1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người thực trạng trên thế giới và phát triển ở Việt Nam

101 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 861,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTTên viết tắt Tên đầy đủ APFNHRIs Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương của các cơ quan nhân quyền quốc gia Bộ LĐ-TB-XH Bộ Lao động – Thương binh – xã hội CAT Convent

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VÀ TRIỂN VỌNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Vũ Công Giao

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận vănđảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cảcác môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy địnhcủa Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thu Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các biểu

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ QUAN NHÂN QUYỀN QUỐC GIA 4

1.1 Khái niệm và lịch sử phát triển của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới 4

1.1.1 Khái niệm cơ quan quốc gia về nhân quyền 4

1.1.2 Sự ra đời, phát triển của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới .5

1.1.3 Liên hợp quốc và các cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới 7

1.1.4 Lợi thế của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới 9

1.2 Đặc điểm của cơ quan nhân quyền quốc gia 9

1.2.1 Tính độc lập (Independent) 9

1.2.2 Tính tiếp cận được (Accessibility) 10

1.3 Cơ sở pháp lý của cơ quan nhân quyền quốc gia 11

1.4 Hình thức của cơ quan nhân quyền quốc gia 12

1.4.1 Cơ quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman) 12

1.4.2 Ủy ban nhân quyền quốc gia (National Human Rights Commission/Committee) .14

1.4.3 Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền cụ thể (Specialized Institutions) và Mô hình Trung tâm Nhân quyền (Centre for Human rights) hay Viện Nhân quyền (Inntitute For Human Rights) 16

1.5 Vai trò của cơ quan nhân quyền quốc gia 17

Trang 4

1.6 Thành viên của cơ quan nhân quyền quốc gia 20 1.7 Phương pháp hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia

21

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ QUAN NHÂN QUYỀN QUỐC

GIA TRÊN THẾ GIỚI 23

2.1 Thời gian thành lập 23

2.2 Hình thức tổ chức 24

2.3 Thẩm quyền 24

2.4 Thành viên 25

2.4.1 Thành phần 25

2.4.2 Việc đề cử thành viên các NHRIs 25

2.4.3 Nhiệm kỳ của các thành viên NHRIs 26

2.4.4 Số lượng cán bộ giúp việc 27

2.5 Tự chủ và tính độc lập trong hoạt động và nguồn tài chính 27

2.6 Khả năng tiếp cận của công chúng 28

2.7 Chức năng 30

2.7.1 Đưa ra những khuyến nghị 30

2.7.2 Thúc đẩy việc thực hiện nhân quyền tại quốc gia 31

2.7.3 Xử lý các khiếu nại, tố cáo vi phạm nhân quyền 32

2.7.4 Giáo dục nhân quyền 32

2.7.5 Vai trò trong việc xây dựng Báo cáo định kỳ toàn thể về quyền con người của các quốc gia gửi Hội đồng Nhân quyền LHQ (UPR- Universal Periodic Report) 33

2.8 Xu hướng phát triển của cơ quan quốc gia về nhân quyền trên thế giới 34

2.9 Cơ quan nhân quyền ở một số quốc gia trên thế giới 36

2.9.1 Malaysia 36

2.9.2 Hàn Quốc 38

2.9.3 Kenya 41

2.9.4 Uganda 43

2.9.5 Guatemala 44

2.9.6 Pháp 48

Trang 6

2.9.7 Đức 50

Trang 7

Chương 3: TRIỂN VỌNG VỀ CƠ QUAN NHÂN QUYỀN QUỐC

GIA TẠI VIỆT NAM 53

3.1 Khái quát về việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam 53

3.1.1 Quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng, nhà nước Việt Nam về nhân quyền 53

3.1.2 Khuôn khổ pháp luật về quyền con người ở Việt Nam 55

3.1.3 Cơ chế bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam 57

3.2 Sự cần thiết phải xây dựng một cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam 60

3.2.1 Những hạn chế của cơ chế bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam .60

3.2.2 Những điểm thuận lợi khi thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam 61

3.2.3 Những thách thức khi thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam 64

3.3 Những yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam 67

3.3.1 Những yêu cầu từ hội nhập quốc tế 67

3.3.2 Những yêu cầu từ việc xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ hóa, hiện đại hóa đất nước 68

3.4 Đề xuất mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam 69

3.4.1 Khôi phục, cải tổ một số cơ quan, uỷ ban trực thuộc Quốc hội và Chính phủ theo hướng trở thành cơ quan nhân quyền quốc gia thực sự 69

3.4.2 Cơ quan Thanh tra Quốc hội 72

3.4.3 Uỷ ban nhân quyền 73

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 8

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tên viết tắt Tên đầy đủ

APFNHRIs Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương của các cơ quan nhân

quyền quốc gia

Bộ

LĐ-TB-XH

Bộ Lao động – Thương binh – xã hội

CAT Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or

Degrading Treatment or Punishment (Công ước Chống tra tấn

và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay

hạ nhục khácCHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

ECOSOC The United Nations Economic and Social Council (Hội đồng

kinh tế - xã hội của Liên Hợp Quốc)HRC United Nations Human Rights Council (Hội đồng nhân quyền

của Liên hợp quốc)HĐND Hội đồng nhân dân

ICC The International Coordinating of National Institutions for the

Promotion and Protection of Human Rights (Ủy ban điều phốiquốc tế các cơ quan thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền quốc gia)ICCPR International Convenant on Civil and Political Rights (Công ước

về quyền dân sự - chính trị)ICESCR International Convenant on Economic, Social and Cultural

Rights (Công ước về quyền kinh tế - văn hóa – xã hội)ICRPD Convention on the Rights of Persons with Disabilities (Công

ước về Quyền của những người khuyết tật)LHQ Liên hợp quốc

NHRIs National Institution on the Protection and Promotion of Human

Rights (Các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền)NGO Tổ chức phi chính phủ

OHCHR Office of the High Commissioner for Human Rights (Văn phòng

Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người)UPR Universal Periodic Review (Cơ chế đánh giá định kỳ chung)UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

TAND Tòa án nhân dân

SEANF Southeast Asian National Human Rights Institution Forum (Diễn

đàn của các cơ quan nhân quyền quốc gia khu vực Đông NamÁ)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 2.1: Việc thành lập các cơ quan quốc gia về nhân quyền trên thế

giới (từ 1970-2009) 23 Biểu 2.2: Tỷ lệ các dạng cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới 24 Biểu 2.3: Thành phần của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới 25 Biểu 2.4: Việc đề cử thành viên của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

26 Biểu 2.5: Nhiệm kỳ của các thành viên cơ quan nhân quyền quốc gia

trên thế giới 26 Biểu 2.6: Số lượng cán bộ giúp việc của cơ quan nhân quyền quốc gia

trên thế giới 27 Biểu 2.7: Việc tiếp cận với cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới .29 Biểu 2.8: Chức năng tiếp nhận và giải quyết khiếu tố vi phạm nhân

quyền của các cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới 32 Biểu 2.9: Chức năng giáo dục nhân quyền của các cơ quan nhân quyền

quốc gia trên thế giới 33 Biểu 2.10: Sự tham gia của các cơ quan nhân quyền quốc gia vào việc

xây dựng UPR 34

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (LHQ), cơ quan nhân quyền quốc gia

(National Human Rights Institutions – NHRIs hay National Institutions for Protection and Promotion of Human Rights) là “một cơ quan (body) được giao

những chức năng cụ thể trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền”

Ngay từ năm 1946, ECOSOC đã đề nghị các quốc gia thành viên “xem xétkhả năng thành lập các nhóm thông tin hoặc ủy ban quyền con người quốc gia đểhợp tác trong các hoạt động trên lĩnh vực này với Ủy ban Quyền con người Liênhợp quốc” (Nghị quyết 2/9 ngày 21-6-1946, mục 5) Đến năm 1991, Ủy ban Quyềncon người Liên hợp quốc tổ chức một hội thảo về cơ quan quyền con người quốcgia ở Pari (từ ngày 7 đến 9-10-1991) Kết luận của Hội thảo được phê chuẩn bởi Ủyban quyền con người trong Nghị quyết 1992/54 như là Các nguyên tắc liên quanđến địa vị của các cơ quan nhân quyền quốc gia (các nguyên tắc Pari) Văn kiện nàysau đó được phê chuẩn bởi Đại hội đồng Liên hợp quốc trong Nghị quyết số 48/134(ngày 20-12-1993) và hiện được coi là nền tảng cho tổ chức và hoạt động của các

cơ quan quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người Năm 1993, tại Hội nghịquốc tế tổ chức tại Tunis do Liên hợp quốc bảo trợ, các cơ quan quyền con ngườiquốc gia đã thành lập Ủy ban Điều phối quốc tế các cơ quan quyền con người quốc

gia (International Coordinating Committee of NHRIs - ICC), có chức năng phối hợp

hoạt động của mạng lưới các cơ quan nhân quyền này

Nếu xét đúng theo các tiêu chuẩn thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia củaquốc tế, Việt Nam hiện chưa có cơ quan nào có thể coi là NHRIs Đối với tình hìnhthực tiễn trong nước, khu vực và quốc tế, có thể thấy, việc thành lập một hoặc một

số cơ quan có chức năng của NHRIs hiện là cần thiết ở nước ta Tuy nhiên, NHRIs

ở Việt Nam còn là một vấn đề mới mẻ, chưa có các nghiên cứu, đánh giá một cách

có hệ thống, toàn diện và sâu sắc Vì vậy, việc nghiên cứu về triển vọng mô hình cơquan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu

NHRIs là vấn đề mới ở Việt Nam, vì vậy chưa có một công trình khoa họcnghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc về cơ quan này ở nước ta Tuy vậy, đãxuất hiện một số bài báo khoa học, hội thảo nghiên cứu về thành lập cơ quan nhânquyền quốc gia tại Việt Nam Tiêu biểu có một số bài viết, nghiên cứu sau:

- Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới vàgợi ý cho Việt Nam Tác giả: TS Vũ Công Giao;

- Mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ở một số nước và suy nghĩ về cơchế bảo đảm quyền con người ở nước ta Tác giả: PGS.TS Tường Duy Kiên;

- Vài suy nghĩ về cơ chế bảo đảm nhân quyền Tác giả: TS Cao Đức Thái;

- Cơ quan nhân quyền quốc gia – Mô hình, chương trình, thách thức và giảipháp Tác giả: Phó Giám đốc Viện Nhân quyền Đức Frauke Lisa Seidensticker và

TS Anna Wuerth;

- Khóa luận tốt nghiệp: Cơ quan quốc gia về nhân quyền trên thế giới vàtriển vọng thiết lập ở Việt Nam Tác giả: Bùi Bích Phương

Những công trình kể trên chứa đựng một lượng kiến thức, thông tin khá lớn

về vấn đề, tuy nhiên, trong các nghiên cứu này, mô hình cơ quan nhân quyền quốcgia tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở những ý tưởng ban đầu chứ không không có sựphân tích sâu về tình hình thế giới, khu vực, cũng như trong nước để đưa ra một giảipháp hiệu quả cho vấn đề thành lập một cơ quan chuyên trách về thúc đẩy và bảo vệnhân quyền tại Việt Nam Vì vậy, cần thiết phải có thêm các công trình nghiên cứukhác để làm rõ triển vọng và đề xuất mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia thíchhợp cho Việt Nam trong tương lai Luận văn này góp phần vào việc đó

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

Mục đích của luận văn là đưa ra được một cái nhìn có tính hệ thống, khoahọc và toàn diện về thực trạng, những vấn đề lí luận và thực tiễn về cơ quan nhânquyền quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra nhữngkhuyến nghị về mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia phù hợp cho Việt Namtrong tương lai

Trang 13

Về phạm vi, luận văn chỉ đề cập đến thực trạng, những vấn đề lí luận và thựctiễn về cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới nói chung, không tập trung phântích sâu một mô hình của quốc gia nào.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận dùng để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các tư tưởng, quan điểm mang tínhnguyên tắc của Đảng về đổi mới và thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, các tư tưởng,quan điểm về luật học tiến bộ và hiện đại trên thế giới

Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luậnvăn là: phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích,phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kếtcấu gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cơ quan nhân quyền quốc gia

Chương này tác giả trình bày khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý, hình thức,thẩm quyền, thành viên, phương pháp hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia

- Chương 2: Thực trạng cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

Chương này tác giả nêu ra thực trạng cơ quan nhân quyền quốc gia trên thếgiới, cụ thể về: thời gian thành lập, hình thức, thẩm quyền, thành viên, tự chủ vàtính độc lập trong hoạt động và nguồn tài chính, khả năng tiếp cận của công chúng,chức năng, một số mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

- Chương 3: Triển vọng về cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam

Chương này tác giả phân tích triển vọng về việc xây dựng cơ quan nhânquyền quốc gia tại Việt Nam, trong đó bao gồm các nội dung: sự cần thiết phải xâydựng một cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam; những điểm thuận lợi, tháchthức khi thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam; cơ sở pháp lý; môhình thích hợp, chức năng, thành viên, nguồn tài chính, phương pháp hoạt động của

cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CƠ QUAN NHÂN QUYỀN QUỐC GIA1.1 Khái niệm và lịch sử phát triển của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

1.1.1 Khái niệm cơ quan quốc gia về nhân quyền

Thuật ngữ cơ quan quốc gia về nhân quyền (hay còn gọi là “cơ quan nhân

quyền quốc gia”) xuất phát từ tiếng Anh là National Human Rights Institutions (NHRIs, hay còn được viết là National Institutions for Protection and Promotion

of Human Rights) là “một cơ quan (body) được giao những chức năng cụ thể trong

việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền”

Các cơ quan nhân quyền quốc gia được thành lập và hoạt động theo Các

nguyên tắc Pa – ri (Paris Principles) – đây là văn kiện nền tảng của các hoạt động

bảo vệ nhân quyền quốc gia

Cho đến nay, nhiều người vẫn nhầm lẫn NHRIs với các tổ chức phi chính

phủ (NGO), thậm chí với các tổ chức đối lập với nhà nước về nhân quyền Thực

chất, các cơ quan nhân quyền quốc gia là một thiết chế có tính chất của cơ quan nhà

nước (quasi-governmental agency), có chức năng tư vấn, hỗ trợ các nhà nước trong

việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền Nó có một vị thế rất đặc biệt, không giống vớicác NGOs, đồng thời cũng không giống các cơ quan nhà nước thông thường Cụthể, các NHRIs:

(i) Không phải là một NGOs vì không hoàn toàn độc lập với chính phủ Các

cơ quan nhân quyền quốc gia có một cơ sở pháp lý theo luật định và trách nhiệmpháp lý cụ thể như một phần thuộc bộ máy nhà nước Sự khác biệt rõ rệt nhất giữa

cơ quan nhân quyền quốc gia và NGOs có lẽ nằm ở việc tiếp nhận những bản điềutra, khiếu nại có liên quan tới quyền con người Cơ quan nhân quyền quốc gia cóthẩm quyền điều tra về những vi phạm nhân quyền và đưa ra khuyến nghị để khắcphục tình trạng vi phạm đó Trong phạm vi của mình, cơ quan nhân quyền quốc gia

Trang 15

chỉ hoạt động theo một khuôn khổ pháp lý, thực hiện các nguyên tắc chung củacông lý và các quy định của pháp luật.

(ii) Không phải là một cơ quan lập pháp (vì không có chức năng đại diện,không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật…);

(iii) Không phải là một cơ quan tư pháp (vì không có chức năng tài phán);(iv) Cũng không hẳn là một cơ quan hành chính (trong một số trường hợp,

cơ quan nhân quyền quốc gia được đặt trong/dưới một cơ quan hành pháp, nhưng

nó được hưởng mức độ độc lập nhất định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ

1.1.2 Sự ra đời, phát triển của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

Trong thực tế, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở cấp độ quốc tế

và khu vực hoạt động khá hiệu quả tuy nhiên hoạt động của các cơ chế này vẫn bịgiới hạn bởi các nguồn lực và sự hạn chế về tính hành động trực tiếp, đặc biệttrong các vụ việc liên quan đến cá nhân Các cơ chế bảo vệ nhân quyền trên khôngthể kiểm soát được toàn bộ tình hình nhân quyền ở từng quốc gia bởi vì các cơquan này không thể điều tra được tất cả các cáo buộc về vi phạm quyền con ngườicũng như không thể giảm nhẹ đau khổ cho tất cả nạn nhân Trong khi đó, vai tròcủa các chính phủ quốc gia trong việc thực hiện các quyền con người là đặc biệtquan trọng Quyền con người trước hết liên quan đến quan hệ giữa các cá nhân vớinhau và giữa cá nhân với nhà nước Do đó, nhiệm vụ bảo vệ và thúc đẩy quyềncon người trước hết thuộc về Nhà nước Các quốc gia phê chuẩn một văn kiện

Trang 16

quốc tế về quyền con người và nội luật hóa các văn kiện đó vào trong hệ thốngpháp luật quốc gia Tuy nhiên, pháp luật không đủ để bảo vệ các quyền cụ thể nếunhư các văn bản pháp luật không đảm bảo tính chất pháp lý và thẩm quyền chocác cơ quan nhà nước để thực thi các quyền đó hiệu quả Do đó để đảm bảo cácquyền con người yêu cầu việc thiết lập các cơ sở hạ tầng quốc gia cho việc bảo vệ

và thúc đẩy các quyền con người

Trong khi cho đến tận gần đây thế giới mới quan tâm đến việc thành lập các

cơ quan nhân quyền quốc gia thì Liên hợp quốc đã lưu tâm đến vấn đề này từ saunăm 1946 Đến năm 1960, ECOSOC tiếp tục đề nghị các quốc gia thành viên thúcđẩy sự hình thành và mở rộng của các cơ quan nhân quyền quốc gia để phối hợphoạt động với Ủy ban về quyền con người của Liên hợp quốc (Hội đồng nhân quyềnLiên hợp quốc) Đây là một tiến trình luôn tiếp diễn và các báo cáo về thông tinnhận được thường xuyên được Tổng Thư ký gửi tới Ủy ban Quyền con người, Đạihội đồng và các quốc gia thành viên

Trong những năm 1960 – 1970, đã có nhiều cuộc thảo luận về cách thức đểthực hiện có hiệu quả những chuẩn mực quốc tế về quyền con người diễn ra trêndiễn đàn Liên hợp quốc Vào những năm 1978, Ủy ban về quyền con người đã tổchức một hội thảo về các cơ quan nhân quyền quốc gia nhằm soạn thảo hướng dẫn

về tổ chức và chức năng của những cơ quan này Các hướng dẫn như vậy sau đó đãđược thông qua trong một hội thảo khác, được tổ chức tại Geneva, Thụy Sỹ từ ngày

18 đến ngày 29/09/1987 Nhờ có những hướng dẫn đó, trong những năm 1980, đã

có một số lượng đáng kể các cơ quan quốc gia về nhân quyền được thiết lập với sựtrợ giúp của Chương trình dịch vụ tư vấn của Trung tâm quyền con người Đến năm

1990, Ủy ban về quyền con người đã kêu gọi tổ chức một hội nghị với thành viên làcác cơ quan nhân quyền quốc gia Hội nghị này sau đó đã được tổ chức tại Paris vàotháng 10/1991 và đã thảo luận về hình thức hợp tác giữa các cơ quan nhân quyềnquốc gia và tổ chức nhân quyền quốc tế nhằm tìm ra phương thức hợp tác hiệu quảgiữa những cơ quan đó Sau hội nghị này, nhiều tổ chức hợp tác mang tầm khu vực

và thế giới về quyền con người đã ra đời [2, tr339-341]

Trang 17

1.1.3 Liên hợp quốc và các cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

Nhiều cơ quan quan trọng trong bộ máy nhân quyền Liên hợp quốc có liên

hệ trực tiếp và hỗ trợ các NHRIs, cụ thể như Hội đồng nhân quyền của Liên hợp

quốc (United Nations Human Rights Council - HRC) và Văn phòng cao uỷ nhân quyền Liên hợp quốc về nhân quyền (Office of the High Commissioner for Human Rights - OHCHR); Uỷ ban điều phối quốc tế các cơ quan thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền quốc gia (The International Coordinating of National Institutions for the Promotion and Protection of Human Rights - ICC).

OHCHR là một phần của Ban Thư ký Liên hợp quốc, chuyên trách vềchương trình nhân quyền Cơ quan này nằm dưới quyền điều hành trực tiếp của Cao

uỷ Liên hợp quốc về nhân quyền (High Commissioner for Human Rights), có nhiệm

vụ chủ yếu là hỗ trợ thực hiện những công việc về chuyên môn và hành chính, đồngthời triển khai các hoạt động về nhân quyền được giao bởi Cao uỷ OHCHR cungcấp các chương trình hợp tác kỹ thuật và tư vấn liên quan đến việc thành lập và hoạtđộng của NHRIs cho các quốc gia, phù hợp với khuôn khổ hiến pháp hay luật phápcủa mỗi nước Cụ thể, cơ quan này có thể giúp các quốc gia:

 Nhận xét, góp ý dự thảo luật của quốc gia về thiết lập NHRIs;

 Cố vấn cho quốc gia về việc tuân thủ các nguyên tắc Paris;

 Xây dựng các hướng dẫn cho quốc gia về những vấn đề có liên quan tớihoạt động của NHRIs;

 Tạo điều kiện xây dựng quan hệ đối tác giữa các NHRIs của các quốc giatham gia OHCHR;

 Hỗ trợ các NHRIs trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp, quốc hội vàcác NGO của các quốc gia;

 Chia sẻ thông tin với các NHRIs về những chủ đề cụ thể như: chínhquyền, quy định pháp luật, công tác phòng chống tra tấn ;

 Cung cấp những tài liệu nghiên cứu đánh giá, phân tích so sánh, hợp tác

kỹ thuật để xây dựng các dự án, hoạt động của các NHRIs

Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (HRC) được thành lập để thay thế Uỷ

Trang 18

ban nhân quyền Liên hợp quốc (CHR) trước đây, nhằm khắc phục những yếu kémtrong hoạt động của CHR, đó là thất bại trong việc cải thiện tình hình và xử lý viphạm về nhân quyền diễn ra ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới Đây là mộttrong những cơ quan chuyên môn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong bộ máyquyền con người của Liên hợp quốc Chức năng của nó rất rộng, trong đó bao gồmviệc nghiên cứu, đề xuất ý kiến, thảo ra các chương trình hành động, soạn thảo vănkiện về quyền con người, giám sát thực hiện các văn kiện đó Kể từ khi được thànhlập, HRC rất quan tâm hỗ trợ các hoạt động của NHRIs.

ICC được xem là một cơ quan quốc tế độc lập thúc đẩy việc thành lập vàtăng cường NHRIs sao cho phù hợp với các Nguyên tắc Paris ICC được hình thànhvào những năm đầu của thập niên 1990 Ban đầu, cơ quan này chỉ được xem là mộtmối liên kết lỏng lẻo giữa các quốc gia thành viên đã thành lập NHRIs, sau đó nó đãphát triển thành một tổ chức quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng về nhân quyền,đóng trụ sở tại Geneva

Theo quy chế thành lập, ICC có một đoàn chủ tịch gồm 16 cơ quan quốc gia

về nhân quyền Họ tổ chức hội nghị quốc tế 2 năm/ lần cho các thành viên của mình

để trao đổi kinh nghiệm, thảo luận về những vấn đề còn chưa rõ trong hoạt động củacác NHRIs ở các quốc gia Chức năng chủ yếu của ICC là:

 Xây dựng mối tương tác và hợp tác giữa các NHRIs với hệ thống Liênhợp quốc;

 Tổ chức hợp tác và phối hợp giữa các NHRIs, bao gồm truyền thông giữacác thành viên với các bên liên quan;

 Hỗ trợ những NHRIs đang gặp khó khăn và cung cấp các hỗ trợ kỹthuật, chẳng hạn như giáo dục và đào tạo, để phát triển và củng cố năng lực củacác NHRIs;

 Kiểm tra thường xuyên tư cách thành viên của các NHRIs thông qua hoạtđộng nhân quyền tại địa phương;

Trong số các chức năng trên, hai chức năng chính của ICC là phối hợp vàkiểm tra tư cách thành viên Chức năng phối hợp nhằm mục tiêu thúc đẩy mối quan

Trang 19

hệ tương tác giữa các quốc gia và hợp tác với bộ máy Liên hợp quốc, còn chức năngthúc đẩy là tạo điều kiện để các quốc gia có sự trao đổi thông tin trực tiếp với nhauhoặc giữa các nhóm trong cùng khu vực Những hội nghị của ICC và sự kiện khácđều được tổ chức với sự hợp tác chặt chẽ với OHCHR.[16, tr14-17]

1.1.4 Lợi thế của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới

Ở một góc độ nhất định, có thể nói NHRIs chính là bộ mặt về tính đảm bảonhân quyền của một quốc gia Thông qua NHRIs, các quốc gia thể hiện mức độ bảođảm trách nhiệm quốc tế của họ trên lĩnh vực quyền con người trước cộng đồngquốc tế và các quốc gia khác Chính vì vậy, không chỉ được chính phủ tài trợ về mặtkinh phí hoạt động, mà NHRIs còn được các chính phủ giao cho rất nhiều thẩmquyền trong lĩnh vực này Nhiều NHRIs có quyền tham gia vào các vấn đề củachính phủ, hoạch định chính sách và đề xuất ý kiến nếu các vấn đề đó có ảnh hưởngtrực tiếp hay gián tiếp đến quyền con người Ý kiến của họ thường được các chínhphủ tôn trọng, lắng nghe Tại một số quốc gia, NHRIs còn được miễn trừ giám sátbởi toà án và hệ thống luật sư, thẩm phán

Kinh nghiệm cho thấy ở các quốc gia, không phải lúc nào giữa chính phủ vànhân dân cũng có tiếng nói chung trong các vấn đề xã hội Trong thực tế, đa số cácquốc gia xảy ra những mâu thuẫn và tranh luận giữa chính phủ và công chúng liênquan đến những chính sách mà tác động đến quyền và lợi ích của một hoặc một sốnhóm người nhất định Khi đó, NHRIs chính là cơ quan trung gian để giải quyếtmâu thuẫn NHRIs đóng vai trò là cơ quan hoà giải trung lập của hai bên, tạo ra sựcân bằng để tìm ra giải pháp cho hai luồng quan điểm trái ngược đó Ở một số quốcgia, NHRIs có quyền xem xét các khiếu nại liên quan tới những trường hợp cá nhân

bị vi phạm nhân quyền bằng cách hoà giải

1.2 Đặc điểm của cơ quan nhân quyền quốc gia

1.2.1 Tính độc lập (Independent)

Một nhân tố quan trọng trong việc xác định tính hiệu quả của một cơ quannhân quyền quốc gia là khả năng hoạt động độc lập trong khi thực hiện nhiệm vụcủa mình Tính độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia theo nguyên tắc Pari được

Trang 20

hiểu là vai trò và sự độc lập của cơ quan này phải được quy định trong Hiến pháp.Những vấn đề còn lại như thẩm quyền, thành viên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,ngân sách của cơ quan nhân quyền quốc gia nên được quy định trong luật Tuy độclập với các cơ quan nhà nước khác nhưng sự độc lập này là tương đối bởi vì các cơquan nhân quyền quốc gia vẫn phải báo cáo hoạt động với cơ quan chủ quản (thôngthường là nghị viện (Quốc hội)).

Có nhiều yếu tố bảo đảm cho tính độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia,trong đó bao gồm:

 Các cơ quan nhân quyền quốc gia nên được cung cấp đủ kinh phí để thựchiện nhiệm vụ của mình;

 Hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia không bị trừng phạt bởi bất

kỳ cơ quan nhà nước nào;

 Cơ quan nhân quyền quốc gia được tự chủ trong việc thiết lập các quy tắcnội bộ về nhân sự, tài chính, chương trình, kế hoạch hành động;

 Thành viên của cơ quan nhân quyền quốc gia không bị chính phủ bãinhiệm khi thực hiện nhiệm vụ của mình;

 Cơ quan nhân quyền quốc gia cũng cần có thẩm quyền tài phán đối vớinhững vụ việc vi phạm nhân quyền Nếu không có thẩm quyền này, cơ quan này cóthể chuyển khiếu nại tới cơ quan có thẩm quyền giải quyết [17, p43]

1.2.2 Tính tiếp cận được (Accessibility)

Theo Nguyên tắc Pari, trụ sở của cơ quan nhân quyền quốc gia nên ở vị trígần với các tuyến đường giao thông lớn và có quy mô thích hợp Bên cạnh đó, vănphòng của cơ quan nhân quyền quốc gia nên có thiết kế đảm bảo cho những ngườikhuyết tật có thể tiếp cận được dễ dàng

Ngoài ra, tính dễ tiếp cận của các cơ quan nhân quyền quốc gia còn phụthuộc vào tính đa dạng của thành viên cơ quan này Chính vì vậy, ngoài năng lựccủa những thành viên này là điều kiện tiên quyết cho hiệu quả hoạt động thì các tiêuchí như ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo, văn hoá cũng như cân bằng giới cần phải đượckết hợp một cách hợp lý khi lựa chọn bổ nhiệm thành viên

Trang 21

Các cơ quan nhân quyền quốc gia nên thành lập các thư viện hoặc các trungtâm dữ liệu cho các tổ chức phi chính phủ và người dân tiếp cận Các cơ quan nàycũng cần xem xét loại bỏ sự bảo mật vốn là yếu tố ngăn cản sự truy cập vào cơ sở

dữ liệu của họ đồng thời thiết lập trang thông tin trực tuyến để những cá nhân, tổchức quan tâm có thể truy cập

Một trong những yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo khả năng tiếp cận đếncác cơ quan nhân quyền quốc gia là người dân phải nhận thức được sự tồn tại, vị trí,nhiệm vụ của cơ quan này Cơ quan này phải phân phát các tài liệu giải thích mộtcách cơ bản nhiệm vụ của mình, nơi tiếp nhận các khiếu nại vi phạm nhân quyềnbằng nhiều ngôn ngữ Một số chiến lược đã được các cơ quan nhân quyền quốc gia

áp dụng trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, ví dụ như: quảng cáo trên báochí, đài phát thanh, truyền hình, phương tiện truyền thông điện tử, tổ chức nhữngchương trình tiếp xúc trực tiếp với người dân trên đất nước

Các báo cáo về tình hình nhân quyền của cơ quan nhân quyền quốc gia cầntoàn diện nếu chúng được dùng để phục vụ cho việc cải cách pháp luật Tuy nhiên,

cơ quan này cũng cần chuẩn bị những bản tóm tắt của các báo cáo trên cho các tổchức, cá nhân khác tham khảo

Cuối cùng, các cơ quan nhân quyền quốc gia nên cung cấp dịch vụ của họmiễn phí Các chi phí trong quá trình kiện tụng là một trong những yếu tố chínhhạn chế những nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận toà án để bảo vệ quyền của họ,điều này sẽ được khắc phục bởi những dịch vụ miễn phí của các cơ quan nhânquyền quốc gia [17, p44]

1.3 Cơ sở pháp lý của cơ quan nhân quyền quốc gia

Theo các Nguyên tắc Paris, một trong những tiêu chí quan trọng nhất choviệc thiết lập các cơ quan nhân quyền quốc gia là “một cơ quan quốc gia sẽ đượctrao quyền nhiều nhất có thể và những quyền này sẽ được ghi cụ thể trong bản Hiếnchương hoặc một văn bản pháp luật, cụ thể hóa cơ cấu cũng như lĩnh vực thẩmquyền của nó” Trong thực tế, vị trí, nhiệm vụ của cơ quan nhân quyền quốc giađược quy định trong Hiến pháp, Luật hoặc theo Lệnh của người đứng đầu nhà nước

Trang 22

Trong đó, việc quy định trong Hiến pháp thường được khuyến khích bởi các thủ tụcsửa đổi Hiến pháp thường chặt chẽ hơn so với Luật Ngoài ra, việc quy định trongHiến pháp, Luật hoặc theo Lệnh của người đứng đầu nhà nước phụ thuộc vào thểchế chính trị, kinh tế - xã hội của từng quốc gia.

1.4 Hình thức của cơ quan nhân quyền quốc gia

Đa số các cơ quan quốc gia có thể được thành lập theo hai dạng chính làcác “Ủy ban Quyền con người” và các “Cơ quan thanh tra Quốc hội” Một sốkhác, ít phổ biến hơn, nhưng không kém phần quan trọng, là các cơ quan quốc gia

“đặc biệt”, có chức năng bảo vệ quyền của những nhóm dễ bị tổn thương cụ thể,chẳng hạn như các dân tộc thiểu số, các dân tộc bản địa, trẻ em, người tỵ nạn hoặc

phụ nữ Dưới đây khái quát một số dạng chính mà đã được thành lập ở nhiều nước

trên thế giới:

1.4.1 Cơ quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman)

Cơ chế Ombudsman xuất hiện đầu tiên tại Nghị viện Thụy Điển vào năm

1809 Thuật ngữ “Ombudsman” có nguồn gốc từ tiếng Thụy Điển, có nghĩa là ngườiđại diện Tại một số quốc gia, Ombudsman tương đương với thanh tra Nhà nước.Ombudsman thường có một bộ máy giúp việc, gọi là Văn phòng Ombudsman

Cơ quan Thanh tra Quốc hội thông thường thuộc nhánh lập pháp, có thể là cánhân hay nhóm người, thường được nghị viện chỉ định dựa trên thẩm quyền hoặcthông qua một nghị quyết Cơ quan này hoạt động với tư cách trung gian trung gianhòa giải giữa cá nhân có quyền bị xâm phạm với chính quyền Thanh tra Quốc hội

có chức năng chủ yếu là giám sát sự công bằng và hợp pháp của bộ máy hành chínhcông Cụ thể, văn phòng Thanh tra Quốc hội có trách nhiệm bảo vệ quyền củanhững người là nạn nhân của những hành vi, quyết định của cơ quan hành pháp

Để đảm bảo hoạt động của cơ quan Thanh tra Quốc Hội có hiệu lực và hiệuquả, khẳng định tính trung thực, khách quan và minh bạch trong việc giải quyết vụviệc, pháp luật của đa số các nước quy định tính chất phi đảng phái chính trị tronghoạt động thanh tra Tổ chức của Thanh tra Quốc Hội có cơ cấu gọn nhẹ khoảng từ

4 - 6 thanh tra viên, gồm có Chủ tịch Thanh tra Quốc hội và các thanh tra viên do

Trang 23

Quốc hội bầu theo nhiệm kỳ nhất định, dài hay ngắn tuỳ thuộc vào mỗi nước, nhưngthông thường khoảng 4 năm Thanh tra viên Quốc hội phải là người có trình độ,năng lực và phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ cao, có kiến thức pháp luật, am hiểuthực tiễn, có thâm niên công tác trong hoạt động pháp luật như đã là thẩm phán Toà

án tối cao, đã là luật sư hoặc đã công tác ở một số cơ quan hành chính nhà nước

Quy trình hoạt động của Thanh tra Quốc hội ở các quốc gia tương đối giốngnhau Thủ tục hoạt động của họ là tiếp nhận đơn khiếu tố và tiến hành điều tra trongphạm vi thẩm quyền Thông thường trong quá trình điều tra, Thanh tra Quốc hộiđược tiếp cận hồ sơ của các cơ quan công quyền có liên quan, sau đó, Thanh traQuốc hội sẽ đưa ra một tuyên bố có tính chất khuyến nghị về vấn đề Tuyên bố nàyđược chuyển cho những người khiếu tố cũng như cho cơ quan công quyền bị khiếu

tố Nếu không được tiếp thu thì Thanh tra Quốc hội có thể đệ trình lên cơ quan lậppháp một báo cáo cụ thể Đây sẽ là phần bổ sung cho bản báo cáo hàng năm lên cơquan lập pháp, trong đó bao gồm thông tin về vấn đề đã được xác định và những đềnghị sửa đổi về lập pháp và hành pháp

Khi một công dân cho là mình bị vi phạm các quyền thì có thể gửi khiếu tốlên Thanh tra Quốc hội Việc tiếp cận với Thanh tra Quốc hội ở mỗi quốc gia làkhác nhau Tại nhiều quốc gia, các cá nhân có thể gửi khiếu tố trực tiếp đến vănphòng Thanh tra Quốc hội Tại nhiều nước khác, đơn khiếu tố được trình thông qua

cơ quan trung gian, ví dụ như qua các đại biểu Quốc hội Các đơn khiếu tố thườngđược giữ bí mật danh tính, chỉ công khai khi có sự đồng ý của người khiếu tố.Nhiều quốc gia yêu cầu trước khi gửi đơn lên Thanh tra Quốc hội, người khiếu tốphải sử dụng tất cả những biện pháp pháp lý có thể để giải quyết vấn đề nhưng chưađược thỏa mãn Thủ tục này cũng có thể làm giới hạn thời gian giải quyết khiếu tố

và thông thường khi thẩm quyền của Thanh tra Quốc hội được mở rộng tới tất cảcác vấn đề của hành chính công thì họ vẫn chưa được trao quyền xem xét các khiếu

tố liên quan đến tổng thống, các bộ trưởng hoặc các thẩm phán Không chỉ giảiquyết các vụ việc khi được yêu cầu, giống như các ủy ban quyền con người quốcgia, ở nhiều nước, Thanh tra Quốc hội còn có thẩm quyền chủ động tiến hành điều

Trang 24

tra những vi phạm quyền con người trên phạm vi rộng hoặc thu hút sự quan tâm lớncủa công chúng hoặc các vấn đề liên quan đến quyền của nhóm mà thường không

có cá nhân nào đứng ra khiếu tố

1.4.2 Ủy ban nhân quyền quốc gia (National Human Rights Commission/Committee)

Là tổ chức so với mô hình Thanh tra Quốc hội ra đời muộn hơn, vào khoảnggiữa thập kỷ 80 trở lại đây Tại nhiều quốc gia, các Ủy ban đặc biệt được thiết lập

để bảo đảm rằng các đạo luật và quy định có liên quan đến bảo vệ quyền con ngườiđược thực thi một cách có hiệu quả Ủy ban nhân quyền quốc gia thông thườngthuộc nhánh hành pháp, có chức năng độc lập với các cơ quan khác thuộc chínhphủ, mặc dù chúng có thể được yêu cầu thường xuyên báo cáo lên cơ quan lập pháp.Thông thường, cơ quan này bao gồm nhiều thành viên với chuyên môn khác nhau

và đại diện cho các nhóm xã hội nghề nghiệp khác nhau nhưng mỗi thành viên đều

có mối quan tâm và kinh nghiệm hoạt động trên lĩnh vực quyền con người Mỗiquốc gia có thể có những yêu cầu hoặc giới hạn cụ thể cho việc tuyển lựa các thànhviên, chẳng hạn như định mức về số lượng đại biểu hoặc ứng cử viên cho cácchuyên ngành khác nhau, cho các đảng chính trị hoặc các địa phương Tên gọi củathiết chế này có thể khác nhau giữa các nước, ví dụ như Ủy ban/Trung tâm quyềncon người quốc gia, Ủy ban quyền con người và bình đẳng….Cơ sở pháp lý choviệc thành lập và hoạt động của thiết chế này cũng khác nhau giữa các nước ví dụnhư có thể được quy định trong Hiến pháp, bằng một đạo luật cụ thể, bởi một nghịquyết của Nghị viện, hoặc theo một quyết định của Tổng thống

Ủy ban chủ yếu quan tâm tới việc bảo vệ công dân chống lại sự phân biệt đối

xử, bảo vệ các quyền dân sự và các quyền con người cơ bản khác đặc biệt là quyềncủa các nhóm xã hội dễ bị xâm hại hoặc phân biệt đối xử như phụ nữ, trẻ em, ngườithiểu số, người bản địa… Có những ủy ban được giao thẩm quyền xử lý tất cả viphạm các quyền được nêu lên trong Hiến pháp, trong khi một số khác chỉ có thẩmquyền xử lý những vi phạm về chủng tộc, tôn giáo, giới, quan điểm chính trị… Bêncạnh đó, cơ quan này có quyền tiếp nhận và điều tra về những khiếu tố mang tínhchất cá nhân (và đôi khi là của các nhóm) về những hành vi vi phạm các quyền con

Trang 25

người đã được ghi nhận trong pháp luật quốc gia Dù ít khi được sử dụng, nhữngquyền này có ý nghĩa quan trọng, nó bảo đảm khả năng chống lại việc bất hợp táccủa một cá nhân hoặc cơ quan bị cáo buộc Trong khi giữa các Ủy ban về Quyềncon người có sự khác nhau đáng kể về thủ tục điều tra và giải quyết những khiếu tố,thì nhiều Ủy ban cùng áp dụng hai thủ tục là hòa giải và trọng tài Trong quá trìnhhòa giải, các Ủy ban cố gắng đưa hai bên lại gần nhau để tìm ra giải pháp làm hàilòng cả hai bên Nếu như việc hòa giải thất bại, các Ủy ban có thể sử dụng thủ tụctrọng tài, với thủ tục này, sau khi nghiên cứu tình huống, trọng tài sẽ ra quyết định

về vụ việc Cũng không phải lúc nào các Ủy ban cũng có thể đạt được một kết quả

có giá trị pháp lý ràng buộc cả hai bên trong vụ khiếu tố, tuy nhiên, điều đó không

có nghĩa là việc giải quyết hoặc các bước giải quyết thích hợp do Ủy ban đề ra cóthể bị phớt lờ Trong một số trường hợp, các tòa án đặc biệt sẽ xét xử và quyết địnhvấn đề tồn tại của những vụ khiếu tố mà Ủy ban chưa giải quyết được Nếu không

có tòa án đặc biệt nào như vậy được thiết lập, Ủy ban có thể chuyển vụ việc đó tớimột tòa án bình thường để có được quyết định pháp lý cuối cùng

Một chức năng khác cũng quan trọng không kém đó là việc xem xét, hệthống hóa và giám sát những chính sách về quyền con người của chính phủ, từ đótìm ra hạn chế và đề xuất cách thức sửa đổi, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ trong việc bảo

vệ quyền con người

Các ủy ban cũng có thể được giao quyền giám sát hoạt động của các cơ quannhà nước trong việc tuân thủ pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền con người Khảnăng của Ủy ban được nhân danh mình đưa ra những yêu cầu là một biện pháp quantrọng thể hiện sự lớn mạnh và tính hiệu quả của nó Điều này đặc biệt đúng trongtình huống liên quan đến những cá nhân và nhóm không có nguồn lực tài chínhhoặc xã hội để theo đuổi các vụ khiếu tố cá nhân

Việc thực hiện các quyền con người không thể chỉ đạt được bằng con đườngduy nhất là thông qua hoạt động lập pháp và hành pháp Thực tế cho thấy rằng, các

Ủy ban thường được tin tưởng trao trách nhiệm quan trọng là thúc đẩy nhận thức củacộng đồng về các quyền của con người Việc thúc đẩy và giáo dục về quyền con

Trang 26

người biểu hiện công khai về các chức năng và mục đích của các Ủy ban; trong đó cóviệc tổ chức thảo luận về những vấn đề quan trọng khác nhau trên lĩnh vực quyền conngười; tổ chức các cuộc hội thảo; tổ chức các dịch vụ tư vấn và các cuộc họp; cũngnhư xuất bản và phân phát các ấn phẩm về quyền con người [4, tr380-381]

So với mô hình Thanh tra Quốc hội, cơ cấu bộ máy của Uỷ ban Nhân quyềnthường lớn hơn, tương đương một bộ trong cơ quan nhà nước Trong tổ chức của

Uỷ ban có các bộ phận cấu thành như có thể có các tiểu ban đặc trách về một vấn đềnào đó Ngoài ra, Uỷ ban của một số nước có các bộ phận chuyên trách như về dântộc thiểu số, về phụ nữ, trẻ em, người bản xứ, nhập cư Do tính chất hoạt động của

Uỷ ban đòi hỏi tính hiệu quả, nên tiêu chuẩn thành viên của Uỷ ban, cũng giốngthanh tra viên Quốc hội phải là những người có phẩm chất, chuyên môn cao, cókinh nghiệm hoạt động thực tiễn, nhất là kinh nghiệm, kiến thức về pháp luật vàquyền con người, nên Chủ tịch và các thành viên Uỷ ban thường đã là Chánh ánhoặc Thẩm phán Toà án tối cao, Toà án cao cấp

1.4.3 Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền cụ thể (Specialized Institutions) và Mô hình Trung tâm Nhân quyền (Centre for Human rights) hay Viện Nhân quyền (Inntitute For Human Rights)

1.4.3.1 Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền cụ thể (Specialized Institutions)

Các nhóm thiểu số và dễ bị tổn thương là khác nhau ở các quốc gia, nhưngvấn đề thông thường nhất tác động tới họ là sự phân biệt đối xử Các cộng đồng màthông thường đã được các chính phủ thừa nhận là cần có những cơ quan đặc biệt vềquyền con người để bảo vệ những lợi ích cho các thành viên cộng đồng đó bao gồmnhững người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, người bản địa,người nước ngoài, người nhập cư, người di cư, người tị nạn, trẻ em, phụ nữ, ngườinghèo và người tàn tật

Cơ quan chuyên trách về nhân quyền nhìn chung được thiết lập để thúc đẩycác chính phủ và chính sách xã hội nhằm tạo ra sự bảo vệ và thúc đẩy cho nhữngnhóm người cụ thể Phần lớn những cơ quan này có chức năng và nhiệm vụ tương

Trang 27

tự nhưng kém cụ thể hơn so với hai mô hình trên Chủ yếu họ được ủy quyền điềutra về phân biệt đối xử với các cá nhân trong nhóm hoặc chống lại cả nhóm thiểu số

về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo Trong khi thông thường các cơ quan này có thểđiều tra những khiếu tố do một cá nhân của nhóm về một hành động của một cánhân khác hoặc về hành động của một cơ quan chính phủ, những cơ quan đặc biệtnày giống như các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người,chúng cũng ít khi được trao quyền đưa ra những quyết định mang tính ràng buộchay đề xuất những hành động về mặt pháp lý

Cùng với việc cung cấp tài liệu trợ giúp tư vấn cho các cá nhân và các nhóm,những cơ quan đặc biệt thông thường có trách nhiệm giám sát tính hiệu quả củapháp luật hiện hành và các quy tắc hiến pháp liên quan đến nhóm đó Với hình thứcnày, họ thường xuyên làm việc như là các nhà tư vấn và cố vấn cho các nghị viện vàcác cơ quan hành pháp của chính phủ [2, tr348]

1.4.3.2 Mô hình Trung tâm Nhân quyền (Centre for Human rights) hay Viện Nhân quyền (Inntitute For Human Rights)

Ngoài hai mô hình chính là Uỷ ban Nhân quyền và Thanh tra Quốc hội, còn

có cơ quan với tên gọi khác là Trung tâm Nhân quyền hay Viện Nhân quyền So với

mô hình Thanh tra Quốc hội hay Uỷ ban Nhân quyền, mô hình Trungtâm nhân quyền hay Viện Nhân quyền được thành lập theo một đạo luật do Quốc hộiban hành, đến nay không nhiều, mà mô hình Trung tâm Nhân quyền chủ yếu là tổchức phi chính phủ, thường được thành lập trong trường đại học hoặc viện nghiêncứu

1.5 Vai trò của cơ quan nhân quyền quốc gia

Trong nội dung của nguyên tắc Paris, chức năng của cơ quan nhân quyền

quốc gia được nhắc đến với từ “trách nhiệm” (responsibility), có nghĩa là “bảo vệ và

thúc đẩy nhân quyền”, trong đó:

 Thúc đẩy tức là tạo ra nền văn hóa nhân quyền ở quốc gia, nơi con ngườibình đẳng và tôn trọng lẫn nhau;

 Bảo vệ tức là giúp đỡ và xác định, điều tra những vi phạm về nhân quyền,

Trang 28

đưa những vi phạm đó ra trước công lý, khắc phục và bồi thường tổn hại.

Cơ quan nhân quyền quốc gia còn là cầu nối về mặt hợp tác trong lĩnh vựcnhân quyền giữa các tổ chức quốc tế và quốc gia được thành lập trên lĩnh vực này.Nói cách khác, cơ quan nhân quyền quốc gia góp phần thúc đẩy thực thi các côngước nhân quyền quốc tế ở cấp độ quốc gia, thông qua việc áp dụng các công ướcnày vào thực tế, đồng thời xác định những thách thức, cản trở và kiến nghị lên cácchính phủ những biện pháp, cách thức để giải quyết những thách thức, cản trở đó

Vai trò của các cơ quan nhân quyền quốc gia trên thực tế cũng đã được xácđịnh trong hai công ước về nhân quyền cơ bản năm 1966 của Liên hợp quốc: Côngước về quyền dân sự - chính trị (ICCPR) và Công ước về quyền kinh tế - văn hóa –

xã hội (ICESCR) Trong cả hai công ước này, Liên hợp quốc đã quy định việc thànhlập những ủy ban hay cơ quan nhân quyền để giám sát và hỗ trợ thực hiện công ước.Đến năm 1993, đại diện của các quốc gia thành viên tham gia Hội nghị thế giới vềnhân quyền lần thứ hai đã một lần nữa khẳng định vai trò tư vấn của cơ quan nhânquyền quốc gia cho các cơ quan có thẩm quyền thuộc Chính phủ trong việc khắcphục những vi phạm về nhân quyền; cũng như trong việc tuyên truyền, phổ biếnthông tin về quyền con người ở các quốc gia

Nói tóm lại, chức năng của các cơ quan nhân quyền quốc gia là bảo vệ

và thúc đẩy quyền con người một cách hiệu quả, thể hiện qua những hoạt động

cụ thể sau đây:

 Trình lên Chính phủ, Quốc hội và bất cứ cơ quan có thẩm quyền nào khác,trên cơ sở tham vấn theo yêu cầu của các cơ quan liên quan hay thực thi quyền đượcnghe một vấn đề mà không trình báo hay đưa ý kiến hay kiến nghị, đề xuất và báocáo về bất cứ vấn đề gì liên quan đến thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; cơ quan quốcgia có thể quyết định công bố những thông tin này; những ý kiến, kiến nghị, đề xuất

và báo cáo này, cũng như bất cứ quyền nào khác của một cơ quan quốc gia, sẽ liênquan đến những lĩnh vực dưới đây:

- Bất cứ điều khoản lập pháp hay hành pháp nào, cũng như các điều khoảnliên quan tới tổ chức tư pháp, với mục đích duy trì và mở rộng việc bảo vệ nhân

Trang 29

quyền; trong mối quan hệ này, cơ quan quốc gia sẽ kiểm tra các điều khoản lậppháp và hành pháp đang có hiệu lực cũng như là các dự thảo và khuyến nghị luậtkhác, và đưa ra đề xuất mà nó cho là hợp lý để đảm bảo cho những điều khoản trêntuân theo những nguyên tắc cơ bản của nhân quyền; nếu cần thiết thì cơ quan quốcgia sẽ đề xuất việc áp dụng luật mới, chỉnh sửa luật hiện hành và áp dụng hay điềuchỉnh các biện pháp hành pháp;

- Bất cứ trường hợp vi phạm nhân quyền nào mà nó quyết định tham gia vào;

- Chuẩn bị báo cáo về tình hình quốc gia liên quan đến nhân quyền nói chung

và những vấn đề cụ thể hơn;

- Lưu ý chính phủ về tình trạng nhân quyền bị vi phạm ở bất cứ khu vực nàotrong nước và đề xuất các biện pháp chấm dứt tình trạng đó, khi cần thiết có thể bày

tỏ ý kiến về quan điểm và phản ứng của chính phủ;

 Thúc đẩy và đảm bảo sự hài hòa giữa pháp luật, quy định và thực tiễn thihành của quốc gia với các văn kiện nhân quyền quốc tế mà quốc gia đó là thànhviên, và việc thực thi có hiệu quả những văn kiện này;

 Khuyến khích phê chuẩn những văn kiện kể trên hay tiếp cận với nhữngvăn kiện này và bảo đảm việc áp dụng chúng;

 Đóng góp vào các báo cáo mà quốc gia được yêu cầu nộp cho các cơ quan

và ủy ban của Liên hợp quốc, cũng như đóng góp vào các cơ quan khu vực theonghĩa vụ ghi trong các điều ước, khi cần thiết có thể đưa ra ý kiến về vấn đề này,trên cơ sở tôn trọng thích đáng sự độc lập của các cơ quan đó;

 Hợp tác với Liên Hợp Quốc hay bất cứ tổ chức nào khác trong hệ thốngLiên Hợp Quốc, với các cơ quan khu vực và cơ quan quốc gia của các quốc giakhác có thẩm quyền trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền;

 Trợ giúp xây dựng các chương trình đào tạo và nghiên cứu nhân quyền,tham gia vào việc thực hiện các chương trình đó ở trường phổ thông, đại học, haycác cơ quan chuyên môn khác;

 Phổ cập nhân quyền và những nỗ lực chống mọi hình thức phân biệt đối

xử, nhất là phân biệt củng tộc, bằng cách nâng cao nhận thức công chúng, đặc biệt

Trang 30

là thông qua thông tin, giáo dục và qua các cơ quan ngôn luận [22]

 Cơ quan nhân quyền quốc gia cũng là cơ quan thường xuyên được traotrách nhiệm hỗ trợ củng cố hoặc xây dựng hòa bình bằng việc đưa ra ý kiến trongcác tình huống xung đột và sau xung đột Cuối cùng, cơ quan nhân quyền quốc gia

có một vai trò mới nổi và đang phát triển đó là thực hiện giám sát và công nhậnvai trò quan trọng có liên quan đến nhân quyền của khu vực tư nhân trong nềnkinh tế quốc gia

 Hiện nay, tại một số quốc gia, cơ quan nhân quyền quốc gia còn hoạt độngnhư một kho lưu trữ quốc gia những tài liệu về nhân quyền và các văn bản khác có

ý nghĩa lớn đối với nhân quyền Phạm vi có thể là lưu trữ nội bộ hoặc chia thành cáctrung tâm tài liệu với hệ thống thu thập và phân loại dữ liệu tỉ mỉ, không chỉ cho cácmục đích nội bộ mà còn cho việc tham khảo, nghiên cứu của các sinh viên, luật sư,các tổ chức phi chính phủ và công chúng nói chung

1.6 Thành viên của cơ quan nhân quyền quốc gia

Cơ cấu của cơ quan quốc gia và việc bổ nhiệm các thành viên của nó, dù quacon đường bầu cử hay cách khác, cũng sẽ được thiết lập phù hợp với một tiến trìnhcho phép những bảo đảm cần thiết cho đa nguyên đại diện của tất cả lực lượng xãhội (của xã hội dân sự) tham gia vào việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, cụ thể làthông qua quyền thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả để thiết lập hay thông qua sự xuấthiện, sự đại diện của:

 Các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực nhân quyền và nỗ lực chống phânbiệt chủng tộc, các tổ chức nghiệp đoàn, các tổ chức xã hội và nghề nghiệp liên quan,

ví dụ như các hiệp hội luật sư, bác sỹ, phóng viên và các nhà khoa học tên tuổi;

 Các xu thế tư tưởng triết học hay tôn giáo;

 Các trường đại học và chuyên ngành có trình độ;

Trang 31

gia, mà nếu không có điều này thì sẽ không có độc lập thực sự, việc bổ nhiệm họ sẽbằng quyết định chính thức ghi rõ thời hạn cụ thể cho thẩm quyền được giao phó.Một người có thể thực hiện cùng một thẩm quyền trong nhiều nhiệm kỳ, miễn là sự

đa dạng trong cơ cấu thành viên của cơ quan được đảm bảo Bên cạnh đó, phươngpháp, tiêu chuẩn bổ nhiệm cũng nên được quy định chi tiết nhằm đảm bảo tính độclập của cơ quan nhân quyền quốc gia [22]

1.7 Phương pháp hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia

Trong khuôn khổ hoạt động của mình, cơ quan nhân quyền quốc gia sẽ:

 Xem xét bất cứ vấn đề nào trong thẩm quyền theo yêu cầu từ cơ quan nhànước hay từ bên khiếu kiện hoặc tự mình điều tra

 Tiếp nhận bất cứ thông tin và tài liệu nào cần thiết để đánh giá tình huốngtrong thẩm quyền của cơ quan;

 Trả lời các ý kiến của công chúng một cách trực tiếp hay thông qua một cơquan ngôn luận nào đó, đặc biệt là trong trường hợp muốn công khai ý kiến vàkhuyến nghị của cơ quan;

 Tổ chức các cuộc họp thường xuyên và bất thường;

 Thành lập các nhóm công tác gồm các thành viên khi cần thiết, và thiết lậpcác tiểu ban vùng và khu vực để hỗ trợ cơ quan quốc gia thực hiện chức năng của nó;

 Duy trì tham vấn với các cơ quan khác chịu trách nhiệm thúc đẩy và bảo

vệ nhân quyền, như cơ quan xét xử hay cơ quan khác (đặc biệt là thanh tra viên, nhàhòa giải và những cơ quan tương tự);

 Xây dựng mối quan hệ với các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnhvực thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, phát triển kinh tế và xã hội, chống lại phân biệtchủng tộc, bảo vệ những nhóm người dễ bị tổn thương (đặc biệt là trẻ em, người laođộng di cư, người tỵ nạn, người khuyết tật về thể chất và tinh thần) hoặc những lĩnhvực đặc biệt khác

Đối với cơ quan nhân quyền quốc gia là Ủy ban có thẩm quyền bán tư phápcòn có thẩm quyền tiếp nhận và xem xét các đơn từ khiếu nại và kiến nghị liên quanđến những tình huống cụ thể Những vụ việc này có thể được gửi lên bởi các cá

Trang 32

nhân, người đại diện của họ, các bên thứ ba, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hộicủa nghiệp đoàn, hay bất kỳ tổ chức đại diện nào khác Trong những tình huống nhưvậy, và trong trường hợp không đi ngược lại các quy tắc được kể đến ở trên liênquan đến thẩm quyền của các ủy ban, thì những chức năng được giao phó cho các

ủy ban này có thể dựa trên các nguyên tắc dưới đây:

 Tìm kiếm giải pháp hòa giải thông qua thương lượng hay, trong giới hạnluật định, qua những quyết định mang tính ràng buộc hoặc khi cần thiết theo nguyêntắc bí mật;

 Thông báo cho nguyên đơn về các quyền của họ, đặc biệt là về các phươngthức giải quyết mà họ có, hỗ trợ họ tiếp cận các phương thức đó;

 Giải quyết bất kỳ đơn thư khiếu nại hay kiến nghị hoặc chuyển chúng tới

cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi luật định;

 Đưa ra kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là thông qua đềxuất sửa đổi, cải cách luật pháp, các quy định hay thông lệ hành chính, đặc biệt lànếu chúng gây khó khăn cho những người khiếu kiện trong việc bảo đảm các quyềncủa họ.[22]

Trang 33

Chương 2

THỰC TRẠNG CƠ QUAN NHÂN QUYỀN QUỐC GIA

TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Thời gian thành lập

Xét chung, phần lớn các NHRIs trên thế giới mới được thành lập từ sau thập

kỷ 1990 (xem biểu đồ dưới đây):

Biểu 2.1: Việc thành lập các cơ quan quốc gia về nhân quyền trên thế giới

(từ 1970-2009) [21, p8]

Từ biểu đồ trên có thể thấy, trước năm 1990, chỉ có một số lượng rất ítNHRIs được thành lập Trong thập kỷ 1990, số lượng các cơ quan này tăng vọt,nhiều nhất tại châu Phi rồi đến châu Âu Thời điểm này, khu vực châu Á – TháiBình Dương có rất ít NHRIs được hình thành, không cao hơn bao nhiêu so với thờigian trước, số lượng cơ quan tại các nước thuộc khu vực này chỉ bằng khoảng 1/3 sovới khu vực châu Mỹ, 1/4 so với châu Âu và với châu Phi còn ít hơn nữa

Kể từ năm 2000 cho tới thời điểm khảo sát (2009), châu Âu lại trở thành nơi

có nhiều NHRIs được thành lập nhất, châu Á – Thái Bình Dương cũng có sự tăngđột biến về số lượng, còn các khu vực châu Mỹ lại có sự sụt giảm rõ rệt

Bên cạnh đó, một số quốc gia được phỏng vấn cho biết cơ quan nhân quyềnquốc gia của họ được thành lập sau Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 hoặc

Trang 34

từ các hội thảo, thỏa thuận, cam kết của quốc gia đó với Liên Hợp quốc Một sốkhác được thành lập từ một thỏa thuận hòa bình hoặc chuyển giao quyền lực sauxung đột quốc gia đó Ngoài ra, cải cách Hiến pháp cũng là một yếu tố thúc đẩyviệc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia.

2.2 Hình thức tổ chức

Biểu 2.2: Tỷ lệ các dạng cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới [21, p9]

Từ biểu trên, có thể thấy đa số NHRIs được thành lập dưới dạng Ủy bannhân quyền quốc gia (Commission - 58%), tỷ lệ thành lập dưới hình thức Thanh traQuốc hội cũng khá cao (Ombudsman - 30%), chỉ có một tỷ lệ nhỏ được thành lậpdưới dạng thức khác (Hybrid - 7%) hoặc theo cách thức hỗn hợp (Other - 5%).Trong đó, mô hình Thanh tra Quốc hội tập trung chủ yếu ở châu Mỹ, Đông Âu.Châu Âu là khu vực duy nhất tồn tại mô hình cơ quan nhân quyền khác như tổ chứchoặc trung tâm nhân quyền bên cạnh mô hình ủy ban nhân quyền Ngoài ra, ChâuPhi và châu Á – Thái Bình Dương lại lựa chọn chủ yếu mô hình ủy ban nhân quyền

2.3 Thẩm quyền

Theo khảo sát, 58/61 NHRIs được khảo sát có thẩm quyền trên toàn lãnh thổ;4/61 chỉ có thẩm quyền giới hạn ở một số khu vực; hầu như tất cả có thẩm quyềnvới mọi cá nhân, bất kể vị thế công dân; 4/61 có thẩm quyền vượt ra khỏi quốc gia

(extra-territorial jurisdiction) để bảo vệ công dân ở nước ngoài; 40% không phải là

NHRIs duy nhất ở quốc gia đó (có thêm các NHRIs thuộc những hình thức khác,

Trang 35

hoặc ở cấp địa phương…).[21, p9-10]

2.4 Thành viên

2.4.1 Thành phần

Thành phần các ủy viên của NHRIs: Nhìn chung, các NHRIs trên thế giới

bao gồm đại diện của các tổ chức phi chính phủ, công đoàn, chuyên gia pháp luật,chuyên gia y tế, học giả - nhà nghiên cứu, nghị sĩ và đại diện của các cơ quan chínhphủ có thẩm quyền liên quan

Biểu 2.3: Thành phần của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới [20, p11]

Biểu trên cho thấy số lượng các chuyên gia pháp luật, đại diện các tổ chứcphi chính phủ và các học giả chiếm số đông trong thành phần của NHRIs tại tất cảcác khu vực Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ở mọi quốc gia, cơ quan vềnhân quyền chỉ có những dạng thành viên trên Tùy vào điều kiện và quy định ởmỗi nước mà thành phần này có thể đơn giản hay đa dạng hơn Điều này là hợp lýbởi các chuyên gia pháp luật, học giả là những người có kiến thức chuyên sâu vềpháp luật nhân quyền sẽ thực hiện tốt nhất vai trò thúc đẩy và bảo vệ nhân quyềncủa cơ quan nhân quyền quốc gia còn tổ chức phi chính phủ là tiếng nói đại diệncho các nhóm xã hội nhằm đảm bảo tính dễ tiếp cận của cơ quan này

2.4.2 Việc đề cử thành viên các NHRIs

Ở các khu vực khác nhau, việc đề cử người tham gia các NHRIs ít nhiều có

sự khác nhau Tuy nhiên, xét chung ở tất cả các khu vực, việc này thường do một số

cơ quan sau đây thực hiện (tính từ trái sang phải trong biểu dưới đây): người đứng

Trang 36

đầu nhà nước; Quốc hội; Tòa án; các tổ chức xã hội dân sự; tự ứng cử Ngoài ra,trong một số trường hợp, thành viên của các NHRIs còn được đề cử theo cách khác.

Biểu 2.4: Việc đề cử thành viên của cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới [21, p13]

Từ biểu trên cho thấy việc đề cử thành viên của cơ quan nhân quyền quốc giachủ chủ yếu từ quốc hội, xã hội dân sự và tự ứng cử Những cơ quan nhà nước khácnhư Tòa án hoặc người đứng đầu nhà nước chiếm tỷ lệ thấp do sự tham gia củanhững cơ quan này vào quá trình đề cử thành viên sẽ ảnh hưởng đến tính độc lậpcủa cơ quan nhân quyền

2.4.3 Nhiệm kỳ của các thành viên NHRIs

Ở các quốc gia khác nhau, nhiệm kỳ hoạt động của các ủy viên NHRIs ítnhiều khác nhau Tuy nhiên, xét chung, nhiệm kỳ được xác định trong khoảng 2-7năm, trong đó các nhiệm kỳ 5, 3 và 4 năm mang tính phổ biến nhất

Trang 37

Biểu 2.5: Nhiệm kỳ của các thành viên cơ quan nhân quyền quốc gia

trên thế giới [21, p14]

2.4.4 Số lượng cán bộ giúp việc

Tại các cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới, số lượng cán bộ giúp việcđược quy định khác nhau, tối đa có thể lên đến hơn 200 người, tuy nhiên, phổ biến

là dưới 50 cán bộ

Biểu 2.6: Số lượng cán bộ giúp việc của cơ quan nhân quyền quốc gia

trên thế giới [21, p19]

2.5 Tự chủ và tính độc lập trong hoạt động và nguồn tài chính

Tự chủ và độc lập trong hoạt động và nguồn tài chính của cơ quan nhân quyềnquốc gia là một yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo tính hợp pháp và uy tín của cơquan này Về hoạt động, 70% trong số 61 NHRIs được khảo sát rất tự chủ về hoạtđộng Trong đó, 40,9% chịu sự quản lý hành chính của một cơ quan hành chính(Châu Phi và Châu Âu chiếm tỷ lệ cao nhất), 27,8% chịu sự quản lý hành chính từQuốc hội (Châu Á chiếm tỷ lệ cao nhất), 26,2% cơ quan nhân quyền quốc gia đượckhảo sát không chịu sự quản lý hành chính của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào (Châu Mỹchiếm tỷ lệ cao nhất) Tuy nhiên, tầm ảnh hưởng của các cơ quan trên đối với hoạtđộng của cơ quan nhân quyền quốc gia không đáng kể: 50.8% cơ quan nhân quyềnquốc gia được khảo sát không chịu ảnh hưởng hoặc rất ít (Châu Mỹ chiếm tỷ lệ caonhất), 13,1% chịu ảnh hưởng trung bình, 8% chịu ảnh hưởng lớn (Châu Phi chiếm tỷ

Trang 38

lệ cao nhất) Có thể thấy rằng, tự chủ về mặt cơ cấu tổ chức của cơ quan nhân quyềnquốc gia là yếu tố quan trọng đảm bảo tính độc lập của cơ quan này [21, p15]

Về tài chính, gần 50% thiếu kinh phí hoạt động Đa số nhận hỗ trợ toàn bộkinh phí từ nhà nước (67%) Hầu hết các cơ quan nhân quyền quốc gia được tự chủ

sử dụng ngân sách được cấp (85%), 24,5 % phải báo cáo tình hình tài chính tớiQuốc hội, số còn lại chịu sự chi phối trong việc sử dụng ngân sách từ phía cơ quanhành chính Trong số đó, 47% chịu ảnh hưởng từ các cơ quan nhà nước trên trongviệc sử dụng ngân sách Có thể thấy rằng, vấn đề ngân sách không đảm bảo hoạtđộng và không tự chủ trong việc sử dụng ngân sách là một yếu tố ảnh hưởng đếntính độc lập của cơ quan nhân quyền quốc gia [21, p15-18]

2.6 Khả năng tiếp cận của công chúng

Nhìn chung, công chúng có thể tiếp cận với các NHRIs thông qua nhiều cáchthức khác nhau, cụ thể như qua điện thoại (phone), thư tín (post), thư điện tử(email), trang web (website) Ở các khu vực khác nhau, khả năng tiếp cận của côngchúng theo từng loại hình đã nêu có sự khác nhau Tuy nhiên, xét chung, khả năngtiếp cận các NHRIs ở châu Âu là cao nhất (trên tất cả các loại hình, mức đánh giáđều là cao hoặc rất cao, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là trung bình) Ở châu Mỹ xếp thứ hai(chỉ riêng việc tiếp cận thông qua email với một số NHRIs ở khu vực bị đánh giáthấp, còn lại đều được xếp loại cao và rất cao) Các NHRIs ở châu Phi và châu Á-Thái Bình Dương rõ ràng tụt hậu hơn so với ở hai châu lục đề cập trước, vì ở tất cảcác loại hình đều tồn tại một tỷ lệ bị đánh giá thấp và rất thấp

Trang 39

Biểu 2.7: Việc tiếp cận với cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới [21, p23]

Trang 40

Theo sáng kiến của NHRIs

Theo cả hai hình thức

Bất kỳ quy định pháp luật hay

quyết định hành chính nào 10 (16.3%) 22 (36%) 37 (60.6%)Các quy định, quyết định của các

cơ quan tư pháp 5 (8.1%) 22 (36%) 25 (40.9%)Các đạo luật và dự thảo luật 4 (6.6%) 21 (34.4%) 34 (55.7%)Việc thông qua một văn bản pháp

Việc sửa đổi một văn bản pháp luật

đang có hiệu lực 3 (5%) 26 (42.6%) 31 (50.8%)Việc đưa ra hoặc thay đổi các biện

pháp hành chính đang có hiệu lực 3 (5%) 25 (40.9%) 28 (45.9%)Báo cáo về tình hình nhân quyền

của quốc gia hoặc về các vấn đề cụ

thể khác

0 (0%) 27 (44.2%) 31 (50.8%)

Báo cáo về những vi phạm nhân

quyền mà cơ quan sẽ thụ lý giải

quyết

2 (3.3%) 31 (50.8%) 25 (40.9%)

Công bố những quan điểm, khuyến

2.7.2 Thúc đẩy việc thực hiện nhân quyền tại quốc gia [21, p25]

Ngày đăng: 01/04/2020, 20:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2011), Giáo trình lý luận và pháp luận về quyền con người. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luận về quyền con người
Tác giả: GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nhàxuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. GS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Phạm Hồng Thái (đồng chủ biên) (2012), Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN , NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN
Tác giả: GS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Phạm Hồng Thái (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao động –xã hội
Năm: 2012
7. TS. Vũ Công Giao, ”Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiến pháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan nhân quyền quốc gia, vị trí của nó trong Hiếnpháp trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam”
8. TS. Vũ Công Giao, Lê Anh Tuấn (2012), ”Cơ quan nhân quyền quốc gia trên thế giới”, Tạp chí nhân quyền Việt Nam, (7), tr. 48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan nhân quyền quốc gia trênthế giới”
Tác giả: TS. Vũ Công Giao, Lê Anh Tuấn
Năm: 2012
9. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (2002), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (2002)
Tác giả: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Nhà XB: NXBChính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội) (2007), Quyền con người – Tập tài liệu chuyên đề của Liên hợp quốc 2007, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người – Tập tài liệu chuyênđề của Liên hợp quốc
Tác giả: Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội)
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
11. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Kỷ yếu Hội thảo về “Cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo về “Cơ quanquốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
12. Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2012), ”Kỷ yếu hội thảo – Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Đề xuất và lập luận”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo – Sửa đổi, bổsung Hiến pháp 1992: Đề xuất và lập luận
Tác giả: Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
13. PGS.TS Tường Duy Kiên (2009), “Mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ở một số nước và suy nghĩ về cơ chế bảo đảm quyền con người ở nước ta”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (15), tr. 88-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ởmột số nước và suy nghĩ về cơ chế bảo đảm quyền con người ở nước ta”, "Tạpchí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: PGS.TS Tường Duy Kiên
Năm: 2009
16. Bùi Bích Phương (2012), Cơ quan quốc gia về nhân quyền trên thế giới và triển vọng thiết lập ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan quốc gia về nhân quyền trên thế giới vàtriển vọng thiết lập ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Bích Phương
Năm: 2012
17. Brian Burdekin, assisted by Jason Naum (2005), National Human rights institutions in the Asia – Pacific Region, Martinus NIJHOFF Publisher, Boston Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Human rightsinstitutions in the Asia – Pacific Region
Tác giả: Brian Burdekin, assisted by Jason Naum
Năm: 2005
20. International Council on Human Rights Policy (2000), Performance &legitimacy: National human rights institutions, (tại http://www.nhri.net/default) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Performance &"legitimacy: National human rights institutions
Tác giả: International Council on Human Rights Policy
Năm: 2000
21. OHCHR (2009), Survey on NHRIs: Report on the Findings and Recommendation of a Questionnaire Addressed to NHRIs Worldwide, (tại http://www.ohchr.org/EN/Countries/NHRI/Pages/NHRIMain.aspx) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey on NHRIs: Report on the Findings andRecommendation of a Questionnaire Addressed to NHRIs Worldwide
Tác giả: OHCHR
Năm: 2009
14. Mấy suy nghĩ về vấn đề kiểm soát cơ quan hành chính nhà nước với mục đích bảo đảm quyền công dân. Nguồn: http://www.hcmulaw.edu.vn Link
15. Mô hình Ủy ban Dân nguyện của Quốc hội Cộng hoà Liên bang Đức. Nguồn:http://luathoc.cafeluat.com Link
22. Paris Principles on National institutions for the promotion and protection of human rights (tại http://www.ohchr.org/EN/Countries/NHRI/Pages/NHRIMain.aspx) Link
2. GS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Phạm Hồng Thái, TS. Vũ Công Giao, TS Khác
19. Frauke Lisa Seidensticker, Anna Wuerth (2009), National Human Rights Institutions – models, programs, challenges, solutions Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w