Khái niệm về lịch sử y học Lịch sử y học là một khoa học nghiên cứu sự hình thành phát triển của các hoạt động và tri thức y học trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA THÁI NGUYÊN
BỘ MÔN Y XÃ HỘI HỌC
BÀI GIẢNG TÂM LÝ Y HỌC – Y ĐỨC
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
THÁI NGUYÊN - 2008
Trang 23 Ths Nguyễn Thu Hiền
4 Ths Nguyễn Thị Phương Lan
5 Ths Nguyễn Thị Tố Uyên
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Chăm lo sức khoẻ con người là chăm lo cả sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần Đây là công việc vẻ vang nhưng khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải sử dụng thành tựu tiên tiến của nhiều ngành khoa học khác nhau, trước hết là y học trong đó Tâm lý học - y đức cũng đóng một vai trò rất quan trọng Khi ra trường, sinh viên được đào tạo trở thành người bác sĩ không chỉ được trang bị kiến thức, kỹ năng về chuyên môn kỹ thuật chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ mà còn cần được chú ý tới kiến thức, thái độ, kỹ năng về tâm lý y học - y đức
Cuốn tài liệu “Tâm lý y học - y đức” là một trong những tài liệu chuyên môn phục vụ cho sinh viên trong chương trình đào tạo ngành học bác sĩ đa khoa hệ chính quy 6 năm và các độc giả có quan tâm đến vấn đề Tâm lý y học - y đức Tài liệu biên soạn theo Chương trình giáo dục ngành học bác sĩ đa khoa hệ chính qui, phần đào tạo dựa vào cộng đồng ban hành kèm theo quyết đánh số 272/YK - QĐ ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Trường Đại học Y Khoa Thái Nguyên
Trong quá trình biên soạn mặc dù đã rất cố gắng song không thể tránh khỏi những thiên sót, chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của tất
cả các bạn đọc và đồng nghiệp để lần biên soạn sau tài liệu được bổ sung và hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
T/M BAN BIÊN SOẠN
Ths GVC Đàm Thị Tuyết
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU 3
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 3
MÔN HỌC: TÂM LÝ Y HỌC - Y ĐỨC 4
LỊCH SỬ Y HỌC 5
ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM LÝ - TÂM LÝ Y HỌC 17
TÂM LÝ GIAO TIẾP 27
TÂM LÝ LỨA TUỔI 43
TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH 52
TÂM LÝ BỆNH NHÂN CÁC BỆNH CHUYÊN KHOA 63
TIẾP XÚC NGƯỜI BỆNH 75
SANG CHẤN TINH THẦN 84
CÁC CHỨNG BỆNH Y SINH 102
TÂM LÝ LIỆU PHÁP 109
LIỆU PHÁP PHỤC HỒI SỨC KHOẺ 116
VỆ SINH TÂM LÝ 121
ĐẠO ĐỨC VÀ Y ĐỨC 128
NGƯỜI CÁN BỘ Y TẾ VỚI NGHIÊN CÚU Y HỌC 152
NỘI DUNG ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC VIỆT NAM 157
PHẦN PHỤ LỤC 169
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG THỰC TẾ 172
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC/HỌC PHẦN 173
TÀI LIỆU THAM KHẢO 174
Trang 5HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Cuốn tài liệu này được ban biên soạn nhằm để giới thiệu chương trình chi tiết môn học, nội dung của các bài học Ngoài ra, trong cuốn tài liệu này chúng tôi cũng hướng dẫn cho sinh viên chủ động học tập, lượng giá và giới thiệu các tài liệu tham khảo liên quan đến môn học
Trước khi bắt đầu môn học, sinh viên đọc phần chương trình chi tiết của môn học
để có cách nhìn tổng quan về mục tiêu, nội dung, thời lượng Đây là cơ sở để sinh viên xác định phương pháp và sắp xếp thời gian học tập cho phù hợp
Khi đọc từng bài học, sinh viên cần nghiên cứu kỹ mục tiêu bài học, hiểu rõ mục tiêu sẽ giúp sinh viên đọc phần nội dung một cách chủ động Phần nội dung sẽ giới thiệu những kiến thức cơ bản của môn học, khi đọc phần này sinh viên hãy cố gắng tìm kiếm thông tin để trả lời cho từng mục tiêu bài học Sinh viên đánh dấu vào những điểm cần ghi nhớ hoặc những điểm còn chưa rõ để tìm hiểu thêm các tài liệu khác hoặc hỏi giảng viên để được giải đáp Khi nghiên cứu xong nội dung, sinh viên tự lượng giá bằng cách sử dụng bộ câu hỏi của bài học gồm ngỏ ngắn, đúng/sai, MCQ, truyền thống cải tiến theo hướng dẫn ở từng bài Sinh viên chỉ nên tham khảo đáp án sau khi tự trả lời các câu hỏi Hãy nghiên cứu kỹ và làm theo các bước hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu, vận dụng thực tế để áp dụng kiến thức đạt được trong bài học khi thực hành nghề nghiệp
Trong quá trình sử dụng tài liệu này, nếu sinh viên nhận thấy cần mở rộng hoặc hiểu sâu hơn các bài học đã giới thiệu hãy xem danh mục tài liệu tham khảo ở cuối mỗi bài hoặc cuốn tài liệu Sinh viên có thể tìm đếm những tài liệu này trên thư viện của Trường Đại học Y Khoa và các thư viện khác
Tài liệu này chủ yếu cung cấp kiến thức liên quan đến tâm lý người bệnh, giao tiếp và đạo đức y học Ban biên soạn hy vọng sinh viên sẽ vận dụng kiến thức này khi thực hành trong những hoàn cảnh thực tế tại bệnh viện, thực hành tại cộng đồng và cơ
sở y tế công tác sau này
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CBE: Giáo dục dựa vào cộng đồng AIDS: Hội chứng suy giảm miễn địch mắc phải ở người HIV Virus gây suy giảm miễn dịch ở người
TCN: Trước công nguyên SCN: Sau công nguyên CNXH: Chủ nghĩa xã hội CNTB: Chủ nghĩa tư bản TK: Thế kỷ
Trang 6Sau khi học xong môn học này, sinh viên có khả năng
1 Mô tả được lịch sử phát triển y học thê giới và Việt Năm qua các giai
đoạn
2 Mô tả được những biến đổi tâm lý người bệnh và cách tiếp xúc của cán bộ
y tế đối với người bệnh
3 Trình bày được bản chất và cách phòng tâm chấn trong quá trình chăm
sóc người bệnh
4 Trình bày được các biện pháp vệ sinh tâm lý và liệu pháp tâm lý trong
chăm sóc người bệnh
5 Trình bày được đạo đức y học
6 Nhận thức được tầm quan trọng của tác động tâm lý đối với sức khoẻ
NỘI DUNG
TT Tên bài học Số tiết lý thuyết
1 Lịch sử y học 3
2 Đại cương về tâm lý - tâm lý y học 4
3 Tâm lý giao tiếp 5
4 Tâm lý lứa tuổi 3
11 Liệu pháp phục hồi sức khoẻ 2
12 vệ sinh trong tâm lý 2
13 Đạo đức và y đức 7
14 Người cán bộ y tế với nghiên cứu y học 4
15 Nội dung đặc trưng của người thầy thuốc Việt Nam 6
Tổng số 60
Trang 7LỊCH SỬ Y HỌC MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng
1 Trình bày được sự phát triển của y học thế giới qua các thời kỳ
2 Phân tích được sự phát triển của y học Việt Nam qua các giai đoạn
1 Khái niệm về lịch sử y học
Lịch sử y học là một khoa học nghiên cứu sự hình thành phát triển của các hoạt động và tri thức y học trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các chế độ kinh tế - xã hội và lịch sử văn hoá nhân loại
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Dựa vào các văn bản để lại: bia cổ, sách y học, tác phẩm nghệ thuật
- Dựa vào truyền thuyết, ca dao, tục ngữ
- Căn cứ vào khảo cổ học
- Căn cứ vào sự phát triển của các khoa học khác
2 Lịch sử y học thế giới
2.1 Sự phát triển y học trong thời kỳ cổ đại
2.1.1 Xã hội nguyên thuỷ
Vệ sinh phòng bệnh ra đời từ rất sớm, tuy còn thô sơ nhưng đã giúp con người chống chọi với thiên nhiên Con người đã lấy lá để che thân, lấy da thú và vỏ cây làm chăn Người xưa phải tự tìm lấy thức ăn, nước uống để sinh sống; phải tự bảo vệ thân thể, chống chọi với thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, thú dữ, đau ốm Trong lao động sản xuất, người xưa phải đấu tranh với hoàn cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên, với bệnh tật
từ đó rút ra những kinh nghiệm đầu tiên về phòng bệnh
Từ vượn chuyển sang người qua hái lượm cỏ cây, hoa quả người ta đã dần dần nhận thấy có loại cây chữa khỏi bệnh và có loại cây có hại cho sức khoẻ con người, từ
đó đúc rút ra những kinh nghiệm của từng người từng bộ lạc và truyền từ đời này sang đời kia Như vậy cơ sở chính của thuốc chữa bệnh cũng bắt nguồn từ đó
2.1.2 Sự phát triển y học trong xã hội chiếm hữu nô lệ
- Y học thời cổ Ai Cập: ở giai đoạn này kim tự tháp được xây dựng với thời gian kéo dài hàng trăm năm và hơn chục vạn nô lệ làm việc, lúc đó xẩy ra tai nạn thường xuyên nên các kỹ thuật chấn thương được hình thành từ đó Thời kỳ đó y học Ai Cập đã tổ chức thành các chuyên khoa theo các bộ phận cơ thể như: Khoa mắt, khoa chấn thương, ướp xác đã tiến hành thành công
- Y học cổ vùng Lưỡng Hà: hình thành đạo luật cho phép xoá bỏ hợp đồng mua bán nô
lệ khi có dịch bệnh lan truyền Ở thời kỳ này người ta đã biết một số bệnh do muỗi truyền.: Dược phẩm được dùng ở thời kỳ này là tỏi, hạt cải, mướp đắng, lưu huỳnh và
Trang 8cà độc dược
- Y học cổ Trung Quốc: y học châm cứu đã được hình thành và phát triển với sự ra đời của thuyết âm dương, ngũ hành Nhiều tác phẩm nổi tiếng như Thần nông bản thảo và Hoàng đế nội kinh Nội kinh là cuốn sách thống kê các lý luận thực hành y học
- Y học cổ Hy Lạp: Hyppocrate (460 - 377 TCN), sinh ra ở đảo Cos, ông là một trong những người có công lao về y học và có thể coi là người sáng lập ra y học thực chứng Những quan điểm và thực tiễn cơ bản của Hyppocrate về y học như sau:
+ Tách rời tôn giáo và y học, xây dựng y học trên cơ sở vật chất, dựa vào quan
sát cụ thể những dấu hiệu của bệnh Bệnh tật là một hiện tượng tự nhiên của cơ thể, không có ma lực huyền bí gì gây nên
+ Nguyên tắc cơ bản để chữa bệnh chủ yếu là trợ lực cho sức đề kháng tự nhiên
của cơ thể, phải tránh tất cả những gì cản trở khả năng tự chữa và sức khỏe tự nhiên của bệnh nhân Cách điều trị của Hyppocrate rất thận trọng "Không được làm bất cứ điều gì một cách táo bạo Đôi khi còn phải nghỉ ngơi hoặc chẳng làm gì hết Như vậy tuy anh không làm được gì cho bệnh nhân, nhưng anh cũng chẳng gây tác hại gì cho họ"
+ Ông đề ra thuyết môi trường, con người sống không cô lập mà dù muốn hay
không vẫn phải tuân theo các quy luật tự nhiên Vai trò của người thầy thuốc là không được đối lập tự nhiên mà phải tạo điều kiện thuận lợi cho tự nhiên, cho cơ thể chống lại bệnh tật Việc ăn uống đã được ông nghiên cứu rất kỹ, các chế độ ăn uống được ghi
rõ ràng: ông còn là một nhà tiết chế nuôi dưỡng, nhà vệ sinh học
+ Hyppocrate đã biết bệnh lao, ung thư, thiếu máu, bướu cổ, bệnh xanh lướt của
phụ nữ, sỏi mật, ứ máu, động kinh, các chứng liệt, hysteria, rối loạn tâm thần, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, gan, lách, thận, tiết niệu, sinh dục, xương, da, tai mũi họng, dị ứng do thức ăn (gọi là bệnh đặc ứng)
+ Hyppocrate là một nhà phẫu thuật, đã mổ và chữa gẫy xương, nắn sai khớp,
chữa vết thương đầu Dụng cụ phẫu thuật rất phong phú: dao mổ, que thăm, nạo
+ Về dược: dùng thuốc phiện, cà độc dược, thuốc ngủ, an thần, muối chì, muối
acid, muối đồng, thuốc mỡ để điều trị
+ Kiến thức giải phẫu bị hạn chế nên không phân biệt được động mạch và tĩnh
Trang 9+ Y học: thời Tống từ thế kỷ XIII soạn ra cuốn Tây Oan lục là cuốn sách đầu tiên nói
về pháp y Châm cứu cũng đã bắt đầu phát triển Thế kỷ XI có ông Vương Duy Nhất
đã đúc tượng đồng để khắc các huyệt vào đó Thế kỷ XVI Trung Quốc đã biết cách chủng đậu
- Y học phương Tây:
+ Thời kỳ trung cổ (từ thế kỷ V - XV): Thời kỳ này các bệnh dịch phát triển cũng rất mạnh, đã lan tràn và gây chết chóc khủng khiếp phổ biến là dịch tả, dịch hạch, đậu mùa, cũng từ đó xuất hiện các thầy thuốc chống dịch và hình thành việc đăng ký bệnh dịch
+ Thời kỳ phục hưng: bác sĩ Mixenecve người Tây Ban Nha là người đầu tiên tiên ra
tiểu tuần hoàn, đường đi của máu giữa tim và phổi Ông khẳng định rằng trong máu không có không khí Cuối thế kỷ XVII Havay tìm ra toàn bộ hệ thống tuần hoàn Nhà giải phẫu học Leonard de Vinci (1452 - 1519) đã phân tích hơn 30 tử thi, để lại 13 tập sách và hơn 200 tờ tranh về giải phẫu Thời kỳ này đã tìm ra Forceps để đỡ đẻ
2.2 Sự phát triển của y học trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
2.2.1 Chủng đậu
Ngày 14 - 5 - 1796 Jenner (1749 - 1823), thầy thuốc nông thôn ở Anh thực hiện đầu tiên việc tiêm chủng đậu mùa Jenner thấy rằng ai đã mắc bệnh đậu của bò thì không mắc bệnh đậu mùa nữa Jenner lấy mủ ở một người chăn bò mắc bệnh đậu của
bò chủng cho một đứa trẻ Một năm sau ông lại chủng cho đứa trẻ ấy bằng mủ của người mắc bệnh đậu mùa, bệnh đậu mùa không xảy ra ở trẻ đó Sau đó tiêm chủng đã được áp dụng từ đầu thế kỷ XIX ở châu Âu, đã cứu nhân loại thoát khỏi bệnh dịch gây nhiều chết chóc Sự kiện này đánh dấu bước quan trọng trong lĩnh vực y học dự phòng
2.2.2 Giải phẫu và lâm sàng
Trong giai đoạn này có rất nhiều các nhà lâm sàng đã tiến hành giải phẫu tử thi, xác định tổn thương và cắt nghĩa về triệu chứng lâm sàng, các tác phẩm về giải phẫu cũng được ra đời từ những nghiên cứu này
Morgagni thực sự mở đầu cho môn giải phẫu bệnh dựa vào mổ tử thi để so sánh tổn thương với các triệu chứng khi bệnh nhân còn sống (mổ khoảng 700 tử thi) Năm
24 tuổi, ông đã xuất bản cuốn giải phẫu đầu tiên của mình, năm 79 tuổi ông đã viết cuốn sách cuối cùng về bệnh lý (mô tả bệnh lý giang mai, teo gan vàng cấp, sưng phổi đặc, ung thư và loét dạ dày, sỏi túi mật, viêm màng tim, hẹp van 2 lá )
- Rokitansky (1804 - 1874) nhà giải phẫu bệnh nổi tiếng, mổ 30.000 tử thi Cuốn giải phẫu bệnh của ông là một tác phẩm vĩ đại
- Bichat (1771 - 1802) một thầy thuốc lỗi lạc, mở đường cho giải phẫu lâm sàng Ông đề xướng việc nghiên cứu các cơ quan gắn liền với chức phận, bệnh lý gắn liền với sinh lý, sáng lập ra giải phẫu bệnh hiện đại Chia giải phẫu bệnh đại cương và giải phẫu bộ phận
Trang 10- Pirogop (1810 - 1881) người Nga, thiên tài về giải phẫu, thực nghiệm, lâm sàng
và giải phẫu bệnh Ông là nhà phẫu thuật lớn có tiếng trên thế giới, nhận thức đúng hướng y học dự phòng: "Tương lai thuộc về y học dự phòng"
2.2.3 Y học thực nghiệm
Claude Bemard (1813 - 1873) sáng lập y học thực nghiệm, thống nhất sinh lý học, bệnh học và điều trị học Ông đã nghiên cứu thần kinh giao cảm, chức phận tạo đường của gan, vai trò của dịch tụy trong tiêu hóa Về quan điểm và phương pháp của mình, ông viết: "Biết và chưa biết là 2 thái cực khoa học cần thiết" Ông cũng đã nhấn mạnh mối liên quan giữa cơ thể và môi trường
2.2.4 Chông vi khuẩn
Louis Pasteur (1822 - 1895) nhà hóa học, nhà vi khuẩn học đầu tiên Năm 1879, Pasteur cô lập và nuôi cấy liên cầu khuẩn Pasteur thấy rằng bệnh dại lây nhiễm nhờ một tác nhân nhỏ không tìm thấy dưới kính hiển vi, nhờ đó mở ra thế giới phát hiện ra virus Kết quả là ông đã triển khai được kỹ thuật tiêm vaccin cho chó chống bệnh dại
và điều trị cho người bị chó dại cắn
- Davaine (1812 - 1882) và Rayet (1793 - 1863) năm 1850 tiên ra trực khuẩn than Năm 1880 Elbenh tìm ra trực khuẩn thương hàn
- Robert Koch (1843 - 1910) năm 1884 tìm ra trực khuẩn lao
- Calmette (1863 - 1933) và Guérin năm 1921 tiên ra vaccin BCG chủng lao
- Louis - Pasteur phát hiện ra tụ cầu và liên cầu năm 1980
- Manson (người Anh) năm 1883 đã chứng minh muỗi truyền giun chỉ
- Ros (Nobel 1902) năm 1895 chứng minh muỗi truyền bệnh sốt rét
- Yersin (1865 - 1945) người Thụy Sỹ tìm ra độc tố bạch hầu, vi trùng dịch hạch
- Owen (1804 - 1892) tìm ra giun xoắn
2.2.7 Sinh học phân tử
Đến thế kỷ XX, người ta nghiên cứu để hiểu thêm về các quy luật cơ bản về di truyền Morgan (1910) đã cho rằng nhiễm sắc thể là một thể mang các yếu tố di truyền Nhờ các thành tựu của vật lý, khoa học sinh học, toán học, người ta đã đi sâu vào siêu cấu trúc tế bào, chức năng của các đại phân tử, các acid nucleic, thành phần chủ yếu của nhiễm sắc thể Watson (Mỹ 1928) và Crik (Mỹ 1916 - 2004) năm 1953 tìm ra mô hình cấu trúc xoắn kép của phân tử ADN, quá trình tổng hợp Protein trong
tế bào Từ đấy người ta càng biết sâu sắc hơn bản chất các hoạt động sống, đồng thời
Trang 11nghiên cứu sâu những bệnh phân tử (maladie moléculaire), đặc biệt là những bệnh do rối loạn chuyển hóa bẩm sinh; hiểu rõ cơ chế miễn dịch, cấu trúc kháng thể, kháng nguyên, cơ chế hình thành kháng thể và đặc tính đi truyền của chúng
Cho tới nay y học đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong kỹ thuật chẩn đoán cũng như điều trị, đã giải mã được bộ gen người, ghép tạng, thụ tinh trong ống nghiệm, thành tựu lớn về tế bào, gen, cơ chế di truyền, sinh hóa tế bào, miễn dịch trong ung thư, mổ tim, ghép thận, chế tạo và sử dụng các cơ quan nhân tạo trong ghép, thụ tinh nhân tạo
Hệ thống y học dự phòng phát triển mạnh mẽ, quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh luôn được đề cao và áp dụng các thành tựu của y học dự phòng để nâng cao sức khoẻ cho người dân
3 Lịch sử y học Việt Nam
Nhìn một cách tổng quát y tế Việt Nam đã biến đổi một cách sâu sắc ở tất cả các mặt, từ nhận thức tư tưởng, bộ máy tổ chức, phương thức hoạt động, chiến lược phát triển
3.1 Y học cổ Việt Nam
Vệ sinh và phòng bệnh cũng đã xuất hiện tuy còn rất thô sơ tương tự như cộng đồng dân tộc khác trên thế giới Một số tục lệ liên quan đến sức khoẻ như: cắt tóc, xăm mình, mặc áo chui đầu, nhuộm răng, ăn trầu Trong ăn uống họ biết ăn gừng với cá cho khối tanh và dễ tiêu; uống nước lá vối, nụ vối và chè xanh để giải khát và giúp tiêu hoá
Y dược học Việt Nam đã bắt đầu giao lưu với với y học Trung Quốc: đó là những người Trung Quốc thường sang lấy thuốc ở Việt Nam cũng như đưa cả giống thuốc Việt Nam về trồng (như quả vải, quả nhãn, quả ý dĩ) và truyền thụ cho ta một số kiến thức về y học Đến thế kỷ II TCN có hàng trăm vị thuốc được phát hiện, nhiều phương thuốc được áp dụng để chữa bệnh Ngoài ra còn dùng cách xoa bóp, ấn huyệt để điều trị bệnh
3.2 Y học Việt Nam trong xã hội phong kiến
Trong giai đoạn này y học Việt Nam chưa thực sự phát triển mặc dù đã hình thành các tổ chức có liên quan đến y tế Chủ yếu chữa bệnh bằng thuốc nam và đông y
Y học dự phòng chưa được quan tâm, ngoại trừ Lê Hữu Trác có viết tài liệu liên quan đến vệ sinh phòng bệnh
Trang 12để tuyển lương y
- 1304 Chu Văn An đỗ tiến sỹ và được cử làm hiệu trưởng trường Quốc Tử Giám, sau đó ông về làm thuốc và có viết cuốn sách Y học diễn giải tập chú dịch biên, cuốn này nói lên một số bệnh tật
- Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh) là một nhà sư chuyên làm thuốc chữa bệnh giúp dân Ông đã để lại một pho sách y thư có giá trị là Nam dược thần liệu, Hồng nghĩa giác tư y thư Ông đã đề ra khẩu hiệu thuốc Nam chữa người Nam
3 2 3 Thời nhà Lê
Hải Thượng Lãn ông (tên thật là Lê Hữu Trác (1720 - 1791)) là một nhà y học có học vấn uyên bác, nhà dược học nổi tiếng Về học thuật ông viết cuốn Y tông tâm tĩnh gồm 28 tập, 66 quyển Tập sách nói về đạo đức y học, vệ sinh phòng bệnh, về chẩn đoán và dược học; các loại bệnh án nội, ngoại, sản, nhi Ông luôn chú ý đến mối quan
hệ giữa cơ thể với môi trường bên ngoài Về đạo đức ông luôn thể hiện là một người thầy thuốc mẫu mực, tận tuỵ và nhiệt tình với mọi người
3.3.Y học Việt Nam từ khi Pháp vào Đông Dương
Năm 1888 Pháp lập ra sở y tế ở Đông Dương là cơ quan chỉ đạo công tác y tế gồm y tế quân đội viễn chinh, các bệnh viện, thanh tra y tế - dịch tễ
Ngày 27/2/1902 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã lập trường thuốc ở Hà Nội Trường thuốc chỉ có một thư viện và một bệnh viện 40 giường bệnh Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Yersin Trường này được gọi là trường y sỹ Khung chương trình xây dựng đào tạo y sĩ bản địa với thời gian 3 năm Đến năm 1914 đổi tên thành trường y dược Các bệnh viện thực tập của trường là bệnh viện Bạch Mai, Viện Giải phẫu, Viện Phủ Doãn (Việt Đức ngày nay)
Chính quyền Pháp đã quan tâm đến tình hình bệnh ở vùng nhiệt đới nên đã thành lập Viện Pasteur với các cơ sở ở Hà Nội, Nha Trang, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh; chủ yếu là để nghiên cứu vi khuẩn, vaccin (bạch hầu, dại ) và sản xuất vaccin; đánh dấu bước đầu tiên trong việc phát triển công tác dự phòng trong ngành y học Việt Nam Tuy vậy, trong giai đoạn này vẫn nhấn mạnh việc điều trị, phòng bệnh không được coi trọng
Kết quả: Trong thời kỳ Pháp chiếm đóng nước ta có 51 bác sĩ, 152 y sỹ, 21 dược
sỹ đại học, 1227 y tá, 215 nữ hộ sinh Các bệnh dịch bệnh lúc này cũng phát triển mạnh, tỷ lệ tử vong trẻ mới đẻ là 13 - 20%, tỷ lệ chết chung là 2,6%, tuổi thọ trung bình là 32 tuổi
3.4 Y học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám
Ngày 15/11/1945 Trường Đại học Y Hà Nội khai giảng do Giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng đã đánh dấu sự phát triển của ngành y tế Bác sĩ Tôn Thất Tùng giữ chức giám đốc bệnh viện Phủ Doãn, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giữ chức bộ Trưởng Bộ
Y tế đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Trang 13Cuối năm 1953 đầu năm 1954 Bộ y tế đã sắp xếp lại tổ chức và Vụ Phòng bệnh - chữa bệnh ra đời, đến năm 1956 tách ra thành Vụ Chữa bệnh và Vụ Vệ sinh phòng dịch Năm 1963 thành lập các trạm vệ sinh phòng dịch ở các xã, phường Đội phòng chống sốt rét đã ra đời vào năm 1957 ở các quận, huyện Y học gắn liền với cuộc kháng chiến, hoạt động của ngành hướng về nơi sinh sống của 90% dân số trong vùng dịch, Bộ y tế thành lập ban chống dịch có sự hỗ trợ của viện Pasteur, động viên nhân dân tham gia vào các phong trào vệ sinh phòng bệnh, sử dụng nhiều hình thức thích hợp để tuyên truyền cho nhân dân những kiến thức trong giữ gìn sức khoẻ Các viện vi trùng học tiếp tục sản xuất vaccin phòng bệnh tả, đậu mùa, thương hàn, dại đảm bảo tiêm chủng cho toàn dân các vùng tự do Trong 10 năm, 1954 - 1964 ngành y tế đã tập trung xây dựng và phát triển y tế ở nông thôn để giải quyết vấn đề phân, nước, rác Nhiều loại hố xí, giếng nước, nhà tắm được xây dựng tại mỗi hộ gia đình, loại hố xí hai ngăn ủ phân tại chỗ cũng được chấp nhận, giải quyết nhiều vụ dịch
Năm 1961 nước ta lần đầu tiên sản xuất được váccin Sa bin phòng bệnh bại hệt, BCG Thời kỳ này được gọi là nền móng có sự phát triển của y học dự phòng, vệ sinh phòng bệnh đã có điều kiện phát triển tương đối toàn diện
Trong giai đoạn này ngành ngoại khoa phát triển mạnh phục vụ cho chiến đấu Các phòng bào chế vẫn tiếp tục sản xuất thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ
và các loại thuốc tê góp phần đáng kể vào việc xử lý vết thương chiến tranh Năm
1950 lần đầu tiên những lọ Penixilin được sản xuất từ phòng bào chế của Trường Đại học Y khoa Việt Bắc đã góp phần phục vụ cho cuộc kháng chiến
3.5 Y học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Phương châm hoạt động hiện nay là đa dạng hoá các hoạt động của ngành, xã hội hoá công tác y tế nên ngành y tế cũng đã đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân với số lượng và chất lượng ngày càng tăng Hệ thống y tế cả nhà nước và tư nhân đều phát triển mạnh Thành tựu có ý nghĩa nhất là xây dựng được mạng lưới y tế
cơ sở rộng khắp cả nước từ trung ương đến các xã, không còn xã trắng về y tế Phương pháp quản lý khám chữa bệnh Nhà nước cũng được thay đổi bằng cách thu một phần viện phí, xây đựng hệ thống bảo hiểm y tế, cho phép mở rộng bệnh viện tư, phòng khám tư, hiệu thuốc tư Chính sách chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo cũng được quan tâm
Ngành y tế dự phòng ngày càng phát triển Ngày 15/5/2003 Cục Y tế dự phòng
và phòng chống HIV/AIDS đã ra đời trên cơ sở sát nhập Văn phòng Thường trực phòng chống HIV/AIDS vào Cục Y tế dự phòng Hiện nay toàn quốc có 64 trung tâm
y tế dự phòng, 31 trung tâm phòng chống sốt rét, 13 trung tâm sức khoẻ lao động và môi trường, 20 trung tâm phòng chống bệnh xã hội và 7 trung tâm phòng chống dịch quốc tế Tính đến năm 2000 trong cả nước đã có 14 viện thuộc hệ y tế dự phòng, trong
đó có 2 viện vệ sinh dịch tễ, 2 viện Pasteur, 2 viện và một phân viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, Viện Y học Lao động và Vệ sinh trường, Viện Dinh dưỡng, Viện
Trang 14Vệ sinh y tế công cộng, Viện Vaccin, Trung tâm Kiểm định vaccin và sinh phẩm y học, Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất vaccin Sabin và 1 Công ty vaccin
Công tác xã hội hoá y tế hệ thống y học dự phòng đã phát triển đến tận thôn bản: sáu bệnh truyền nhiễm trước đây đứng đầu danh sách các bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất; nhờ công tác tiêm chủng rộng rãi đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được uốn ván sơ sinh, bạch hầu, ho gà Từ việc tiêm phòng 6 loại vaccin do ta tự sản xuất viêm gan siêu vi trùng và viêm não Nhật Bản, các chương trình phòng chống bệnh Sốt rét, Lao, Bướu cổ do thiếu I-ốt, nhiễm HIV/AIDS, thanh toán bệnh Phong đạt được những kết quả đáng kể
Công tác khám chữa bệnh phát triển không ngừng Tính đến nay cả nước đã có
876 bệnh viện, 75 khu điều dưỡng và phục hồi chức năng, trên 1.000 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực, số giương bệnh/100.000 dân không ngừng tăng lên Hệ thống trang thiết bị trong bệnh viện ngày càng hiện đại như máy cộng hưởng từ, máy
CT Scan máy chụp mạch máu, máy tán sỏi ngoài cơ thể, máy coban Các công nghệ mũi nhọn của y học thế giới cũng được áp dụng vào Việt Nam như ghép tạng, mổ nội soi, mổ tim mạch, mổ tách trẻ song sinh, thụ tinh nhân tạo các nhà khoa học Việt Nam đã được nhận giải thưởng y học thế giới như phương pháp cắt gan khô của giáo
sư Tôn Thất Tùng, giải thưởng Kovalexpkaia cho tập thể nữ bệnh viện Phụ Sản Từ
Dù, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương
Các tấm gương tiêu biểu ngành y tế Việt Nam:
- Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã có công rất lớn trong việc vạch ra phương hướng của nền y tế nhân dân, xây dựng đội ngũ y tế cách mạng, góp phần đặc biệt vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nổi bật là công tác chữa và phòng bệnh lao Từ
1954 ông nhận nhiệm vụ Trưởng ban Y tế của Đảng, rồi sau đó giữ chức Bộ trưởng Bộ
Y tế Ông mất tại chiến trường miền Nam ngày 7 - 11 - 1968
Giáo sư Đặng Văn Ngữ đã có nhiều cống hiến lớn chẳng những riêng cho nền y học Việt Nam mà cả cho nền y học chung của thế giới Ông phát hiện được những loại muỗi mới như Anopheles tonkinensis, xác định được chu kỳ ngược chiều của giun lươn, phân lập được loại Penicillium có tác dụng kháng sinh cao
- Giáo sư Tôn Thất Tùng với các nghiên cứu khoa học đã đưa đến phương pháp phẫu thuật cắt gan mà nhiều nhà phẫu thuật trên thế giới thừa nhận và áp dụng Ngoài
ra giáo sư cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc hóa học Dioxin đến sức khỏe con người và tác hại đến thế hệ sau
- Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm đại diện cho những con người có tinh thần cách mạng, tinh thần kháng chiến chống Mỹ, vượt qua mọi khó khăn để làm tròn nhiệm vụ Chị làm công việc của người phụ nữ trong chiến tranh là phụ trách một bệnh viện huyện phục vụ cho việc chống chiến tranh
4 Những kết luận rút ra từ lịch sử
- Y học phát triển qua các giai đoạn lịch sử, dù ở phương thức sản xuất xã hội
Trang 15nào đều gắn liền với thực tiễn sản xuất và đời sống của con người Đương nhiên tùy thuộc vào hình thái xã hội mà giai cấp thống trị sẽ sử dụng các thành tựu về y học để phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình
- Những hoạt động và kiến thức phòng bệnh là nội dung không tách rời y học từ buổi sơ khai cho đến giai đoạn hiện tại và tương lai
- Lịch sử phát minh y học là lịch sử một quá trình mang tính chất kế thừa cộng với sự tham gia của tập thể rộng lớn của quảng đại quần chúng và của sự sáng tạo cá nhân, phát triển nhờ sự phát triển của bao nhiêu ngành khoa học khác
- Công cụ lao động trong y học ngày càng phát triển làm phong phú cho việc khám bệnh và chữa bệnh của người thầy thuốc Nhưng công cụ lao động dù có tinh vi đến đâu cũng không thay thế được vai trò của người thầy thuốc với đạo đức cao cả của mình
- Lịch sử y học là lịch sử của chủ nghĩa nhân đạo: y học không những nhằm vào đối tượng người bệnh mà trước hết là nhằm vào đối tượng người khỏe, phòng bệnh trước hết là phòng bệnh cho người khỏe Y học không chỉ phục vụ cho một số người
mà phục vụ cho toàn bộ xã hội
- Ước mơ của con người là mạnh khỏe Y học đã sử dụng các thành tựu của các ngành khoa học càng ngày càng đi sâu khám phá nguyên nhân gây nên bệnh, tức nhằm mục đích ngăn ngừa bệnh tật, chữa bệnh không chịu khuất phục trước bệnh tật đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người Càng ngày con người càng có sức khỏe với đầy
đủ ý nghĩa của nó, là một tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể xác, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế
TỰ LƯỢNG GIÁ
1 Công cụ
Phần 1: Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trả lời ngắn các câu từ 1 liên 11 bang cách điền từ hoặc cụm từ thích hợp vào khoảng trống
1 Liệt kê một số phương pháp nghiên cứu lịch sử
A Dựa vào văn bản để lại
B Dựa vào truyền thuyết, ca dao, tục ngữ
C Căn cứ vào C
D Căn cứ vào sự phát triển của D
2 Khái niệm về lịch sử y học: Lịch sử y học là một (A) nghiên cứu sự (B)
phát triển của các hoạt động và tri thức y học trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các chế độ kinh tế, xã hội và với lịch sử văn hoá chung của nhân loại
A ………
Trang 16B ………
3 Người hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y Hà Nội là (A)
A ………
4 Bác sĩ Mixenecve là người Tây Ban Nha là người đầu tiên tìm ra (A) , đường đi của máu giữa (B)
A ………
B ………
5 Phương châm hoạt động hiện nay của ngành Y tế Việt Nam là đa dạng hoá các hoạt động của ngành, (A) công tác y tế nên ngành y tế đã đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân A ………
6 Ngành y tế dự phòng Việt Nam ngày càng phát triển Tính đến năm 2000 trong cả nước đã có (A) viện thuộc hệ y tế dự phòng A ………
7 Công tác xã hội hoá y tế hệ thống y học dự phòng đã phát triển đến tận (A)
A ………
8 Morgan (1910) đã cho rằng (A) là một thể mang các yếu tố di truyền A ………
9 Tuệ Tĩnh là một nhà sư kiêm thầy thuốc chữa bệnh giúp dân Ông đã để lại các pho sách y thư có giá trị là (A) và (B)
A ………
B ………
10 Cuốn "Y tông tâm tĩnh "của Lê Hữu Trác gồm (A) tập, (B) quyển A ………
B ………
11 Nhờ công tác tiêm chủng rộng rãi đã thanh toán được bệnh (A) , khống chế được uốn ván sơ sinh, (B) , (C)
A ………
B ………
C ………
Phân biệt đúng sai các câu từ 12 đến 14 bằng cách đánh dấu X vào cột A cho
câu đúng và cột B cho câu sai
12 Ở Trung Quốc: Cuốn "Thần nông bản thảo" và "Hoàng đế nội kinh" ra
đời trong xã hôi chiếm hữu nô lê
13 Galien là nhà vườn thuật tài tình của La Mã
Trang 1714 Năm 1950 phòng bào chế của Trường Đại học Y khoa Việt Bắc đã sản
xuất được Penixilin
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu từ 15 đến 17 bằng cách đánh dấu X vào ô có chữ cái tương ứng với chữ cái đầu trả lời mà bạn chọn
16 Việt Nam lần đầu tiên sản xuất được vaccin sabin phòng chống
bệnh bại hệt vào năm
A 1960
B 1961
C 1962
D 1963
17 Giáo sư……… đã đưa ra kỹ thuật cắt gan khô được nhiều nhà
phẫu thuật thừa nhận vào áp dụng
A Hồ Đắc Di
B Đặng Văn Ngữ
C Tôn Thất Tùng
D Phẩm Ngọc Thách
2 Hướng dẫn sinh viên tự lượng giá
Sinh viên đọc kỹ tài liệu, sau đó làm câu hỏi tự lượng giá Sau khi đã hoàn thành xong phần tự lượng giá thì cần xem lại phần đáp án trang 158 và xem lại nội dung đó trong bài, nếu có gì chưa rõ hay thắc mắc đề nghị thì trình bày với giảng viên giảng dạy để được giải đáp
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC, TỰNGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG THỰC TẾ BÀI HỌC
1 Phương pháp học
Sinh viên xác định mục tiêu khi học bài này theo yêu cầu mà giảng viên đưa ra
và những mục tiêu riêng khác của cá nhân, đọc phần nội dung tài liệu và tìm các nội dung chính theo mục tiêu Ngoài ra có thể tham khảo các tài liệu về lịch sử y học Việt Nam và lịch sử thế giới Phần nào chưa rõ hoặc có thắc mắc thì ghi lại để trình bày với giảng viên để được giải đáp
2 Vận dụng thực tế
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử cho đến nay, ngành y tế đã đạt được nhiều thành tựu trong cả lĩnh vực dự phòng và điều trị Sinh viên cần phát huy truyền thống đạo đức sự sáng tạo của con người trong y học Dựa trên những kinh nghiệm, lý luận thực
tế đặc điểm môi trường, xã hội của cộng đồng người cán bộ y tế cần tiến hành các nghiên cứu khoa học để tăng cường về số lượng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học của thế giới phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi cộng đồng
Trang 18Các nhà nghiên cứu y học trong lịch sử đã thành công khi họ nghiên cứu sức khoẻ con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, những hiện tượng xảy ra trong cộng đồng Kinh nghiệm lịch sử cho thấy để trở thành người cán bộ y tế thành công trong sự nghiệp cần có hiểu biết toàn diện về con người, mối liên hệ của con người đối với môi trường sống Vì vậy ngay từ khi học tập tại trường đại học, sinh viên nên nghiên cứu các môn học một cách toàn diện với thời lượng thích hợp cho từng chủ đề, môn học không nên chỉ chú trọng vào các môn học lâm sàng mà không quan tâm đến vấn đề lịch sử, tâm lý, xã hội, môi trường, dịch tễ xảy ra trong cộng đồng môi trường mà con người không thể tồn tại khi tách rời chúng Kiến thức toàn diện sẽ giúp sinh viên có cách nhìn tổng quát về bệnh tật và sức khoẻ của cộng đồng, khi đó việc đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề sẽ có hiệu quả hơn
3 Tài liệu tham khảo
1 Bộ Y tế Sơ lược lịch sử y tế Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Hà Nội - 1996
2 Bộ Y tế - Tổ chức Y tế Thế giới - Dự án phát triển hệ thống y tế Quản lý y tế, Nhà xuất bản Y học Hà Nội - 2001
3 Lê Gia Vinh Tài danh y học Việt Nam và Thế giới, Nhà xuất bản Thanh niên
Hà Nội - 2001
4 Trang web của Bộ Y tế: www.moh.gov.vn
5 Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên Tài liệu hướng dẫn học tập CBE - 2004
6 Trường Đại học Y khoa Huế Bộ môn Y xã hội học Bài giảng tâm lý y học - y đức - 2005, tr 114 - 135
Trang 19ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM LÝ - TÂM LÝ Y HỌC MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng
1 Trình bày được khái niệm, bản chất, đặc điểm tâm lý người
2 Phân loại được hiện tượng tâm lý
3 Trình bày được định nghĩa, nhiệm vụ, đối tượng nghiên có của tâm lý học y học
4 Trình bày được vai trò việc nghiên cứu tâm lý học trong y học
I TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
1 Đại cương tâm lý
Hoạt động chuyên môn của thầy thuốc cũng như của người cán bộ điều dưỡng khác về cơ bản so với bất kỳ một nhà hoạt động chuyên môn nào Sự khác nhau cơ bản
ấy thể hiện ở chỗ đối tượng phục vụ của họ là người bệnh Khi nói tới người bệnh thì không thể không xét tới 3 yếu tố cơ bản: yếu tố sinh học, yếu tố xã hội học và sự biến đổi nhân cách do bệnh tật gây nên Muốn điều trị và chăm sóc tốt người bệnh, người cán bộ y tế phải có trình độ chuyên môn giỏi, có khả năng tổ chức, quản lý có tri thức
xã hội và đặc biệt phải có trình độ hiểu biết nhất định về tâm lý học nói chung và tâm
lý y học nói riêng
2 Khái niệm hiện tượng tâm lý
Bắt đầu nghiên cứu một khoa học, nhất là khoa học không có trong chương trình giáo dục phổ thông, chúng ta phải tìm hiểu xem nó là cái gì? có từ bao giờ, tác dụng với cuộc sống như thế nào? Đối với chúng ta lúc này thì chỉ có một câu trả lời đơn giản: đó là một khoa học nghiên cứu về tâm lý Mà đối tượng phục vụ của chúng ta là nhân dân nói chung và người bệnh nói riêng Do vậy ta có thể nói rằng: tâm lý học là khoa học về tâm hồn (người khoẻ mạnh và người bệnh)
Trong tiếng việt từ "tâm hồn", “tâm lý” có rất sớm trong ngôn ngữ của loài người "Tâm hồn" là ý nghĩ và tình cảm làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người Ở đây ta khẳng định tâm lý là tinh thần Mà tâm lý người luôn luôn gắn liền với hoạt động của họ, vì thế trong mọi hoạt động của cá nhân đều có sự tham gia của tâm lý, con người chúng ta ít nhiều đều quen với từ “tâm lý" trong đời sống hàng ngày người ta thường hay nhận xét: "Anh ấy rất tâm lý" hoặc “bạn chẳng tâm lý chút nào” với ý nghĩa khen hoặc chê họ có hay không có hiểu biết về lòng người, về tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, thái độ, tính nết của con người Hiểu như thế là đúng song chưa đủ chữ "tâm lý" Trong khoa học còn bao hàm cả những hiện tượng như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, ý chí, thói quen, hành vi, tác phong, tài năng, nhu cầu Cảm giác và tri giác là hai mức độ khác nhau của nhận thức cảm tính Những đặc điểm cơ bản của cảm giác:
- Cảm giác là một quá trình tâm lý
Trang 20- Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của từng sự vật và hiện tượng
- Cảm giác phản ánh thực tại khách quan một cách trực tiếp có nghĩa là với điều kiện các sự vật và hiện tượng phải trực tiếp tác động vào giác quan của ta
Những đặc điểm cơ bản của tri giác:
Tri giác có những đặc điểm giống như cảm giác, song khác với cảm giác là: tự giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn, tri giác đem lại cho ta một hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật hiện tượng
Ở con người chẳng những cảm giác, tri giác về sự vật, hiện tượng mà còn ghi nhớ, hồi tưởng chúng, đó là trí nhớ Khi gặp "hoàn cảnh có vấn đề" thì con người phải dựa vào những điều đã cảm giác, tri giác được; vào kinh nghiệm và những tri thức đã
có để suy nghĩ, đó là tư duy
Cơ sở của hiện tượng tư duy là cảm giác, tự giác và nhất là biểu tượng (hình ảnh của sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh), được giữ lại trong ý thức nhưng trong hoạt động của tư duy còn có sự tham gia của vốn tri thức cũ, kinh nghiệm cũ, trí nhớ sự chú ý, cảm xúc và ý chí Tư duy được biểu hiện ra ngoài dưới hình thức lời nói
Để phát huy được kinh nghiệm do thế hệ trước để lại, để giao tiếp với nhau, mỗi
cá nhân phải biết nói tiếng nói của dân tộc mình, đó là hoạt động ngôn ngữ
Trong khi tiếp xúc với sự vật hiện tượng trong hiện thực, cá nhân đôi khi tỏ thái đối với chúng, đó là hoạt động tình cam tình cảm gắn liền với ước mong, chờ đợi nói chung với nhu cầu và thoả mãn nhu cầu Để đạt được nhu cầu, mục đích con người cần phải có năng lực điều khiển tự giác chính bản thân mình trong hoạt động nhằm đạt tới những mục đích khó khăn, đó là ý chí
Như vậy hiện tượng tâm lý là những hiện.tượng xuất hiện trong đầu óc của mỗi con người, nó gắn liền và điều khiển mọi hoạt động của con người dù có hay không có
ý thức
3 Bản chất của hiện tượng tâm lý người
Hiện thực xung quanh con người cực kỳ đa dạng, muôn màu, muôn sắc trong đó
có hiện tượng tâm lý (ví dụ: vui, miệng cười)
Chẳng hạn một am thanh, một cảnh vật, một con người tác động vào tai vào mắt
ta, có khi chờ một lần cũng để lại trong đầu ta những hình ảnh tương ứng Hơn thế nữa những hình ảnh ấy trong đầu ta không đơn giản như ảnh trong gương, chúng có thể gợi lại hoặc tạo dựng ra cả một loạt ấn tượng, suy tư cảm nghĩ thái độ Đó là hiện tượng tinh thần (tâm lý), nội dung tâm lý do hiện thực khách quan qui định, do đó ta có thể
Trang 21chủ động thay đổi nội dung tâm lý này bởi nội dung tâm lý khác, bằng cách thay đổi môi trường bên ngoài
Như vậy muốn hình thành một phẩm chất tâm lý cần thiết cho con người thì vấn
đề tổ chức môi trường sống giữ vai trò rất quan trọng Qua đó ta thấy hiện tượng tâm
lý chính là ình ảnh của thế giới khách quan trong óc con người
Vậy bản chất của hoạt động tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong chủ quan của mỗi con người thông qua não bộ, là tổ chức cao cấp nhất trong quá trình tiến hoá vật chất Tâm lý người chỉ được hình thành và phát triển trong môi trường xã hội, không có môi trường xã hội thì không có tâm lý người
4 Đặc điểm hiện tượng tâm lý
+ Là một thực thể tự nhiên, nên giữa cá nhân với nhau có sự khác nhau về tiền đề
sinh lý (não, hệ thần kinh)
Vì những lý do trên đây mà tâm lý mỗi người khác nhau Chính vì vậy mà trong công tác của mình, thầy thuốc và nhân viên y tế phải nắm được (dù chỉ là những nét khái quát) tâm lý người bệnh và sự khác nhau trong đời sống tâm lý của họ để từ đó có phương pháp, liệu pháp tâm lý và sự giao tiếp cho phù hợp
4.3 Tính thống nhất giữa hoạt động bên trong và bên ngoài
- Hiện tượng tâm lý bao giờ cũng diễn ra bên trong con người cụ thể Chỉ có con người mang hình ảnh tâm lý (cảm giác, tri giác, cảm xúc ) mới trực tiếp nhận thấy hình ảnh đó một cách rõ ràng, sinh động
- Tuy nhiên người ta có thể hiểu biết hiện tượng tâm lý bằng cách sau đây dựa vào các nghiên cứu khách quan:
Trang 22+ Vì tâm lý phản ánh sự vật, hiện tượng và hoàn cảnh bên ngoài nên qua hình
ảnh bên ngoài ta có thể nghiên cứu tâm lý nơi sống gia đình, sở thích bệnh nhân ta có thể đánh giá sơ bộ nhân cách của họ)
+ Cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lý là não, vì thế qua não ta nghiên cứu tâm
lý
Tất cả các hình ảnh tâm lý, các kinh nghiệm sống của bản thân đều tồn tại trong
bộ não Nhưng không phải cứ có bộ não là đương nhiên có tâm lý Trước hết phải có tồn tại khách quan, nhất là các kinh nghiệm của loài người, của xã hội đương thời; thứ hai tồn tại ấy phải tác động vào bộ não; thứ ba bộ não người phải tiếp nhận được tác động ấy Cuối cùng ta có hình ảnh tâm lý này hay hình ảnh tâm lý kia phản ánh một cách chủ quan của từng người trong từng thời điểm khách quan tác động vào não (qua các giác quan) hoặc tiếp thu được tri thức này hay kỹ năng kia thành vốn sống của bản thân Tri thức hay kỹ năng, nói chung lại cũng tồn tại trong bộ não dưới dạng các hình ảnh tâm lý trong não bộ
Tâm lý người là sản phẩm của quá trình hoạt động của não, không có não hoặc
có não nhưng não không hoạt động thì cũng không có tâm lý người
+ Ngoài ra, có thể nghiên cứu tâm lý qua hành vi, tác phong, vẻ mặt, ngôn ngữ
5 Phân loại các hiện tượng tâm lý
5.1 Quá trình tâm lý
Là hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn (vài giây đến vài giờ), có khởi đầu, diễn biến và kết thúc, nhằm biến các tác động bên ngoài thành hình ảnh tâm lý Có ba quá trình tâm lý:
- Quá trình nhận thức: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng
- Quá trình cảm xúc: yêu, ghét, khó chịu, giận hờn
- Quá trình ý chí: đặt mục đích, đấu tranh tư tưởng, ham muốn, tham vọng
5.2 Các trạng thái tâm lý
Là hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài (vài chục phút, hàng tuần, hàng tháng ), thường ít biến động nhưng lại bị chi phối một cách căn bản các quá trình tâm lý đi kèm với nó
Ví dụ: sự chú ý đi với quá trình nhận thức, tâm trạng đi với xúc cảm, tin tưởng hay nghi ngờ đi với quá trình ý chí
5.3 Thuộc tính tâm lý
Là hiện tượng tâm lý hình thành lâu dài và kéo dài rất lâu, có khi suất đời và tạo thành nét riêng của nhân cách, chi phối quá trình và trạng thái tâm lý của người ấy (xu hướng, tính tình, khí chất, năng lực )
Trang 23Các hiện tượng tâm lý này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời nhau
Tâm lý học y học có nhiệm vụ nghiên cứu:
- Các trạng thái tâm lý của người bệnh
- Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới sự phát sinh và phát triển bệnh
- Vai trò của yếu tố tâm lý trong điều trị, phục hồi, phòng và bảo vệ sức khoẻ con người
3 Đối tượng nghiên cứu của tâm lý y học
Tâm lý y học nghiên cứu nhân cách của bệnh nhân, nhân cách của thầy thuốc (bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa, điều dưỡng viên, ) mối quan hệ qua lại giữa cán
bộ y tế và bệnh nhân
4 Vai trò của yếu tố tâm lý trong y học
4.1 Tâm thần và cơ thêm một khối thông nhất thường xuyên tác động qua lại và
4.2 Tâm chấn (stress - sang chốn tâm lý) có thể làm phát sinh bệnh
Sang chấn tâm lý có thể gây ra:
- Các bệnh tâm căn (tâm căn hysteria, tâm căn suy nhược, )
- Loạn thần phản ứng
- Bệnh y sinh (bệnh do thầy thuốc gây nên)
- Bệnh cơ thể tâm sinh: bệnh cao huyết áp, bệnh loét hành tá tràng, bệnh hen phế quản bệnh táo bón
Trang 244.3 Yêu tố tâm lý trong điều trị
- Liệu pháp tâm lý được dùng trong điều trị bệnh
- Lòng tin của bệnh nhân vào thầy thuốc, điều dưỡng viên; lòng nhân ái, sự cư
xử, tiếp xúc tốt có tác dụng điều trị bệnh
4.4 Vai trò của yếu khâm lý trong phòng bệnh
Giáo dục và rèn luyện nhân cách cho người bệnh kết hợp với thái độ đúng mực của cán bộ y tế sẽ giúp cho việc:
- Phòng bệnh tâm thần cho bệnh nhân
- Vệ sinh tâm thần cho người bệnh và người lành
- Bồi dưỡng, giáo dục nhân cách người bệnh và gia đình người bệnh
5 Một số phương pháp nghiên cứu tâm lý áp dụng trong nghiên cứu tâm lý học y học
5.1 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp được dùng nhiều nhất, vì tâm lý người là hiện tượng tinh thần, không thể cầm nắm, đo đếm được, nhưng bao giờ nó cũng thể hiện ra bên 24 ngoài, ra hoạt động Nên đối tượng để ta quan sát để nghiên cứu tâm lý người là những
cử chỉ, hành động, vẻ mặt, ánh mắt, nụ cười
5.2 Phương pháp thực nghiệm
Là phương pháp quan sát các biểu hiện của hiện tượng tâm lý một cách chủ động theo kế hoạch đã định dựa vào sự thay đổi điều kiện tác động vào người bị thực nghiệm theo cách tự tạo để quan sát
Có hai loại thực nghiệm:
+ Thực nghiệm tự nhiên: tiến hành trong điều kiện sống và hoạt động hàng ngày + Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: tiến hành trong phòng thí nghiệm, dưới
điều kiện khống chế nghiêm ngặt các ảnh hưởng của tác động bên ngoài Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được dùng nhiều nhất trong việc nghiên cứu các quá trình tâm
lý
- Phương pháp này có ưu điểm:
+ Không những có thể phán đoán được lời nói và hành động mà còn có thể phán
đoán được sự phản ứng sinh lý bên trong cơ thể của người bị thí nghiệm, vì thế tài liệu thu thập được tương đối chính xác
+ Nghiên cứu một cách chủ động Paulov nói: "Quan sát chỉ thu nhận được
những cái mà tự nhiên cấp cho, phương pháp thực nghiệm lấy ở tự nhiên cái mà ta muốn"
5.3 Phương pháp đàm thoại
Là phương pháp nói chuyện với đối tượng mình nghiên cứu tâm lý của họ
Lưu ý: người nghiên cứu phải chuẩn bị câu hỏi chu đáo nhằm đạt được mục đích
Trang 25nghiên cứu và phải tạo được không khí thân mật cởi mở
5.4 Phương pháp phân tích sản phẩm
Là phương pháp dựa vào kết quả hoạt động, sản phẩm hoạt động của đối tượng
để nghiên cứu tâm lý của họ Sản phẩm có thể là: bài thơ, bài văn của nhà thơ, nhà văn; bức tranh của hoạ sỹ; thành phẩm, sản phẩm sản xuất của công nhân; kế hoạch chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng viên ; qua những sản phẩm đó để đánh giá năng lực, thái độ, kỹ năng của tác giả
5.5 Phương pháp trắc nghiệm
Là phương pháp nghiên cứu tâm lý bằng cách nêu ra một loạt câu hỏi đã định sẵn, có tính chất "thử đoán" Phương pháp trắc nghiệm thường được xác định khuynh hướng nghề nghiệp như: thợ máy, lái xe, giảng viên, thầy thuốc Các câu hỏi phải được xây dựng để qua các câu trả lời của họ là có thể biết được trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ và những phẩm chất cần thiết của đối tượng nghiên cứu để căn cứ vào đó
mà xếp việc học tập công tác cho phù hợp
TỰ LƯỢNG GIÁ
1 Công cụ
Phần 1: Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trả lời ngắn các câu từ 1 đến 14 bằng cách điền từ hoặc cụm từ thích hợp vào khoảng trống
1 hoạt động nhận thức của cá nhân bao gồm
Trang 268 Tâm lý người là sự phản ánh (A) thông qua lăng kính (B)
của mỗi gười, nên tâm lý mỗi người khác nhau
9 Tâm lý mỗi người khác nhau vì cá nhân vừa là thực thể (A) vừa là thực thể (B)
10 Hoạt động não bộ có tính (A) và toàn thể, do đó các hoạt động tâm lý luôn (B) chặt chẽ với nhau
11 Tâm thần và cơ thể là một khối (A) thường xuyên (B) qua lại và
ảnh hưởng lẫn nhau
12 Hiện tượng tâm lý bao giờ cũng diễn ra (A) con người cụ thể
13 Tâm lý học y học là một ngành của y học nghiên cứu (A) bệnh nhân, thầy thuốc, cán bộ y tế trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau
14 Hoàn thiện sơ đồ tổng quát về các hiện tượng tâm lý sau:
Phân biệt đúng sai các câu từ 15 đến 18 bằng cách đánh dấu X vào cột A cho câu đúng và cột B cho câu sai
Trang 27Câu hỏi A B
15 Cảm giác và tri giác là hai mức độ khác nhau của nhận thức cảm tính
16 Cảm giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn
17 Tri giác phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng
1 8 Nội dung tâm lý do hiện thực khách quan qui định
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu từ 19 đến 21 bằng cách đánh dấu X
vào ô có chữ cái tương ứng với chữ cái đầu trả lời mà bạn chọn
Phần 2: Câu hỏi truyền thống
22 Anh/chị hãy trình bày khái niệm hiện tượng tâm lý?
23 Anh/chị hãy trình bày ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý học trong y học?
2 Hướng dẫn sinh viên tự lượng giá
Sinh viên đọc tài liệu, tìm ra những điểm chính trong câu hỏi lượng giá, sau khi
đã hoàn thành phần tự trả lời, xem đáp án trang 158 Nếu có vấn đề thắc mắc, đề nghị
trình này với giảng viên để được giải đáp
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG THỰC TẾ BÀI HỌC
1 Phương pháp học
Sinh viên xác định rõ mục tiêu bài học, nghiên cứu theo trình tự các bước trong
bài giảng để tìm kiếm các thông tin trả lời cho mục tiêu bài giảng Đánh dấu những
điểm còn chưa rõ, trình bày với giảng viên để được giải đáp
Quan sát cán bộ y tế sử dụng các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong tâm lý y
học để nghiên cứu tâm lý của người bệnh, chẳng hạn phương pháp quan sát, đàm
thoại để có kinh nghiệm sử dụng các phương pháp này tự nghiên cứu tâm lý của
những người bệnh hoặc những đối tượng mà sinh viên sẽ phải tiếp xúc trong quá trình
thực hành nghề nghiệp
2.Vận dụng thực tế
Nghiên cứu tâm lý sẽ cung cấp lượng tri thức nhất định cho nhân viên y tế về tâm
lý học y học để tiếp xúc, điều trị, chăm sóc tốt bệnh nhân Dựa vào cơ sở tâm lý và bản
Trang 28chất của tâm lý giúp người thầy thuốc giải thích được các hiện tượng tâm lý của người bệnh/cộng đồng, chẳng hạn tại sao cũng là người bệnh nhưng có người lạc quan hợp tác điều trị? Tại sao cộng đồng tích cực tham gia giải quyết vấn đề sức khoẻ nhưng có người, cộng đồng lại phản ứng thờ ơ hay phá hoại Phải chăng từ chính các yếu tố của môi trường sống, phong tục tập quán của cộng đồng hay bản chất của chủ thể dẫn đến hiện tượng tâm lý đó Khi đã hiểu được tâm lý người bệnh/cộng đồng thì người cán bộ
y tế thông cảm, chia sẻ và giải quyết vấn đề phù hợp với điều kiện/hoàn cảnh thực tế của cộng đồng
Tương tự như vậy, khi hiểu biết tâm lý của cá thể sẽ giúp cho mỗi con người sẽ
có kinh nghiệm tốt hơn khi giao tiếp với xã hội, khi làm việc nhóm trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống
3 Tài liệu tham khảo:
1 Bộ môn Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Tâm
5 Phạm Minh Hạc Tâm lý học, Nhà xuất bản Giáo dục 1988
6 Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Bộ môn Tổ chức y tế - Y xã hội học Bài giảng tâm lý và tâm lý y học, tài liệu dùng cho lớp tập huấn tâm lý và tâm lý y học -
1997, tr 86 - 95
7 Trường Đại họcy khoa Huế, Bộ môn Y xã hội học Bài giảng Tâm lý y học y đức - 2005, tr 4 - 8, tr 35 - 36
Trang 29TÂM LÝ GIAO TIẾP MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng
1 Trình bày được khái niệm giao tiếp, vai trò, ý nghĩa, mục đích cua giao tiếp
2 Mô tả được các hình thức giao tiếp
3 Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp giữa thầy thuốc và người bệnh
4 Liệt kê được qui tắc giao tiếp cơ bản giữa thầy thuốc và người bệnh
5 Trình bày được những điều cần lưu ý trong một số tình huống giao tiếp cụ thể
1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ và liên hệ giữa người với người trong các nhóm, các tập thể xã hội Nhờ đó con người mới có thể thực hiện các hoạt động của mình nhằm cải biến hiện thực khách quan xung quanh hoặc chính bản thân, qua đó thoả mãn nhu cầu của mình
Giao tiếp là nghệ thuật, là kỹ năng, là sự trao đổi, tiếp xúc qua lại giữa các cá thể
2 Vai trò, ý nghĩa của giao tiếp
Con người là tổng hoà các mối quan hệ của xã hội Để có thể sống, lao động, học tập, công tác con người không thể không dành thời gian để giao tiếp với các cá nhân khác
Nhu cầu giao tiếp với người khác là một trong những nhu cầu cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người Không thoả mãn nhu cầu này, thì con người sẽ có những rung động, tiêu cực, lo âu chờ đợi một cái gì không hay xảy ra Mặc dù không có gì đe doạ họ cả, con người có đặc thù là giao tiếp với người khác
Trạng thái cô đơn là trạng thái tâm lý nặng nề khủng khiếp, con người cảm thấy
cô độc trống trải, tàn lụi cuộc sống tinh thần Khi bị "đứt mạch", bị "cô lập" với cộng đồng, bạn bè, tập thể, gia đình, người thân, có thể nảy sinh trạng thái tâm lý không bình thường, nhiều khi bị bệnh Vì vậy giao tiếp có chức năng nối mạch giữa một con người với người khác, với nhóm, với tập thể
Nhu cầu về sự tiếp xúc tình cảm với những người khác là đặc trưng của con người Con người cần yêu thương người khác và muốn được yêu thương Con người ta đan khổ vì không được yêu thương Con người còn cần sự hợp tác, giúp đỡ nhau trong công việc, con người bao giờ cũng làm việc với người khác Con người còn có nhu cầu cảm thấy an toàn khi được tiếp xúc với người khác, tránh được trạng thái:
- Cô độc: chỉ có một mình, không có ai khác ngoài mình
- Cô đơn: có người nhưng cảm thấy không có ai
- Cô lập: bị cách ly với xã hội
Giao tiếp là điều kiện càn thiết, là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhân cách Qua giao tiếp, con người mới có thể tiếp thu kinh nghiệm, lịch sử xã
Trang 30hội (nền văn hoá vật chất tinh thần, tâm lý xã hội) biến thành bản lĩnh riêng của mình
để hình thành phát triển nhân cách Quá trình lĩnh hội tâm lý xã hội này thông qua quá trình dạy học, giáo dục
Qua giao tiếp, con người hình thành ý thức, vì khi giao tiếp con người sẽ nhận thức được người khác, nhận thức được bản thân, đối chiếu cái quan sát được ở mình với cái nhìn thấy ở người khác, so sánh cái mình làm được với cái mà mọi người xung quanh chờ đợi, từ đó thu nhận được thông tin cần thiết để hình thành sự đánh giá bản thân và xem người khác như là tấm gương để soi rọi bản thân mình, từ đó sẽ tự hiểu mình nhiều hơn, đồng thời cũng qua giao tiếp hiểu được tâm tư, tình cảm, ý nghĩ, nhu cầu của người khác Giao tiếp làm cho hiệu quả các hoạt động cao hơn vì tính tích cực suy nghĩ, tri thức, kinh nghiệm, tài năng được sử dụng trong việc giải quyết vấn đề phong phú hơn
Giao tiếp là một trong 3 yếu tố làm tăng hiệu lực của điều trị (3 yếu tố làm tăng hiệu lực điều trị là: lòng nhân ái, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử của cán bộ y tế đối với bệnh nhân; sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; sự áp dụng các máy móc, trang thiết bị hiện đại trong chẩn đoán, điều trị)
3 Mục đích của giao tiếp
- Giao tiếp nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần
- Giao tiếp hình thành mối quan hệ giữa con người với nhau và qua đó tình cảm giữa cá nhân được thiết lập
- Qua giao tiếp con người có thể trao đổi với nhau, phát và nhận thông tin, so sánh và xử lý thông tin (về chẩn đoán bệnh, về nhu cầu, giáo dục sức khoẻ, phòng và chữa bệnh )
Qua giao tiếp người thầy thuốc, điều dưỡng viên có thể nâng đỡ, bồi dưỡng, giáo dục nhân cách của người bệnh, từ đó làm tăng hiệu lực của chăm sóc và điều trị
4 Các hình thức giao tiếp
4.1 Giao tiếp ngôn ngữ
4.1.1 Ngôn ngữ bên ngoài
Là ngôn ngữ hướng vào người khác nhằm phát đi hay thu nhận thông tin Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Trang 31Ngôn ngữ nói: là ngôn ngữ hướng vào người khác, được biểu hiện bang âm thanh
và được tiếp nhận bằng thính giác
• Thảo luận nhóm: từ 5 - 10 hoặc 15 người; đây là cách làm sinh động và có hiệu quả cao, đòi hỏi người dẫn dắt thảo luận phải thông thạo vấn đề và có phương pháp điều khiển đúng đắn
• Bài giảng: dùng để trình bày một số vấn đề trong một thời gian nhất định
- Ngôn ngữ viết: là ngôn ngữ được hướng vào người khác, được diễn đạt bằng chữ viết
và được thu bằng thị giác, điển hình như:
+ Truyền đơn: ghi những câu ngắn gọn có tính truyền cảm áp đụng để cổ động
quần chúng tham gia vào các chương trình y tế đang triển khai tại cộng đồng
+ Khẩu hiệu: lời kêu gọi hành động thực hiện một lời khuyên, nội dung cổ động,
thiết thực, có sức truyền cảm mạnh
+ Bảng hỏi đáp: gồm những câu hỏi thường thức về một vấn đề sức khoẻ nhất
định và những câu trả lời ngắn gọn, dễ hiểu, cụ thể với đầy đủ căn cứ khoa học
+ Tập sách mỏng (cỡ nhỏ, có thể bỏ túi được): gồm những bài viết tóm tắt dành
cho một đối tượng nhất định, trong đó có những lời khuyên, các qui tắc bảo vệ sức khoẻ cần phải được thực hiện
+ Báo tường và các bảng tin: Gồm những bài viết ngắn gọn, bổ ích cho đồng đảo
quần chúng về một số chủ đề có tính thời sự
- Một số yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp bằng ngôn ngữ bên ngoài:
+ Ngôn ngữ mang đặc tính cá nhân phụ thuộc vào tuổi, giới tính, tính độ văn
hoá, giáo dục, nghề nghiệp
+ Khi nói cần nói nhẹ nhàng, lịch sự dễ đi vào lòng người; lượng từ càng nhiều,
càng phong phú, sinh động, giàu hình ảnh dễ gây ấn tượng, cảm xúc mạnh
+ Trong giao tiếp không nên dùng từ một cách cầu kỳ, quá hoa mỹ mà nên dùng
từ phổ thông, rõ ràng, dễ hiểu, tránh dùng thuật ngữ chuyên môn đối với người bệnh
và không nên nói quá nhanh, quá chậm hoặc nhát ngừng; nên nói đúng chỗ, đúng lúc
+ Tuỳ từng đối tượng khác nhau mà chọn cách giao tiếp, ứng xử cho phù hợp
Trang 32Khi giao tiếp nên tạo bầu không khí thân thiện, cởi mở, chú ý tới thời gian cho phép khi giao tiếp và chú ý lắng nghe
+ Lắng nghe đóng một vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực truyền tin và nhận
tin Lắng nghe tốt giúp thu nhận được nhiều thông tin, từ đó giúp con người xử lý thông tin chính xác
+ Muốn tạo được thói quen lắng nghe tốt, chúng ta cần tránh làm những việc sau
đây: ngắt lời người khác khi họ đang nói hoặc dừng lại để suy nghĩ, nói "chen ngang, nói leo"
+ Nghe một cách chủ động tích cực được thể hiện bằng “các kiểu” tán thưởng
sau: nét mặt vui tươi, cười duyên dáng, gật đầu, dùng các câu trả lời ngắn "vâng",
"đồng ý", "nhất trí, "đúng" , nhìn hướng về người đang nói, không nói chuyện riêng, không làm việc khác khi đang nghe Cần có sự cảm thông, đồng cảm, sẵn sàng chia sẻ vui buồn khó khăn với người phát tin
+ Nội dung giao tiếp: tuỳ nội dung công việc mà lựa chọn những nội dung phù
hợp
+ Đối tượng giao tiếp: cần giao tiếp với ai? Với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân,
với đồng nghiệp hay với người cao tuổi, người điếc
Khi giao tiếp với người điếc cần phải dùng ngôn ngữ thân thể, ra hiệu, nhìn mồm, người điếc nhận được những thông tin khác như đoán được vì vậy mình phải nói chậm và cho họ nhìn thấy miệng của mình, không quát vào tai họ
+ Mục đích của giao tiếp là để: tìm hiểu bệnh sử, đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh
kinh tế gia đình hoặc khi tiến hành thủ thuật, chuyển viện, cho bệnh nhân ra viện
+ Chọn cách thức giao tiếp: trao đổi, chuyện trò, đàm thoại, tâm sự
+ Thời điểm giao tiếp: khi nào thì nên giao tiếp, cần đạt được điều gì? Nên giao
tiếp sớm khi bệnh nhân mới vào viện và trước khi chuẩn bị phẫu thuật
+ Địa điểm: nên chọn địa điểm giao tiếp thích hợp nhất, mời bệnh nhân lên
phòng hành chính khoa, phòng bác sĩ, phòng điều dưỡng hay tại phòng bệnh hoặc khi dạo chơi
4.1.2 Ngôn ngữ bên trong
Ngôn ngữ bên trong là ngôn ngữ cho mình, hướng vào mình và nhờ đó ta mới có thể suy nghĩ tư duy được Ngôn ngữ bên trong có đặc điểm: không phát thành tiếng, bao giờ cũng ở dạng rút gọn, là phương tiện của hoạt động nhận thức
4.2 Giao tiếp phi ngôn ngữ
- Giao tiếp qua nét mặt: thường biểu hiện xúc cảm, tình cảm bằng đôi mắt và bằng miệng Nét mặt có thể diễn đạt sự yêu thương, căm ghét, ngạc nhiên, vui buồn
- Ánh mắt có thể là tín hiệu của yêu thương, buồn rầu, lo lắng, sợ hãi, không thích thú
Trang 33- Giao tiếp bằng hành động (điệu bộ, cử chỉ): gật đầu, vẫy tay Điệu bộ có thể diễn đạt sự tức giận, lo lắng, sung sướng Cử chỉ có thể diễn đạt cảm xúc buồn, mệt mỏi, thích thú v.v
Người cán bộ điều dưỡng cần luôn luôn nhớ rằng: trong buổi đầu tiên gặp gỡ, bệnh nhân theo dõi chúng ta về ánh mắt, nụ cười, điệu bộ, nét mặt, dáng đứng, điệu đi thái độ tác phong và tất cả thông tin này đều có thể chữa bệnh hoặc gây ra bệnh
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp giữa thầy thuốc và người bệnh
5.1 Yêu tố thuộc về đặc trưng của giao tiếp
- Loại hình giao tiếp chủ yếu giữa thầy thuốc và người bệnh là gian tiếp chính thức Về cơ bản, mục đích, chức năng, phương hướng, nhiệm vụ hoạt động giao tiếp được xác định trước và đáp ứng yêu cầu của hoạt động khám, chữa bệnh Cũng có thể nói đây là loại giao tiếp công việc
- Chủ thể và khách thể giao tiếp là những cá nhân hoặc nhóm xã hội nhất định
Họ có những "vai diễn" khác nhau trong quá trình giao tiếp, song Phần 1ớn là quan hệ giữa một bên là nhân viên y tế và một bên là người bệnh
- Các phương tiện giao tiếp được sử dụng một cách tổng hợp, song phương tiện chủ yếu vẫn là ngôn ngữ Uy tín, lời nói, cử chỉ tác phong của thầy thuốc đôi khi đóng vai trò quyết định đối với kết quả giao tiếp
5.2 Yêu tố thuộc về chủ thể và đối tượng giao tiếp
- Năng lực chung, vốn hiểu biết, trình độ hoạt động chuyên môn của chủ thể và đối tượng giao tiếp sẽ làm phông, làm nền cho quá trình giao tiếp
- Sự thống nhất mục tiêu giao tiếp của chủ thể và đối tượng nhằm đạt tới một kết quả tối ưu trong phòng và chữa bệnh sẽ làm cho sự giao tiếp không bị chệch hướng
- Kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sử dụng các phương tiện, hình thức giao tiếp cũng như khả năng duy trì sự liên tục trong quá trình giao tiếp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giao tiếp
- Sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật giao tiếp của cả chủ thể và đối tượng sẽ làm cho quá trình giao tiếp đạt kết quả tối ưu
- Đặc điểm thể chất (khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười, giọng nói ), đặc trưng bệnh tật sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giao tiếp giữa thầy thuốc và người bệnh
5.3 Yếu tố môi trường và điều kiện giao tiếp
- Trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nói chung, trình độ phát triển y học, tâm lý học nói riêng
- Chức năng, nhiệm vụ, chất lượng công việc chuyên môn của nhóm và các thành viên trong nhóm
- Địa điểm, không gian, thời gian khi giao tiếp
- Đặc điểm phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo: mỗi dân tộc đều có phong tục
Trang 34tập quán của riêng mình
5.4 Đặc điểm phong tục, tập quán của một số dân tộc ở khu vực miền núi phía Bắc
- Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng Người Giáy làm ruộng nước là chính Họ nuôi nhiều trâu, ngựa, lợn, gà, vịt; có truyền thống dùng ngựa để cưỡi, thồ; dùng trâu kẻo cày, kéo gỗ Đàn ông Giấy mặc quần áo, vấn khăn Đàn bà có áo 5 thân xẻ nách bên phải cài cúc, đầu đội khàn hoặc vấn tóc để trần Thường có trang trí trên sản phẩm dệt như áo nữ, túi đeo của nữ, gối, rèm cửa buồng,
mũ trẻ em Trên bàn thờ, người Giáy không chỉ thờ chung các đời tổ tiên mà còn thờ
cả vua bếp", trời, đất, trong nhà, đồng thời cũng thờ cả bà mụ liên quan đến sinh đẻ, thờ thổ thần có khi thờ cả tổ tiên họ vợ Người Giáy có vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng giao Có nhiều chuyện giải thích hiện tượng tự nhiên, có nhiều chuyện thơ dài; có chuyện kết hợp lời kể với câu hát, dân ca phong phú, gồm nhiều loại mỗi loại có nhiều bài, điệu khác nhau, đặc biệt các hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt Sôi nổi hấp dẫn và các trò chơi truyền thống như: ném còn
- Dân tộc Hà Nhì cư trú ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai Nguồn sống chính của đồng bào là trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy Người Hà Nhì có nhiều
họ, mỗi họ gồm nhiều chi Dịp tốt hàng năm có tục cả dòng họ tụ tập lại nghe người già kể tộc phả của mình, có dòng họ nhớ được về xưa tới 40 đời Tên của người Hà Nhì thường đặt theo tập tục là lấy tên người cha hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm Mỗi cặp vợ chồng người Hà Nhì phải trải qua hai lần cưới Ngay sau lần cưới trước, họ đã thành vợ chồng, cô dâu về nhà chồng và theo phong tục
ở Lai Châu cô dâu phải đổi họ theo chồng Cũng ở Lai Châu, có nơi lại ở rể Lần cưới thứ hai được tổ chức khi họ làm ăn khấm khá và thường là khi đã có con Người Hà Nhì có nhiều chuyện cổ, có cả chuyện thơ dài Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc
- Dân tộc Cờ Lao sống tập trung ở huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phụ tỉnh Hà Giang, theo phong tục con trai cô được lấy con gái cậu Ở vùng Đồng Văn, người Cờ Lao đất nhau (bánh rau) của đứa trẻ sơ sinh thành than rồi đem bỏ vào hốc đá trên rừng, tránh để cho chó hay lợn giẫm vào Đứa trẻ sinh ra được ba ngày 3 đêm (nếu là con trai), 2 ngày 3 đêm (nếu là con gái), thì bố mẹ làm lễ đặt tên cho con Đứa con đầu lòng được bà ngoại đặt tên cho Về tín ngưỡng, người Cờ Lao qui định: tổ tiên 3 - 4 đời được thờ cúng tại nhà, thần đất được từng gia đình và cả ban thờ cúng, còn thần nương được tượng trưng bằng hòn đá kỳ dị đặt vào hốc đá cao nhất trên nương Hàng năm người Cờ Lao có những ngày lễ, tốt theo âm lịch như ngày 3 tháng 3, ngày 5 tháng 5, ngày 15 tháng 7, ngày 9 tháng 9 và tốt nguyên đán là lớn nhất
- Dân tộc Mông cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy, cây lương thực chính là ngô và lúa
Trang 35nương, quần áo cửa người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt Hôn nhân của người Mông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời Những người cùng dòng họ không được lấy nhau Trong trường hợp trai gái yêu nhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, trai gái hẹn hò nhau tại một điểm; từ địa điểm đó bạn trai dắt tay bạn gái về làm vợ, họ sống với nhau hòa thuận, cũng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ và đi hội hè
- Dân tộc Mường: đồng bào Mường cư trú ở nhiều tỉnh phía bắc, nhưng tập trung đông nhất ở Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa Đồng bào Mường sống định canh định cư ở miền núi, nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn Trang phục của nam giới Mường là bộ quần áo cánh màu chăm Phụ nữ đội khăn màu trắng hình chữ nhật, mặc yếm và áo cánh thân có xẻ ngực (có nơi xẻ vai), váy của phụ nữ người Mường khá dài, mặc cao đến nách có nhiều hình hoa văn tuyệt đẹp Đồng bào Mường có nhiều ngày hội quanh năm: hội xuống đồng (khuông mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng7, tháng 8 âm lịch), lễ cơm mới Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, tục ngữ, hát ru em, đồng dao, hát đố, hát trẻ con chơi Cồng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trong, khèn lù
- Dân tộc Nùng: đồng bào Nùng sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kim, Thái Nguyên, Tuyên Quang Đồng bào Nùng thờ tổ tiên là chính Bàn thờ
để một buồng trong nhà, trên bàn thờ tổ tiên là bàn thờ các vị tiên, thánh, thần Người Năng thích ăn các món xào mỡ lợn Món ăn độc đáo và được coi là sang trọng của đồng bào là "khau nhục" Tục mời nhau uống rượi chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay
đã thành tập quán của đồng bào Then là làn điệu dân ca của người Nùng Lễ hội nổi
tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội "lùng tùng" (còn có nghĩa là hội xuống đồng) được tổ chức vào tháng giêng hàng năm
- Dân tộc Sán Dìu: phân bố ở miền trung du các tỉnh Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc Vĩnh Phú, Thái Nguyên và Tuyên Quang Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước; có một phần nương, soi, bãi Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ, đồng bào thường ở nhà trệt, mái lợp rạ hoặc tranh ngói, tường hay xây gạch mộc
- Dân tộc Tày là nhóm dân tộc đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo của người Tày Nơi thờ tổ tiên chiếm vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà Giường để trước bàn thờ chỉ để không, khách lạ không được ngồi hoặc nằm lên đó Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ không được nhìn vào gia súc, gia cầm Người mới sinh không được đến chỗ thờ tổ tiên Các điệu dân ca phổ biến nhất của người Tày là hát lượn, hát đám cưới, ru con Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện; họ rất trọng người cùng tuổi; khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình
Trang 366 Một số quy tắc giao tiếp cơ bản giữa thầy thuốc với người bệnh
- Cần xác định rõ ràng, cụ thể mục đích giao tiếp là nhằm phát hiện bệnh tật một cách chính xác, chữa bệnh một cách có hiệu quả và thấy thuốc luôn tìm cơ hội để dẫn dắt hoạt động của người bệnh hướng vào thực hiện mục đích này
- Bước đầu tiên của giao tiếp là thu thập thông tin Muốn có nhiều thông tin tin cậy thì chủ thể cần tiếp xúc với nhiều đối tượng, trong những hoàn cảnh và tình huống khác nhau Phải có thái độ tích cực khi thu thập thông tin, cân nhắc kỹ càng cả những thông tin nhỏ nhặt của người bệnh, cần dùng tài trí tìm hiểu tâm tư, tính cách, sở thích, học vấn, mối quan hệ nhất là bệnh tật của người bệnh
- Cần chuẩn bị kỹ càng thời gian, địa điểm, không khí tâm lý của cuộc giao tiếp Nơi giao tiếp cần sạch, mát mẻ, ngăn nắp, kín đáo, trang trí màu sắc, cảnh vật hài hòa, khoa học Cần giải quyết tốt mối quan hệ với thành viên trong gia đình và hàng xóm, láng giềng trước khi giao tiếp với người bệnh Khi coi giao tiếp là dịp tốt để gặp gỡ người mình mong muốn, để được thể hiện lòng nhiệt tình của mình thì lòng tự tin sẽ tăng lên và sẽ tạo ra được nguồn năng lượng mới trong giao tiếp
- Không nên giao tiếp giống nhau giữa các bệnh nhân Khi gặp người bệnh có lòng tự tôn quá cao, ích kỷ, thích phô trương, không kiềm chế nổi mình, nói không thật lòng thì giao tiếp phải tế nhị, lịch sự, khéo léo, đúng chỗ, đúng lúc, nếu không thì sẽ không đạt kết quả giao tiếp Cần khuyến khích những người có ý chí cao, kiên định, dũng cảm Phải biết kích thích cuốn hút người bệnh, biết giúp họ khắc phục sự e dè, lo lắng về bệnh tật, biết khéo léo vượt qua chướng ngại khi giao tiếp
- Quan sát kỹ hành động, nét mặt, dáng vẻ người bệnh để có thể hiểu sâu thêm bản chất bệnh tật của người bệnh và thấy rõ hơn con người họ Muốn đánh giá con người qua nét mặt, cần nhìn ở tư thế nghiêng (vì lúc này bộ mặt có vẻ đẹp thực chất nhất) Nếu nhìn thẳng, do con người muốn tỏ ra có bộ mặt đẹp đẽ, vô tình lại làm cho
da mặt căng hơn, khiến cho nét mặt thiếu tự nhiên Khi mặt đối mặt trò chuyện, nếu cúi mặt sẽ làm cho câu chuyện phát triển kém thuận lợi Nét mặt thâm trầm sẽ tạo cảm giác khó chịu trong giao tiếp
- Phong cách ăn mặc là một trong những cách thể hiện mình ăn mặc quá cầu kỳ, không đúng quy định về y tế hoặc quá mộc mạc đều không thích hợp Nên ăn mặc hài hoà, tự nhiên
- Hãy tự giới thiệu mình, thể hiện chân thành cái đặc sắc, mặt mạnh của mình để người bệnh chú ý khi giao tiếp Không che giấu khuyết điểm và cũng không nên quá chú ý đến khuyết điểm mà sinh cảm giác tự ty Song không được tự đề cao mình và không nên nghe những lời tán dương giá đối, nịnh hót về mình, vì như vậy sẽ tạo ra một ảo ảnh, một hố ngăn cách với xung quanh, gây bất lợi cho sự giao tiếp Hãy làm cho mọi người hiểu sự tồn tại, giá trị đích thực của bản thân và không ngừng hoàn thiện mình, luôn luôn bổ xung cái đặc sắc
- Cần tạo cho người bệnh ấn tượng tốt đẹp về mình, nhất là ấn tượng đầu tiên
Trang 37Nếu để lại ấn tượng không tốt thì sẽ mất thời gian vòng vo mới có thể tiếp tục giao tiếp đạt kết quả Phải chủ động gây thiện cảm với người bệnh, thỉnh thoảng nên gây ấn tượng mới mẻ, bất ngờ với đối tượng giao tiếp
- Thói quen nhún nhường người bệnh khi giao tiệp là rất quan trọng Cần quan tâm đến người bệnh, giúp đỡ họ đạt được mong ước, trong phạm vi khả năng cho phép Tích cực khích lệ sự tiến bộ, dù là nhỏ nhặt trong khắc phục bệnh tật của người bệnh Phải biết khêu gợi lòng hăng hái và giữ thể diện cho họ, không được định kiến khi giao tiếp
- Đem mọi cái mình có (sức lực, thời gian ) để quan tâm tới người bệnh Hãy đối xử bằng lòng tốt, tình thân ái và sự nhiệt tình, khoan dung, thông cảm Phải làm cho họ có cùng chí hướng trong khám, chữa bệnh và sẵn sàng giúp đỡ, tôn trọng họ
- Giao tiếp với bệnh nhân nữ cần bình đẳng, ở những nơi công khai, sáng sủa Phải quan tâm, săn sóc họ, song không nên dễ dãi và không cần phải quan tâm quá đặc biệt
- Biết duy trì trạng thái cân bằng tâm lý trong giao tiếp Loại bỏ cảm giác mệt mỏi lo âu, giận dữ bằng cách tự vấn an, tự ám thị Xấu hổ là tỏ ra mình yếu kém Thái độ tự nhiên là bí quyết hay nhất trong giao tiếp Khắc phục sự lúng túng bằng cách tập trung chú ý vào một điểm và thường xuyên luyện tập sức lực, tinh thần, tránh căng thẳng nội tâm
- Tự mình đạo diễn cuộc giao tiếp, tiên ra lối diễn xuất thích hợp với người bệnh
và dẫn dắt họ theo chủ đề giao tiếp Cố gắng không đề cập đến những vấn đề mình không hiểu hoặc không liên quan đến chủ đề chính của cuộc giao tiếp
- Phải mở đầu cuộc giao tiếp một cách nhẹ nhàng Nếu chưa có cách nào tìm ra chủ đề chung thì trước hết cần thể hiện bản tính con người, nói vui vẻ, thật lòng những chuyện xung quang hoặc tự giới thiệu về mình Cần phối hợp nhịp điệu hoạt động của mình và của người bệnh để lựa chọn thời cơ, sớm đi vào chủ đề giao tiếp
- Phải biết lựa chọn thứ tự các bước để giao tiếp thuận lợi Chú ý quan tâm đến thái độ, ánh mắt, vẻ mặt của người bệnh để xem họ có sất ruột không, có bình tĩnh không mà quyết định có tiếp tục cuộc giao tiếp nữa hay không ánh mắt ngời sáng,
bộ mặt đầy sinh khí, chứng tỏ cuộc giao tiếp đang đi đúng quĩ đạo Nếu ánh mắt người bệnh không có một chút sinh khí nào hoặc nhìn đi đâu đó thì cần nhanh chóng chuyển chủ đề hoặc tán cách kết thúc cuộc giao tiếp
- Khi gặp trắc trở, không nên trốn chạy khỏi "sàn diễn" vì như thế sẽ lâm vào tình trạng quạnh hưu, buồn phiền Khi vai chính của mình không còn nữa, thì cuộc đời như của người khác; sự năng nổ, nghị lực cũng không còn và hậu quả sẽ khôn lường Lúc này chỉ còn cách thắp lên ngọn lửa ý chí, khắc phục lo buồn, tìm phương sách vượt qua trắc trở, sau nhiều lần vấp váp sẽ làm con người trưởng thành Phải dựa vào sức mình là chính để vươn lên
- Cần tuân theo lễ tiết trong giao tiếp: thầy thuốc cần hiểu và thực hiện nghiêm
Trang 38túc vai diễn của mình và tạo điều kiện tốt để người bệnh phát huy kỹ thuật diễn xuất Người thầy thuốc phải chứng minh sự tồn tại của mình, phải giành lấy cảm tình của người bệnh bằng cách hành động đúng chỗ, đúng lúc và có hiệu quả thiết thực Cũng cần có vui chơi, hài hước trong giao tiếp Người thầy thuốc cần có tính cách vui vẻ, hài hước, linh hoạt, làm cho người bệnh có ấn tượng sâu sắc Qua vui chơi, qua chuyện cười để nắm bắt lòng người và chi phối hoạt động của họ Những hoạt động bổ trợ sẽ làm buổi giao tiếp thêm sinh động
- Tặng quà cho nhau là để bày tỏ tấm lòng của mình Khi tặng quà, cả hai bên đều được tận hưởng niềm vui cho và nhận Song người thầy thuốc không được vì quà biếu mà quên trách nhiệm, nhiệm vụ của mình
- Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, cần nói ra trọng điểm của đề tài một cách nhanh chóng, dễ dàng và chính xác Muốn truyền đạt vấn đề có kết quả, cần có phần trình bày độc đáo Không nên nói những lời lẻo mép, những điều làm người bệnh không vui Không nên trình bày tường tận mọi việc hoặc phô bày tất cả những điều mình muốn nói Cần phát biểu tóm gọn những trọng tâm, có lời giải thích dễ hiểu và sớm đưa ra kết luận
- Biết nghe sẽ làm cho người bệnh biết nói Cần để cho người bệnh trình bày hết mọi ý cố gắng thu lượm những ý kiến bổ ích Không nên sử dụng những lý lẽ thiếu tình cảm Những người lúc nào cũng muốn dùng lý luận lô gích để giao tiếp sẽ bị cho
là cứng nhắc, không được người khác hoan nghêng, đôi khi còn gây phản ứng mạnh
mẽ Cần nói năng trôi chảy, mạch lạc, ngữ điệu ôn hoà và lễ độ, tránh dùng ngôn từ không đúng, thô lỗ Giọng nói kiên quyết là cực kỳ quan trọng Nếu nói nhỏ sẽ làm cho đối phương có ấn tượng người nói thiếu quyết đoán Nên sử dụng nhiều câu khẳng định Khéo dùng phương tiện phi ngôn ngữ để phụ hoạ như: gật đầu, mỉm cười nhướn người, mở to mắt ngạc nhiên
- Khi viết giấy để giao tiếp, cần viết thẳng những vấn đề mà khi đối mặt không tiện nói ra hoặc định nói nhưng không thể nói được Viết thư cần nhiều công sức, nên
nó có một ý nghĩa đặc biệt so với nói chuyện Những bức thư được viết và đọc một cách thận trọng, được lưu lại sẽ tránh được sự hiểu nhầm
- Điện thoại cũng là phương tiện tốt để truyền đạt thái độ và tấm lòng của mình, nghe và gọi điện thoại cũng cần những kỹ xảo nhất định
- Trong giao tiếp cần sự trung thực, song đôi khi không cần bộc lộ hết những cái mình có để giữ vững khu vực của mình và không xâm phạm sang khu vực của người khác Mỗi người đều có cái riêng của mình, vì thế không nên đem cái riêng của người này áp đặt cho người kia Mặt khác, sự giả vờ không biết đối với những việc đã biết, đôi khi cũng cần thiết Song khi gặp người vờ vĩnh, thường có hai khuynh hướng xảy ra: hoặc là không tin họ (đây là khả năng xấu), hoặc là bỏ qua chuyện này Ở trường hợp thứ hai, có thể giả bộ lắng nghe và phối hợp với nhịp hoạt động của người bệnh
mà tiếp tục giao tiếp Cần cho người bệnh biết những điều cần biết về bệnh tật của họ,
Trang 39song không phải là cho biết tất cả
- Hãy chào hỏi một cách tự nhiên Hãy nói câu “tôi có thể giúp gì cho bạn” một cách thuận miệng và chân thành Tâm trạng con người được phản ánh rõ trong ngữ điệu âm thanh và sự biểu cảm câu chào Trước khi chào người nên chào hỏi chính mình để giữ thăng bằng tâm lý Hãy chúc nhau một ngày mới tốt lành có một sinh lực dồi dào và làm được nhiều việc thiện
- Hãy kết thúc buổi giao tiếp một cách hợp lý, gây ấn tượng sâu sắc cho người bệnh Phải tạo được bước tiếp nối cho sự giao tiếp và cả hai phía cần thành tâm gặp lại nhau
7 Những điều cần lưu ý trong một số tình huống giao tiếp cụ thể
- Không hứa những điều không nên hứa Trong thực tế mọi việc điều có thể hứa hẹn, song phải xem có thực hiện được không thì mới hứa Thầy thuốc nào giữ và thực hiện được lời hứa thì người bệnh mới tín nhiệm Trong một số trường hợp, không nhất thiết phải làm những việc vượt quá khả năng của mình hoặc làm một cách miễn cưỡng Bất đắc dĩ lắm mới phải từ chối lời thỉnh cầu của người bệnh, song phải từ chối một cách dứt khoát, ngay từ đầu, bằng cả sự dũng khí và sự khéo léo Khi từ chối cần nói
rõ lý do và nên giới thiệu một ai đó có khả năng giúp đỡ họ Nhưng đôi khi trong thực
tế hiện nay có hiện tượng ép người khác chấp nhận lời cam kết hoặc hứa hẹn những điều không thể làm được Trong những tường hợp này hoặc là từ chối thẳng, hoặc là tỏ thái độ lãnh đạm: "để tôi cố thử xem" Như vậy vừa không có sự cam kết, vừa không hứa hẹn, song vẫn luôn luôn nhớ việc được nhờ và có gắng làm tốt trong phạm vi khả năng của mình
- Trong giao tiếp không nên nói xấu người khác Nếu nói xấu đồng nghiệp, người bệnh một cách vô trách nhiệm hoặc nói sau lưng thì sẽ rất tẻ nhạt và ác ý
- Cần xử lý sự phản kháng, chống đối của người bệnh bằng thái đội bình tĩnh Tốt nhất là thu hẹp sự chống đối, coi nhau như bạn bè và từ từ cải biến họ Nên tránh những tranh luận, những chống đối không cần thiết Nếu người bệnh.chống đối một cách có hiểu biết thì thành tâm trao đổi với họ, cùng tiên ra lối thoát Nếu họ chống đối theo một “âm mưu” nhất định thì cần dũng cảm đối thoại và sớm giải quyết sự đối kháng Nếu trong tranh luận mình lại có lý, thì nên có người làm trọng tài và tranh luận công khai
- Nếu bản thân có lỗi, có sai lầm thì nên thành thật nhận lỗi trước, không che giấu, không thanh minh và dốc toàn tâm, toàn lực để sửa chữa Muốn chỉ trích, oán trách người bệnh, trước hết phải khen những điểm tốt của họ, phải chỉ cho họ nguyên nhân của lỗi lầm và phải có lòng độ lượng, khoan dung không nên chế giễu sai lầm của
họ
- Khi bị hiểu lầm, cần cùng người bệnh, mặt đối mặt giải quyết, trình bày tường tận sự việc với thái độ hết sức khiêm tốn, không để người thứ ba xen vào Nếu người bệnh chưa biết nhiều về mình thì không cần vội vàng lý giải, vì họ sẽ cho là mình biện
Trang 40bạch, song cần giải toả sự hiểu lầm, càng sớm càng tốt Khi phải nghe những lời không muốn nghe như nói xấu, bới móc những chuyện thầm kín của người khác…, thì phải căn cứ vào nhân phẩm, tuổi tác, địa vị của người nói và căn cứ vào hoàn cảnh mà
có cách ứng phó thích hợp Tốt nhất là tỏ ra không đồng tình, chỉ tiếp nhận một cách nhẹ nhàng và tìm cách giúp họ giải toả ức chế
- Khi phải giao tiếp với những người bệnh chưa cần quen biết, nếu không thật cần thiết thì nên tìm cách khéo léo từ chối, nếu cần phải quan hệ thì cố gắng giữ cự ly hợp lý và từng bước xây dựng mối quan hệ giúp ích về sau
- Khi giao tiếp với người bệnh là người dân tộc thiểu số thì phải tôn trọng phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác nhau
- Với người phương Tây, không nên tuỳ tiện hỏi họ về tuổi tác (nhất là phụ nữ),
về tình trạng hôn nhân (đây là việc riêng của mỗi người), về công việc, thu nhập, về tài sản tư trang và tín người tôn giáo
- Với người châu Á khi giao tiếp cần hết sức trân trọng người lớn tuổi, có chức sắc cần ăn nói từ tốn
Tóm lại, để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp với người bệnh, người thầy thuốc cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau:
+ Phải thường xuyên trau dồi đạo đức, nhân cách người thầy thuốc, có lòng nhân
đạo cao cả, tinh thông chuyên môn nghiệp vụ và biết cách ứng xử với người bệnh, với đồng nghiệp
+ Phải biết gợi ý, khuyến khích người bệnh nêu hết ý kiến của họ, tạo bầu không
khí tâm lý đoàn kết, thân tình, tránh sự đối đầu, "đôi co", có thái độ công bằng, trung thực, thẳng thắn, bình tĩnh, không định kiến, không dùng thủ đoạn áp chế người khác
+ Khéo léo tế nhị trong ứng xử, nhất là đối với người bệnh kém ý thức chấp hành
chế độ, qui định của bệnh viện, hay chống đối ngang ngược
+ Tránh những hành vi, cử chỉ không phù hợp, những lời nói xúc phạm đến
người bệnh, không chế giễu khi họ nói sai, biết kiềm chế xúc cảm cá nhân, tạo thái độ cởi mở, tin tưởng người bệnh và luôn giữ nụ cười trên môi
+ Mục đích gặp gỡ người bệnh phải rõ ràng, trong sáng: nhằm tìm hiểu bệnh
tình, kiểm tra đánh giá tiến độ thực hiện mệnh lệnh, chương trình, kế hoạch điều trị, nhằm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người bệnh
+ Cần có tác phong quần chúng, đồng cảm, quan tâm đến người bệnh, có thái độ
đúng đắn, thân mật, lịch sự, khoan dung, song không suồng sã, cợt nhả
+ Cần có cách giao tiếp thích hợp với từng đối tượng, nhất là những người đang
gặp khó khăn, những người hay đố kỵ, bướng bỉnh
+ Nội dung các bước tiến hành giao tiếp gồm: thừa nhận cuộc giao tiếp (dù biết
trước hay bất ngờ), lắng nghe ý kiến của đối phương, không cắt ngang, tìm ra ý chính của chủ đề giao tiếp, xác định những điều hợp lý, không hợp lý, những cái chung để