1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

lịch sử việt nam ( lớp 11 ban cơ bản)

73 2,5K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Việt Nam (1858-1918)
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Bài học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 697 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắmGV: Trước khi tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, chúng ta sẽ tìm hiểu về cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp.. - Ngày

Trang 1

Phần ba LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858-1918)

Chương I VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX

Bài 19NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC ( TỪ1858 ĐẾN TRƯỚC 1873)

I MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức

Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:

- Ý đồ xâm lược của thực dân phương tây, cụ thể là Pháp, có từ rất sớm

- Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân pháp từ 1858-1873

- Cuộc kháng chiến chống pháp xâm lược của nhân dân ta từ 1858-1873

- Củng cố kĩ năng phân tích, nhận xét, rút ra bài học lịch sử

- Sử dụng lược đồ trình bày diễn biến các sự kiện

II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC

- Lược đồ Mặt trận Gia Định

- Tư liệu về cuộc kháng chiến ở Nam Kì

- Tranh ảnh về các nhân vật lịch sử có liên quan đến bài học

- Văn thơ yêu nước cuối thế kỉ XIX

III TIẾN HÀNH TỔ CHỨC DẠY HỌC.

1 Kiểm tra bài cũ:

2 Dẫn dắt vào bài mới

Trang 2

- Ngày 31/8/1858 thực dân Pháp nổ súng chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Ngay từ đầu, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược.Với sức mạnh quân sự Pháp ngày càng mở rộng chiến tranh xâm lược, song đi đến đâu chúng cũng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân ta

Để hiểu được cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858-1873, chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay

3 Tổ chức các cuộc hoạt động dạy và học trên lớp

Trang 3

Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắm

GV: Trước khi tìm hiểu cuộc kháng chiến chống

Pháp của nhân dân ta, chúng ta sẽ tìm hiểu về cuộc

xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Trước hết

tìm hiểu tình hình Việt Nam giữa thế kỉ XIX trước

cuộc xâm lược của thực dân Pháp

I Liên quân Pháp - Tây Ban Nha xâm lược Việt Nam Chiến sự ở Đà Nẵng.

1 Tình hình Việt Nam giữa thế

kỉ XIX, trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

*Hoạt động 1:Cả lớp

- GV hướng dẫn HS theo dõi SGK để thấy được

:tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam

giữa thế kỉ XIX trước cuộc xâm lược của thực

dân Pháp

- Giữa thế kỉ XIX Việt Nam là một nước độc lập , có chủ quyền song chế độ phong kiến đã lâm vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng

- HS theo dõi SGK, kết hợp với kiến thức đã học

để trả lời:

+ Chính trị: giữa thế kỉ XIX , trước khi thực dân

Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia có chủ

quyền song chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã

bước vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng

- Công thương nghiệp đình đốn lạc hậu do chính

sách “bế quan toả cảng” của nhà nước

- Công thương nghiệp đình đốn lạc hậu do chính sách “bế quan toả cảng” của nhà nước.+ Quân sự lạc hậu, chính sách đối ngọai sai lầm:

“cấm đạo”, xua đuổi giáo sĩ

+ Quân sự lạc hậu, chính sách đối ngọai sai lầm: “cấm đạo”, xua đuổi giáo sĩ

+ Xã hội: nhiều cuộc đấu tranh chống triều đình

bùng nổ

+ Xã hội: các cuộc khởI nghĩa chống lạI triều đình nổ ra khắp nơi

*Hoạt động 2:Cá nhân

- GV:Giữa thế kỉ XIX chế độ phong kiến Việt Nam

bước vào khủng hoảng, nền kinh tế sa sút, quân

đội lạc hậu, yếu kém Đặt Việt Nam trong bối

cảnh châu Á và thế giới, lúc đó em có suy nghĩ

gì ?

Trang 4

GV gợi ý: em hãy liên hệ với bài Trung Quốc ,Ấn

Độ, Đông Nam Á cuối thế XIX đầu thế kỉ XX

HS dựa vào phần kiến thức đã học ở chương I để

trả lời: Trong lúc Việt Nam đang suy yếu, khủng

hoảng thì chủ nghĩa tư bản Âu - Mĩ đang đẩy

mạnh xâm lược thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới

Việt Nam và Đông Nam Á là khu vực quan trọng,

giàu tài nguyên Chế độ phong kiến đang khủng

hoảng, vì vậy tất yếu Việt Nam trở thành đối

tượng xâm lược của thực dân phương Tây ( Việt

Nam cũng như các nước châu Á khác, đứng trước

nguy cơ bị xâm lược)

- GV nhận xét bổ sung sau đó dẫn tắt: Thực dân

phương Tây và Pháp đã chuẩn bị xâm lược Việt

Nam như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu phần 2:

Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt

Nam

*Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân 2.Thực dân Pháp ráo riết

chuẩn bị xâm lược Việt Nam.

- GV nêu câu hỏi: Dựa vào những kiến thức đã

học ở lớp 10 em hãy cho biết Việt Nam tiếp xúc với

phương Tây từ khi nào?

- HS nhớ lại kiến thức cũ để trả lời

- GV nhận xét và nhắc lại, kết hợp trình bày phần

mới: những người phương Tây đầu tiên đến Việt

Nam là các lái buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,

họ đã biết đến Việt Nam từ lâu (thế kỉ XVI), lúc

đầu đơn giản chỉ là buôn bán và truyền đạo, về

sau khi chủ nghĩa tư bản phát triển, nhu cầu thị

trường lớn, vì vậy đã tranh giành buôn bán và

muốn xâm lược đặt ách thống trị Trong cuộc

chạy đua thôn tính phương Đông, tư bản Pháp đã

lợi dụng việc truỳên đạo Thiên Chúa như một

công cụ xâm lược.Thế kỉ XVII, các giáo sĩ Pháp

đã tới Việt Nam truyền đạo, trong đó có một số

Trang 5

Trong cuộc chạy đua xâm lược Việt Nam, Pháp tỏ

ra tích cực hơn cả, chớp mọi cơ hội để can thiệp

vào Việt Nam Cuối thế kỉ XVIII, khi phong trào

nông dân Tây Sơn nổ ra, Nguyễn Ánh đã cầu cứu

nước ngoài nhằm khôi phục lại quyền lực Giám

mục Bá Đa Lộc đã chớp cơ hội đó tạo điều kiện

cho tư bản Pháp can thiệp vào Việt Nam bằng

Hiệp ước Vécxai năm 1787.Với Hiệp ước này, tư

bản Pháp hứa sẽ giúp Nguyễn Ánh đánh lại nhà

Tây Sơn, đổi lại Pháp được sở hữu cảng Hội An,

đảo Côn Lôn và độc quyền mua bán tại Việt

Nam

- Thực dân Pháp đã lợi dụng việc truyền bá đạo Thiên Chúa giáo để xâm nhập vào Việt Nam

- Năm 1787 Bá Đa Lộc đã giúp

tư bản Pháp can thiệp vào Việt Nam bằng hiệp ước Vécxai

-GV mở rộng: Bá Đa Lộc là giáo sĩ người Pháp,

năm 1776 được phái sang Cam-pu-chia, ở đây

ông gặp Nguyễn Ánh Bá Đa Lộc đã ra sức thuyết

phục Nguyễn Ánh cầu viện nước Pháp Năm

1784 Nguyễn Ánh giao Vương Ấn và hoàng tử

Cảnh (mới 5 tuổi) nhờ Bá Đa Lộc đưa sang Pháp

Được sự đồng ý của vua Pháp, Bá Đa Lộc đã thay

mặt Nguyễn Ánh ký với Pháp điều ước Véc- xai

năm 1787 Năm 1799, trong một lần theo quân

Nguyễn Ánh đánh ra Quy Nhơn, Bá Đa Lộc ốm

chết Nguyễn Ánh mang ơn người Pháp, vì vậy đã

cho 40 cố vấn người Pháp tham gia chính quyền,

nên người Pháp càng có điều kiện để điều tra tình

hình và can thiệp vào Việt Nam

- GV tiếp tục trình bày: Giữa thế kỉ XIX, nước

Pháp tiến nhanh trên con đường phát triển tư bản

chủ nghĩa, càng ráo riết tìm cách đánh chiếm Việt

Nam để tranh giành ảnh hưởng với Anh ở khu

vực châu Á Vì vậy, năm 1857 Napôlêông III lập

Hội đồng Nam Kì để bàn cách can thiệp vào Việt

Nam, tích cực chuẩn bị đánh Việt Nam Việt

Nam đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm

lược

-Năm 1857 , Napôlêông III lập Hội đồng Nam Kì để bàn cách can thiệp vào Việt Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị đánh Việt Nam  Việt Nam đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược

Trang 6

- GV dẫn dắt: Pháp xâm lược Việt Nam như thế

nào? Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân

Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến trước khi

Pháp đánh Bắc Kì năm 1873 ra sao? Chúng ta

cùng tìm hiểu những phần còn lại của bài

-GV hướng dẫn HS lập bản thống kê các cuộc

kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta

từ năm 1858 đến trước1873 ( trước khi Pháp xâm

lược Bắc Kì ) theo mẫu:

- HS kẻ bảng vào vở

- HS theo SGK tự thống kê các sự kiện

- GV bao quát lớp hướng dẫn, khuyến khích HS tự

học

- Sau khi HS lập bảng,GV treo bảng hoặc trình

chiếu trên PowerPoint bảng thống kê do GV

chuẩn bị sẵn làm thông tin phản hồi giúp HS đối

chiếu chỉnh sửa phần HS tự làm

Mặt trận Cuộc xâm lược

của thực dân Pháp

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam

Kết quả, ý nghĩa

Mặt trận Cuộc

xâm lược của Pháp

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta

Kết quả, ý nghĩa

Đà Nẵng

1858

Gia Định

1859-1860

Trang 7

Đà Nẵng 1859 - Ngày 31/8/1858,

liên quân Pháp- Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng

- Ngày 1/9/1858 Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam

- Triều đình cử Nguyễn Tri Phương chỉ huy kháng chiến

- Quân dân ta anh dũng chống trả quân xâm lược đẩy lùi các đợt tấn công của địch, thực hiện

kế hoạch “vườn không nhà trống”

gây cho địch nhiều khó khăn

- Khí thế kháng chiến sôi sục trong

cả nước

- Pháp bị cầm chân tại Đà Nẵng từ tháng 8/1858 đến tháng 2/1859, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh bước đầu bị thất bại

-Gia Định

1859-1860

- Tháng 2/1859 Pháp đánh vào Gia Định, đến ngày 17/2/1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định

- Nhân dân chủ động kháng chiến ngay từ đầu: chặn đánh, quấy rối và tiêu diệt địch

- Làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp buộc chúng phải chuyển sang chinh phục từng gói nhỏ

- Năm 1860 Pháp gặp nhiều khó khăn  dừng các cuộc tấn công, lực lượng địch ở Gia Định rất mỏng

- Triều đình không tranh thủ tấn công

mà cử Nguyễn Tri Phương vào Gia Định xây dựng phòng tuyến Chí Hoà để chặn giặc

- Pháp không mở rộng đánh chiếm được Gia Định, ở vào thế tiến thoái lưỡng nan

- Nhân dân tiếp tục tấn công địch ở đồn Chợ Rẫy tháng 7/1860, trong khi triều đình xuất hiện tư tưởng chủ hoà

Trang 8

- HS đối chiếu chỉnh sửa bảng thống kê của mình

- GV giúp HS nắm vững những kiến thức cơ bản bằng một số câu hỏi:

+ Tại sao Pháp chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam? GV dùng lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta ( 1858-1873 ), giới thiệu trên lược đồ vị trí Đà Nẵng là một cửa biển nước sâu, lại gần kinh đô Huế (cách khoảng 100 km)

- HS quan sát lược đồ trả lời:

+ Đà Nẵng là cảng nước sâu vì vậy tàu chiến có thể hoạt động dễ dàng

+ Có thể dùng Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công Huế,buộc triều Nguyễn phải đầu hàng, kết thúc nhanh chóng cuộc xâm lược Việt Nam

- GV bổ sung: Đà Nẵng còn là nơi thực dân Pháp xây dựng được cơ sở giáo dân theo Kitô, chúng hy vọng được giáo dân ủng hộ Vì vậy, sáng ngày 1/9/1858 từ các tàu neo đậu ở cửa biển Đà Nẵng, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã nã đại bác lên bờ, rồi cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Nguyễn Tri Phương đã đốc thúc quân, dân xây dựng phòng tuyến liên trù dài 3 km để chặn giặc ngay tạI cửa biển Nhân dân còn dùng cột tre thùng gỗ đựng đầy đất đá lấp sông Vĩnh Điện để chặn tàu chiến địch Nhân dân vùng ven biển kiên cường chống trả quân xâm lược, khiến địch thất bại trong âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh Tây Ban Nha nản chí bỏ cuộc Pháp phải thay đổi kế hoạch Tháng 2/1859 quay mũi tấn công vào Gia Định để thực hiện âm mưu mới “chinh phục từng gói nhỏ”

- GV tiếp tục nêu câu hỏi: Tại sao Pháp lại đánh Gia Định, chứ không đánh ra Bắc Kì?

- HS quan sát lược đồ, suy nghĩ trả lời:

+ Gia Định xa Trung Quốc sẽ tránh được sự can thiệp của nhà Thanh

+ Xa kinh đô Huế sẽ tranh được sự tiếp viện của triều đình Huế

+ Chiếm được Gia Định coi như là chiếm được kho lúa gạo của triều đình Huế, gây khó khăn cho triều đình

+ Đánh xong Gia Định sẽ theo đường sông Cửu Long, đánh ngược lên Campuchia (Cao Miên) làm chủ lưu vực sông Mê Kông

- GV bổ sung: người Pháp nhận xét: “ Sài Gòn có triển vọng trở thành trung tâm của một nền thương mại lớn - xứ này giàu sản vật, mọi thứ đều đầy rẫy” Hơn nữa lúc này người Pháp phải hành động gấp vì tư bản Anh sau khi chiếm Singapo và Hương cảng cũng đang ngấp nghé chiếm Sài Gòn để nối liền cửa biển quan trọng trên

Vì tất cả những lí do quan trọng trên, Pháp quyết định đánh Gia Định Ngày 2/2/1859 quân Pháp với 2000 quân và 8 tàu chiến, lợi dụng mùa gió bấc kéo vào Gia Định, ngày 10/2/1859 đến Vũng Tàu Ngày 15/2/1859 quân Pháp tiến sát thành Gia Định Ngày 17/2/1859 Pháp tấn công thành Gia Định, đến trưa quân Pháp chiếm được thành, quan quân triều đình tan rã nhanh chóng

Trang 9

Tiết 2

- GV nêu câu hỏi: Em có nhận xét gì về cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Đà Nẵng và Gia Định ?

- HS trả lời:

- GV nhận xét bổ sung: ngay từ khi Pháp xâm lược, nhân dân ta cùng quan quân triều

đình nhà Nguyễn đã anh dũng đứng lên đánh giặc, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp buộc chúng phải thực hiện kế hoạch

“chinh phục từng gói nhỏ” Tuy nhiên trong quá trình kháng chiến chống Pháp, triều đình nặng về phòng thủ, bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh Pháp Trái lại nhân dân kháng chiến với tinh thần tích cực, chủ động rất cao, tự nguyện đứng lên kháng chiến

- GV cho điểm những HS trả lời đúng.

- GV dẫn dắt: khi Pháp mở rộng đánh chiếm Nam Kì, cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp diễn như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu phần còn laị của bài

- GV hướng dẫn HS lập bảng theo mẫu sau:

Cuộc kháng chiến của nhân dân

Tại miền Đông Nam Kì

Trang 10

Mặt trận Cuộc tấn công của

thực dân Pháp Thái độ của triều đình Cuộc kháng chiến

của nhân dân

ta Ngày 23/2/1861 tấn công và chiếm được đồn Chí Hoà

- Thừa thắng đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì:

+ĐịnhTường: 12.4.1861+ Biên Hoà: 18.12.1861+Vĩnh Long: 23.3.1862

- Giữa lúc phong trào kháng chiến của nhân dân dâng cao triều đình đã kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất 5/6/1862 cắt hẳn 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và phải chịu nhiều điều khoảng nặng nề khác

- Kháng chiến phát triển mạnh

- Lãnh đạo là các văn thân, sĩ phu yêu nước

- Lực lượng chủ yếu

là nông dân ”dân ấp, dân lân”

- Các trận đánh lớn: Quý Sơn (Gò Công),

vụ đốt cháy tàu giặc trên sông Nhật Tảo của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực.Tại miền

- Triều đình ra lệnh giải tán các đội nghĩa binh chống Pháp

- Nhân dân tiếp tục kháng chiến vừa chống Pháp vừa chống phong kiến đầu hàng

- Khởi nghĩa Trương Định giành thắng lợi, gây cho Pháp nhiều khó khăn

- Sau hiệp ước 1862 nghĩa quân xây dựng căn cứ Gò Công, rèn đúc vũ khí, đẩy mạnh đánh địch ở nhiều nơi Giải phóng nhiều vùng thuộc Gia Định, Định Tường+ Ngày 28/02/1863 Pháp tấn công Gò Công, nghĩa quân anh dũng chiến đấu.+ Ngày 20/8/1864 Trương Định hi sinh, nghĩa quân thất bại

Trang 11

* Hoạt động 2: cá nhân

- GV đặt câu hỏi và giảng giải giúp HS nắm vững những kiến thức cơ bản.

- GV nêu câu hỏi: Trong cuộc kháng chiến của nhân dân miền Đông Nam Kì

(1861-1862) có những thắng lợi tiêu biểu nào?

- HS trả lời: Đó là trận đánh chìm tàu chiến Et-phê-răng ( Hi vọng ) của địch trên sông

Vàm Cỏ Đông (đoạn chảy qua thôn Nhật Tảo) của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực

- GV cung cấp thêm về Nguyễn Trung Trực: tên thật là Nguyễn Văn Lịch, người phủ Tân An, Định Tường ( nay thuộc Long An ) Khi Pháp xâm lược Nam Kì, ông đã cùng nhân dân đứng lên chống Pháp Trận đánh nổi tiếng của ông là vụ đốt cháy chiến hạm Hi Vọng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông trưa ngày 10/12/1862.Ông đã cùng một toán nghĩa quân dụ giặc lên bờ rồi cầm đầu 5 chiếc thuyền áp tới khiến bọn giặc trên tàu không kịp trở tay, bị tiêu diệt hầu hết Sau trận đánh đó ông được triều đình phong chức Quân cơ coi giữ vùng Hà Tiên Trận đánh trên sông Nhật Tảo khích lệ mạnh mẽ tinh thần cứu nước của nhân dân lục tỉnh Thực dân Pháp đã thú nhận:“Đây là một trận đau đớn làm cho tinh thần người Việt phấn khởi và gây cảm xúc sâu sắc trong một số người Pháp”

Năm 1867 triều đình phong cho ông chức Lãnh Binh, rồi điều ông ra miền Trung nhưng ông đã chống lệnh, lập căn cứ ở Hòn Chông Rạng sáng ngày 16/6/1868 ông đưa quân đánh úp đồn Kiên Giang ( nay là thị xã Rạch Giá ) tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đó Tháng 9/1868 ông bị giặc bắt, dụ dỗ nhưng ông kiên quyết không đầu hàng, ông đã nói một câu nổi tiếng: ”Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.Ngày 27/10/1868 giặc Pháp đã hành hình ông ở Rạch Giá

- GV yêu cầu HS đọc SGK, hoặc trình chiếu trên PowerPoint nội dung cơ bản của

Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 rồi nêu câu hỏi: Em đánh giá như thế nào về Hiệp ước Nhâm Tuất, về triều đình nhà Nguyễn qua việc chấp nhận ký kết Hiệp ước ?

- HS dựa vào nôi dung Hiệp ước, suy nghĩ, trả lời:

Mặt trận Cuộc tấn công của

thực dân Pháp Thái độ của triều đình Cuộc kháng chiến

của nhân dân

- Từ ngày 20 đến 24/6/1867 Pháp chiếm tron 3 tỉnh miền Tây Nam Kì, Vĩnh Long , An Giang , Hà Tiên không tốn một viên đạn

- Triều đình lúng túng bạc nhược, Phan Thanh Giản – Kinh lược của triều đình đầu hàng

- Nhân dân miền Tây kháng chiến anh dũng với tinh thần người trước ngã xuống, người sau đứng lên

- Tiêu biểu nhất có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực và Nguyễn Hữu Huân

Trang 12

+ Đây là một Hiệp ước mà theo đó Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thọi, vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

+ Hiệp ước chứng tỏ thái độ nhu nhược của triều đình, bước đầu nhà Nguyễn

đã đầu hàng thực dân Pháp

- GV nhận xét bổ sung thêm: Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông, Pháp gặp khó

khăn do những cuộc kháng chiến của nhân dân ta, khiến chúng chưa thể bình định ngay miền Đông Giữa lúc đó triều đình Huế lại chủ động “nghị hoà” làm cho thực dân Pháp ngạc nhiên và cảm thấy may mắn vì “ Pháp đang phải đón đợi một tình thế xấu thì Huế lại yêu cầu ký hoà ước” Tháng 5/1862 vua Tự Đức sai quân sang thông báo cho phía Pháp, đề nghị “giảng hoà” và cử một phái bộ do Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp dẫn đầu vào Sài Gòn ngày 28/5/1862, đến Gia Định vào ngày 3/6/1862 đến ngày 5/6/1862 đã ký kết Hiệp ước Chỉ sau hơn một ngày thương thuyết, nhà Nguyễn đã chấp nhận ký những điều khoảng nặng nề: triều đình đã ra lệnh bãi binh, tạo cơ sở cho địch đàn áp nghĩa quân Từ đây, nghĩa quân kháng chiến phải đơn độc đối phó với địch

- GV tiếp tục đặt câu hỏi: Từ sau năm 1862 phong trào đấu tranh của nhân dân miền Đông Nam Kì có sự kiện tiêu biểu nào? Trình bày tóm tắt diễn biến của sự kiện đó.

- HS trả lời : Sau khi 3 tỉnh miền Đông bị triều đình cắt cho Pháp- nhân dân tiếp tục

chống Pháp, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa của Trương Định

- GV bổ sung thêm: Trương Định là con trai của Trương Cầm (võ quan cấp thấp

của triều Nguyễn ) quê ở Quãng Ngãi Vì có công chiêu mộ dân khai hoang lập

ấp nên ông được triều đình cử làm Quản Cơ đồn điền (Quản Định) Pháp chiếm thành Gia Định, ông đã chiêu mộ nông dân đồn điền theo giúp quân triều đình đánh Pháp Khi đại đồn Chí Hoà thất thủ ông về Gò Công chiêu mộ nghĩa binh xây dựng căn cứ quyết tâm chiến đấu lâu dài với Pháp Năm 1862 do việc nghị hoà, triều đình buộc ông giải binh và điều ông về làm lãnh binh ở An Giang Ông kháng lệnh với quyết tâm kháng chiến chống Pháp đến cùngvới chức danh

“Bình Tây Đại Nguyên Soái” Pháp 4 lần gửi thư dụ hàng nhưng ông đều bị từ chối

- GV tiếp tục hỏi: Trong cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân miền Tây có cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nào?

- HS trả lời: Khi Pháp mở rộng đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, nhân dân miền Tây

anh dũng đứng lên kháng chiến sôi nổi, bền bỉ, tiêu biểu nhất có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân

- GV nhận xét và đặt câu hỏi: Từ sau Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kì có điểm gì mới?

- HS suy nghĩ trả lời:

- GV nhận xét kết luận: Từ sau 1862, cuộc kháng chiến của nhân dân mang tính

độc lập với triều đình, vừa chống Pháp vừa chống phong kiến đầu hàng “Dập

Trang 13

dìu trống đánh cờ xiêu, phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”, cuộc kháng chiến của nhân dân gặp nhiều khó khăn do thái độ bỏ rơi, xalánh của triều đình với lực lượng kháng chiến.

- Em haỹ so sánh tinh thần chống Pháp của vua quan triều Nguyễn và của nhân dân từ 1858 – 1873

- HS dựa vào những kiến thức vừa học để trả lời.

- GV nhận xét kết luận:

+ Triều đình tổ chức kháng chiến chống Pháp ngay từ đầu song đường lối kháng chiến nặng nề về phòng thủ, thiếu chủ động tấn công, ảo tưởng đối với thực dân Pháp, bạc nhược trước những đòi hỏi của thực dân Pháp

+ Nhân dân chủ động đứng lên kháng chiến với tinh thần cương quyết dũng cảm Khi triều đình đầu hàng, nhân dân tiếp tục kháng chiến mạnh hơn trước, bằng

nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo

4 Sơ kết bài học

- Củng cố: Những cuộc kháng chiến tiêu biểu của nhân dân ta từ 1858-1873

- Dặn dò: HS học bài cũ ,xem trước bài mới Tìm hiểu về tiểu sử, sự nghiệp

của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu

- Bài tập :

1 Nguyên nhân thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam là để

A Giúp Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn

B Mở rộng thị trường

C Khai hoá văn minh cho triều Nguyễn

D Truyền đạo

2 Nguyên cớ để thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam là do:

A Vương triều Tây Sơn sụp đổ

B Vua Tự Đức mất

C Lực lượng giáo dân ủng hô

D Nhà Nguyễn cấm đạo Thiên chúa

3 Nơi mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là:

A Sài Gòn - Gia Định

B Huế

C Bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)

D Thuận An

4 Điền tiếp vào những chỗ trong bảng dưới đây nơi xuất phát các cuộc khởi

nghĩa của những người lãnh đạo sau:

Người lãnh đạo Nơi xuất phát khởi nghĩa

1.Nguyễn Hữu Huân

2.Nguyễn Trung Trực

3.Trương Định

4.Trương Quyền

Bài 20

Trang 14

CHIẾN SỰ LAN RỘNG RA TOÀN QUỐC

CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN TA TỪ NĂM 1873

ĐẾN NĂM 1884 , NHÀ NGUYỄN ĐẦU HÀNG

I MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức

Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:

- Nắm được từ năm 1873 , Pháp mở rộng xâm lược cả nước, những diễn biến chính trong quá trình mở rộng xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp

- Thấy rõ diễn biến cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Bắc Kì, Trung Kì, kết quả, ý nghĩa

2 Tư tưởng

- Ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm

- Giáo dục ý thức tôn trọng bảo vệ di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp

- Đánh giá đúng mức trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước

3 Kĩ năng

- Rèn kỹ năng phân tích, đánh giá, nhận xét , rút ra bài học lịch sử, liên hệ với hiện tại

- Sử dụng lược đồ trình bày các sự kiện

II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC

- Lược đồ trận Cầu Giấy lần 1 và lần 2

- Tư liệu về các cuộc kháng chiến ở Bắc Kì

- Tranh ảnh một số nhân vật lịch sử có liên quan đến tiết học

- Văn thơ yêu nước đương thời

III TIẾN HÀNH TỔ CHỨC DẠY HỌC.

1 Kiểm tra bài cũ:

1 Tóm tắt diễn biến của cuộc khởi nghĩa Trương Định

2 Hoàn cảnh, nội dung của điều ước Nhâm Tuất

3 Em hãy nhận xét, so sánh tinh thần chống Pháp của triều đình và của nhân dân ta từ năm 1858 - 1873

2 Dẫn dắt vào bài mới:

- GV nhận xét phần HS trả lời miệng câu hỏi số 3, từ đó dẫn dắt vào bài mới Trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp từ 1858 - 1873 triều đình đã tổ chức kháng chiến, nhưng thiếu kiên quyết, nặng về phòng thủ, ảo tưởng với th=ực dân

Trang 15

Pháp, lúng túng trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, không phát động nhân dân kháng chiến Trái lại nhân dân chủ động kháng chiến, tinh thần chiến đấu anh dũng, thái độ kiên quyết, sẵn sàng hy sinh Từ khi Pháp mở rộng xâm lược cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp diễn ra sao, chúng ta cùng tìm hiểu bài 20.

3 Tổ chức các cuộc hoạt động dạy và học trên lớp

- GV thông báo : Sau khi chiếm 6 tỉnh Nam kỳ (1867

- 1873) tình hình kinh tế, xã hội nước ta càng lâm

vào khủng hoảng nghiêm trọng (vốn trước đây đã

khủng hoảng)

1 Tình hình Việt Nam trước khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất

- GV tiếp tục yêu cầu HS theo dõi SGK những biểu

hiện của khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, chính

trị, xã hội

- Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam kỳ (1867) tình hình nước ta càng khủng hoảng nghiêm trọng

- HS theo dõi SGK

- GV bổ sung, kết luận :

+ Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo

thủ “bế quan tỏa cảng”, không tính đến việc lấy lại 6

tỉnh Nam Kỳ

Nội bộ quan lại bước đầu có sự phân hóa giữa bộ

phận chủ chiến và chủ hòa

+ Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo thủ

“Bế quan tỏa cảng” Nội bộ quan lại phân hóa bước đầu thành 2 bộ phận chủ chiến , chủ hòa

+ Về kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày càng bị

kiệt quệ vì triều đình huy động tiền để trả chiến phí

cho Pháp

+ Kinh tế: ngày càng kiệt quệ

+ Xã hội: Đời sống ngày càng khó khăn, mâu thuẩn

xã hội ngày càng gay gắt, nhân dân bất bình đứng

lên chống triều đình ngày càng nhiều

+ Xã hội: Nhân dân bất bình đứng lên chống triều đình ngày càng nhiều

+ Một số quan lại có tư tưởng tiến bộ đã đề nghị cải

cách, song triều đình không chấp nhận Tiêu biểu là

Nguyễn Trường Tộ đã mạnh dạn dâng lên triều đình

bản điều trần, bày tỏ ý kiến cải cách duy tân Nhưng

do bảo thủ, cố chấp nên triều Nguyễn đã từ chối

những đề nghị của ông Nguyễn Trường Tộ xứng

đáng được coi là nhà tư tưởng đổi mới, có hành

Trang 16

động thức thời ở nửa sau thế kỷ XIX đầy biến động

của Việt Nam

+ Không những cự tuyệt cải cách, nhà Nguyễn còn

tỏ ra lúng túng trước nguy cơ Pháp mở rộng xâm

lược Trong suốt những năm Pháp xâm lược Nam

Kì, nhà Nguyễn lúng túng trong việc phòng thủ đề

phòng Pháp mở rộng xâm lược Bắc Kì, việc tổ chức

trang bị, huấn luyện quân đội hầu như không có cải

tiến gì đáng kể

- Nhà Nguyễn từ chối những chủ trương cải cách

- GV tiểu kết : Sau năm 1867 tình hình đất nước

không có gì đổi mới, kinh tế không được chấn hưng,

quân đội không được cải tiến, khả năng phòng thủ

đề phòng Pháp mở rộng tấn công không được tăng

cường Sự khủng hoảng trầm trọng kinh tế, xã hội

càng làm tăng nguy cơ mất nước, tạo cơ hội cho

Pháp mở rộng đánh chiếm cả nước

* Hoạt động 1 : Cả lớp, cá nhân 2 Thực dân Pháp đánh chiếm

Bắc kỳ lần thứ nhất 1873

- GV hỏi: Đến năm 1867 Pháp đánh chiếm được

những vùng nào? Theo em Pháp có dừng lại không?

- HS trả lời: Năm 1867 Pháp chiếm được 6 tỉnh Nam

kỳ và tất yếu Pháp không dừng lại vì mục tiêu của

Pháp lúc đầu là cả Việt Nam, nên Pháp mới đánh Đà

Nẵng để làm bàn đạp đánh thốc lên Huế, buộc nhà

Nguyễn đầu hàng, vì vậy sau khi chiếm xong Nam

Kì Pháp mở rộng đánh chiếm toàn bộ Việt Nam

- GV: Vậy nơi tiếp theo chúng đánh chiếm là đâu?

Bắc Kì hay Trung Kì ?

GV trực tiếp trả lời: Nơi tiếp theo Pháp đánh không

phải Huế mà là Bắc Kì Ngay sau khi chiếm Nam

bộ, Pháp âm mưu xâm lược Bắc Kì

- Sau khi thiết lập bộ máy cai trị ở Nam Kì, Pháp âm mưu xâm lược Bắc kỳ

- GV hỏi: Tại sao Pháp xâm lược Bắc kỳ mà chưa

phải là kinh đô Huế ?

- HS dựa vào những kiến thức đã học và suy nghĩ trả

lời:

- GV nhận xét, kết luận: Vì nước Pháp vừa ra khỏi

chiến tranh Pháp – Phổ 1870; tình hình kinh tế chính

trị chưa ổn định, vì vậy Pháp chưa thể kết thúc chiến

tranh xâm lược Việt Nam Nhưng bọn thực dân Pháp

ở Nam Kì nôn nóng muốn hành động, chúng luôn

Trang 17

nhòm ngó Bắc Kì nhất là từ khi Nam Kì được củng

cố, vì Bắc Kì là vùng đất giàu tài nguyên, khoáng

sản, mà nhu cầu nguyên liệu của Pháp càng lớn do

trong nước đã mất 2 tỉnh giàu nguyên liệu về tay

Đức đó là tỉnh Andát và Loren Hơn nữa thực dân

Pháp ở Nam Kì biết chắc triều đình Huế lúc này đã

suy yếu sẽ không có phản ứng gì đáng kể nếu như

chúng đánh Bắc Kì

* Hoạt động 2 : Cả lớp

- GV hỏi : Pháp đã làm gì để dọn đường cho đội quân

xâm lược Bắc kỳ ?

Yêu cầu HS theo dõi SGK để trả lời

- HS đọc SGK sau đó trả lời: Trước khi đánh Bắc Kì,

Pháp đã cho người do thám, chúng tung ra Bắc bọn

gián điệp đội lốt thầy tu để điều tra tình hình về bố

phòng của ta Pháp còn lôi kéo tín đồ công giáo lầm

- GV bổ sung: Chúng còn bắt liên lạc với lái buôn

Đuy-puy (tên lái buôn hiếu chiến, muốn dùng đường

sông Hồng chở hàng hóa vũ khí qua miền Bắc

chuyển lên Trung Quốc) tạo cớ xâm lược Bắc Kì

Trong khi tư bản Pháp còn dè dặt với Bắc Kì thì

Đuy-puy đã tự mình hành động Y tự đi Hương

Cảng và Thượng Hải (Trung Quốc) để sắm pháo,

thuyền, mua vũ khí, đạn dược, mộ quân lính kéo tới

Bắc Kì Tháng 11/1872 , ỷ thế nhà Thanh, Đuy-puy

tự tiện cho tàu ngược sông Hồng lên Vân Nam

(Trung Quốc) mặc dù chưa được phép của triều đình

Huế Hắn còn ngang ngược đòi đóng quân bên bờ

sông Hồng, có nhượng địa ở Hà Nội, được cấp than

đá để đưa sang Vân Nam Lính Pháp và thổ phỉ dưới

trướng Đuy-puy còn cướp gạo của triều đình, bắt

quân lính và dân đem xuống tàu, khước từ lời mời

tới thương thuyết của tổng đốc Nguyễn Tri Phương

Quan hệ giữa triều đình và thực dân Pháp trở nên

căng thẳng, lấy cớ “giải quyết vụ Đuy-puy” đang

gây rối ở Hà Nội, bọn thực dân Pháp hiếu chiến ở

Sài Gòn đã đem quân ra Bắc Đội quân do Đại úy

Gác-ni-e đứng đầu, bề ngoài với danh nghĩa giải

quyết tại chỗ vụ Đuy-puy, nhưng bên trong chính là

- Lấy cớ giải quyết vụ puy đang gây rối ở Hà Nội, thực dân Pháp đem quân ra Bắc

Trang 18

Đuy-để kiếm cớ can thiệp sâu vào vấn đề Bắc Kì.

+ Ngày 5.11.1873 đội tàu chiến của Gác-ni-e ra đến

Hà Nội Ở Sài Gòn bọn thực dân hiếu chiến ở Nam

Kì đã giao cho Gác-ni-e toàn quyền hành động nên

sau khi hội quân với Đuy-puy, quân Pháp liền giở

trò khiêu khích Ngày 16.11.1873 , sau khi có viện

binh, Gác-ni-e mở cửa sông Hồng, áp dụng thuế

quan mới Sáng ngày 19.11 gởi tối hậu thư cho

Nguyễn Tri Phương (tổng đốc thành Hà Nội) yêu

cầu phải giải tán quân đội, nộp khí giới , không

đợi trả lời, sáng ngày 20.11.1873 quân Pháp nổ súng

đánh thành Hà Nội, với sức mạnh quân sự lớn hơn

hẳn quân triều đình, quân Pháp nhanh chóng chiếm

thành Hà Nội, sau đó mở rộng xâm lược các tỉnh

đồng bằng sông Hồng: Hưng Yên (23.11), Phủ Lý

(26.11), Hải Dương (3.12), Ninh Bình (5.12), Nam

- Không đợi trả lời, ngày 20.11.1873 Pháp tấn công thành Hà Nội  chiếm được thành sau đó mở rộng đánh chiếm các tỉnh đồng bằng sông Hồng

- GV dẫn dắt : Trước cuộc xâm lựơc trắng trợn của

thực dân Pháp, nhân dân Bắc Kì đã kháng chiến như

thế nào?

* Hoạt động 1 : Cả lớp, cá nhân

- GV đặt câu hỏi : Khi Pháp đánh Bắc Kì, triều đình

nhà Nguyễn đối phó ra sao ?

- HS theo dõi SGK sau đó trả lời câu hỏi

3.Phong trào kháng chiến ở Bắc Kì trong những năm 1873- 1874

- GV nhận xét, bổ sung :

+ Khi Pháp nổ sung đánh thành Hà Nội: 100 nghĩa

binh triều đình dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ

ở Ô Quan Chưởng đã chiến đấu anh dũng và hy sinh

đến người cuối cùng

- Khi Pháp đánh thành Hà Nội,

100 binh lính đã chiến đấu và

hy sinh anh dũng tại Ô Quan Chưởng

GV cung cấp thêm tư liệu về Ô Quan Chưởng: Đây

là một trong những cửa Ô còn sót lại của toà thành

Thăng Long cũ, được xây dựng vào năm Cảnh Hưng

thứ 10 (1749) , đến năm Gia Long thứ 3 được xây

dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay (cho

HS xem ảnh của Ô Quan Chưởng hoặc trình chiếu

Trang 19

Powerpoint ) Hiện ở cửa ô còn nguyên cửa chính và

hai cửa phụ hai bên Bên trên cửa lớn có ghi ba chữ

Hán “Đông Hà Môn” tức là cửa ô Đông Hà Sở dĩ

cửa ô còn có tên gọi là Ô Quan Chưởng vì ngày

20.11.1873 Pháp đánh thành Hà Nội, khi đến cửa ô

Đông Hà chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt

của 100 binh sĩ triều đình do một viên quan Chưởng

cơ chỉ huy anh dũng chặn giặc, kết cục viên Chưởng

cơ cùng toàn thể 100 binh sĩ đều anh dũng hy sinh

Để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng ,

nhân dân đổi tên cửa ô là Ô Quan Chưởng Từ bấy

đến nay người ta vẫn chưa xác minh được tên gọi

của vị chưởng cơ anh hùng Vì vậy tên Ô Quan

Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi của lịch sử

+ Trong thành Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã đốc

thúc quân sĩ chiến đấu dũng cảm

- GV dừng lại cung cấp cho HS tư liệu về Nguyễn Tri

Phương: Nguyễn Tri Phương đã được nhắc đến

nhiều lần ở bài trước Ông từng được triều đình cử

chỉ huy chống Pháp tại mặt trận Đà Nẵng, kế sách

vườn không nhà trống, xây thành, đắp lũy của ông

lúc đã đã khiến thực dân Pháp sa lầy tại Đà Nẵng

- Trong thành Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã chỉ huy quân sĩ chiến đấu dũng cảm

→ Nguyễn Tri Phương hi sinh anh dũng Thành Hà Nội thất thủ, quân triều đình nhanh chóng tan rã

Lần thứ hai, ông được triều đình cử vào Gia Định

Ông đã cho xây dựng đại đồn Chí Hoà để chặn giặc

Nhưng lần này đại đồn của ông không chịu nổi sức

công phá bởi vũ khí đại bác của Pháp Vì vậy đại

đồn thất thủ

Lần thứ ba vào năm 1872, ông được triều đình điều

đi giữ chức Tuyên sát đổng sứ đại thần, thay mặt

triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc Kì, làm tổng

đốc thành Hà Nội, lúc này ông đã 73 tuổi Khi Pháp

tới Hà Nội khiêu chiến, quan quân triều đình tỏ ra

lúng túng, bị động, vũ khí thô sơ Mặc dù chiến đấu

anh dũng song thành Hà Nội vẫn thất thủ, Nguyễn

Tri Phương bị trúng đạn ở bụng, ông mất , thọ 73

tuổi Con trai ông Nguyễn Lâm cũng hi sinh tại trận

địa, quân triều đình nhanh chóng tan rã

- Quân triều đình không thiếu lòng dũng cảm song do

vũ khí thô sơ, cách tổ chức đánh giặc nặng về phòng

Trang 20

thủ, kém linh hoạt cho nên nhanh chóng thất bại

Vậy phong trào kháng chiến của nhân dân diễn ra

như thế nào ?

* Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân

- GV yêu cầu HS theo dõi SGK phong trào đấu tranh

của nhân dân Bắc kỳ

- HS theo dõi SGK , trả lời câu hỏi

- GV nhận xét, bổ sung: Trong suốt cuộc kháng chiến

chống Pháp, nhà Nguyễn không một lần hiệu triệu

nhân dân mà nhân dân tự động kháng chiến (Liên hệ

sau này Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến)

- Phong trào kháng chiến của nhân dân

- Ngay từ khi Pháp chưa đánh thành Hà Nội, nhân dân

Hà Nội đã bất hợp tác với giặc, bỏ thuốc độc xuống

giếng nước ăn, đốt kho đạn của địch ở ven sông

Hồng, không bán lương thực, thực phẩm cho giặc

- Khi Pháp đến Hà Nội, nhân dân chủ động kháng chiến, không hợp tác với giặc

+ Khi thành Hà Nội thất thủ, nhân dân Hà Nội tiếp

tục kháng chiến Các sỹ phu văn thân yêu nước đã

lập nghĩa hội, bí mật tổ chức chống Pháp Khi Pháp

mở rộng đánh chiếm các tỉnh, nhân dân các tỉnh anh

dũng chiến đấu (Phần chữ nhỏ SGK trang 120)→

buộc Pháp phải rút về cố thủ tại các tỉnh lỵ

+ Khi thành Hà Nội thất thủ, nhân dân Hà Nội và nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc bộ vẫn tiếp tục chiến đấu→ buộc Pháp phải rút về cố thủ tại các tỉnh ly

Cùng lúc đó quân Pháp tại Hà Nội bị quân ta bao

vây uy hiếp, Pháp phải bỏ Nam Định về ứng cứu

cho Hà Nội và bị ta phục kích tại Cầu Giấy, giết chết

Gác-ni-e làm nên chiến thắng Cầu Giấy vang dội

21.12.1873

+ Ngày 21.12.1873 quân ta phục kích tại Cầu Giấy, Gác-ni-e tử trận → thực dân Pháp hoang mang, chủ động thương lượng với triều đình

- GV dùng lược đồ Cầu Giấy để tường thuật diễn biến

trận phục kích (phần chữ nhỏ trang 121 SGK)

Chiến thắng Cầu Giấy có ý nghĩa lớn, khiến cho

nhân dân ta vô cùng phấn kích, ngược lại làm cho

thực dân Pháp hoang mang lo sợ, chúng tìm cách

thương lượng với triều đình Huế Tình hình đó mở

ra một cơ hội để quân ta tấn công tiêu diệt địch buộc

chúng rút khỏi Bắc Kì bằng tấn công quân sự Song

triều đình lại một lần nữa ký Hiệp ước với Pháp chịu

nhiều thiệt thòi

* Hoạt động 3: Cả lớp, cá nhân

- GV yêu cầu HS đọc nội dung cơ bản của Hiệp ước

trong SGK và đánh giá về Hiệp ước GV cung cấp - Năm 1874 triều đình ký với

Trang 21

thêm thông tin sau Hiệp ước 1874 : Triều đình còn

ký với Pháp một bản thương lượng gồm 29 khoản

cho phép thực dân Pháp xác lập những đặc quyền

kinh tế của chúng trên khắp đất nước Việt Nam

thực dân Pháp điều ước Giáp Tuất, dâng toàn bộ 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp

- HS đánh giá về Hiệp ước Giáp Tuất 1874

- GV nhận xét, bổ sung :Đây là Hiệp ước bất bình

đẳng thứ hai mà nhà Nguyễn phải ký với thực dân

Pháp, nhà Nguyễn đã đánh mất một phần quan trọng

chủ quyền độc lập của Việt Nam Nam kỳ trở thành

thuộc địa của Pháp, Việt Nam trở thành thị trường

riêng của Pháp Hiệp ước một lần nữa chứng tỏ thái

độ nhu nhược của triều Nguyễn trước cuộc xâm

lược của thực dân Pháp Đi ngược lại quyền lợi của

nhân dân, vì vậy vấp phải những phản ứng quyết liệt

từ nhân dân và các sĩ phu đương thời Từ đây nội

dung chống phong kiến này càng rõ nét trong phong

trào đấu tranh của nhân dân ta nhất là trong cuộc

khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ

Tĩnh

“Dập dìu trống đánh cờ xiêu Phen này quyết đánh của triều lẫn Tây”

Hiệp ước đánh dấu quá trình đi từ “thủ để hòa” sang

chủ hòa vô điều kiện của nhà Nguyễn

→ Hiệp ước gây nên làn sóng bất bình trong nhân dân →

Phong trào kháng chiến kết hợp giữa chống thực dân với chống phong kiến đầu hàng

-GV dẫn dắt: Sau Hiệp ước 1874 Pháp rút khỏi Bắc

Kì, gần 10 năm sau chúng mới mở cuộc xâm lược

Bắc Kì lần hai Để hiểu được quá trình Pháp xâm

lược Bắc kỳ lần hai và cuộc kháng chiến của nhân

dân ta, chúng ta cùng tìm hiểu phần II

* Hoạt động 1: Cả lớp

- GV cung cấp kiến thức: cuộc xâm lược lần này của

Pháp tương đối giống lần một Từ thập kỷ 70 của

thế kỷ XIX, nước Pháp đã bước vào giai đoạn đế

quốc chủ nghĩa, nhu cầu thuộc địa trở nên cấp thiết

→ thực dân Pháp ráo riết xúc tiến âm mưu xâm lược

toàn bộ Việt Nam

II.Thực dân Pháp tiến đánh Bắc kỳ lần thứ hai Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì và Trung Kì trong những năm

1882 - 1884:

- GV yêu cầu HS đọc SGK để thấy được quá trình

Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai

1 Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì lần thứ hai (1882- 1883)

- HS trình bày, GV bổ sung kết luận :

+ Trước khi xâm lược, Pháp phái người ra điều tra - Năm 1882 Pháp vu cáo triều

Trang 22

tình hình Bắc kỳ Năm 1882 Pháp vu cáo triều đình

Huế vi phạm Hiệp ước 1874 để lấy cơ kéo quân ra

Bắc

đình Huế vi phạm Hiệp ước

1874 để lấy cơ kéo quân ra Bắc

+ Ngày 3.4.1882 quân Pháp do đại tá hải quân Rivie

chỉ huy bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội Ngày 25.4 sau khi

được tăng viện binh, chúng gởi tối hậu thư cho Tổng

đốc Hoàng Diệu, yêu cầu triều đình hạ vũ khí, giao

thành trong ba tiếng đồng hồ Chưa hết thời hạn,

địch đã nổ súng chiếm thành

GV dừng lại cho HS xem hình trong SGK: Quân

Pháp chiếm thành Hà Nội, xây dựng lô cốt trên nền

điện Kính Thiên để HS thấy được kinh đô xưa ngàn

năm văn hiến đã bị thực dân Pháp dày xéo

- Ngày 3.4.1882 Pháp bất ngờ

đổ bộ lên Hà Nội

- Ngày 25.4.1882 Pháp nổ súng chiếm thành Hà Nội

- Nhân lúc triều đình Huế còn đang hoang mang, lơ là

mất cảnh giác, Rivie đã cho quân chiếm mỏ than

Hồng Gai, Quảng Yên, Nam Định (3.1883)

- Tháng 3.1883 Pháp chiếm mỏ than Hồng Gai, Quảng Yên, Nam Định

- GV phân tích : Khác với lần một sau khi chiếm

thành Hà Nội, Pháp đánh chiếm các tỉnh đồng bằng

Bắc bộ, lần này sau khi chiếm được thành Hà Nội,

Pháp đã chiếm mỏ than Quảng Ninh là vì nhu cầu

nguyên liệu của nước Pháp lúc này cấp thiết

- GV dẫn dắt : Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần hai

nhân dân ta đã kháng chiến như thế nào ? Kết quả ra

sao, chúng ta cùng tìm hiểu phần 2

* * Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân 2 Nhân dân Hà Nội và các

tỉnh Bắc kỳ kháng chiến

- GV: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm

lược lần hai của nhân dân ta tương tự như lần đầu

GV yêu cầu HS đọc SGK để thấy được quan quân

triều đình kháng chiến ra sao, nhân dân kháng chiến

như thế nào

- HS theo dõi SGK trả lời

- GV bổ sung, kết luận: Vừa đặt chân đến Hà Nội

(4.1882) Rivie đã giở trò khiêu khích, đòi đóng quân

trong thành và phá hủy các công sự phòng thủ trên

mặt thành Mờ sáng ngày 25.4, Rivie gởi tối hậu thư

cho tổng đốc Hoàng Diệu, đòi nộp thành

Hạn trả lời thư chưa hết, chúng đã nổ súng đánh

thành, quan quân triều đình do Hoàng Diệu chỉ huy

kiên quyết chống lại

Trang 23

Cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt thì kho thuốc

đạn trong thành bốc cháy (do có nội gián) làm cho

quan quân Hoàng Diệu dao động Thừa cơ đó, quân

Pháp đột nhập chiếm thành, đại quân tan rã Hoàng

Diệu chạy vào hành cung thảo di biểu gởi triều đình,

rồi dùng khăn lụa tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu nêu

cao tinh thần yêu nước một lòng sống chết với

thành

- Quan quân triều đình và Hoàng Diệu chỉ huy quân sĩ chiến đấu anh dũng bảo vệ thành Hà Nội → thành mất, Hoàng Diệu hy sinh Triều đình hoang mang cầu cứu nhà Thanh

GV cung cấp thêm những tư liệu về Hoàng Diệu

Hoàng Diệu là người Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng

Nam Suốt cuộc đời làm quan, ông nổi tiếng là

người thanh liêm, thẳng thắn, hết lòng vì dân vì

nước Dân thời ấy thường truyền tụng rằng ông

sống hết sức thanh bạch, trong nhà không có tiền

bạc và với ông không ai dám đến cửa công để kêu

xin việc tư Khi được cử làm tổng đốc thành Hà Nội,

ông lo chỉnh đốn lại thành trì và quân ngũ để đề

phòng Trước đó, ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đề

nghị việc phòng chống giặc nhưng vua Tự Đức đã

làm thinh Khi Hà Nội bị uy hiếp , ông một mặt xin

triều đình Huế viện binh, một mặt ra lệnh giới

nghiêm và thông báo các tỉnh đề phòng, nhưng triều

đình lại yêu cầu triệt binh “để người Pháp khỏi nghi

ngờ”, ông đã quyết tâm sống chết với thành Đến khi

không giữ được thành ông đã tuẫn tiết để giữ trọn

khí tiết

+ Trong khi triều đình nhu nhược, quân đội nhanh

chóng tan rã , thì phong trào đấu tranh của nhân dân

vẫn tiếp tục Ngay từ đầu đến Hà Nội, đội quân

Rivie đã vấp phải tinh thần quyết chiến của nhân

dân Hà Nội Họ tự tay đốt các dãy phố, tạo thành

hàng rào lửa cản giặc, khi mất thành Hà Nội nhân

dân tiếp tục kháng chiến với nhiều hình thức

- Nhân dân dũng cảm chiến đấu chống Pháp bằng nhiều hình thức :

+ Các sỹ phu không thi hành mệnh lệnh của triều đình tiếp tục tổ chức kháng chiến.+ Nhân dân Hà Nội và các tỉnh tích cực kháng chiến bằng nhiều hình thức sáng tạo

+ Tiêu biểu có trận phục kích Cầu Giấy lần hai 19.5.1883

Trang 24

→ Rivie bỏ mạng, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân.

- GV yêu cầu HS theo dõi SGK các hoạt động chống

Pháp của nhân dân (phần chữ nhỏ)

* Hoạt động 3: Cả lớp

- GV dùng lược đồ trận Cầu Giấy lần hai tường thuật

về chiến thắng Cầu Giấy (SGK)

- GV khắc sâu ý nghĩa của chiến thắng Cầu Giấy:

chiến thắng làm cho nhân dân cả nước vô cùng phấn

khởi , có lệnh là nhất tề nổi dậy đánh đuổi quân địch

ra khỏi bờ cõi Giặc Pháp ở Hà Nội vô cùng hoang

mang lo sợ Một tên trong số bọn chúng đã ghi lại

như sau : “Thực là một cuộc sống kinh khủng đối

với một dúm người từng đêm chờ đợi kết liễu cuộc

đời” Bộ chỉ huy Pháp đã có lệnh chuẩn bị rút khỏi

Hồng Gai , Nam Định Chiến thắng Cầu Giấy đã tỏ

rõ quyết tâm và tinh thần sẵn sàng chiến đấu tiêu

diệt quân địch, giải phóng Hà Nội và Bắc Kì của

nhân dân ta, Tuy nhiên triều đình lại ảo tưởng có

thể thu hồi Hà Nội bằng con đường thương thuyết

hòa bình Vì vậy đã không cho quân tấn công Còn

Pháp đã hạ quyết tâm thôn tính toàn cõi Việt Nam

Chúng gởi viện binh sang, vạch kế hoạch đánh kinh

đô Huế

- GV dẫn dắt : thực dân Pháp tấn công Thuận An như

thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu phần III

* Hoạt động 1: Cả lớp III thực dân Pháp tấn công

cửa biển Thuận An , Hiệp ước 1883 và hiệp ước 1884:

- GV dùng lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp xâm

lược giới thiệu về cửa biển Thuận An : cách kinh đô

Huế khoảng 20km, từ cửa biển có thể theo dọc sông

Hương đánh thốc lên Huế, đây là một vị trí phòng

thủ trọng yếu của Huế, được mệnh danh là cổ họng

của kinh thành Huế, mất Thuận An coi như mất Huế

1 Quân Pháp tấn công cửa biển Thuận An

- HS theo dõi lược đồ, thấy được vị trí quan trọng của

Thuận An đối với Huế

- GV giảng giải : Trước thái độ ảo tưởng của triều

đình Huế, thực dân Pháp càng củng cố quyết tâm

xâm lược toàn bộ Việt Nam Nhân cái chết của Rivie

Trang 25

thực dân Pháp lớn tiếng kêu gọi “trả thù” , vạch kế

hoạch đánh chiếm kinh đô buộc triều Nguyễn đầu

hàng

* Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân

- GV yêu cầu HS theo dõi SGK để thấy được hoàn

cảnh lịch sử và quá trình Pháp đánh chiếm Thuận

An

- HS theo dõi SGK trình bày trước lớp

+ Nhân lúc Tự Đức qua đời (17.7.1883), triều đình

còn đang bận rộn chọn người kế vị (vì Tự Đức

không có con) thực dân Pháp đã quyết định đánh

thẳng vào Huế

- Lợi dụng Tự Đức mất, triều đình lục đục → Pháp quyết định đánh Huế

+ Ngày 18.8.1883 hạm đội Pháp do đô đốc Cuốc-bê

chỉ huy đã tiến vào cửa Thuận An “Cổ họng kinh đô

Huế”, Cuốc-bê gởi tối hậu thư đòi triều đình phải

giao toàn bộ các pháo đài trong vòng 2 giờ Đến 4

giờ chiều hôm đó Pháp nổ súng công phá các pháo

đài ở Thuận An trong 2 ngày đêm

Chiều ngày 20.8.1873 Pháp đổ bộ lên bờ , quân ta

chống trả quyết liệt, các trấn thủ Thuận An như Lê

Sỹ, Lê Chuẩn, Lâm Hoành , Nguyễn Trung và nhiều

binh sĩ vô danh khác đã hy sinh trong chiến đấu Tối

20.8.1873 , Pháp làm chủ được các pháo đài ở

Thuận An, sau đó buộc nhà Nguyễn ký những hiệp

ước đầu hàng

- Ngày 18.8.1883 Pháp tấn công Thuận An

- Chiều ngày 20.8.1883 Pháp

đổ bộ lên bờ

- Tối 20.8.1883 chúng làm chủ Thuận An

* Hoạt động 1:

- GV yêu cầu HS theo dõi SGK: Hoàn cảnh ký kết và

nội dung của hiệp ước 1883 và 1884 ?

2Hai bản hiệp ước 1883 và

1884, nhà nước phong kiến Nguyễn đầu hàng

- HS theo dõi SGK trả lời * Hoàn cảnh lịch sử:

- GV nhận xét, bổ sung, kết luận

+ Nghe tin Pháp tấn công Thuận An, cử đại diện là

Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An xin đình

chiến Tranh thủ thái độ mềm yếu của triều đình,

Cao ủy Pháp Hác-măng (đại diện cao cấp của Pháp)

đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước

mới Triều đình Huế cử Trần Đình Túc và Nguyễn

Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, ngày 25.8.1883

Hác-măng đưa ra bản Hiệp ước mới buộc triều đình

Huế phải ký kết

- Nghe tin Pháp tấn công Thuận An, triều đình Huế vội xin đình chiến

- Lợi dụng sự hèn yếu của triều đình Cao ủy Pháp Hác-măng tranh thủ đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước mới

+ GV có thể yêu cầu 1 HS đọc to nội dung Hiệp ước - Ngày 25.8.1883 bản Hiệp

Trang 26

Hác-măng, hoặc trình chiếu trên Power point nội

dung cơ bản của Hiệp ước Hác-măng

ước mới được đưa ra buộc đại diện triều Nguyễn phải ký kết

- GV phân tích thêm : Theo các nội dung của Hiệp

ước Việt Nam mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn

quốc, triều đình Huế đã chính thức nhận sự bảo hộ

của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế,

ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm Ở Trung

kỳ do triều đình cai quản, song trên thực tế đại diện

của Pháp, khâm sứ ở Huế trực tiếp điều khiển các

công việc ở Trung Kì, viên này có quyền gặp nhà

vua bất kỳ lúc nào nếu xét thấy cần thiết

* Nội dung của Hiệp ước Hác măng:

- Thừa nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.+ Nam Kì là thuộc địa

+ Bắc Kì là đất bảo hộ+Trung Kì triều đình quản lý Đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung kỳ

* Hoạt động 2: Cá nhân

- GV đặt câu hỏi : Hiệp ước Hác-măng chứng tỏ điều

gì ? Em hãy nhận xét, đánh giá ?

- HS suy nghĩ trả lời

- GV nhận xét, kết luận: Với bản Hiệp ước Hác-măng,

phong kiến nhà Nguyễn đã đi sâu hơn một bước trên

con đường đầu hàng thực dân Pháp Việt Nam thực

sự trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến

Ngoại giao của Việt Nam do Pháp nắm giữ

Quân sự : Pháp được tự

do đóng quân ở Bắc Kì và toàn quyền xử lý quân Cờ đen, triều đình phải nhận các huấn luyện viên và sỹ quan chỉ huy của Pháp, phải triệt hồi binh lính từ Bắc Kì về kinh đô (Huế)

GV có thể giải thích khái niệm thuộc địa nửa phong

kiến là một nước chính quyền phong kiến còn, song

chủ quyền dân tộc bị mất và phải phụ thuộc nước

ngoài Nhà Nguyễn hầu như không còn gì để mất

nước, có chăng chỉ còn lại một triều đình hữu danh,

vô thực

+ Về kinh tế: Pháp nắm và kiểm soát toàn bộ các nguồn lợi trong nước

→ Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến

* Hoạt động 3: Cả lớp

- GV dẫn dắt : Ký hiệp ước Hác-măng, triều đình Huế

coi như đã phản bội lại nhân dân cả nước, mặc dù

vậy quân dân ngoài Bắc vẫn quyết tâm kháng chiến

đến cùng Lệnh triệt binh của triều đình không ai

nghe theo, nhiều trung tâm kháng chiến vẫn tiếp tục

hình thành, các toán nghĩa binh do các quan lại chủ

chiến đã phối hợp với các lực lượng quân Thanh

(kéo sang từ mùa thu năm 1882) liên tiếp khuấy đảo,

tiến công quân Pháp gây cho chúng nhiều thiệt ại

Trang 27

Tháng 12.1883 Pháp buộc phải tiến hành các cuộc

hành binh nhằm tiêu diệt các ổ đề kháng còn sót lại

đồng thời tiến hành thương lượng để loại trừ sự can

thiệp của nhà Thanh, chính phủ Pháp đã cử Patơnốt

sang Việt Nam và cùng triều đình Huế ký một hiệp

ước mới vào ngày 6.6.1884 Nội dung chủ yếu như

hiệp ước Hác-măng song có sửa chữa một số điều:

Trả lại cho nhà Nguyễn 3 tỉnh ở phía bắc là Thanh

Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Bình Thuận ở phía Nam

(theo hiệp ước Hác-măng thì Thanh Hóa, Nghệ An,

Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kì, còn Bình Thuận sáp

nhập vào Nam Kì) Nhà Nguyễn chỉ kiểm soát từ

đèo Ngang (phía Bắc) đến Khánh Hoà (phía Nam)

- Ngày 6.6.1884 Pháp ký tiếp với triều đình Huế bản hiệp ước Patơnốt , nhằm xoa dịu

dư luận và mua chuộc bọn phong kiến

4 Sơ kết bài học

- Củng cố: GV có thể củng cố bài giảng bằng một số câu hỏi :

+ Tại sao Pháp phải tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam tới gần 30 năm 1858 - 1884 ?

+ Nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

+ Em hãy đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước

- HS suy nghĩ, thảo luận với nhau để trả lời

- GV bổ sung giúp HS nắm được những vấn đề sau :

+ Sở dĩ Pháp phải kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam là do đi đến đâu chúng cũng luôn vấp phải sức kháng cự quyết liệt , ngoan cường của nhân dân ta

+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta cuối cùng đã thất bại, triều Nguyễn đầu hàng, thực dân Pháp hoàn thành xâm lược Việt Nam năm 1884

- Nguyên nhân thất bại :

+ Lực lượng chênh lệch: GV có thể trình chiếu trên Power point hoặc cho HS quan sát bức tranh quân lính triều Nguyễn so sánh với những bức ảnh quân đội Pháp GV nhấn mạnh sự chênh lệch về trang bị vũ khí Lực lượng kháng chiến của quân ta chủ yếu là : “dân ấp, dân lân”, với những vũ khí thô sơ: ngoài cật có một manh áo vải, trong tay cầm một gậy tầm vông, hỏa mai đánh bằng con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay Còn quân địch tinh nhuệ: Thằng tây có đạn nhỏ, đạn to, có tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ

+ Triều đình bỏ dân, quan lại hèn nhát → kháng chiến của nhân dân mang tính tự phát

+ Triều đình nhu nhược, đường lối kháng chiến không đúng đắn, không đoàn kết với nhân dân

- Ý nghĩa :

Trang 28

+ Thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu của nhân dân ta tiếp nối truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc.

+ Làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp →

khiến Pháp phải kéo dài cuộc xâm lược Việt Nam gần 30 năm

+ Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu

-Đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn: Có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước việc mất nước,

có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn chỉ phải chịu một phần trách nhiệm trong việc mất nước, có người lại cho rằng việc mất nước là tất yếu nhà Nguyễn không phải chịu trách nhiệm gì? Theo em đánh giá như thế nào? Hoàn cảnh lúc đó bị xâm lược là tất yếu , nhưng việc mất nước có phải là tất yếu không? Liên hệ với Thái Lan, Nhật Bản, họ cũng đứng trước nguy cơ bị xâm lược nhưng tại sao không mất nước, làm thế nào để có một đánh giá khách quan về triều Nguyễn: trong bối cảnh

đó mất nước không có gì lạ, lớn như Trung Quốc còn mất nước Ở đây chỉ đánh giá về trách nhiệm để mất nước của nhà Nguyễn với vai trò là một triều đại điều hành đất nước mà để mất nước, vì vậy nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân về việc để mất nước GV có thể liên hệ thực tế

- Dặn dò: Học bài cũ, đọc trước bài mới, sưu tầm tư liệu về phong trào Cần

Vương

- Bài tập

1 Sau khi mất 6 tỉnh Nam Kì, triều đình nhà Nguyễn đã:

A Tổ chức cho nhân dân phản công để lấy lại

B Mặc nhiên thừa nhận là vùng đất của Pháp, không nghĩ đến việc giành lại

C Thương lượng với Pháp để xin chuộc

D Chuẩn bị lực lượng, chờ thời cơ

2 Sau khi chiếm được 6 tỉnh Nam kỳ, thực dân Pháp đã:

A Tìm cách xoa dịu nhân dân

B Bị triều đình Nguyễn phản ứng

C Bắt tay thiết lập bộ máy cai trị, chuẩn bị kế hoạch đánh ra Bắc kỳ

D Ngừng kế hoạch mở rộng cuộc chiến, củng cố lực lượng

3 Thực dân Pháp nổ súng chiếm thành Hà Nội ngày

A 16.11.1873 C 20.11.1873

B 19.11.1873 D 23.11.1873

4 Hãy điền vào chỗ những nội dung còn thiếu để hoàn thành bảng niên biểu

về những sự kiện lịch sử Việt Nam

Thời gian Nội dung cơ bản Kết quả

Trang 29

1883-1884

Bài 21PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CỦA

NHÂN DÂN VIỆT NAM, TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX

I MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức

Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:

- Hiểu rõ hoàn cảnh phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong đó có cuộc khởi nghĩa Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa tự vệ (tự phát)

- Nắm được diễn biến cơ bản của một số khởi nghĩa tiêu biểu: Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế

2 Tư tưởng

- Giáo dục cho HS lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc, bước đầu nhận thức được những yêu cầu mới cần phải có để đưa cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đến thắng lợi

3 Kỹ năng.

- Củng cố kỹ năng phân tích, nhận xét, rút ra bài học lịch sử, kỹ năng sử dụng kiến thức bổ trợ để nắm được bài

II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC

- Lược đồ phong trào Cần Vương

- Lược đồ các căn cứ khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy…

III TIẾN HÀNH TỔ CHỨC DẠY HỌC.

1 Kiểm tra bài cũ:

- Hoàn cảnh, nội dung cơ bản của Hiệp ước 1883-1884

- Tại sao cuối cùng Việt Nam bị rơi vào tay Pháp

2 Dẫn dắt vào bài mới

- Năm 1884 sau Hiệp ước Patơnốt thực dân Pháp đã đặt được ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam Tuy vậy trên thực tế chúng chỉ mới khuất phục được bộ phận phong kiến đầu hàng, còn đông đảo quần chúng nhân dân vẫn nuôi trí chờ thời, sẵn sàng đứng lên chống xâm lược Để hiểu được phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta cuối thế kỉ XIX diễn ra như thế nào chúng ta cùng học bài 21

3 Tổ chức các cuộc hoạt động dạy và học trên lớp

Trang 30

Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắm

* Hoạt động 1: cả lớp, cá nhân I Phong trào Cần Vương

bùng nổ

- GV nêu câu hỏi: Em hãy nhắc lại kết quả của cuộc

kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta

1858-1884

1 Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại kinh thành Huế và sự bùng nổ phong trào Cần Vương

- Hs nhớ lại kiến thức cũ: mặc dù nhân dân ta anh

dũng kháng chiến song phong trào còn mang tính tự

phát triều đình bảo thủ, nhu nhược, ảo tưởng trước

thực dân Pháp, đường lối kháng chiến nặng nề về

phòng thủ, nghị hoà, không đoàn kết nhân dân Vì

vậy, cuối cùng thực dân pháp đã tấn công Thuận

An , buộc triều đình Nguyễn kí văn kiện đầu hàng

thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lược Việt

Nam và bắt đầu thiết lập chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ và

độ bảo hộ ở Bắc Kì và Trung Ki`

- Phong trào đấu tranh chống pháp của nhân dân ta đã tiếp tục phát triển

- GV cung cấp kiến thức mới: mặc dù Pháp đã khuất

phục được triều đình Huế (bộ phận chủ hoà) song

chúng không thể khuất phục được nhân dân ta và

một bộ phận chủ chiến trong triều đình, phong trào

đấu tranh chống Pháp tiếp tục phát triển

- HS theo dõi SGK phong trào kháng cự của nhân dân

ta từ Bắc đến Nam phản đối các Hiệp ước từ năm

1883 và 1884 thái độ kiên quyết của nhân dân cả

nước đã cổ vũ phe phái chủ chiến trong triều đình,

dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân - phe

chủ chiến mạnh tay hành động chuẩn bị cho một

cuộc chống Pháp giành lại chủ quyền

- GV cung cấp thêm một số tư liệu: Từ khi Pháp

chiếm nam Kì, nội bộ triều đình Nguyễn đã có sự

phân hoá làm 2 phe: chủ chiến và chủ hoà trong đó

phe chủ hoà được vua Tự Đức ủng hộ, còn phe chủ

chiến do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn tường

đứng đầu

 Dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân phe chủ chiến trong triều đình do Tôn Thất Thuyết đứng đầu mạnh tay trong hành động

- Tôn Thất Thuyết (1835- 1913) quê ở thôn Phú

Mộng, xã Xuân Long (Huế) là người trong hoàng

tộc, từng giữ nhiều chức quan lớn nhỏ, tháng 6/1883

Trang 31

ông được xung vào viện cơ mật sau khi Tự Đức mất, ông là một trong ba phụ chính đại thần, giữ chức Thượng thư Bộ binh nắm quyền chỉ huy quân đội Năm 1883-1884 triều đình kí các Hiệp ước thừa nhận nền đô hộ của thực dân Pháp Nhưng ông là người chủ chiến trong triều, ra sức chuẩn bị lực lượng để đánh giặc giành lại chủ quyền.

- Người Pháp đánh giá về Tôn Thất Thuyết: “Lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết không chấp nhận một sự thoả hiệp nào, ông ta xem quan lại chủ hoà như kẻ thù của dân tộc…Tuy nhiên, dù cho sự đánh giá ông của những người cùng thời thiên vị như thế nào, một đạo đức lớn đã bộc lộ rõ rệt trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời ông, đó là sự gắn bó lạ lùng của ông với Tổ quốc”; “Rõ ràng là Thuyết không bao giờ muốn giao thiệp với chúng ta (chỉ người Pháp), ông biểu lộ lòng căm ghét khôn cùng đối với chúng

ta trong mọi hoàn cảnh Chúng ta có thể nói rằng ông ta đã căm ghét chúng ta, đó là quyền và có lẽ cũng là bổn phận của ông ta

* Hoạt động hai: Cá nhân

- GV yêu cầu HS theo dõi phần chữ nhỏ về hành động

của phe chủ chiến, và hỏi: những hành động ấy nhằm mục đích gì?

- HS theo dõi sgk trả lời

+ Phế bỏ những ông vua có biểu hiện thân Pháp, trừ khủ những người không cùng chính kiến, đưa hàm Nghi nhỏ tuổi nhưng yêu nước lên ngôi

+ Liên kết với các sĩ phu, văn thân xây dựng căn cứ Sơn Phòng, tích trữ lương thực, rèn vũ khí, chuẩn bị chiến đấu

 Hành động đó nhằm mục đích chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy chống Pháp giành lại chủ quyền

- GV kết luận: Hành động của phe chủ chiến nhằm

chuẩn bị lực lượng cho một cuộc nổi dậy chống Pháp giành chủ quyền Vì vậy thực dân Pháp âm mưu tiêu diệt phe chủ chiến trong triều để dễ dàng điều khiển bọn tay sai phong kiến thiết lập nền bảo hộ ở nước ta Quan hệ giữa toà Khâm sứ Pháp ở trung Ky` và triều đình trở nên căng thẳng, nhất là từ sau sự kiện Tôn

Trang 32

Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đứa Hàm Nghi

lên ngôi không báo cáo với toà Khâm sứ Pháp ở

Trung Ky`, vì đây là chuyện nội bộ của nước Nam,

viện cớ này thực dân Pháp muốn thực hiện âm mưu

tiêu diệt phe chủ chiến Tháng 5/1885toàn quyền

miền Trung, Bắc Kì đưa quân vào Huế và mời các

quan viên cơ mật của triều đình sang toà khâm sứ để

âm mưu bắt Tôn Thất Thuyết tại đó Đoán biết được

âm mưu của Pháp, Tôn Thất Thuyết đã cáo ốm không

sang, song thực dân pháp cố tình bắt ép Tôn Thất

Thuyết, yêu cầu cho người khiêng sang Pháp tăng

thêm lực lượng quân sự, tìm mọi cách loại phái chủ

chiến

 Pháp tỏ rõ thái độ muốn tiêu diệt Tôn Thất Thuyết

và phe chủ chiến trước tình hình ấy phe chủ chiến

buộc phải ra tay Hành động trước, tấn công trước

- Những hành động của phe chủ chiến nhằm chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy chống Pháp dành chủ quyền

 Thực dân Pháp âm mưu tiêu diệt phe chủ chiến  Tôn Thất Thuyết quyết định ra tay trước

* Hoạt động 3: Cả lớp, cá nhân

- Gv dùng lược đồ Kinh thành Huế (1885) để trình

bày về cuộc phản công Kinh thành Huế của phái chủ

chiến Diễn biến, kết quả (theo SGK)

- HS quan sát lược đồ, nắm bắt kiến thức

- GV giúp học sinh tìm ra nguyên nhân thất bại của

cuộc phản công ở kinh đô Huế (SGK) liên hệ với

chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện và vấn

đề thời cơ khởi nghĩa

- Gv cung cấp thêm tư liệu về Hàm Nghi: tên thật là

Ưng Lịch, em ruột vua Kiến Phúc Sau khi vua Kiến

Phúc bị giết, Ưng Lịch mới 13 tuổi được đưa lên

ngôi tháng 8/1884 Khi Huế thất thủ, Tôn Thất

Thuyết đã đưa Hàm Nghi cùng tam cung chạy khỏi

hoàng thành lên Tân Sở (Quảng Trị) Đạo ngự có tới

hơn 1000 người, sau 2 ngày lên đường đoàn ngự đến

Quảng Trị và chia làm 2 đoàn, một đoàn gồm Hoàng

thân, quan lại già yếu, phụ nữ, trẻ nhỏ, quay lại Huế

Còn lại theo vua đi xây dựng căn cứ chống pháp

Nhà vua dần dần ý thức được trách nhiệm của một

* Diễn biến cuộc tấn công quân Pháp:

- Đêm 4 rạng 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết hạ lệnh cho quân triều đình tấn công Pháp ở toà Khâm sứ và đồn Mang cá

- Sáng ngày 6/7/1885 quân Pháp phản công kinh thành Huế Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi cùng Triều đình rút khỏi kinh thành lên Sơn Phòng, Tân Sở (Quảng Trị)

- Ngày 13/7/1885 Tôn Thất Thuyết đã lấy danh nghĩa Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, kêu gọi nhân dân giúp vua cứu nước

Trang 33

ông vua đang mất nước và quyết tâm kháng chiến

Hàm Nghi đã phê chuẩn chiếu Cần Vương với trách

nhiệm rõ ràng của một ông vua khi có ngoại xâm

- GV có thể trình chiếu trên Powerpoint đoạn trích

chiếu Cần Vương hoặc cho HS đọc phần chữ nhỏ

trong SGK để HS tìm hiểu khái niệm và nội dung

chiếu Cần Vương

*Hoạt động 4: Cá nhân

- Gv hỏi em hiểu thế nào là “Cần vương”? Xuống

chiếu Cần vương nhằm mục tiêu gì?

- HS suy nghĩ trả lời

- GV nhận xét, kết luận: Cần vương có nghĩa là giúp

vua Nội dung chủ yếu của chiếu Cần vương là kêu

gọi “bách quan, khanh sĩ”, văn thân sĩ phu và nhân

dân ra sức Cần vương vì mục tiêu đánh Pháp, khôi

phục nền độc lập dân tộc, lập lại chế độ phong kiến

có vua hiền tôi giỏi Vì vậy có thể hiểu ngắn gọn:

Chiếu cần vương kêu gọi văn thân, sĩ phu, nhân dân,

phò vua, giúp vua cứu nước Khẩu hiệu “Cần vương”

đã nhanh chóng thổi bùng ngọn lửa yêu nước cháy âm

ỉ bấy lâu, một phong trào đấu tranh vũ trang chống

Pháp diễn ra sôi nổi, liên tục kéo dài 12 năm, đến cuối

thế kỷ XIX mới chấm dứt Trước đây, triều Nguyễn

chưa một lần hiệu triệu nhân dân đứng lên cứu nước,

vì vậy ngọn cờ cần vương giờ đang nhanh chóng quy

tụ lực lượng

- Chiếu Cần vương đã thổi bùng ngọn lưủa đấu tranh của nhân dân ta  Phong trào Cần vương bùng nổ kéo dài suốt 12 năm cuối thế kỉ XIX

* Hoạt động 1: Nhóm

- Gv chia lớp thành 2 khu vực và giao việc

+ Khu vực thứ nhất (1 dãy bàn hoặc hai dãy bàn) đọc

SGK diễn biến giai đoạn 1 phong trào Cần vương để

+ Khu vực 2: Còn lại, đọc SGK giai đoạn 2 của phong

trào để thấy được:

- Lãnh đạo:

2 Các giai đoạn phát triển của phong trào Cần vương.

Trang 34

- Địa bàn:

- Diễn biến:

- Kết quả:

- Tính chất của phong trào Cần vương

- GV yêu cầu HS mỗi một bàn hợp thành một nhóm

đọc SGK, thảo luận, tự trình bày vào vở GV yêu cầu

HS theo dõi lược đồ coi đó là nguồn kiến thức

- HS làm theo hướng dẫn của GV

- GV gọi đại diện một nhóm: giai đoạn 1lên trình bày

kết quả làm việc của nhóm:

- HS trả lời về giai đoạn 1885-1888 (từ khi phát động

đến khi Hàm Nghi bị bắt)

+ Lãnh đạo trực tiếp là Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết

và các sĩ phu, văn thân yêu nước

+ Lực lượng tham gia: Chủ yếu là nhân dân, có các

đồng bào dân tộc thiểu số

+ Địa bàn: Rộng lớn từ Bắc vào Nam, song sôi nổi

nhất là từ Huế trở ra Bắc (nhìn vào lược đồ không

thấy đấu tranh của nhân dân Nam Kì vì Nam Kì đã bị

Pháp thôn tính từ trước)

+ Diễn biến chính: Các cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng

nổ, khắp nơi gây cho địch nhiều thiệt hại, tiểu biểu có

khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê gắn liền với

tên tuổi các thủ lĩnh: Phan Đình Phùng, Phạm Bành,

Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn

Quang Bích… sau đó thực dân Pháp phối hợp với tay

sai mở các cuộc đàn áp, các cuộc khởi nghĩa lần lượt

thất bại, nhiều lãnh tụ bị bắt hoặc hy sinh, Tôn Thất

Thuyết sang Trung Quốc cầu viện

+ Kết quả: Phong trào cần vương khiến thực dân pháp

phải đối phó vất vả Sợ không thực hiện được yêu

cầu ổn định tình hình Việt Nam của chính phủ và

quốc hội Pháp Thực dân Pháp quyết tâm bắt được

Hàm Nghi hòng dập tắt phong trào Cần Vương

Chúng mua chuộc tên Trương Quang Ngọc người hầu

cận của vua Hàm Nghi, đêm nagỳ 30/10/1888 Trương

Quang Ngọc đã dẫn thủ hạ đến bắt vua giữa lúc mọi

người đang ngủ say Hàm Nghi rơi vào tay giặc

- GV cung cấp thêm tư liệu: sau khi bắt được vua

- Phong trào Cần vương bùng

nổ và phát triển qua 2 giai đoạn

+ Từ 1885-1888

- Lãnh đạo: Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, các văn thân, sĩ phu yêu nước

- Lực lượng: Đông đảo nhân dân, có cả dân tộc thiểu số

- Địa bàn: rộng lớn tư Bắc vào Nam, sôi nổi nhất là Trung kỳ (từ Huế trở ra) và Bắc Kì

- Diễn biến: Các cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng nổ tiêu biểu có khởi nghĩa ba Đình, Hương Khê, Bãi Sậy

- Kết quả: cuối năm 1888, Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt và bị lưu đày sang Angiêri

Trang 35

Hàm Nghi tại căn cứ Hà Tĩnh, thực dân Pháp đã đưa

vua về Huế và tìm mọi cách thuyết phục nhà vua trẻ

cộng tác với Pháp làm bù nhìn, chúng đề nghị đưa

vua về Huế gặp gia đình, thăm vua Đồng Khánh

nhưng vua đều từ chối quyết liệt, thẳng thắn khước

từ, vua nói: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám

nghĩ chi đến cha mẹ anh chị em nữa”

Không mua chuộc nổi, thực dân Pháp đã đày vua đi

an trí tại Angiê (thủ đô Angiêri thuộc địa của pháp ở

Bắc Phi), từ đấy Hàm Nghi ở tại một ngôi biệt thự

cách Angiê 12km, đặt tên là biệt thự Gia Long, lúc

đầu nhà vua tẩy chay không học tiếng Pháp, về sau để

hiểu được văn hoá Pháp và thế giới, cựu hoàng đã

nhanh chóng học và làm chủ tiếng Pháp, hiểu sâu sắc

về văn chương, mĩ thuật Pháp và trở thành một hoạ sỹ

có tài Dù vậy về đến nhà, vua vẫn giữ tập quán Việt

nam, búi tóc, quần the, áo dài Việt Nam Cựư hoàng

cưới con gái một vị chánh án, có 3 con: Một hoàng tử

và hai hoàng nữ Cựư hoàng sống ở Angiêri 47 năm

và mất ở đây, thọ 64 tuổi

Lúc đầu những nhà vua yêu nước như Hàm Nghi,

Thành Thái, Duy Tân không được thờ trong thế miếu

của nhà Nguyễn Đến 1956 chính phủ Sài Gòn mới

thiết hướng án thờ Hàm Nghi trong thế miếu ở Huế

cùng các vua Thành Thái, Duy Tân

- GV tiếp tục gọi đại điện HS nhóm 2 trình bày kết

quả làm việc của mình HS trả lời:

+ Lãnh đạo: không có sự chỉ đạo của triều đình, chỉ

còn các sĩ phu, văn thân, vua bị bắt

+ Địa bàn: Thu hẹp dần, quy tụ thành những trung

tâm lớn, hoạt động đi vào chiều sâu

+ Kết quả: Khi tiếng súng Hương Khê đã im trên núi

Vụ Quang cuối năm 1895 đầu năm 1896 thì phong

trào Cần vương coi như chấm dứt

- GV hỏi: Tại sao sau khivua Hàm Nghi bị bắt phong

trào vẫn tiếp tục nổ ra? Điều đó nói lên cái gì? Gv

gợi ý: phong trào Cần vương là phong trào hưởng ứng

khẩu hiệu phò vua giúp nước vậy tại sao khi vua bị

bắt mà phong trào vẫn diễn ra?

* Từ năm 1888-1896

- Lãnh đạo: các sỹ phu văn thân yêu nước tiếp tục lãnh đạo

- Địa bàn: Thu hẹp, quy tụ thành trung tâm lớn Trọng tâm chuyển lên vùng núi và trung

du, tiêu biểu có khởi nghĩa Hồng Lĩnh, Hương Khê

- Kết quả: năm 1896 phong trào thất bại

Trang 36

- HS suy nghĩ trả lời:

- GV nhận xét kết luận: sau khivua bị bắt, tính chất

Cần vương, phò vua không còn, nhưng mục đích cứu

nước còn và luôn là mục tiêu hướng tới của nhân dân

ta Vì vậy phong trào vẫn tiếp tục diễn ra kể cả sau

khi vua bị bắt Chứng tỏ “Cần vương” chỉ là danh

nghĩa khảu hiệu còn tính chất yêu nước chống Pháp

là chủ yếu vì vậy phong trào Cần vương mang tính

dân tộc sâu sắc

* Tính chất của phong trào:

Là phong trào yêu nước chống thực dân Pháp theo khuynh hướng, ý thức hệ phong kiến, thể hiện tính dân tộc sâu sắc

* Hoạt động 1: Nhóm

Do tiết này khố lượng kiến thức rất lớn vì vậy GV tổ

chức cho HS học theo nhóm là chính

- GV lập một mẫu bảng thống kê lên bảng, hoặc trình

chiếu trên power point

- GV chia lớp làm 4 nhóm: sau đó giao nhiệm vụ:

+ Nhóm 1: Thống kê vè cuộc khởi nghĩa Ba Đình

theo mẫu và trả lời câu hỏi: Căn cứ Ba Đình có điểm

mạnh, điểm yếu gi`?

+ Nhóm 2: Thống kê về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và

trả lời câu hỏi: Cách tổ chức và chiến đấu của nghĩa

quân bãi Sậy có gì khác biệt với nghĩa quân Ba Đình?

+ Nhóm 3: Thống kê về khởi nghĩa Hương Khê và trả

lời câu hỏi: Tại sao khởi nghĩa Hương Khê là cuộc

khởi nghĩa tiêu biểu nhất của phong trào Cần vương?

+ Nhóm 4: Thống kê về cuộc khởi nghĩa nông dân

Yên Thế và trả lời câu hỏi: Những điểm khác biệt của

khởi nghĩa nông dân Yên Thế với các cuộc khởi nghĩa

Cần Vương

- Học sinh: cứ hai bàn làm thành một nhóm nhỏ và cử

đại diện làm thư ký ghi chép tổng hợp kết quả làm

việc của nhóm vào giấy (hoặc vào vở)

- GV động viên khuyến khích và hướng dẫn các nhóm

tự làm việc trả lời các câu hỏi được giao, sau đó gọi

đại diện các nhóm trả lời

- HS các nhóm trình bày trước lớp kết quả làmviệc

II Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần vương và phong trào đấu tranh tự vệ cuối thế kỉ XIX

Cuộc khởi nghĩa

Thời gian Lãnh đạo Hoạt động

chủ yếu Kết quả ý nghĩa

Mĩ Khê (Nga Sơn, Thanh Hoá)

- Xây dưng căn cứ Ba Đình kiến cố, độc đáo làm căn cứ chính

và một số căn

cứ ngoại vi như căn cứ

Mã Cao Xây dựng lực lượng tập trung có khoảng 300 người

- Hoạt động chủ yếu của nghĩa quân là chặn đánh các đoàn xe, toán lính đi qua căn cứ, gây cho Pháp nhiều thiệt hại

- Pháp tổ chức nhiều cuộc tấn công căn cứ

Ba Đình nhưng thất bại

- Ngày 15/1/1887 quân Pháp tổng tấn công căn cứ, cuộc chiến diễn ra

ác liệt đêm 20/1/1887 nghĩa quân phải mở đường máu rút lên Mã Cao  21/1 địch chiếm được căn cứ, các thủ lĩnh bị bắt hoặc tự sát khởi nghĩa thất bại

-Kinhnghiệm:

tránh thủ hiểm

ở một nơi, phải liên lạc với các cuộc khởi nghĩa

Ngày đăng: 08/06/2013, 01:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kê các sự kiện chính của phong trào C ần Vương  (1885 – 1896) - lịch sử việt nam ( lớp 11 ban cơ bản)
Bảng k ê các sự kiện chính của phong trào C ần Vương (1885 – 1896) (Trang 71)
Bảng kê các sự kiện chính của tiến trình Pháp xâm lược Việt Nam (1858 – 1884) - lịch sử việt nam ( lớp 11 ban cơ bản)
Bảng k ê các sự kiện chính của tiến trình Pháp xâm lược Việt Nam (1858 – 1884) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w