phương thức xác lập giá trên thị trường này là phương thức thông lệnh tự động (crossed matching) trên cơ sở tự động khớp 2 lệnh có giá
và khối lượng giống hệt nhau Thực chất đây cũng là phương pháp thương lượng giá tự động đang được áp dụng tại một bộ phận của thị trường NASDAQ Mỹ
tại Việt Nam:
1, thị trường OTC giai đoạn đầu
*tồn tại nhưng chưa chính thức:
- do thị trường chứng khoán của Việt Nam còn khá mới, nền kinh tế đang từng bước phát triển và hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, nên theo xu hướng chung hoạt động của thị trường OTC nhất thiết phải
do nhà nước đứng ra thành lập, vận hành và quản lí thị trường ngay từ đầu trên cơ sở ban hành các bộ luật
-Tháng 6/2004, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam Trong đó, định hướng xây dựng Trung tâm GDCK Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản, gọn nhẹ
- Trung tâm GDCK Hà Nội sẽ phát triển theo hai giai đoạn:
+Giai đoạn đầu, từ 2005 đến 2007 - thực hiện đấu giá cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hoá và đấu thầu trái phiếu chính phủ đồng thời tổ chức giao dịch chứng khoán chưa niêm yết theo cơ chế đăng ký giao dịch
+Giai đoạn sau 2007 - Phát triển TTGDCKHN thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
- Mô hình hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã từng bước được cụ thể hoá Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 244/2004/QÐ-BTC ban hành Quy chế tạm thời tổ chức giao dịch chứng khoán tại TTGDCK Hà Nội Như vậy, có thể nói cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã được thiết lập
Trang 4-Tính đến tháng 6 năm 2005, cả nước có gần 2000 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và trên 3000 công ty cổ phần Tổng vốn điều lệ của các công ty này hơn hơn rất nhiều lần khối lượng vốn hoá trên thị trường chính thức
-Không phải cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán, trao đổi thường xuyên
mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch Có những loại cổ phiếu gần như không bao giờ được giao dịch, nhưng có những loại cổ phiếu tuy chưa được niêm yết trên thị trường chính thức trên sàn, nhưng chúng được giao dịch rất sôi động như cổ phiếu của các ngân hàng cổ thương mại cổ phần Á Châu, Sài Gòn Thương Tín, Bánh kẹo Kinh đô, Vinamilk Tại thời điểm này, thị trường phi tập trung ở Việt Nam tồn tại là một thực thể khách quan
-hoạt động của thị trường còn rời rạc, tổ chức chưa được chặt chẽ, chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường.Đồng thời chưa có tổ chức nào đứng ra quản lý và đưa vào khuôn khổ nhằm phát huy được tiềm năng và giảm thiểu các nguy cơ tiềm ẩn đến từ thị trường OTC
*Dễ lũng đoạn thị trường
-giá của chứng khoán được quyết định bởi các nhà tạo lập thị trường nên các nhà định giá có thể âm thầm liên hệ cùng người mua thoả thuận mức giá trần của cổ phiếu Và ngay lập tức giá tham chiếu của cổ phiếu đó sẽ tăng lên trong ngày hôm sau Chính vì thế, các nhà đầu tư rất khó có thể biết được giá trị thực của cổ phiếu
Giá cổ phiếu sau khi bị tác động không hoàn toàn phản ánh đúng ý của nhà đầu tư trên thị trường nên nó không đủ khách quan để làm cơ sở đánh giá thị trường=> gây bất lợi cho nền kinh tế
*Mất thời gian của nhà đầu tư
-nhà đầu tư và công ty chứng khoán không hào hứng với thị trường OTC bởi họ quá mất thời gian trong việc đàm phán lệnh và nhận lệnh khi giao dịch
-người muốn mua phải tự tìm ra ai muốn bán Khi các nhà đầu tư muốn bán chứng khoán, họ phải nhờ công ty chứng khoán viết lệnh lên sàn, sau đó phải chờ môi giới tìm đối tác Môi giới phải hỏi ra công ty chứng khoán nào có nhà đầu tư đang muốn mua (hoặc đợi người đến hỏi mua) rồi sau đó cũng phải đàm phán với người bán giá người mua muốn Người mua sẽ đồng
ý với giá thoả thuận không Sự việc cứ diễn ra như thế cho đến lúc nào hai bên cùng thoả mãn với giá mua bán
-So với sự biến động của thị trường vốn, thời gian đàm phán để hoàn tất một giao dịch thoả thuận có thể khiến giá cả trên thị trường đó thay đổi
- Từ năm 2010 đến đầu năm 2014, thị trường OTC đóng băng tại hầu hết các cổ phiếu trong bối cảnh thị trường tập trung suy giảm (tháng 5 :Trung Quốc kéo giàn khoan vào biển Đông và cuối tháng 11- hết tháng 12: giá dầu giảm mạnh và hiệu ứng từ Thông tư 36/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước)
- năm 2014, khi thị trường có mức tăng trưởng ấn tượng từ 530 điểm lên trên 600 điểm nên nhiều DN đã khởi động lại kế hoạch lên sàn.
Kết luận: -ở Việt Nam chưa có thị trường OTC theo đúng nghĩa của nó.
- mới chỉ có một số tiền đề khá cơ bản cho sự hình thành và phát triển thị trường như: sự phát triển về số lượng và chất lượng của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức; các loại
Trang 5chứng khoán khá đa dạng với chất lượng khá tốt và ngày càng được nâng cao; hệ thống tổ chức TCTG phát triển nhanh; hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư và phát triển…
Câu hỏi:
1. Sở giao dịch ck là:
A, thị trường giao dịch tập trung
B, thị trường giao dịch ck niêm yết
C, thị trường phi tập trung
A, a và b
B, a, b và c
C, b và c
Câu 2:
Trong các nhận định sau đây, nhận định nào sai về thị trường chứng khoán thứ cấp
a) Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán kém phẩm chất
b) Thị trường thứ cấp tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu đang lưu hành
c) Thị trường thứ cấp tạo cho người sở hữu chứng khoán cơ hội để rút vốn đầu tư của họ
d) Thị trường thứ cấp tạo cho mọi người đầu tư cơ hội cơ cấu lại danh mục đầu tư của mình
Câu 3: , thị trường NASDAQ đứng thứ mấy về tổng giá trị cổ phiếu giao dịch?
d/a: 2