1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Định hướng ra đề văn theo hướng mở

16 584 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hướng tới phát triển năng lực người học thì hiện nay đang làm.” Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển Vì những lẽ trên chúng tôi muốn trao đổi cùng các anh chị đồng nghiệp v

Trang 1

PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẢO LÂM TRƯỜNG THCS PHẠM VĂN ĐỒNG

CHUYÊN ĐỀ

ĐỊNH HƯỚNG RA ĐỀ LÀM VĂN THEO HƯỚNG MỞ TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN THCS

Giáo viên: Phạm Thanh Tùng

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Thế giới ngày càng phát triển.Con người muốn tồn tại, muốn hội nhập, muốn tự khẳng định mình thì nhất định phải là những thành viên năng động, tích cực, sáng tạo, có

óc quan sát nhạy bén tinh tế, trí tuệ linh hoạt, có thái độ lựa chọn thông tin và hiểu thông tin một cách sáng tạo nhanh nhạy Để đáp ứng yêu cầu đó của con người và đòi hỏi của

xã hội, nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo là vô cùng quan trọng Trong đó, hiện đại hoá giáo dục đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng của công tác phát triển giáo dục Việc đổi mới nội dung phương pháp dạy và học là vấn đề then chốt trong chiến lược như một lẽ tồn tại Vì vậy, môn Ngữ văn trong nhà trường cũng không thể không có những thay đổi về nội dung và phương pháp học tập để đáp ứng được những yêu cầu về sự đổi mới Bởi lẽ môn Ngữ văn là môn học công cụ Đây là môn học sẽ trang bị cho học sinh những kiến thức công cụ để học sinh học tập, sinh hoạt và có nhận thức đúng đắn về xã hội, con người từ đó bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhân cách cho chính bản thân người học Một trong những biểu hiện của sự đổi mới ấy là thực hiện giảm tải, đưa văn học gắn liền với thực tiễn đời sống và mang tính thực tiễn cao Trong

sự đổi mới dạy và học bộ môn Ngữ văn việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới ra

đề kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt có ý nghĩa quyết định bởi kiểm tra như thế nào sẽ yêu cầu dạy và học như thế ấy

Việc đổi mới ra đề kiểm tra thì đổi mới ra đề văn theo hướng mở đang được sự quan tâm của dư luận xã hội, của các nhà trường, của người dạy và người học, các cấp quản lí giáo dục “đổi mới thi, kiểm tra đánh giá cũng đang đổi mới rồi, thí dụ thời gian qua ra đề mở chúng ta đã làm, xây dựng một ma trận đề trong kiểm tra, đánh giá để kiểm tra đánh giá kiến thức một cách toàn diện, tránh học tủ Hướng tới phát triển năng lực người học thì hiện nay đang làm.”( Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển) Vì những lẽ trên chúng tôi muốn trao đổi cùng các anh chị đồng nghiệp về vấn

đề:“Định hướng ra đề làm văn theo hướng mở trong chương trình Ngữ văn trung học cơ

sở” Qua đó muốn góp một tiếng nói về vấn đề ra đề văn theo hướng mở, ít nhiều góp

tiếng nói vào việc đổi mới phương pháp dạy và học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Thực trạng việc dạy và học môn Ngữ văn những năm gần đây trong nhà trường phổ thông còn bộc lộ nhiều vấn đề cần trao đổi như: tình trạng học sinh không còn hứng thú với môn học, chán học, học mang tính đối phó, học chỉ nhằm mục đích thi cử sau đó quên ngay Nguyên nhân thì có nhiều nhưng theo chúng tôi có một nguyên nhân cũng rất quan trọng đó là đề kiểm tra, đánh giá theo lối mòn cũ, dạng đề truyền thống thường kèm

Trang 3

theo những câu mệnh lệnh, gợi dẫn vẫn còn tồn tại ká phổ biến.Với các đề bài như vậy, chưa thực sự tạo ra được hứng thú làm bài của học sinh và cũng đồng nghĩa là đề bài chưa dành cho các em khả năng độc lập sáng tạo trong quá trình tạo lập văn bản Nội dung đề bài tập làm văn trong trường phổ thông chúng ta hiện nay chủ yếu còn nặng về kiến thức hàn lâm, hay thuần tuý những kiến thức văn học mà chưa đề cập đến những vấn

đề, đề tài liên quan đến cuộc sống con người Các bài kiểm tra chỉ tập trung kiểm tra được những điều ghi nhớ học thuộc hơn là vận dụng sáng tạo những hiểu biết này vào các tình huống thực tiễn Việc cho điểm của giáo viên không thống nhất và có sự khác biệt lớn giữa các giáo viên khi đánh giá học sinh do chưa đảm bảo tính khách quan, chưa hạn chế được tính chủ quan áp đặt trong đánh giá

Học sinh không biết hoặc chưa quan tâm đến các kĩ năng thực hành và năng lực quan trọng khác như năng lực vận dụng những gì học được ở nhà trường vào thực tiễn giải quyết những vấn đề của đời sống hằng ngày, năng lực tự học thêm những gì ngoài SGK, năng lực tự khẳng định mình Bài văn của học sinh bị lệ thuộc, bắt chước, hay ám ảnh bởi các bài văn mẫu, đang tràn lan trên thị trường sách hiện nay Học sinh chưa quen,

bỡ ngỡ với dạng đề mở

Còn giáo viên chưa cho học sinh làm quen và cũng chưa quen với việc đổi mới kiểm tra đánh giá,chưa thực sự đổi mới tư duy ra đề bài kiểm tra nói chung và đề bài tập làm văn nói riêng Viêc ra đề xưa nay đều đang theo một motip cũ vừa rập khuôn vừa máy móc, tất cả đều có chung một cách thức ra đề giống hệt nhau Đề bài chúng ta còn mang tính mệnh lệnh, áp đặt, bắt buộc, thường bắt đầu với đề ngữ quen thuộc, có mệnh lệnh đề Một bộ phận giáo viên chúng ta ra đề theo kiểu đánh đố xa rời với phạm vi kiến thức và cuộc sống của học sinh hoặc khai thác lại những đề bài của sách giáo khoa, sách tham khảo,bài văn mẫu,… Vì vậy, vô tình giáo viên đã tạo điều kiện cho học sinh làm theo hoặc chép lại hoặc làm “những bài văn đồng phục” mà không cần phải độc lập suy nghĩ, sáng tạo

II CÁC GIẢI PHÁP CHUNG

Trước hết cần quan niệm như thế nào là đề mở? Một đề bài mở là một đề bài

không có yêu cầu phương thức biểu đạt như: hãy tả, hãy thuyết minh,hãy kể, hãy phát

biểu cảm nghĩ…hay mệnh lệnh đề cụ thể gì về thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, giải thích, phân tích… Có nghĩa là đề bài không đặt ra yêu cầu cụ thể, áp đặt theo ý

định chủ quan của người ra đề mà để người viết độc lập sáng tạo chọn cho mình một phương pháp, tự xác định nội dung, yêu cầu và thể loại, thao tác để làm bài Đề mở khác với loại đề có đầy đủ yếu tố, từ lời dẫn đến yêu cầu về thao tác cụ thể (có thể gọi đây là

đề đóng, đề khép kín)

Do vậy, đề bài mở có ưu thế là tạo cho học sinh có một không gian và khoảng trời độc lập sáng tạo trong quá trình tạo lập văn bản Học sinh có cơ hội bộc lộ những ý kiến, cảm xúc, suy tư rất cá nhân con người của mình Và bài viết của học sinh không bị

lệ thuộc, bắt chước, hay ám ảnh bởi các bài văn mẫu, đang tràn lan trên thị trường sách hiện nay… Bên cạnh việc phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, một ưu điểm khác cần được nói đến của dạng đề mở là có thể phân hóa được học lực của

Trang 4

học sinh Những đề văn theo hướng mở sẽ tạo cho học sinh cơ hội được bày tỏ nhận thức, suy nghĩ của mình đối với những vấn đề khác nhau của xã hội.Từ đó góp phần hình thành

kĩ năng sống, kĩ năng ứng xử phù hợp với những vấn đề đặc ra trong cuộc sống thường nhật.Cũng là cách để kéo văn chương về gần với cuộc sống

Để học sinh làm tốt đề văn mở, thầy cô giáo phải đổi mới cách dạy, và học sinh cũng phải biết cách “học mở”, phải biết tự học từ nhiều nguồn, phải tích cực chủ động trong giờ học Văn Giáo viên phải nghiên cứu, tập ra đề, trao đổi tập thể, thử các khả năng thực hiện đề mở, có biện pháp dạy học sinh làm quen, làm thử thì học sinh mới làm được Đề mở đòi hỏi học sinh ngay trong khâu tìm hiểu đề đã phải tư duy nhiều, phải đọc hiểu đề, tìm ra các ý nghĩa ẩn chìm trong các đề tài và tài liệu mới có khả năng đề ra chủ

đề và đặt nhan đề cho bài làm văn Đặt nhan đề có nghĩa là xác định chủ đề cho mình và

tự viết bài để thể hiện chủ đề ấy Đề mở không phải là loại đề dễ làm hơn so với đề hạn định, mà phần nào còn khó hơn, vì bản thân sự lựa chọn là khó hơn việc học sinh không cần lựa chọn gì cả, cứ làm theo lệnh, chỉ đâu đánh đó

Bên cạnh đó, giới hạn về việc ra đề cũng được nhiều người quan tâm Mở cái gì?

Mở đến đâu? Mở ở mức độ nào để phù hợp với trình độ, đối tượng của học sinh ở tất cả các vùng miền, không quá khó đối với học sinh, huy động được nhiều đơn vị kiến thức nhưng lại vừa có tính khoa học, tính chính xác và tính hàm súc, khơi gợi hứng thú làm bài cho học sinh là câu hỏi được đem ra bàn luận nhiều nhất Khi thực hiện đề mở, phải dựa vào nhiều cơ sở Thứ nhất, đề mở phải phù hợp với đối tượng học sinh Đề phải gần gũi với lứa tuổi, phải thực từ cuộc sống, phải mới mẻ và “có vấn đề” để tạo sự hứng thú

và phát huy sáng tạo của học sinh Thứ hai, mục đích và loại bài kiểm tra đánh giá cũng cần được lưu ý mở có giới hạn và định hướng Cuối cùng, phải đảm bảo chuẩn kiến thức

và kỹ năng Việc đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới cách ra đề văn theo hướng mở là hết sức cần thiết, song cần phải thống nhất cho giáo viên, có định hướng Tránh ra đề mở theo kiểu tùy tiện, dễ dãi, thiếu giới hạn, gây sốc… Điều này thuộc về trách nhiệm của những người làm chuyên môn Một ví dụ tiêu biểu như trong kì thi tuyển vào lớp 10 của

một địa phương đã có đề bài “Trái tim có điều kì diệu”, đề này là quá sức so với học sinh

lớp 9 bởi “độ mở” của đề quá lớn, thiếu định hướng cả phương pháp, phạm vi tư liệu, lĩnh vực kiến thức, dung lượng bài viết Chẳng hạn đề kiểm tra lớp 9 phần nghị luận xã hội, cần mở về phương pháp, thao tác làm bài, phạm vi tư liệu, quan điểm… nhưng giới hạn về dung lượng Với phần nghị luận văn học đề mở phải gắn với kiến thức văn học trong chương trình, chứ không thể thoát ly tùy tiện, phải dùng kiến thức văn học, lí luận

để giải quyết yêu cầu của đề bài Ví dụ đề: Chọn một nhân vật mà em thích (trong truyện

“Chiếc lược ngà”), hóa thân thành nhân vật đó và kể lại câu chuyện “Chiếc lược ngà”

để thấy được nổi niềm khao khát tình cha của bé Thu Đây là một đề bài mở về vai trần

thuật, học sinh được tự do lựa chọn nhân vật mà các em muốn và kể lại câu chuyện từ điểm nhìn của nhân vật đó Dù có mở đến đâu thì học sinh cũng luôn phải xác định được rằng câu chuyện muốn nêu lên vấn đề cụ thể gì và hướng người đọc đến những giá trị tốt

đẹp gì Như chuyện “Chiếc lược ngà” gây cảm động trong lòng người đọc về tình cha

con sâu nặng, tình yêu thương, đồng cảm sâu sắc về những mất mát to lớn của chiến tranh mà nhân dân ta phải trải qua trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Qua nhân vật bé Thu, nhà văn đã cho người đọc thấu hiểu cảnh ngộ và tâm trạng nhân vật bé Thu

Trang 5

Đề văn mở chỉ là một khâu của quá trình đổi mới kiểm tra đánh giá Nó phải đi liền với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy… đặc biệt là cách xây dựng đáp án và cách chấm Đề văn mở đòi hỏi đáp án phải mở (đề mở mức độ nào, khía cạnh nào thì đáp án mở mức độ và khía cạnh ấy) Cách chấm cũng phải linh hoạt, dân chủ, tôn trọng Người thầy, qua chấm bài, vừa đánh giá kiến thức kỹ năng của học sinh, vừa lắng nghe, chia sẻ và uốn nắn những tình cảm, quan điểm, của các em Nghĩa là, không nên ràng buộc người viết vào một số ý nào có sẵn, cho trước mà chỉ cần định hướng về cách giải quyết Chất lượng của bài viết cũng không nên quá câu nệ vào dung lượng ngắn, dài Điều quan trọng là học sinh phải xác định đúng trọng tâm vấn đề cần trình bày và thể hiện nó một cách thuyết phục Giáo viên khi chấm bài cũng phải thực

sự vững tay để không bỏ qua những suy nghĩ độc đáo, sáng tạo của học sinh (có thể không có trong đáp án ) thể hiện trong bài viết Có như vậy, môn Ngữ văn mới thực sự trở thành môn học yêu thích và đề thi mở sẽ trở nên gần gũi, hiệu quả hơn trong công tác đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ

Trang 6

III CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ

1 Các dạng đề mở

Ngày nay trong dạy học làm văn có khuynh hướng ra đề mở Đề văn nào cũng có tính hạn định, nhưng đề mở độ hạn định giảm thiểu để tạo khả năng cho học sinh lựa chọn, khiến họ được tự do lựa chọn vấn đề và cách giải quyết vấn đề của mình Các dạng

đề mở thường gặp gồm có :

1.1 Loại đề cho đề tài

Đề ra như một đề tài chung để viết, học sinh có thể cụ thể hoá thành đề mục hay nhan

đề của bài viết, có thể chọn kiểu bài nghị luận hay tự sự, biểu cảm, nhưng không được

làm thơ.Ví dụ: Viết về tình bạn; Cây xanh và con người (đề cho học sinh lớp 9) Trong

hai đề dạng này, ngoài hạn chế không được làm thơ, học sinh không chỉ có thể tự do

chọn kiểu bài như đã nói, mà còn tự do đặt nhan đề Chẳng hạn đối với đề Viết về tình

bạn , học sinh có thể viết về người bạn mới quen, hay người bạn cũ, họăc nghị luận về

tình bạn, bày tỏ cảm xúc đối với người bạn gặp khó khăn, nhớ người bạn đang ở xa, hoặc

kể về những mối tình bạn cao thượng và cảm động mà em biết Ngôi trường của em (đề lớp 8) đề này học sinh có thể tả, kể, thuyết minh Một người bạn của em (đề cho học sinh

lớp 7) với đề này học sinh có thể viết bài văn tự sự, hoặc tả về người bạn của mình Loại

đề này chỉ có thể ra khi học sinh đã học hết các kiểu bài và thích hợp ra trong kì thi cuối kì,cuối năm đầu năm hay thi chuyển cấp Khi đang học một kiểu bài nào đó thì phải tập trung vào kiểu bài đang học Lúc đó có thể sử dụng kiểu đề mở khác

Trang 7

1.2 Loại đề cho tài liệu:

Đây là dạng đề cung cấp một bức tranh hoặc ảnh hoặc cho một truyện ngụ ngôn, truyện cười, một nhân vật lịch sử, hoặc một đoạn trích tác phẩm, một mẩu tin trên báo, học sinh tự chọn lấy vấn đề, chủ đề để viết bài phân tích, bình luận, biểu cảm Ví dụ về một số đề văn cho lớp 9, nghị luận sự việc,hiện tượng đời sống

Đề 1 Chọn một trong ba tài liệu dưới đây, đọc kĩ tài liệu đã chọn, tự xác định đề mục,

viết bài làm văn nghị luận:

a) Báo điện tử ngày 4-12-2013 đã đưa tin: Trưa 4-12-2013, xe tải chở 1.500 thùng

bia đi từ TP HCM ra Phan Thiết Khi đến vòng xoay Tam Hiệp (Biên Hòa-Đồng Nai), bất ngờ xe gặp tai nạn khiến cả ngàn thùng bia trên xe đổ ào xuống đường Nhân cơ hội

đó, người dân xung quanh đã lao ra “hôi của” mặc cho lái xe khóc lóc van xin

b) Đài Phát thanh và Truyền hình Lâm Đồng phối hợp cùng với một số đơn vị,

hằng tháng thực hiện Chương trình “Hoa cúc trắng” với mục đích giúp đỡ những học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn nhưng học giỏi.

c) Tình trạng nhiều bạn trẻ hiện nay chỉ vì một chút khó khăn trong cuộc sống mà

đã buông xuôi, thậm chí tự hủy hoại bản thân, khiến gia đình và xã hội rất hoang man vì không thể nào lý giải nổi.

Đối với đề này học sinh có thể nhận ra tinh vô cảm là một nguy cơ của con người hiện đại Ai cũng chỉ biết bản thân mình, thấy người gặp nạn không giúp mà lại nhân cơ hội để “hôi của” Lòng nhân ái , sự chia sẻ, giúp đỡ nhưng hoàn cảnh khó khăn là trách nhiệm của mọi người ,của cộng đồng Sự ích kĩ , chỉ biết bản thân mình, hành động thiếu suy nghĩ dẫn đến hậu quả đáng tiếc Học sinh có thể chọn chủ đề thói vô cảm, tinh thần nhân ái, hành động bộc phát không làm chủ bản thân.Tùy theo chủ đề được chọn mà viết bài

Đề 2 Viết bài văn bàn về nội dung của hai bức ảnh sau:

Đối với đề này HS nhìn vào hai bức hình có thể nhận ra được hiện tượng lũ lụt hàng năm ở nước ta, từ đó học sinh viết bài văn nghị luận phân tích nguyên nhân, tác hại của lũ lụt và bày bỏ thái độ cũng như giải pháp khắc phục lũ lụt

Trang 8

1.3 Đề cho học sinh điền chỗ trống

Ví dụ: a) Mong ước…

b) Em biết ơn…

c) Em yêu…

Đối với các loại đề này học sinh suy nghĩ điền vào chỗ trống một từ hay cụm từ thể hiện niềm mong ước hay gọi tên người hay tổ chức, cơ quan mà em biết ơn Như thế học sinh có một khoảng rộng để tự chọn Chẳng hạn em ước mong được làm người có ích, em ước mong được vào đại học, em ước mong đất nước mạnh giàu, em ước mong được khoẻ mạnh (nếu là một học sinh chẳng may bị bệnh hiểm nghèo, bị bênh tim bẩm sinh) Hoặc

em biết ơn cha mẹ, em biết ơn nhà trường, em biết ơn bác sĩ…Ở đề (c) học sinh có thể viết em yêu quê hương, em yêu cây xanh, em yêu lá cờ Tổ Quốc…Kiểu bài làm văn có thể là tự sự có thể là biểu cảm, có thể là nghị luận, tuỳ theo cách hiểu vấn đề và cách giải quyết vấn đề của học sinh

1.4 Đề cho học sinh tự chọn thao tác

Trước đây thường hay có các lệnh nghị luận như: hãy phân tích, bình giảng, chứng

minh, giải thích… Những câu lệnh này được xem là những câu lệnh có tính chất đóng

Vậy mở thế nào để học sinh không bị gò bó trong quá trình làm bài thì có thể thay câu

lệnh ấy bằng các câu lệnh như: cảm nhận, suy nghĩ, trình bày quan điểm …hoặc chỉ nêu

vấn đề

Ví dụ : a) Suy nghĩ của em về nạ bạo hành học đường hiện nay

b) Một câu danh ngôn mà em thích.

c) Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.

(Tục ngữ Nga)

d) Một số bạn trẻ (như hình dưới) đã dùng “ngôn ngữ chat, ngôn ngữ tuổi teen”, khi giao tiếp Suy nghĩ của em về hiện tượng này.

2 Một số đề và gợi ý làm bài.

2.1 Lớp 9

Trang 9

Đề 1 Trương Sinh (Nhân vật trong “Chuyện người con gái Nam Xương”,Nguyễn Dữ)

trên bến sông Hoàng Giang.

Gợi ý làm bài

a.Gợi ý chung:

Đây là dạng đề mở, nhưng không phải mở hết biên độ Khi làm bài HS cần nhận thức được tính hai mặt của đề bài Một mặt, học sinh có được khoảng không gian sáng tạo rộng rãi.Mặt khác, học sinh giải quyết được yêu cầu hàm ẩn, trình bày suy nghĩ cảm xúc, nhận xét và đánh giá về một nhân vật trong tác phẩm văn học Với đề bài này , việc hài hòa giữa tính sáng tạo và đáp ứng yêu cầu cơ bản là dấu hiệu của bài văn tốt

b.Gợi ý cụ thể

* Về kĩ năng

- Đề bài không yêu cầu kiểu bài nên học sinh có thể tự do lựa chọn kiểu bài.Có thể là biểu cảm, tự sự, nghị luận, viết thư, thuyết minh,…miễn sao làm nổi bật được yêu cầu chinh của đề

- Dù chọn bất cứ kiểu bài nào thì bài làm cũng phải có kết cấu chặt chẽ, hợp lí ;bố cục cân đối, rõ ràng

* Về kiến thức

- Học sinh có thể chọn một hay nhiều đặc điểm của nhân vật Trương Sinh để phân tích, bộc lộ cảm nghĩ, nắm được cốt truyện và tình huống truyện bằng điểm nhìn mới, đặt ở nhân vật Trương Sinh

- Học sinh có thể sáng tạo thêm tình huống Trương Sinh ở bên bến sông Hoàng Giang với nỗi niềm, những suy nghĩ những trăn trở, những dằn vặt, đau khổ để từ đó số phận phẩm giá của Vũ Nương được phân tích, đánh giá dưới một ánh sáng mới…

-Bộc lộ tình cảm xót thương, trân trọng đối với nhân vật Vũ Nương, lên án Trương Sinh,

tố cáo xã hội bất công đồng thời thể hiện niềm tin vào cuộc sống hôm nay

Đề 2

Nhớ và quên

Một người hỏi nhà hiền triết:

-Cái gì nên nhớ và cái gì nên quên?

Nhà hiền triết đáp:

-Nếu mọi người làm điều tốt cho anh thì anh nên nhớ Còn anh làm điều tốt cho mọi người thì anh nên quên.

(Truyện ngụ ngôn lừng danh thế giới, NXB Thanh niên)

Trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa câu chuyện trên.

Gợi ý làm bài

*Về kĩ năng

-Viết bài văn nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí

- Bài viết có bố cục ba phần, lập luận thuyết phục, không mắc lỗi diễn đạt

* Về kiến thức: Hiểu ý nghĩa câu chuyện và trình bày ý kiến một cách thuyết phục.Có thể tham khảo một số ý sau:

-Ý nghĩa: Truyện giáo dục con người về một thái độ sống đúng đắn qua các tình huống

giả định mà con nguời thường gặp: cho và nhận, làm ơn và được giúp đỡ Lời nói của

Trang 10

nhà hiền triết có hai ý: nhắc nhở về sự biết ơn, nhận điều tốt từ người khác không thể không ghi nhớ; nhắc nhở khi làm ơn, làm điều tốt cho người khác thì phải trong sáng, vô

tư, không vụ lợi

- Bàn bạc : Truyện nói rất chính xác bản chất của lòng biết ơn và làm điều tốt.Quên đi những điều tốt người khác làm cho mình là trở thành vô ơn.Làm ơn mà luôn nhớ việc mình làm cho người thì không còn là làm ơn nữa.(HS cần kết hợp lí lẽ với dẫn chứng cụ thể, sinh động, trong văn học, trong thực tế,…)

- Rút ra bài học nhận thức và hành động; cần biết nhớ và biết quên, hướng đến những giá

trị tốt đẹp

Đề 3 Truyện“ Cuộc chia tay của những con búp bê“ (Ngữ văn 7, tập một) kết thúc ở

đoạn anh em Thành và Thủy chia tay nhau Em hãy tưởng tượng Thành trở về thăm mẹ

và em sau một thời gian xa cách.

2.2 Lớp 8

Đề 1 Một ngày đáng nhớ nhất của đời bạn

Gợi ý làm bài

* Về kĩ năng

- Đây là dạng đề mở cho kiểu bài tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm

- Bài viết có bố cục ba phần, chuyện hấp dẫn,diễn đạt mạch lạc, không mắc chính tả, lỗi dùng từ

-Văn cần có sự việc, nhân vật, ý nghĩa; chi tiết chân thực, tự nhiên

* Về kiến thức: Có thể tham khảo một số ý sau:

- Chọn một tình huống xảy ra với mình trong bất kì một ngày nào đó.Đó có thể là:

+Một ngày sinh nhật đáng nhớ

+Một chuyến dã ngoại, cắm trại thú vị

+Một ngày lao động tình nguyện vì môi trường ở địa phương

+Một ngày học tập trên lớp có nhiều niềm vui thích…

Đề 2 “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim Đó là một con rắn độc Nó gặm mòn

khối óc và làm đồi bại trái tim”(Ét –môn-đô đơ A-mi-xi).Từ nhân vật người anh trong

truyện ngắn “Bức tranh của em gái tôi »(Ngữ văn 6, tậo hai), em có suy nghĩ gì về thói

ghen tị của con người.

Gợi ý làm bài

* Về kĩ năng

- Có thể kết hợp các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận để làm bài

- Bài viết có bố hợp lí, có luận điểm rõ ràng, sức thuyết phục; dẫn chứng cụ thể;lập luận chặc chẽ

- Diễn đạt lưu loát, ngôn ngữ có cảm xúc

* Về kiến thức: Có thể tham khảo một số ý sau:

- Từ hình ảnh người anh trai của Kiều Phương trong truyện ngắn Bức tranh của em gái

tôi (Ngữ văn 6, tập hai) , rút ra được bản chất của thói ghen tị.

- Phân biệt được thói ghen tị với sự thi đua

Ngày đăng: 10/10/2016, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w