Để đảm bảođược điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạyhọc theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,rèn luyện kỹ năng
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRẦN ÂN CHIÊM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
“DẠY HỌC MÔN TIN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG
MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM QUA VÍ DỤ LẮP GHÉP
ĐÈN TỰ BẬT/TẮT KHI TRỜI TỐI/SÁNG”
Người thực hiện: Hà Thị Hương Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học
THANH HOÁ NĂM 2019
Trang 2Mục lục
1 Mở đầu 2
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 4
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17
3 Kết luận, kiến nghị 18
3.1 Kết luận 18
3.2 Kiến nghị 18
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Ngày 19 tháng 01 năm 2018, Bộ Giáo dục và đào tạo đã công bố dự thảo 20chương trình môn học phổ thông mới, trong đó có môn Tin học Với chương trìnhgiáo dục phổ thông mới, năng lực Tin học là một trong mười năng lực cốt lõi màhọc sinh phổ thông cần hình thành và phát triển Môn Tin học có sứ mạng giúp họcsinh có được năng lực tin học
Tuy nhiên nếu chúng ta không đổi mới phương pháp dạy học, không tạo đượchứng thú học tập cho học sinh, không có bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếpcận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đếnviệc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì quaviệc học năng lực tin học của học sinh sẽ không khác hiện tại là bao Để đảm bảođược điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạyhọc theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cáchđánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá nănglực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quảhọc tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thờinhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Giáo dục STEM xuất hiện ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây, hiện nay mớiđang ở bước truyền thông và mang tính thử nghiệm, chưa thực sự trở thành mộthoạt động giáo dục chính thức trong trường phổ thông Tuy nhiên, giáo dục STEMvới nhiệm vụ cung cấp các kiến thức và kĩ năng cần thiết cho học sinh thế kỉ 21 sẽ
là mô hình giáo dục diện rộng trong tương lai gần của thế giới Do vậy, giáo dụcSTEM rất cần sự quan tâm và nhận thức của toàn xã hội Hiện nay ở Việt Nam,STEM và giáo dục STEM nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu sâu Các bài viết, tàiliệu về giáo dục STEM ở Việt Nam hiện nay mới chỉ mang tính chất thông tin vàbình luận Hiện chưa có công trình nào bàn về cơ sở lí luận của giáo dục STEM vàvận dụng nó vào dạy học bộ môn
Nội hàm môn Tin học là môn học cốt lõi, cơ bản kết nối chặt trẽ các địnhhướng STEM và là nền tảng của CMCN 4.0, trong đó khoa học máy tính đã có yếu
tố tích hợp STEM (Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩthuật) và Mathematics (Toán học)), do đó việc nghiên cứu về giáo dục STEM nóichung và dạy học môn Tin học theo định hướng giáo dục STEM nói riêng là hoàntoàn có cơ sở và phù hợp với định hướng đổi mới căn bản giáo dục trong giai đoạnmới theo hướng phát triển năng lực ở người học nhằm đáp ứng những đòi hỏi của
xã hội hiện đại
Với các lí do trên tôi chọn đề tài: “Dạy học môn tin học theo định hướng mô
hình giáo dục STEM qua ví dụ Lắp ghép đèn tự bật/tắt khi trời tối/sáng ” bước
đầu tiếp cận với hình thức dạy học hướng vào năng lực của học sinh và mô hìnhdạy học STEM tại trường
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu.
Tiếp cận cơ sở lí luận về giáo dục STEM và cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn vềdạy học môn tin học nói chung và bài học số 8, tin học 10 nói riêng theo địnhhướng giáo dục STEM Xác định quy trình dạy học môn Tin học theo định hướnggiáo dục STEM và vận dụng vào dạy học môn Tin học trong trường phổ thông
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 10C3, 10C4, 10C5, 10C7 trường THPT Trần Ân Chiêm
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng một số nhóm phươngpháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Thường xuyên sưu tầm tra cứu sách báo tài liệu có liên quanđến nội dung đề tài, qua đó phân tích tổng hợp hệ thống hóa theomục đích nghiên cứu
- Phương pháp quan sát:
Thực hiện quan sát quá trình giảng dạy của đồng nghiệp, cácvideo liên quan tới nội dung đề tài trên internet… Quan sát họcsinh trong quá trình học tập trong lớp, ngoài giờ học tập, đặc biệt là theodõi trong những giờ thảo luận của học sinh nhằm đánh giá thực trạng, tìm hiểunguyên nhân, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học tích cực, địnhhướng và phát triển năng lực cho học sinh
- Phương pháp điều tra phỏng vấn:
Tiến hành thiết lập một số câu hỏi dạng trắc nghiệm và tự luận cho một sốnhóm học sinh và điều tra qua phiếu liên quan đến việc phân tích đánh giá việc họccủa học sinh, hay thông qua phỏng vấn trực tiếp qua đó nắm bắt được thực trạng
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm:
Thông qua các sản phẩm làm ra của học sinh như các sản phẩm, kết quả thựchành, bài tập tự học, làm việc theo nhóm, theo chủ đề, bài kiểm tra của học sinhhoặc bài làm cá nhân nhằm để phân tích, đánh giá sản phẩm và nhận định đưa kếtluận đúng khi dạy học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Qua các hoạt động, Giáo viên ghi chép qua đó đúc rút kinh nghiệm được vàchưa được để tổng hợp đi đến kết luận
- Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm phân tích thực trạng vấn đềnghiên cứu
Trang 52 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Đổi mới tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục ở trường THPT theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh hiện nay đang được triển khai giai đoạn 2 đếncác trường THPT trong toàn quốc, phương pháp này rất phù hợp với mục tiêu pháttriển và đặc điểm của giáo dục nước ta
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạyhọc, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọngnăng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho conngười năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chươngtrình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhậnthức
Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản
lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng củahọc sinh Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến nộidung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của trithức Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụthuộc quá trình thực hiện
Mô hình giáo dục STEM ngoài trang bị cho người học những kiến thức và kỹnăng lồng ghép liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toánhọc, còn giúp người học không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng đểthực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày đáp ứng đượcyêu cầu trong đổi mới giáo dục
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
a Thuận lợi:
Mô hình giáo dục tiên tiến của giáo dục STEM; tăng cường các hoạt động trảinghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học, luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiếnthức, nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh, hướng dẫn họcsinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu của “học” qua “hành” trong giáo dụcSTEM Do đó Học sinh đam mê với bài giảng, hứng thú với môn học
Từ năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo hàng năm đã tổ chức cuộc thi “Vậndụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinhtrung học” và cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trunghọc” Cuộc thi là cơ hội khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức của các mônhọc khác nhau để giải quyết các tình huống thực tiễn; tăng cường khả năng vậndụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh; thúc đẩy việc gắn kiếnthức lí thuyết và thực hành trong nhà trường với thực tiễn đời sống; đẩy mạnh thựchiện dạy học theo phương trâm "học đi đôi với hành"; góp phần đổi mới hình thức,PPDH và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; thúc đẩy sự tham gia của giađình, cộng đồng vào công tác giáo dục Đối với giáo viên, đây cũng là cơ hộikhuyến khích giáo viên sáng tạo, thực hiện dạy học theo chủ đề, chủ điểm có nội
Trang 6dung liên quan đến nhiều môn học và gắn liền với thực tiễn; tăng cường hiệu quả
sử dụng thiết bị dạy học; tạo cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các giáoviên trung học trên toàn quốc và thế giới Về cơ bản, đây là một hình thức của giáodục STEM
b Khó khăn:
Mô hình giáo dục STEM mới được triển khai ở các thành phố lớn, tại trườngchúng tôi giáo viên chưa được tiếp cận với mô hình giáo dục này Giáo viên chưabiết thế nào là mô hình dạy học STEM, áp dụng môn học của mình, các bài học với
mô hình STEM này như thế nào Tất cả kiến thức, điều kiện áp dụng là do tôi tựmình học hỏi qua các nguồn thông tin
Cơ sở vật chất và điều kiện kinh tế chi phí cho các thiết bị công nghệ cao kháđắt đỏ
Năng lực học sinh có nhiều hạn chế, chưa chủ động trong tìm hiểu kiến thức.Cần nhiều thời gian: một tiết học 45 phút không thể đáp ứng được nhiệm vụSTEM ở mức độ trung bình và khó, học sinh đang học thụ động giờ chuyển sangchủ động sẽ cần nhiều thời gian để tìm hiểu thông tin, cách học tập…
c Mặt mạnh:
- Giáo dục STEM đề cao đến việc hình thành và phát triển năng lực giảiquyết vấn đề cho người học Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, các em họcsinh, sinh viên được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyếtliên quan đến các kiến thức khoa học
- Giáo dục STEM đề cao một phong cách học tập mới cho người học Đó là phong cách học tập sáng tạo Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh Người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị:
+ phải biết cách mở rộng kiến thức;
+ phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề
mà người học đang phải giải quyết
- Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp Nó theo cách tiếp cậnliên môn (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng Thay vì dạy bốn
môn học (Science, Technology, Engineering and Mathematics) như các đối
tượng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kếtdựa trên các ứng dụng thực tế Qua đó, người học vừa được học lý thuyết, vừa đượchọc cách vận dụng vào thực tiễn
- Giáo dục STEM sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn Tạo ramôi trường làm việc với những con người có tay nghề chuyên nghiệp
d mặt yếu:
- Nếu đưa giáo dục STEM áp dụng đại trà sẽ rất khó khăn cho các trường vềkinh phí vì chi phí để tổ chức một tiết học, một chuyên đề là rất lớn; việc liên hệcho học sinh đi thực tế gặp nhiều khó khăn nhất là những trường học tại nông thôn;
để thực hiện một chuyên đề giáo dục theo định hướng STEM cả giáo viên và họcsinh đều rất vất vả, mất thời gian, công sức chuẩn bị từ trước đó
Trang 7e Phân tích đánh giá các vấn đề mà thực trạng đề tài đã đề ra:
Mô hình giáo dục STEM, có nhiều điểm ưu thế trong thời đại mới, tuy nhiên
nó không thể thay thế hoàn toàn các mô hình, phương pháp cũ, do đó chúng ta cầnvận dụng linh hoạt mô hình này vào trong chương trình dạy học, nhằm nâng caohiệu quả dạy học và phát triển những phẩm chất năng lực cơ bản cho học sinh
Những điều giáo viên cần biết và rèn luyện
* Nhận thức đầy đủ một cách có hệ thống về quan điểm dạy học lấy học sinhlàm trung tâm, tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục theo đinh hướng phát triểnnăng lực học sinh và mô hình giáo dục STEM
- Là đặt người học vào trung tâm của quá trình dạy học, tạo cơ hội tới mứctối đa để học sinh được tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạtđộng trên lớp Đây cũng chính là cách học có hiệu quả nhất Học qua các hình thứcsau:
- Trải nghiệm: Học qua thực tế, học từ những kinh nghiệm thông qua việclàm (thực hành) và qua khám phá tìm tòi của các em
- Giao tiếp: Thông qua trao đổi, tranh luận các em có thể chia sẻ cho nhau
những gì mình biết được, học được và cách học của mình cho bạn bè “Học thầy không tày học bạn”
- Học qua tương tác: (Sự qua lại) Chia sẻ với bạn bè những kinh nghiệm của
mình và học kinh nghiệm từ bạn bè cũng như người lớn
- Rút kinh nghiệm: Sau những lần thất bại, các em cố gắng làm lại lần nữa,lần sau sẻ tốt hơn lần trước Từ những kinh nghiệm học tập đó, các em có thể ápdụng vào các tình huống khác
* Biết được tầm quan trọng và ích lợi của mô hình dạy học STEM
Hiểu STEM như thế nào?
* Hiện nay thuật ngữ STEM được dùng trong hai ngữ cảnh khác nhau đó là ngữ cảnh giáo dục và ngữ cảnh nghề nghiệp
- Trong ngữ cảnh giáo dục, nói đến STEM là muốn nhấn mạnh đến sự quantâm của nền giáo dục đối với các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học.Quan tâm đến việc tích hợp các môn học trên gắn với thực tiễn để 17 năng caonăng lực cho người học Giáo dục STEM có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cấp
độ như: chính sách STEM, chương trình STEM, nhà trường STEM, môn họcSTEM, bài học STEM hay hoạt động STEM
- Trong ngữ cảnh nghề nghiệp, STEM được hiểu là nghề nghiệp thuộc các lĩnhvực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học, ví dụ: Nhóm ngành nghề vềCNTT; Y sinh; Kĩ thuật, Điện tử và Truyền thông…
Tùy từng ngữ cảnh khác nhau mà STEM được hiểu như là các môn học haycác lĩnh vực
Trang 8Quy trình giáo dục STEM:
Quy trình 5 giai đoạn trong một
chuỗi quá trình dạy học:
Quy trình tiếp cận theo lí thuyếtthiết kế kĩ thuật:
Hình 1a Mô hình 5 giai đoạn
Mô hình giáo dục STEM nhằm:
- Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học thuộc về STEM cho họcsinh
- Phát triển các năng lực cốt lõi cho học sinh
- Định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Với mô hình học tập STEM giáo viên và học sinh có các đặc điểm chủ yếu:
Học sinh: chủ động, tích cực, sáng tạo, tự học, tự tin, tự đánh giá, có không
gian mở để phát triển các kỹ năng Học sinh có cơ hội để có thể tự đặt mình vàonhững tình huống trong đời sống thực tế, được quan sát, trải nghiệm, thảo luận vàgiải quyết vấn đề theo suy nghĩ cá nhân Từ đó, tự tìm tòi kiến thức, kĩ năng mới,không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được phát huy tiềm năng tư duy sáng tạo
Giáo viên: giáo viên sẽ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh, hướng tới
việc hoạt động hóa, tích cực hóa, áp dụng tri thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui,
sự hứng thú học hỏi cho học sinh giáo viên cần phải thật sự kiên trì, nỗ lực, dầndần xây dựng phương pháp học chủ động từ thấp lên cao, cho các em học sinhthích ứng dần Trong quá trình giảng dạy, cần tác động tinh thần học tập của các
em, khuyến khích động viên bằng nhiều hình thức thi đua khác nhau Qua đó sẽ rèncho các em phương pháp tự học, tự tìm tòi khám phá kiến thức nhằm phát huy tính
tự giác trong học tập Bên cạnh đó, việc sử dụng các trò chơi hoặc tổ chức các cuộcthi ứng dụng kiến thức đã học để tạo ra sản phẩm đơn giản trong giảng dạy được
Trang 9xem là một trong những phương pháp hiệu quả, đóng vai trò quan trọng làm tăngđộng cơ học tập, khích lệ học sinh, đồng thời tạo sự hứng thú giúp học sinh yêuthích hơn việc ngiên cứu sáng tạo khoa học kỹ thuật.
b Các giải pháp, biện pháp.
Dạy Mô hình lớp học mới ở học sinh và giáo viên có các kỹ năng sau :
Kỹ năng xây dựng, định hướng, đánh giá chủ đề STEM:
Kỹ năng này đòi hỏi giáo viên luôn phải học hỏi, vận dụng và sáng tạo trongchuyên môn
Kỹ năng giao tiếp, tương tác học sinh với học sính
+ Biết lắng nghe và trình bày ý kiến một cách rõ ràng
+ Biết lắng nghe và biết thừa nhận ý kiến của người khác
+ Biết ngắt lời một cách hợp lí
+ Biết phản đối một cách lịch sự và đáp lại lời phản đối
+ Biết thuyết phục người khác và đáp lại sự thuyết phục
Kỹ năng tạo môi trường hợp tác.
Đây là sự ảnh hưởng qua lại, sự gắn kết giữa các thành viên
Kỹ năng xây dựng niềm tin
Đây là kỹ năng tránh đi sự mặc cảm nhất là đối tượng học sinh có khó khăn
về học
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
Đây là kỹ năng giúp học sinh tránh những từ ngữ dễ gây mất lòng nhau Vìthế, trong thảo luận cần tránh những từ ngữ như đúng, sai mà cần thay vào đónhững cụm từ như: thế này sẽ tốt hơn, tìm một giải pháp hợp lý hơn…
c Nội dung và cách thức thực hiện:
- Hoạt động nghiên cứu khoa học
Các mức độ dạy học môn Tin học theo định hướng giáo dục STEM
- Lồng ghép bộ phận
- Lồng ghép toàn phần
- Dạy học STEM trên cơ sở phối hợp nhiều bài