Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắmGV: Trước khi tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, chúng ta sẽ tìm hiểu về cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp.. - Ngày
Trang 1Phần ba LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858-1918)
Chương I VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX
Bài 19NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC ( TỪ1858 ĐẾN TRƯỚC 1873)
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức
Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:
- Ý đồ xâm lược của thực dân phương tây, cụ thể là Pháp, có từ rất sớm
- Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân pháp từ 1858-1873
- Cuộc kháng chiến chống pháp xâm lược của nhân dân ta từ 1858-1873
- Củng cố kĩ năng phân tích, nhận xét, rút ra bài học lịch sử
- Sử dụng lược đồ trình bày diễn biến các sự kiện
II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC
- Lược đồ Mặt trận Gia Định
- Tư liệu về cuộc kháng chiến ở Nam Kì
- Tranh ảnh về các nhân vật lịch sử có liên quan đến bài học
- Văn thơ yêu nước cuối thế kỉ XIX
III TIẾN HÀNH TỔ CHỨC DẠY HỌC.
1 Kiểm tra bài cũ:
2 Dẫn dắt vào bài mới
Trang 2- Ngày 31/8/1858 thực dân Pháp nổ súng chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Ngay từ đầu, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược.Với sức mạnh quân sự Pháp ngày càng mở rộng chiến tranh xâm lược, song đi đến đâu chúng cũng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân ta
Để hiểu được cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858-1873, chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay
3 Tổ chức các cuộc hoạt động dạy và học trên lớp
Trang 3Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắm
GV: Trước khi tìm hiểu cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân ta, chúng ta sẽ tìm hiểu về cuộc
xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Trước hết
tìm hiểu tình hình Việt Nam giữa thế kỉ XIX trước
cuộc xâm lược của thực dân Pháp
I Liên quân Pháp - Tây Ban Nha xâm lược Việt Nam Chiến sự ở Đà Nẵng.
1 Tình hình Việt Nam giữa thế
kỉ XIX, trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
*Hoạt động 1:Cả lớp
- GV hướng dẫn HS theo dõi SGK để thấy được
:tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam
giữa thế kỉ XIX trước cuộc xâm lược của thực
dân Pháp
- Giữa thế kỉ XIX Việt Nam là một nước độc lập , có chủ quyền song chế độ phong kiến đã lâm vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng
- HS theo dõi SGK, kết hợp với kiến thức đã học
để trả lời:
+ Chính trị: giữa thế kỉ XIX , trước khi thực dân
Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia có chủ
quyền song chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã
bước vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng
- Công thương nghiệp đình đốn lạc hậu do chính
sách “bế quan toả cảng” của nhà nước
- Công thương nghiệp đình đốn lạc hậu do chính sách “bế quan toả cảng” của nhà nước.+ Quân sự lạc hậu, chính sách đối ngọai sai lầm:
“cấm đạo”, xua đuổi giáo sĩ
+ Quân sự lạc hậu, chính sách đối ngọai sai lầm: “cấm đạo”, xua đuổi giáo sĩ
+ Xã hội: nhiều cuộc đấu tranh chống triều đình
bùng nổ
+ Xã hội: các cuộc khởI nghĩa chống lạI triều đình nổ ra khắp nơi
*Hoạt động 2:Cá nhân
- GV:Giữa thế kỉ XIX chế độ phong kiến Việt Nam
bước vào khủng hoảng, nền kinh tế sa sút, quân
đội lạc hậu, yếu kém Đặt Việt Nam trong bối
cảnh châu Á và thế giới, lúc đó em có suy nghĩ
gì ?
Trang 4GV gợi ý: em hãy liên hệ với bài Trung Quốc ,Ấn
Độ, Đông Nam Á cuối thế XIX đầu thế kỉ XX
HS dựa vào phần kiến thức đã học ở chương I để
trả lời: Trong lúc Việt Nam đang suy yếu, khủng
hoảng thì chủ nghĩa tư bản Âu - Mĩ đang đẩy
mạnh xâm lược thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới
Việt Nam và Đông Nam Á là khu vực quan trọng,
giàu tài nguyên Chế độ phong kiến đang khủng
hoảng, vì vậy tất yếu Việt Nam trở thành đối
tượng xâm lược của thực dân phương Tây ( Việt
Nam cũng như các nước châu Á khác, đứng trước
nguy cơ bị xâm lược)
- GV nhận xét bổ sung sau đó dẫn tắt: Thực dân
phương Tây và Pháp đã chuẩn bị xâm lược Việt
Nam như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu phần 2:
Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt
Nam
*Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân 2.Thực dân Pháp ráo riết
chuẩn bị xâm lược Việt Nam.
- GV nêu câu hỏi: Dựa vào những kiến thức đã
học ở lớp 10 em hãy cho biết Việt Nam tiếp xúc với
phương Tây từ khi nào?
- HS nhớ lại kiến thức cũ để trả lời
- GV nhận xét và nhắc lại, kết hợp trình bày phần
mới: những người phương Tây đầu tiên đến Việt
Nam là các lái buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
họ đã biết đến Việt Nam từ lâu (thế kỉ XVI), lúc
đầu đơn giản chỉ là buôn bán và truyền đạo, về
sau khi chủ nghĩa tư bản phát triển, nhu cầu thị
trường lớn, vì vậy đã tranh giành buôn bán và
muốn xâm lược đặt ách thống trị Trong cuộc
chạy đua thôn tính phương Đông, tư bản Pháp đã
lợi dụng việc truỳên đạo Thiên Chúa như một
công cụ xâm lược.Thế kỉ XVII, các giáo sĩ Pháp
đã tới Việt Nam truyền đạo, trong đó có một số
Trang 5Trong cuộc chạy đua xâm lược Việt Nam, Pháp tỏ
ra tích cực hơn cả, chớp mọi cơ hội để can thiệp
vào Việt Nam Cuối thế kỉ XVIII, khi phong trào
nông dân Tây Sơn nổ ra, Nguyễn Ánh đã cầu cứu
nước ngoài nhằm khôi phục lại quyền lực Giám
mục Bá Đa Lộc đã chớp cơ hội đó tạo điều kiện
cho tư bản Pháp can thiệp vào Việt Nam bằng
Hiệp ước Vécxai năm 1787.Với Hiệp ước này, tư
bản Pháp hứa sẽ giúp Nguyễn Ánh đánh lại nhà
Tây Sơn, đổi lại Pháp được sở hữu cảng Hội An,
đảo Côn Lôn và độc quyền mua bán tại Việt
Nam
- Thực dân Pháp đã lợi dụng việc truyền bá đạo Thiên Chúa giáo để xâm nhập vào Việt Nam
- Năm 1787 Bá Đa Lộc đã giúp
tư bản Pháp can thiệp vào Việt Nam bằng hiệp ước Vécxai
-GV mở rộng: Bá Đa Lộc là giáo sĩ người Pháp,
năm 1776 được phái sang Cam-pu-chia, ở đây
ông gặp Nguyễn Ánh Bá Đa Lộc đã ra sức thuyết
phục Nguyễn Ánh cầu viện nước Pháp Năm
1784 Nguyễn Ánh giao Vương Ấn và hoàng tử
Cảnh (mới 5 tuổi) nhờ Bá Đa Lộc đưa sang Pháp
Được sự đồng ý của vua Pháp, Bá Đa Lộc đã thay
mặt Nguyễn Ánh ký với Pháp điều ước Véc- xai
năm 1787 Năm 1799, trong một lần theo quân
Nguyễn Ánh đánh ra Quy Nhơn, Bá Đa Lộc ốm
chết Nguyễn Ánh mang ơn người Pháp, vì vậy đã
cho 40 cố vấn người Pháp tham gia chính quyền,
nên người Pháp càng có điều kiện để điều tra tình
hình và can thiệp vào Việt Nam
- GV tiếp tục trình bày: Giữa thế kỉ XIX, nước
Pháp tiến nhanh trên con đường phát triển tư bản
chủ nghĩa, càng ráo riết tìm cách đánh chiếm Việt
Nam để tranh giành ảnh hưởng với Anh ở khu
vực châu Á Vì vậy, năm 1857 Napôlêông III lập
Hội đồng Nam Kì để bàn cách can thiệp vào Việt
Nam, tích cực chuẩn bị đánh Việt Nam Việt
Nam đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm
lược
-Năm 1857 , Napôlêông III lập Hội đồng Nam Kì để bàn cách can thiệp vào Việt Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị đánh Việt Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược
Trang 6- GV dẫn dắt: Pháp xâm lược Việt Nam như thế
nào? Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân
Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến trước khi
Pháp đánh Bắc Kì năm 1873 ra sao? Chúng ta
cùng tìm hiểu những phần còn lại của bài
-GV hướng dẫn HS lập bản thống kê các cuộc
kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta
từ năm 1858 đến trước1873 ( trước khi Pháp xâm
lược Bắc Kì ) theo mẫu:
- HS kẻ bảng vào vở
- HS theo SGK tự thống kê các sự kiện
- GV bao quát lớp hướng dẫn, khuyến khích HS tự
học
- Sau khi HS lập bảng,GV treo bảng hoặc trình
chiếu trên PowerPoint bảng thống kê do GV
chuẩn bị sẵn làm thông tin phản hồi giúp HS đối
chiếu chỉnh sửa phần HS tự làm
Mặt trận Cuộc xâm lược
của thực dân Pháp
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Kết quả, ý nghĩa
Mặt trận Cuộc
xâm lược của Pháp
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Kết quả, ý nghĩa
Đà Nẵng
1858
Gia Định
1859-1860
Trang 7Đà Nẵng 1859 - Ngày 31/8/1858,
liên quân Pháp- Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng
- Ngày 1/9/1858 Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam
- Triều đình cử Nguyễn Tri Phương chỉ huy kháng chiến
- Quân dân ta anh dũng chống trả quân xâm lược đẩy lùi các đợt tấn công của địch, thực hiện
kế hoạch “vườn không nhà trống”
gây cho địch nhiều khó khăn
- Khí thế kháng chiến sôi sục trong
cả nước
- Pháp bị cầm chân tại Đà Nẵng từ tháng 8/1858 đến tháng 2/1859, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh bước đầu bị thất bại
-Gia Định
1859-1860
- Tháng 2/1859 Pháp đánh vào Gia Định, đến ngày 17/2/1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định
- Nhân dân chủ động kháng chiến ngay từ đầu: chặn đánh, quấy rối và tiêu diệt địch
- Làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp buộc chúng phải chuyển sang chinh phục từng gói nhỏ
- Năm 1860 Pháp gặp nhiều khó khăn dừng các cuộc tấn công, lực lượng địch ở Gia Định rất mỏng
- Triều đình không tranh thủ tấn công
mà cử Nguyễn Tri Phương vào Gia Định xây dựng phòng tuyến Chí Hoà để chặn giặc
- Pháp không mở rộng đánh chiếm được Gia Định, ở vào thế tiến thoái lưỡng nan
- Nhân dân tiếp tục tấn công địch ở đồn Chợ Rẫy tháng 7/1860, trong khi triều đình xuất hiện tư tưởng chủ hoà
Trang 8- HS đối chiếu chỉnh sửa bảng thống kê của mình
- GV giúp HS nắm vững những kiến thức cơ bản bằng một số câu hỏi:
+ Tại sao Pháp chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam? GV dùng lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta ( 1858-1873 ), giới thiệu trên lược đồ vị trí Đà Nẵng là một cửa biển nước sâu, lại gần kinh đô Huế (cách khoảng 100 km)
- HS quan sát lược đồ trả lời:
+ Đà Nẵng là cảng nước sâu vì vậy tàu chiến có thể hoạt động dễ dàng
+ Có thể dùng Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công Huế,buộc triều Nguyễn phải đầu hàng, kết thúc nhanh chóng cuộc xâm lược Việt Nam
- GV bổ sung: Đà Nẵng còn là nơi thực dân Pháp xây dựng được cơ sở giáo dân theo Kitô, chúng hy vọng được giáo dân ủng hộ Vì vậy, sáng ngày 1/9/1858 từ các tàu neo đậu ở cửa biển Đà Nẵng, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã nã đại bác lên bờ, rồi cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Nguyễn Tri Phương đã đốc thúc quân, dân xây dựng phòng tuyến liên trù dài 3 km để chặn giặc ngay tạI cửa biển Nhân dân còn dùng cột tre thùng gỗ đựng đầy đất đá lấp sông Vĩnh Điện để chặn tàu chiến địch Nhân dân vùng ven biển kiên cường chống trả quân xâm lược, khiến địch thất bại trong âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh Tây Ban Nha nản chí bỏ cuộc Pháp phải thay đổi kế hoạch Tháng 2/1859 quay mũi tấn công vào Gia Định để thực hiện âm mưu mới “chinh phục từng gói nhỏ”
- GV tiếp tục nêu câu hỏi: Tại sao Pháp lại đánh Gia Định, chứ không đánh ra Bắc Kì?
- HS quan sát lược đồ, suy nghĩ trả lời:
+ Gia Định xa Trung Quốc sẽ tránh được sự can thiệp của nhà Thanh
+ Xa kinh đô Huế sẽ tranh được sự tiếp viện của triều đình Huế
+ Chiếm được Gia Định coi như là chiếm được kho lúa gạo của triều đình Huế, gây khó khăn cho triều đình
+ Đánh xong Gia Định sẽ theo đường sông Cửu Long, đánh ngược lên Campuchia (Cao Miên) làm chủ lưu vực sông Mê Kông
- GV bổ sung: người Pháp nhận xét: “ Sài Gòn có triển vọng trở thành trung tâm của một nền thương mại lớn - xứ này giàu sản vật, mọi thứ đều đầy rẫy” Hơn nữa lúc này người Pháp phải hành động gấp vì tư bản Anh sau khi chiếm Singapo và Hương cảng cũng đang ngấp nghé chiếm Sài Gòn để nối liền cửa biển quan trọng trên
Vì tất cả những lí do quan trọng trên, Pháp quyết định đánh Gia Định Ngày 2/2/1859 quân Pháp với 2000 quân và 8 tàu chiến, lợi dụng mùa gió bấc kéo vào Gia Định, ngày 10/2/1859 đến Vũng Tàu Ngày 15/2/1859 quân Pháp tiến sát thành Gia Định Ngày 17/2/1859 Pháp tấn công thành Gia Định, đến trưa quân Pháp chiếm được thành, quan quân triều đình tan rã nhanh chóng
Trang 9Tiết 2
- GV nêu câu hỏi: Em có nhận xét gì về cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Đà Nẵng và Gia Định ?
- HS trả lời:
- GV nhận xét bổ sung: ngay từ khi Pháp xâm lược, nhân dân ta cùng quan quân triều
đình nhà Nguyễn đã anh dũng đứng lên đánh giặc, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp buộc chúng phải thực hiện kế hoạch
“chinh phục từng gói nhỏ” Tuy nhiên trong quá trình kháng chiến chống Pháp, triều đình nặng về phòng thủ, bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh Pháp Trái lại nhân dân kháng chiến với tinh thần tích cực, chủ động rất cao, tự nguyện đứng lên kháng chiến
- GV cho điểm những HS trả lời đúng.
- GV dẫn dắt: khi Pháp mở rộng đánh chiếm Nam Kì, cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp diễn như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu phần còn laị của bài
- GV hướng dẫn HS lập bảng theo mẫu sau:
Cuộc kháng chiến của nhân dân
Tại miền Đông Nam Kì
Trang 10Mặt trận Cuộc tấn công của
thực dân Pháp Thái độ của triều đình Cuộc kháng chiến
của nhân dân
ta Ngày 23/2/1861 tấn công và chiếm được đồn Chí Hoà
- Thừa thắng đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì:
+ĐịnhTường: 12.4.1861+ Biên Hoà: 18.12.1861+Vĩnh Long: 23.3.1862
- Giữa lúc phong trào kháng chiến của nhân dân dâng cao triều đình đã kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất 5/6/1862 cắt hẳn 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và phải chịu nhiều điều khoảng nặng nề khác
- Kháng chiến phát triển mạnh
- Lãnh đạo là các văn thân, sĩ phu yêu nước
- Lực lượng chủ yếu
là nông dân ”dân ấp, dân lân”
- Các trận đánh lớn: Quý Sơn (Gò Công),
vụ đốt cháy tàu giặc trên sông Nhật Tảo của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực.Tại miền
- Triều đình ra lệnh giải tán các đội nghĩa binh chống Pháp
- Nhân dân tiếp tục kháng chiến vừa chống Pháp vừa chống phong kiến đầu hàng
- Khởi nghĩa Trương Định giành thắng lợi, gây cho Pháp nhiều khó khăn
- Sau hiệp ước 1862 nghĩa quân xây dựng căn cứ Gò Công, rèn đúc vũ khí, đẩy mạnh đánh địch ở nhiều nơi Giải phóng nhiều vùng thuộc Gia Định, Định Tường+ Ngày 28/02/1863 Pháp tấn công Gò Công, nghĩa quân anh dũng chiến đấu.+ Ngày 20/8/1864 Trương Định hi sinh, nghĩa quân thất bại
Trang 11* Hoạt động 2: cá nhân
- GV đặt câu hỏi và giảng giải giúp HS nắm vững những kiến thức cơ bản.
- GV nêu câu hỏi: Trong cuộc kháng chiến của nhân dân miền Đông Nam Kì
(1861-1862) có những thắng lợi tiêu biểu nào?
- HS trả lời: Đó là trận đánh chìm tàu chiến Et-phê-răng ( Hi vọng ) của địch trên sông
Vàm Cỏ Đông (đoạn chảy qua thôn Nhật Tảo) của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực
- GV cung cấp thêm về Nguyễn Trung Trực: tên thật là Nguyễn Văn Lịch, người phủ Tân An, Định Tường ( nay thuộc Long An ) Khi Pháp xâm lược Nam Kì, ông đã cùng nhân dân đứng lên chống Pháp Trận đánh nổi tiếng của ông là vụ đốt cháy chiến hạm Hi Vọng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông trưa ngày 10/12/1862.Ông đã cùng một toán nghĩa quân dụ giặc lên bờ rồi cầm đầu 5 chiếc thuyền áp tới khiến bọn giặc trên tàu không kịp trở tay, bị tiêu diệt hầu hết Sau trận đánh đó ông được triều đình phong chức Quân cơ coi giữ vùng Hà Tiên Trận đánh trên sông Nhật Tảo khích lệ mạnh mẽ tinh thần cứu nước của nhân dân lục tỉnh Thực dân Pháp đã thú nhận:“Đây là một trận đau đớn làm cho tinh thần người Việt phấn khởi và gây cảm xúc sâu sắc trong một số người Pháp”
Năm 1867 triều đình phong cho ông chức Lãnh Binh, rồi điều ông ra miền Trung nhưng ông đã chống lệnh, lập căn cứ ở Hòn Chông Rạng sáng ngày 16/6/1868 ông đưa quân đánh úp đồn Kiên Giang ( nay là thị xã Rạch Giá ) tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đó Tháng 9/1868 ông bị giặc bắt, dụ dỗ nhưng ông kiên quyết không đầu hàng, ông đã nói một câu nổi tiếng: ”Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.Ngày 27/10/1868 giặc Pháp đã hành hình ông ở Rạch Giá
- GV yêu cầu HS đọc SGK, hoặc trình chiếu trên PowerPoint nội dung cơ bản của
Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 rồi nêu câu hỏi: Em đánh giá như thế nào về Hiệp ước Nhâm Tuất, về triều đình nhà Nguyễn qua việc chấp nhận ký kết Hiệp ước ?
- HS dựa vào nôi dung Hiệp ước, suy nghĩ, trả lời:
Mặt trận Cuộc tấn công của
thực dân Pháp Thái độ của triều đình Cuộc kháng chiến
của nhân dân
- Từ ngày 20 đến 24/6/1867 Pháp chiếm tron 3 tỉnh miền Tây Nam Kì, Vĩnh Long , An Giang , Hà Tiên không tốn một viên đạn
- Triều đình lúng túng bạc nhược, Phan Thanh Giản – Kinh lược của triều đình đầu hàng
- Nhân dân miền Tây kháng chiến anh dũng với tinh thần người trước ngã xuống, người sau đứng lên
- Tiêu biểu nhất có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực và Nguyễn Hữu Huân
Trang 12+ Đây là một Hiệp ước mà theo đó Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thọi, vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
+ Hiệp ước chứng tỏ thái độ nhu nhược của triều đình, bước đầu nhà Nguyễn
đã đầu hàng thực dân Pháp
- GV nhận xét bổ sung thêm: Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông, Pháp gặp khó
khăn do những cuộc kháng chiến của nhân dân ta, khiến chúng chưa thể bình định ngay miền Đông Giữa lúc đó triều đình Huế lại chủ động “nghị hoà” làm cho thực dân Pháp ngạc nhiên và cảm thấy may mắn vì “ Pháp đang phải đón đợi một tình thế xấu thì Huế lại yêu cầu ký hoà ước” Tháng 5/1862 vua Tự Đức sai quân sang thông báo cho phía Pháp, đề nghị “giảng hoà” và cử một phái bộ do Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp dẫn đầu vào Sài Gòn ngày 28/5/1862, đến Gia Định vào ngày 3/6/1862 đến ngày 5/6/1862 đã ký kết Hiệp ước Chỉ sau hơn một ngày thương thuyết, nhà Nguyễn đã chấp nhận ký những điều khoảng nặng nề: triều đình đã ra lệnh bãi binh, tạo cơ sở cho địch đàn áp nghĩa quân Từ đây, nghĩa quân kháng chiến phải đơn độc đối phó với địch
- GV tiếp tục đặt câu hỏi: Từ sau năm 1862 phong trào đấu tranh của nhân dân miền Đông Nam Kì có sự kiện tiêu biểu nào? Trình bày tóm tắt diễn biến của sự kiện đó.
- HS trả lời : Sau khi 3 tỉnh miền Đông bị triều đình cắt cho Pháp- nhân dân tiếp tục
chống Pháp, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa của Trương Định
- GV bổ sung thêm: Trương Định là con trai của Trương Cầm (võ quan cấp thấp
của triều Nguyễn ) quê ở Quãng Ngãi Vì có công chiêu mộ dân khai hoang lập
ấp nên ông được triều đình cử làm Quản Cơ đồn điền (Quản Định) Pháp chiếm thành Gia Định, ông đã chiêu mộ nông dân đồn điền theo giúp quân triều đình đánh Pháp Khi đại đồn Chí Hoà thất thủ ông về Gò Công chiêu mộ nghĩa binh xây dựng căn cứ quyết tâm chiến đấu lâu dài với Pháp Năm 1862 do việc nghị hoà, triều đình buộc ông giải binh và điều ông về làm lãnh binh ở An Giang Ông kháng lệnh với quyết tâm kháng chiến chống Pháp đến cùngvới chức danh
“Bình Tây Đại Nguyên Soái” Pháp 4 lần gửi thư dụ hàng nhưng ông đều bị từ chối
- GV tiếp tục hỏi: Trong cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân miền Tây có cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nào?
- HS trả lời: Khi Pháp mở rộng đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, nhân dân miền Tây
anh dũng đứng lên kháng chiến sôi nổi, bền bỉ, tiêu biểu nhất có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân
- GV nhận xét và đặt câu hỏi: Từ sau Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kì có điểm gì mới?
- HS suy nghĩ trả lời:
- GV nhận xét kết luận: Từ sau 1862, cuộc kháng chiến của nhân dân mang tính
độc lập với triều đình, vừa chống Pháp vừa chống phong kiến đầu hàng “Dập
Trang 13dìu trống đánh cờ xiêu, phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”, cuộc kháng chiến của nhân dân gặp nhiều khó khăn do thái độ bỏ rơi, xalánh của triều đình với lực lượng kháng chiến.
- Em haỹ so sánh tinh thần chống Pháp của vua quan triều Nguyễn và của nhân dân từ 1858 – 1873
- HS dựa vào những kiến thức vừa học để trả lời.
- GV nhận xét kết luận:
+ Triều đình tổ chức kháng chiến chống Pháp ngay từ đầu song đường lối kháng chiến nặng nề về phòng thủ, thiếu chủ động tấn công, ảo tưởng đối với thực dân Pháp, bạc nhược trước những đòi hỏi của thực dân Pháp
+ Nhân dân chủ động đứng lên kháng chiến với tinh thần cương quyết dũng cảm Khi triều đình đầu hàng, nhân dân tiếp tục kháng chiến mạnh hơn trước, bằng
nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo
4 Sơ kết bài học
- Củng cố: Những cuộc kháng chiến tiêu biểu của nhân dân ta từ 1858-1873
- Dặn dò: HS học bài cũ ,xem trước bài mới Tìm hiểu về tiểu sử, sự nghiệp
của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu
- Bài tập :
1 Nguyên nhân thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam là để
A Giúp Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn
B Mở rộng thị trường
C Khai hoá văn minh cho triều Nguyễn
D Truyền đạo
2 Nguyên cớ để thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam là do:
A Vương triều Tây Sơn sụp đổ
B Vua Tự Đức mất
C Lực lượng giáo dân ủng hô
D Nhà Nguyễn cấm đạo Thiên chúa
3 Nơi mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là:
A Sài Gòn - Gia Định
B Huế
C Bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)
D Thuận An
4 Điền tiếp vào những chỗ trong bảng dưới đây nơi xuất phát các cuộc khởi
nghĩa của những người lãnh đạo sau:
Người lãnh đạo Nơi xuất phát khởi nghĩa
1.Nguyễn Hữu Huân
2.Nguyễn Trung Trực
3.Trương Định
4.Trương Quyền
Bài 20
Trang 14CHIẾN SỰ LAN RỘNG RA TOÀN QUỐC
CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN TA TỪ NĂM 1873
ĐẾN NĂM 1884 , NHÀ NGUYỄN ĐẦU HÀNG
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức
Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:
- Nắm được từ năm 1873 , Pháp mở rộng xâm lược cả nước, những diễn biến chính trong quá trình mở rộng xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
- Thấy rõ diễn biến cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Bắc Kì, Trung Kì, kết quả, ý nghĩa
2 Tư tưởng
- Ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm
- Giáo dục ý thức tôn trọng bảo vệ di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp
- Đánh giá đúng mức trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước
3 Kĩ năng
- Rèn kỹ năng phân tích, đánh giá, nhận xét , rút ra bài học lịch sử, liên hệ với hiện tại
- Sử dụng lược đồ trình bày các sự kiện
II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC
- Lược đồ trận Cầu Giấy lần 1 và lần 2
- Tư liệu về các cuộc kháng chiến ở Bắc Kì
- Tranh ảnh một số nhân vật lịch sử có liên quan đến tiết học
- Văn thơ yêu nước đương thời
III TIẾN HÀNH TỔ CHỨC DẠY HỌC.
1 Kiểm tra bài cũ:
1 Tóm tắt diễn biến của cuộc khởi nghĩa Trương Định
2 Hoàn cảnh, nội dung của điều ước Nhâm Tuất
3 Em hãy nhận xét, so sánh tinh thần chống Pháp của triều đình và của nhân dân ta từ năm 1858 - 1873
2 Dẫn dắt vào bài mới:
- GV nhận xét phần HS trả lời miệng câu hỏi số 3, từ đó dẫn dắt vào bài mới Trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp từ 1858 - 1873 triều đình đã tổ chức kháng chiến, nhưng thiếu kiên quyết, nặng về phòng thủ, ảo tưởng với th=ực dân
Trang 15Pháp, lúng túng trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, không phát động nhân dân kháng chiến Trái lại nhân dân chủ động kháng chiến, tinh thần chiến đấu anh dũng, thái độ kiên quyết, sẵn sàng hy sinh Từ khi Pháp mở rộng xâm lược cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp diễn ra sao, chúng ta cùng tìm hiểu bài 20.
3 Tổ chức các cuộc hoạt động dạy và học trên lớp
- GV thông báo : Sau khi chiếm 6 tỉnh Nam kỳ (1867
- 1873) tình hình kinh tế, xã hội nước ta càng lâm
vào khủng hoảng nghiêm trọng (vốn trước đây đã
khủng hoảng)
1 Tình hình Việt Nam trước khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất
- GV tiếp tục yêu cầu HS theo dõi SGK những biểu
hiện của khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, chính
trị, xã hội
- Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam kỳ (1867) tình hình nước ta càng khủng hoảng nghiêm trọng
- HS theo dõi SGK
- GV bổ sung, kết luận :
+ Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo
thủ “bế quan tỏa cảng”, không tính đến việc lấy lại 6
tỉnh Nam Kỳ
Nội bộ quan lại bước đầu có sự phân hóa giữa bộ
phận chủ chiến và chủ hòa
+ Về chính trị, nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo thủ
“Bế quan tỏa cảng” Nội bộ quan lại phân hóa bước đầu thành 2 bộ phận chủ chiến , chủ hòa
+ Về kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày càng bị
kiệt quệ vì triều đình huy động tiền để trả chiến phí
cho Pháp
+ Kinh tế: ngày càng kiệt quệ
+ Xã hội: Đời sống ngày càng khó khăn, mâu thuẩn
xã hội ngày càng gay gắt, nhân dân bất bình đứng
lên chống triều đình ngày càng nhiều
+ Xã hội: Nhân dân bất bình đứng lên chống triều đình ngày càng nhiều
+ Một số quan lại có tư tưởng tiến bộ đã đề nghị cải
cách, song triều đình không chấp nhận Tiêu biểu là
Nguyễn Trường Tộ đã mạnh dạn dâng lên triều đình
bản điều trần, bày tỏ ý kiến cải cách duy tân Nhưng
do bảo thủ, cố chấp nên triều Nguyễn đã từ chối
những đề nghị của ông Nguyễn Trường Tộ xứng
đáng được coi là nhà tư tưởng đổi mới, có hành
Trang 16động thức thời ở nửa sau thế kỷ XIX đầy biến động
của Việt Nam
+ Không những cự tuyệt cải cách, nhà Nguyễn còn
tỏ ra lúng túng trước nguy cơ Pháp mở rộng xâm
lược Trong suốt những năm Pháp xâm lược Nam
Kì, nhà Nguyễn lúng túng trong việc phòng thủ đề
phòng Pháp mở rộng xâm lược Bắc Kì, việc tổ chức
trang bị, huấn luyện quân đội hầu như không có cải
tiến gì đáng kể
- Nhà Nguyễn từ chối những chủ trương cải cách
- GV tiểu kết : Sau năm 1867 tình hình đất nước
không có gì đổi mới, kinh tế không được chấn hưng,
quân đội không được cải tiến, khả năng phòng thủ
đề phòng Pháp mở rộng tấn công không được tăng
cường Sự khủng hoảng trầm trọng kinh tế, xã hội
càng làm tăng nguy cơ mất nước, tạo cơ hội cho
Pháp mở rộng đánh chiếm cả nước
* Hoạt động 1 : Cả lớp, cá nhân 2 Thực dân Pháp đánh chiếm
Bắc kỳ lần thứ nhất 1873
- GV hỏi: Đến năm 1867 Pháp đánh chiếm được
những vùng nào? Theo em Pháp có dừng lại không?
- HS trả lời: Năm 1867 Pháp chiếm được 6 tỉnh Nam
kỳ và tất yếu Pháp không dừng lại vì mục tiêu của
Pháp lúc đầu là cả Việt Nam, nên Pháp mới đánh Đà
Nẵng để làm bàn đạp đánh thốc lên Huế, buộc nhà
Nguyễn đầu hàng, vì vậy sau khi chiếm xong Nam
Kì Pháp mở rộng đánh chiếm toàn bộ Việt Nam
- GV: Vậy nơi tiếp theo chúng đánh chiếm là đâu?
Bắc Kì hay Trung Kì ?
GV trực tiếp trả lời: Nơi tiếp theo Pháp đánh không
phải Huế mà là Bắc Kì Ngay sau khi chiếm Nam
bộ, Pháp âm mưu xâm lược Bắc Kì
- Sau khi thiết lập bộ máy cai trị ở Nam Kì, Pháp âm mưu xâm lược Bắc kỳ
- GV hỏi: Tại sao Pháp xâm lược Bắc kỳ mà chưa
phải là kinh đô Huế ?
- HS dựa vào những kiến thức đã học và suy nghĩ trả
lời:
- GV nhận xét, kết luận: Vì nước Pháp vừa ra khỏi
chiến tranh Pháp – Phổ 1870; tình hình kinh tế chính
trị chưa ổn định, vì vậy Pháp chưa thể kết thúc chiến
tranh xâm lược Việt Nam Nhưng bọn thực dân Pháp
ở Nam Kì nôn nóng muốn hành động, chúng luôn
Trang 17nhòm ngó Bắc Kì nhất là từ khi Nam Kì được củng
cố, vì Bắc Kì là vùng đất giàu tài nguyên, khoáng
sản, mà nhu cầu nguyên liệu của Pháp càng lớn do
trong nước đã mất 2 tỉnh giàu nguyên liệu về tay
Đức đó là tỉnh Andát và Loren Hơn nữa thực dân
Pháp ở Nam Kì biết chắc triều đình Huế lúc này đã
suy yếu sẽ không có phản ứng gì đáng kể nếu như
chúng đánh Bắc Kì
* Hoạt động 2 : Cả lớp
- GV hỏi : Pháp đã làm gì để dọn đường cho đội quân
xâm lược Bắc kỳ ?
Yêu cầu HS theo dõi SGK để trả lời
- HS đọc SGK sau đó trả lời: Trước khi đánh Bắc Kì,
Pháp đã cho người do thám, chúng tung ra Bắc bọn
gián điệp đội lốt thầy tu để điều tra tình hình về bố
phòng của ta Pháp còn lôi kéo tín đồ công giáo lầm
- GV bổ sung: Chúng còn bắt liên lạc với lái buôn
Đuy-puy (tên lái buôn hiếu chiến, muốn dùng đường
sông Hồng chở hàng hóa vũ khí qua miền Bắc
chuyển lên Trung Quốc) tạo cớ xâm lược Bắc Kì
Trong khi tư bản Pháp còn dè dặt với Bắc Kì thì
Đuy-puy đã tự mình hành động Y tự đi Hương
Cảng và Thượng Hải (Trung Quốc) để sắm pháo,
thuyền, mua vũ khí, đạn dược, mộ quân lính kéo tới
Bắc Kì Tháng 11/1872 , ỷ thế nhà Thanh, Đuy-puy
tự tiện cho tàu ngược sông Hồng lên Vân Nam
(Trung Quốc) mặc dù chưa được phép của triều đình
Huế Hắn còn ngang ngược đòi đóng quân bên bờ
sông Hồng, có nhượng địa ở Hà Nội, được cấp than
đá để đưa sang Vân Nam Lính Pháp và thổ phỉ dưới
trướng Đuy-puy còn cướp gạo của triều đình, bắt
quân lính và dân đem xuống tàu, khước từ lời mời
tới thương thuyết của tổng đốc Nguyễn Tri Phương
Quan hệ giữa triều đình và thực dân Pháp trở nên
căng thẳng, lấy cớ “giải quyết vụ Đuy-puy” đang
gây rối ở Hà Nội, bọn thực dân Pháp hiếu chiến ở
Sài Gòn đã đem quân ra Bắc Đội quân do Đại úy
Gác-ni-e đứng đầu, bề ngoài với danh nghĩa giải
quyết tại chỗ vụ Đuy-puy, nhưng bên trong chính là
- Lấy cớ giải quyết vụ puy đang gây rối ở Hà Nội, thực dân Pháp đem quân ra Bắc
Trang 18Đuy-để kiếm cớ can thiệp sâu vào vấn đề Bắc Kì.
+ Ngày 5.11.1873 đội tàu chiến của Gác-ni-e ra đến
Hà Nội Ở Sài Gòn bọn thực dân hiếu chiến ở Nam
Kì đã giao cho Gác-ni-e toàn quyền hành động nên
sau khi hội quân với Đuy-puy, quân Pháp liền giở
trò khiêu khích Ngày 16.11.1873 , sau khi có viện
binh, Gác-ni-e mở cửa sông Hồng, áp dụng thuế
quan mới Sáng ngày 19.11 gởi tối hậu thư cho
Nguyễn Tri Phương (tổng đốc thành Hà Nội) yêu
cầu phải giải tán quân đội, nộp khí giới , không
đợi trả lời, sáng ngày 20.11.1873 quân Pháp nổ súng
đánh thành Hà Nội, với sức mạnh quân sự lớn hơn
hẳn quân triều đình, quân Pháp nhanh chóng chiếm
thành Hà Nội, sau đó mở rộng xâm lược các tỉnh
đồng bằng sông Hồng: Hưng Yên (23.11), Phủ Lý
(26.11), Hải Dương (3.12), Ninh Bình (5.12), Nam
- Không đợi trả lời, ngày 20.11.1873 Pháp tấn công thành Hà Nội chiếm được thành sau đó mở rộng đánh chiếm các tỉnh đồng bằng sông Hồng
- GV dẫn dắt : Trước cuộc xâm lựơc trắng trợn của
thực dân Pháp, nhân dân Bắc Kì đã kháng chiến như
thế nào?
* Hoạt động 1 : Cả lớp, cá nhân
- GV đặt câu hỏi : Khi Pháp đánh Bắc Kì, triều đình
nhà Nguyễn đối phó ra sao ?
- HS theo dõi SGK sau đó trả lời câu hỏi
3.Phong trào kháng chiến ở Bắc Kì trong những năm 1873- 1874
- GV nhận xét, bổ sung :
+ Khi Pháp nổ sung đánh thành Hà Nội: 100 nghĩa
binh triều đình dưới sự chỉ huy của viên chưởng cơ
ở Ô Quan Chưởng đã chiến đấu anh dũng và hy sinh
đến người cuối cùng
- Khi Pháp đánh thành Hà Nội,
100 binh lính đã chiến đấu và
hy sinh anh dũng tại Ô Quan Chưởng
GV cung cấp thêm tư liệu về Ô Quan Chưởng: Đây
là một trong những cửa Ô còn sót lại của toà thành
Thăng Long cũ, được xây dựng vào năm Cảnh Hưng
thứ 10 (1749) , đến năm Gia Long thứ 3 được xây
dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay (cho
HS xem ảnh của Ô Quan Chưởng hoặc trình chiếu
Trang 19Powerpoint ) Hiện ở cửa ô còn nguyên cửa chính và
hai cửa phụ hai bên Bên trên cửa lớn có ghi ba chữ
Hán “Đông Hà Môn” tức là cửa ô Đông Hà Sở dĩ
cửa ô còn có tên gọi là Ô Quan Chưởng vì ngày
20.11.1873 Pháp đánh thành Hà Nội, khi đến cửa ô
Đông Hà chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt
của 100 binh sĩ triều đình do một viên quan Chưởng
cơ chỉ huy anh dũng chặn giặc, kết cục viên Chưởng
cơ cùng toàn thể 100 binh sĩ đều anh dũng hy sinh
Để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng ,
nhân dân đổi tên cửa ô là Ô Quan Chưởng Từ bấy
đến nay người ta vẫn chưa xác minh được tên gọi
của vị chưởng cơ anh hùng Vì vậy tên Ô Quan
Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi của lịch sử
+ Trong thành Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã đốc
thúc quân sĩ chiến đấu dũng cảm
- GV dừng lại cung cấp cho HS tư liệu về Nguyễn Tri
Phương: Nguyễn Tri Phương đã được nhắc đến
nhiều lần ở bài trước Ông từng được triều đình cử
chỉ huy chống Pháp tại mặt trận Đà Nẵng, kế sách
vườn không nhà trống, xây thành, đắp lũy của ông
lúc đã đã khiến thực dân Pháp sa lầy tại Đà Nẵng
- Trong thành Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã chỉ huy quân sĩ chiến đấu dũng cảm
→ Nguyễn Tri Phương hi sinh anh dũng Thành Hà Nội thất thủ, quân triều đình nhanh chóng tan rã
Lần thứ hai, ông được triều đình cử vào Gia Định
Ông đã cho xây dựng đại đồn Chí Hoà để chặn giặc
Nhưng lần này đại đồn của ông không chịu nổi sức
công phá bởi vũ khí đại bác của Pháp Vì vậy đại
đồn thất thủ
Lần thứ ba vào năm 1872, ông được triều đình điều
đi giữ chức Tuyên sát đổng sứ đại thần, thay mặt
triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc Kì, làm tổng
đốc thành Hà Nội, lúc này ông đã 73 tuổi Khi Pháp
tới Hà Nội khiêu chiến, quan quân triều đình tỏ ra
lúng túng, bị động, vũ khí thô sơ Mặc dù chiến đấu
anh dũng song thành Hà Nội vẫn thất thủ, Nguyễn
Tri Phương bị trúng đạn ở bụng, ông mất , thọ 73
tuổi Con trai ông Nguyễn Lâm cũng hi sinh tại trận
địa, quân triều đình nhanh chóng tan rã
- Quân triều đình không thiếu lòng dũng cảm song do
vũ khí thô sơ, cách tổ chức đánh giặc nặng về phòng
Trang 20thủ, kém linh hoạt cho nên nhanh chóng thất bại
Vậy phong trào kháng chiến của nhân dân diễn ra
như thế nào ?
* Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK phong trào đấu tranh
của nhân dân Bắc kỳ
- HS theo dõi SGK , trả lời câu hỏi
- GV nhận xét, bổ sung: Trong suốt cuộc kháng chiến
chống Pháp, nhà Nguyễn không một lần hiệu triệu
nhân dân mà nhân dân tự động kháng chiến (Liên hệ
sau này Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến)
- Phong trào kháng chiến của nhân dân
- Ngay từ khi Pháp chưa đánh thành Hà Nội, nhân dân
Hà Nội đã bất hợp tác với giặc, bỏ thuốc độc xuống
giếng nước ăn, đốt kho đạn của địch ở ven sông
Hồng, không bán lương thực, thực phẩm cho giặc
- Khi Pháp đến Hà Nội, nhân dân chủ động kháng chiến, không hợp tác với giặc
+ Khi thành Hà Nội thất thủ, nhân dân Hà Nội tiếp
tục kháng chiến Các sỹ phu văn thân yêu nước đã
lập nghĩa hội, bí mật tổ chức chống Pháp Khi Pháp
mở rộng đánh chiếm các tỉnh, nhân dân các tỉnh anh
dũng chiến đấu (Phần chữ nhỏ SGK trang 120)→
buộc Pháp phải rút về cố thủ tại các tỉnh lỵ
+ Khi thành Hà Nội thất thủ, nhân dân Hà Nội và nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc bộ vẫn tiếp tục chiến đấu→ buộc Pháp phải rút về cố thủ tại các tỉnh ly
Cùng lúc đó quân Pháp tại Hà Nội bị quân ta bao
vây uy hiếp, Pháp phải bỏ Nam Định về ứng cứu
cho Hà Nội và bị ta phục kích tại Cầu Giấy, giết chết
Gác-ni-e làm nên chiến thắng Cầu Giấy vang dội
21.12.1873
+ Ngày 21.12.1873 quân ta phục kích tại Cầu Giấy, Gác-ni-e tử trận → thực dân Pháp hoang mang, chủ động thương lượng với triều đình
- GV dùng lược đồ Cầu Giấy để tường thuật diễn biến
trận phục kích (phần chữ nhỏ trang 121 SGK)
Chiến thắng Cầu Giấy có ý nghĩa lớn, khiến cho
nhân dân ta vô cùng phấn kích, ngược lại làm cho
thực dân Pháp hoang mang lo sợ, chúng tìm cách
thương lượng với triều đình Huế Tình hình đó mở
ra một cơ hội để quân ta tấn công tiêu diệt địch buộc
chúng rút khỏi Bắc Kì bằng tấn công quân sự Song
triều đình lại một lần nữa ký Hiệp ước với Pháp chịu
nhiều thiệt thòi
* Hoạt động 3: Cả lớp, cá nhân
- GV yêu cầu HS đọc nội dung cơ bản của Hiệp ước
trong SGK và đánh giá về Hiệp ước GV cung cấp - Năm 1874 triều đình ký với
Trang 21thêm thông tin sau Hiệp ước 1874 : Triều đình còn
ký với Pháp một bản thương lượng gồm 29 khoản
cho phép thực dân Pháp xác lập những đặc quyền
kinh tế của chúng trên khắp đất nước Việt Nam
thực dân Pháp điều ước Giáp Tuất, dâng toàn bộ 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp
- HS đánh giá về Hiệp ước Giáp Tuất 1874
- GV nhận xét, bổ sung :Đây là Hiệp ước bất bình
đẳng thứ hai mà nhà Nguyễn phải ký với thực dân
Pháp, nhà Nguyễn đã đánh mất một phần quan trọng
chủ quyền độc lập của Việt Nam Nam kỳ trở thành
thuộc địa của Pháp, Việt Nam trở thành thị trường
riêng của Pháp Hiệp ước một lần nữa chứng tỏ thái
độ nhu nhược của triều Nguyễn trước cuộc xâm
lược của thực dân Pháp Đi ngược lại quyền lợi của
nhân dân, vì vậy vấp phải những phản ứng quyết liệt
từ nhân dân và các sĩ phu đương thời Từ đây nội
dung chống phong kiến này càng rõ nét trong phong
trào đấu tranh của nhân dân ta nhất là trong cuộc
khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ
Tĩnh
“Dập dìu trống đánh cờ xiêu Phen này quyết đánh của triều lẫn Tây”
Hiệp ước đánh dấu quá trình đi từ “thủ để hòa” sang
chủ hòa vô điều kiện của nhà Nguyễn
→ Hiệp ước gây nên làn sóng bất bình trong nhân dân →
Phong trào kháng chiến kết hợp giữa chống thực dân với chống phong kiến đầu hàng
-GV dẫn dắt: Sau Hiệp ước 1874 Pháp rút khỏi Bắc
Kì, gần 10 năm sau chúng mới mở cuộc xâm lược
Bắc Kì lần hai Để hiểu được quá trình Pháp xâm
lược Bắc kỳ lần hai và cuộc kháng chiến của nhân
dân ta, chúng ta cùng tìm hiểu phần II
* Hoạt động 1: Cả lớp
- GV cung cấp kiến thức: cuộc xâm lược lần này của
Pháp tương đối giống lần một Từ thập kỷ 70 của
thế kỷ XIX, nước Pháp đã bước vào giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa, nhu cầu thuộc địa trở nên cấp thiết
→ thực dân Pháp ráo riết xúc tiến âm mưu xâm lược
toàn bộ Việt Nam
II.Thực dân Pháp tiến đánh Bắc kỳ lần thứ hai Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì và Trung Kì trong những năm
1882 - 1884:
- GV yêu cầu HS đọc SGK để thấy được quá trình
Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai
1 Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì lần thứ hai (1882- 1883)
- HS trình bày, GV bổ sung kết luận :
+ Trước khi xâm lược, Pháp phái người ra điều tra - Năm 1882 Pháp vu cáo triều
Trang 22tình hình Bắc kỳ Năm 1882 Pháp vu cáo triều đình
Huế vi phạm Hiệp ước 1874 để lấy cơ kéo quân ra
Bắc
đình Huế vi phạm Hiệp ước
1874 để lấy cơ kéo quân ra Bắc
+ Ngày 3.4.1882 quân Pháp do đại tá hải quân Rivie
chỉ huy bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội Ngày 25.4 sau khi
được tăng viện binh, chúng gởi tối hậu thư cho Tổng
đốc Hoàng Diệu, yêu cầu triều đình hạ vũ khí, giao
thành trong ba tiếng đồng hồ Chưa hết thời hạn,
địch đã nổ súng chiếm thành
GV dừng lại cho HS xem hình trong SGK: Quân
Pháp chiếm thành Hà Nội, xây dựng lô cốt trên nền
điện Kính Thiên để HS thấy được kinh đô xưa ngàn
năm văn hiến đã bị thực dân Pháp dày xéo
- Ngày 3.4.1882 Pháp bất ngờ
đổ bộ lên Hà Nội
- Ngày 25.4.1882 Pháp nổ súng chiếm thành Hà Nội
- Nhân lúc triều đình Huế còn đang hoang mang, lơ là
mất cảnh giác, Rivie đã cho quân chiếm mỏ than
Hồng Gai, Quảng Yên, Nam Định (3.1883)
- Tháng 3.1883 Pháp chiếm mỏ than Hồng Gai, Quảng Yên, Nam Định
- GV phân tích : Khác với lần một sau khi chiếm
thành Hà Nội, Pháp đánh chiếm các tỉnh đồng bằng
Bắc bộ, lần này sau khi chiếm được thành Hà Nội,
Pháp đã chiếm mỏ than Quảng Ninh là vì nhu cầu
nguyên liệu của nước Pháp lúc này cấp thiết
- GV dẫn dắt : Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần hai
nhân dân ta đã kháng chiến như thế nào ? Kết quả ra
sao, chúng ta cùng tìm hiểu phần 2
* * Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân 2 Nhân dân Hà Nội và các
tỉnh Bắc kỳ kháng chiến
- GV: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược lần hai của nhân dân ta tương tự như lần đầu
GV yêu cầu HS đọc SGK để thấy được quan quân
triều đình kháng chiến ra sao, nhân dân kháng chiến
như thế nào
- HS theo dõi SGK trả lời
- GV bổ sung, kết luận: Vừa đặt chân đến Hà Nội
(4.1882) Rivie đã giở trò khiêu khích, đòi đóng quân
trong thành và phá hủy các công sự phòng thủ trên
mặt thành Mờ sáng ngày 25.4, Rivie gởi tối hậu thư
cho tổng đốc Hoàng Diệu, đòi nộp thành
Hạn trả lời thư chưa hết, chúng đã nổ súng đánh
thành, quan quân triều đình do Hoàng Diệu chỉ huy
kiên quyết chống lại
Trang 23Cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt thì kho thuốc
đạn trong thành bốc cháy (do có nội gián) làm cho
quan quân Hoàng Diệu dao động Thừa cơ đó, quân
Pháp đột nhập chiếm thành, đại quân tan rã Hoàng
Diệu chạy vào hành cung thảo di biểu gởi triều đình,
rồi dùng khăn lụa tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu nêu
cao tinh thần yêu nước một lòng sống chết với
thành
- Quan quân triều đình và Hoàng Diệu chỉ huy quân sĩ chiến đấu anh dũng bảo vệ thành Hà Nội → thành mất, Hoàng Diệu hy sinh Triều đình hoang mang cầu cứu nhà Thanh
GV cung cấp thêm những tư liệu về Hoàng Diệu
Hoàng Diệu là người Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng
Nam Suốt cuộc đời làm quan, ông nổi tiếng là
người thanh liêm, thẳng thắn, hết lòng vì dân vì
nước Dân thời ấy thường truyền tụng rằng ông
sống hết sức thanh bạch, trong nhà không có tiền
bạc và với ông không ai dám đến cửa công để kêu
xin việc tư Khi được cử làm tổng đốc thành Hà Nội,
ông lo chỉnh đốn lại thành trì và quân ngũ để đề
phòng Trước đó, ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đề
nghị việc phòng chống giặc nhưng vua Tự Đức đã
làm thinh Khi Hà Nội bị uy hiếp , ông một mặt xin
triều đình Huế viện binh, một mặt ra lệnh giới
nghiêm và thông báo các tỉnh đề phòng, nhưng triều
đình lại yêu cầu triệt binh “để người Pháp khỏi nghi
ngờ”, ông đã quyết tâm sống chết với thành Đến khi
không giữ được thành ông đã tuẫn tiết để giữ trọn
khí tiết
+ Trong khi triều đình nhu nhược, quân đội nhanh
chóng tan rã , thì phong trào đấu tranh của nhân dân
vẫn tiếp tục Ngay từ đầu đến Hà Nội, đội quân
Rivie đã vấp phải tinh thần quyết chiến của nhân
dân Hà Nội Họ tự tay đốt các dãy phố, tạo thành
hàng rào lửa cản giặc, khi mất thành Hà Nội nhân
dân tiếp tục kháng chiến với nhiều hình thức
- Nhân dân dũng cảm chiến đấu chống Pháp bằng nhiều hình thức :
+ Các sỹ phu không thi hành mệnh lệnh của triều đình tiếp tục tổ chức kháng chiến.+ Nhân dân Hà Nội và các tỉnh tích cực kháng chiến bằng nhiều hình thức sáng tạo
+ Tiêu biểu có trận phục kích Cầu Giấy lần hai 19.5.1883
Trang 24→ Rivie bỏ mạng, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân.
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK các hoạt động chống
Pháp của nhân dân (phần chữ nhỏ)
* Hoạt động 3: Cả lớp
- GV dùng lược đồ trận Cầu Giấy lần hai tường thuật
về chiến thắng Cầu Giấy (SGK)
- GV khắc sâu ý nghĩa của chiến thắng Cầu Giấy:
chiến thắng làm cho nhân dân cả nước vô cùng phấn
khởi , có lệnh là nhất tề nổi dậy đánh đuổi quân địch
ra khỏi bờ cõi Giặc Pháp ở Hà Nội vô cùng hoang
mang lo sợ Một tên trong số bọn chúng đã ghi lại
như sau : “Thực là một cuộc sống kinh khủng đối
với một dúm người từng đêm chờ đợi kết liễu cuộc
đời” Bộ chỉ huy Pháp đã có lệnh chuẩn bị rút khỏi
Hồng Gai , Nam Định Chiến thắng Cầu Giấy đã tỏ
rõ quyết tâm và tinh thần sẵn sàng chiến đấu tiêu
diệt quân địch, giải phóng Hà Nội và Bắc Kì của
nhân dân ta, Tuy nhiên triều đình lại ảo tưởng có
thể thu hồi Hà Nội bằng con đường thương thuyết
hòa bình Vì vậy đã không cho quân tấn công Còn
Pháp đã hạ quyết tâm thôn tính toàn cõi Việt Nam
Chúng gởi viện binh sang, vạch kế hoạch đánh kinh
đô Huế
- GV dẫn dắt : thực dân Pháp tấn công Thuận An như
thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu phần III
* Hoạt động 1: Cả lớp III thực dân Pháp tấn công
cửa biển Thuận An , Hiệp ước 1883 và hiệp ước 1884:
- GV dùng lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp xâm
lược giới thiệu về cửa biển Thuận An : cách kinh đô
Huế khoảng 20km, từ cửa biển có thể theo dọc sông
Hương đánh thốc lên Huế, đây là một vị trí phòng
thủ trọng yếu của Huế, được mệnh danh là cổ họng
của kinh thành Huế, mất Thuận An coi như mất Huế
1 Quân Pháp tấn công cửa biển Thuận An
- HS theo dõi lược đồ, thấy được vị trí quan trọng của
Thuận An đối với Huế
- GV giảng giải : Trước thái độ ảo tưởng của triều
đình Huế, thực dân Pháp càng củng cố quyết tâm
xâm lược toàn bộ Việt Nam Nhân cái chết của Rivie
Trang 25thực dân Pháp lớn tiếng kêu gọi “trả thù” , vạch kế
hoạch đánh chiếm kinh đô buộc triều Nguyễn đầu
hàng
* Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK để thấy được hoàn
cảnh lịch sử và quá trình Pháp đánh chiếm Thuận
An
- HS theo dõi SGK trình bày trước lớp
+ Nhân lúc Tự Đức qua đời (17.7.1883), triều đình
còn đang bận rộn chọn người kế vị (vì Tự Đức
không có con) thực dân Pháp đã quyết định đánh
thẳng vào Huế
- Lợi dụng Tự Đức mất, triều đình lục đục → Pháp quyết định đánh Huế
+ Ngày 18.8.1883 hạm đội Pháp do đô đốc Cuốc-bê
chỉ huy đã tiến vào cửa Thuận An “Cổ họng kinh đô
Huế”, Cuốc-bê gởi tối hậu thư đòi triều đình phải
giao toàn bộ các pháo đài trong vòng 2 giờ Đến 4
giờ chiều hôm đó Pháp nổ súng công phá các pháo
đài ở Thuận An trong 2 ngày đêm
Chiều ngày 20.8.1873 Pháp đổ bộ lên bờ , quân ta
chống trả quyết liệt, các trấn thủ Thuận An như Lê
Sỹ, Lê Chuẩn, Lâm Hoành , Nguyễn Trung và nhiều
binh sĩ vô danh khác đã hy sinh trong chiến đấu Tối
20.8.1873 , Pháp làm chủ được các pháo đài ở
Thuận An, sau đó buộc nhà Nguyễn ký những hiệp
ước đầu hàng
- Ngày 18.8.1883 Pháp tấn công Thuận An
- Chiều ngày 20.8.1883 Pháp
đổ bộ lên bờ
- Tối 20.8.1883 chúng làm chủ Thuận An
* Hoạt động 1:
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK: Hoàn cảnh ký kết và
nội dung của hiệp ước 1883 và 1884 ?
2Hai bản hiệp ước 1883 và
1884, nhà nước phong kiến Nguyễn đầu hàng
- HS theo dõi SGK trả lời * Hoàn cảnh lịch sử:
- GV nhận xét, bổ sung, kết luận
+ Nghe tin Pháp tấn công Thuận An, cử đại diện là
Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An xin đình
chiến Tranh thủ thái độ mềm yếu của triều đình,
Cao ủy Pháp Hác-măng (đại diện cao cấp của Pháp)
đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước
mới Triều đình Huế cử Trần Đình Túc và Nguyễn
Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, ngày 25.8.1883
Hác-măng đưa ra bản Hiệp ước mới buộc triều đình
Huế phải ký kết
- Nghe tin Pháp tấn công Thuận An, triều đình Huế vội xin đình chiến
- Lợi dụng sự hèn yếu của triều đình Cao ủy Pháp Hác-măng tranh thủ đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước mới
+ GV có thể yêu cầu 1 HS đọc to nội dung Hiệp ước - Ngày 25.8.1883 bản Hiệp
Trang 26Hác-măng, hoặc trình chiếu trên Power point nội
dung cơ bản của Hiệp ước Hác-măng
ước mới được đưa ra buộc đại diện triều Nguyễn phải ký kết
- GV phân tích thêm : Theo các nội dung của Hiệp
ước Việt Nam mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn
quốc, triều đình Huế đã chính thức nhận sự bảo hộ
của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế,
ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm Ở Trung
kỳ do triều đình cai quản, song trên thực tế đại diện
của Pháp, khâm sứ ở Huế trực tiếp điều khiển các
công việc ở Trung Kì, viên này có quyền gặp nhà
vua bất kỳ lúc nào nếu xét thấy cần thiết
* Nội dung của Hiệp ước Hác măng:
- Thừa nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.+ Nam Kì là thuộc địa
+ Bắc Kì là đất bảo hộ+Trung Kì triều đình quản lý Đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung kỳ
* Hoạt động 2: Cá nhân
- GV đặt câu hỏi : Hiệp ước Hác-măng chứng tỏ điều
gì ? Em hãy nhận xét, đánh giá ?
- HS suy nghĩ trả lời
- GV nhận xét, kết luận: Với bản Hiệp ước Hác-măng,
phong kiến nhà Nguyễn đã đi sâu hơn một bước trên
con đường đầu hàng thực dân Pháp Việt Nam thực
sự trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến
Ngoại giao của Việt Nam do Pháp nắm giữ
Quân sự : Pháp được tự
do đóng quân ở Bắc Kì và toàn quyền xử lý quân Cờ đen, triều đình phải nhận các huấn luyện viên và sỹ quan chỉ huy của Pháp, phải triệt hồi binh lính từ Bắc Kì về kinh đô (Huế)
GV có thể giải thích khái niệm thuộc địa nửa phong
kiến là một nước chính quyền phong kiến còn, song
chủ quyền dân tộc bị mất và phải phụ thuộc nước
ngoài Nhà Nguyễn hầu như không còn gì để mất
nước, có chăng chỉ còn lại một triều đình hữu danh,
vô thực
+ Về kinh tế: Pháp nắm và kiểm soát toàn bộ các nguồn lợi trong nước
→ Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến
* Hoạt động 3: Cả lớp
- GV dẫn dắt : Ký hiệp ước Hác-măng, triều đình Huế
coi như đã phản bội lại nhân dân cả nước, mặc dù
vậy quân dân ngoài Bắc vẫn quyết tâm kháng chiến
đến cùng Lệnh triệt binh của triều đình không ai
nghe theo, nhiều trung tâm kháng chiến vẫn tiếp tục
hình thành, các toán nghĩa binh do các quan lại chủ
chiến đã phối hợp với các lực lượng quân Thanh
(kéo sang từ mùa thu năm 1882) liên tiếp khuấy đảo,
tiến công quân Pháp gây cho chúng nhiều thiệt ại
Trang 27Tháng 12.1883 Pháp buộc phải tiến hành các cuộc
hành binh nhằm tiêu diệt các ổ đề kháng còn sót lại
đồng thời tiến hành thương lượng để loại trừ sự can
thiệp của nhà Thanh, chính phủ Pháp đã cử Patơnốt
sang Việt Nam và cùng triều đình Huế ký một hiệp
ước mới vào ngày 6.6.1884 Nội dung chủ yếu như
hiệp ước Hác-măng song có sửa chữa một số điều:
Trả lại cho nhà Nguyễn 3 tỉnh ở phía bắc là Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Bình Thuận ở phía Nam
(theo hiệp ước Hác-măng thì Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kì, còn Bình Thuận sáp
nhập vào Nam Kì) Nhà Nguyễn chỉ kiểm soát từ
đèo Ngang (phía Bắc) đến Khánh Hoà (phía Nam)
- Ngày 6.6.1884 Pháp ký tiếp với triều đình Huế bản hiệp ước Patơnốt , nhằm xoa dịu
dư luận và mua chuộc bọn phong kiến
4 Sơ kết bài học
- Củng cố: GV có thể củng cố bài giảng bằng một số câu hỏi :
+ Tại sao Pháp phải tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam tới gần 30 năm 1858 - 1884 ?
+ Nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
+ Em hãy đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước
- HS suy nghĩ, thảo luận với nhau để trả lời
- GV bổ sung giúp HS nắm được những vấn đề sau :
+ Sở dĩ Pháp phải kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam là do đi đến đâu chúng cũng luôn vấp phải sức kháng cự quyết liệt , ngoan cường của nhân dân ta
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta cuối cùng đã thất bại, triều Nguyễn đầu hàng, thực dân Pháp hoàn thành xâm lược Việt Nam năm 1884
- Nguyên nhân thất bại :
+ Lực lượng chênh lệch: GV có thể trình chiếu trên Power point hoặc cho HS quan sát bức tranh quân lính triều Nguyễn so sánh với những bức ảnh quân đội Pháp GV nhấn mạnh sự chênh lệch về trang bị vũ khí Lực lượng kháng chiến của quân ta chủ yếu là : “dân ấp, dân lân”, với những vũ khí thô sơ: ngoài cật có một manh áo vải, trong tay cầm một gậy tầm vông, hỏa mai đánh bằng con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay Còn quân địch tinh nhuệ: Thằng tây có đạn nhỏ, đạn to, có tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ
+ Triều đình bỏ dân, quan lại hèn nhát → kháng chiến của nhân dân mang tính tự phát
+ Triều đình nhu nhược, đường lối kháng chiến không đúng đắn, không đoàn kết với nhân dân
- Ý nghĩa :
Trang 28+ Thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu của nhân dân ta tiếp nối truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc.
+ Làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp →
khiến Pháp phải kéo dài cuộc xâm lược Việt Nam gần 30 năm
+ Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu
-Đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn: Có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước việc mất nước,
có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn chỉ phải chịu một phần trách nhiệm trong việc mất nước, có người lại cho rằng việc mất nước là tất yếu nhà Nguyễn không phải chịu trách nhiệm gì? Theo em đánh giá như thế nào? Hoàn cảnh lúc đó bị xâm lược là tất yếu , nhưng việc mất nước có phải là tất yếu không? Liên hệ với Thái Lan, Nhật Bản, họ cũng đứng trước nguy cơ bị xâm lược nhưng tại sao không mất nước, làm thế nào để có một đánh giá khách quan về triều Nguyễn: trong bối cảnh
đó mất nước không có gì lạ, lớn như Trung Quốc còn mất nước Ở đây chỉ đánh giá về trách nhiệm để mất nước của nhà Nguyễn với vai trò là một triều đại điều hành đất nước mà để mất nước, vì vậy nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân về việc để mất nước GV có thể liên hệ thực tế
- Dặn dò: Học bài cũ, đọc trước bài mới, sưu tầm tư liệu về phong trào Cần
Vương
- Bài tập
1 Sau khi mất 6 tỉnh Nam Kì, triều đình nhà Nguyễn đã:
A Tổ chức cho nhân dân phản công để lấy lại
B Mặc nhiên thừa nhận là vùng đất của Pháp, không nghĩ đến việc giành lại
C Thương lượng với Pháp để xin chuộc
D Chuẩn bị lực lượng, chờ thời cơ
2 Sau khi chiếm được 6 tỉnh Nam kỳ, thực dân Pháp đã:
A Tìm cách xoa dịu nhân dân
B Bị triều đình Nguyễn phản ứng
C Bắt tay thiết lập bộ máy cai trị, chuẩn bị kế hoạch đánh ra Bắc kỳ
D Ngừng kế hoạch mở rộng cuộc chiến, củng cố lực lượng
3 Thực dân Pháp nổ súng chiếm thành Hà Nội ngày
A 16.11.1873 C 20.11.1873
B 19.11.1873 D 23.11.1873
4 Hãy điền vào chỗ những nội dung còn thiếu để hoàn thành bảng niên biểu
về những sự kiện lịch sử Việt Nam
Thời gian Nội dung cơ bản Kết quả
Trang 291883-1884
Bài 21PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CỦA
NHÂN DÂN VIỆT NAM, TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức
Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:
- Hiểu rõ hoàn cảnh phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong đó có cuộc khởi nghĩa Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa tự vệ (tự phát)
- Nắm được diễn biến cơ bản của một số khởi nghĩa tiêu biểu: Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế
2 Tư tưởng
- Giáo dục cho HS lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc, bước đầu nhận thức được những yêu cầu mới cần phải có để đưa cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đến thắng lợi
3 Kỹ năng.
- Củng cố kỹ năng phân tích, nhận xét, rút ra bài học lịch sử, kỹ năng sử dụng kiến thức bổ trợ để nắm được bài
II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC
- Lược đồ phong trào Cần Vương
- Lược đồ các căn cứ khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy…
III TIẾN HÀNH TỔ CHỨC DẠY HỌC.
1 Kiểm tra bài cũ:
- Hoàn cảnh, nội dung cơ bản của Hiệp ước 1883-1884
- Tại sao cuối cùng Việt Nam bị rơi vào tay Pháp
2 Dẫn dắt vào bài mới
- Năm 1884 sau Hiệp ước Patơnốt thực dân Pháp đã đặt được ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam Tuy vậy trên thực tế chúng chỉ mới khuất phục được bộ phận phong kiến đầu hàng, còn đông đảo quần chúng nhân dân vẫn nuôi trí chờ thời, sẵn sàng đứng lên chống xâm lược Để hiểu được phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta cuối thế kỉ XIX diễn ra như thế nào chúng ta cùng học bài 21
3 Tổ chức các cuộc hoạt động dạy và học trên lớp
Trang 30Hoạt động của GV và HS Kiến thức HS cần nắm
* Hoạt động 1: cả lớp, cá nhân I Phong trào Cần Vương
bùng nổ
- GV nêu câu hỏi: Em hãy nhắc lại kết quả của cuộc
kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta
1858-1884
1 Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại kinh thành Huế và sự bùng nổ phong trào Cần Vương
- Hs nhớ lại kiến thức cũ: mặc dù nhân dân ta anh
dũng kháng chiến song phong trào còn mang tính tự
phát triều đình bảo thủ, nhu nhược, ảo tưởng trước
thực dân Pháp, đường lối kháng chiến nặng nề về
phòng thủ, nghị hoà, không đoàn kết nhân dân Vì
vậy, cuối cùng thực dân pháp đã tấn công Thuận
An , buộc triều đình Nguyễn kí văn kiện đầu hàng
thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lược Việt
Nam và bắt đầu thiết lập chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ và
độ bảo hộ ở Bắc Kì và Trung Ki`
- Phong trào đấu tranh chống pháp của nhân dân ta đã tiếp tục phát triển
- GV cung cấp kiến thức mới: mặc dù Pháp đã khuất
phục được triều đình Huế (bộ phận chủ hoà) song
chúng không thể khuất phục được nhân dân ta và
một bộ phận chủ chiến trong triều đình, phong trào
đấu tranh chống Pháp tiếp tục phát triển
- HS theo dõi SGK phong trào kháng cự của nhân dân
ta từ Bắc đến Nam phản đối các Hiệp ước từ năm
1883 và 1884 thái độ kiên quyết của nhân dân cả
nước đã cổ vũ phe phái chủ chiến trong triều đình,
dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân - phe
chủ chiến mạnh tay hành động chuẩn bị cho một
cuộc chống Pháp giành lại chủ quyền
- GV cung cấp thêm một số tư liệu: Từ khi Pháp
chiếm nam Kì, nội bộ triều đình Nguyễn đã có sự
phân hoá làm 2 phe: chủ chiến và chủ hoà trong đó
phe chủ hoà được vua Tự Đức ủng hộ, còn phe chủ
chiến do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn tường
đứng đầu
Dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân phe chủ chiến trong triều đình do Tôn Thất Thuyết đứng đầu mạnh tay trong hành động
- Tôn Thất Thuyết (1835- 1913) quê ở thôn Phú
Mộng, xã Xuân Long (Huế) là người trong hoàng
tộc, từng giữ nhiều chức quan lớn nhỏ, tháng 6/1883
Trang 31ông được xung vào viện cơ mật sau khi Tự Đức mất, ông là một trong ba phụ chính đại thần, giữ chức Thượng thư Bộ binh nắm quyền chỉ huy quân đội Năm 1883-1884 triều đình kí các Hiệp ước thừa nhận nền đô hộ của thực dân Pháp Nhưng ông là người chủ chiến trong triều, ra sức chuẩn bị lực lượng để đánh giặc giành lại chủ quyền.
- Người Pháp đánh giá về Tôn Thất Thuyết: “Lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết không chấp nhận một sự thoả hiệp nào, ông ta xem quan lại chủ hoà như kẻ thù của dân tộc…Tuy nhiên, dù cho sự đánh giá ông của những người cùng thời thiên vị như thế nào, một đạo đức lớn đã bộc lộ rõ rệt trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời ông, đó là sự gắn bó lạ lùng của ông với Tổ quốc”; “Rõ ràng là Thuyết không bao giờ muốn giao thiệp với chúng ta (chỉ người Pháp), ông biểu lộ lòng căm ghét khôn cùng đối với chúng
ta trong mọi hoàn cảnh Chúng ta có thể nói rằng ông ta đã căm ghét chúng ta, đó là quyền và có lẽ cũng là bổn phận của ông ta
* Hoạt động hai: Cá nhân
- GV yêu cầu HS theo dõi phần chữ nhỏ về hành động
của phe chủ chiến, và hỏi: những hành động ấy nhằm mục đích gì?
- HS theo dõi sgk trả lời
+ Phế bỏ những ông vua có biểu hiện thân Pháp, trừ khủ những người không cùng chính kiến, đưa hàm Nghi nhỏ tuổi nhưng yêu nước lên ngôi
+ Liên kết với các sĩ phu, văn thân xây dựng căn cứ Sơn Phòng, tích trữ lương thực, rèn vũ khí, chuẩn bị chiến đấu
Hành động đó nhằm mục đích chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy chống Pháp giành lại chủ quyền
- GV kết luận: Hành động của phe chủ chiến nhằm
chuẩn bị lực lượng cho một cuộc nổi dậy chống Pháp giành chủ quyền Vì vậy thực dân Pháp âm mưu tiêu diệt phe chủ chiến trong triều để dễ dàng điều khiển bọn tay sai phong kiến thiết lập nền bảo hộ ở nước ta Quan hệ giữa toà Khâm sứ Pháp ở trung Ky` và triều đình trở nên căng thẳng, nhất là từ sau sự kiện Tôn
Trang 32Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đứa Hàm Nghi
lên ngôi không báo cáo với toà Khâm sứ Pháp ở
Trung Ky`, vì đây là chuyện nội bộ của nước Nam,
viện cớ này thực dân Pháp muốn thực hiện âm mưu
tiêu diệt phe chủ chiến Tháng 5/1885toàn quyền
miền Trung, Bắc Kì đưa quân vào Huế và mời các
quan viên cơ mật của triều đình sang toà khâm sứ để
âm mưu bắt Tôn Thất Thuyết tại đó Đoán biết được
âm mưu của Pháp, Tôn Thất Thuyết đã cáo ốm không
sang, song thực dân pháp cố tình bắt ép Tôn Thất
Thuyết, yêu cầu cho người khiêng sang Pháp tăng
thêm lực lượng quân sự, tìm mọi cách loại phái chủ
chiến
Pháp tỏ rõ thái độ muốn tiêu diệt Tôn Thất Thuyết
và phe chủ chiến trước tình hình ấy phe chủ chiến
buộc phải ra tay Hành động trước, tấn công trước
- Những hành động của phe chủ chiến nhằm chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy chống Pháp dành chủ quyền
Thực dân Pháp âm mưu tiêu diệt phe chủ chiến Tôn Thất Thuyết quyết định ra tay trước
* Hoạt động 3: Cả lớp, cá nhân
- Gv dùng lược đồ Kinh thành Huế (1885) để trình
bày về cuộc phản công Kinh thành Huế của phái chủ
chiến Diễn biến, kết quả (theo SGK)
- HS quan sát lược đồ, nắm bắt kiến thức
- GV giúp học sinh tìm ra nguyên nhân thất bại của
cuộc phản công ở kinh đô Huế (SGK) liên hệ với
chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện và vấn
đề thời cơ khởi nghĩa
- Gv cung cấp thêm tư liệu về Hàm Nghi: tên thật là
Ưng Lịch, em ruột vua Kiến Phúc Sau khi vua Kiến
Phúc bị giết, Ưng Lịch mới 13 tuổi được đưa lên
ngôi tháng 8/1884 Khi Huế thất thủ, Tôn Thất
Thuyết đã đưa Hàm Nghi cùng tam cung chạy khỏi
hoàng thành lên Tân Sở (Quảng Trị) Đạo ngự có tới
hơn 1000 người, sau 2 ngày lên đường đoàn ngự đến
Quảng Trị và chia làm 2 đoàn, một đoàn gồm Hoàng
thân, quan lại già yếu, phụ nữ, trẻ nhỏ, quay lại Huế
Còn lại theo vua đi xây dựng căn cứ chống pháp
Nhà vua dần dần ý thức được trách nhiệm của một
* Diễn biến cuộc tấn công quân Pháp:
- Đêm 4 rạng 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết hạ lệnh cho quân triều đình tấn công Pháp ở toà Khâm sứ và đồn Mang cá
- Sáng ngày 6/7/1885 quân Pháp phản công kinh thành Huế Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi cùng Triều đình rút khỏi kinh thành lên Sơn Phòng, Tân Sở (Quảng Trị)
- Ngày 13/7/1885 Tôn Thất Thuyết đã lấy danh nghĩa Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, kêu gọi nhân dân giúp vua cứu nước
Trang 33ông vua đang mất nước và quyết tâm kháng chiến
Hàm Nghi đã phê chuẩn chiếu Cần Vương với trách
nhiệm rõ ràng của một ông vua khi có ngoại xâm
- GV có thể trình chiếu trên Powerpoint đoạn trích
chiếu Cần Vương hoặc cho HS đọc phần chữ nhỏ
trong SGK để HS tìm hiểu khái niệm và nội dung
chiếu Cần Vương
*Hoạt động 4: Cá nhân
- Gv hỏi em hiểu thế nào là “Cần vương”? Xuống
chiếu Cần vương nhằm mục tiêu gì?
- HS suy nghĩ trả lời
- GV nhận xét, kết luận: Cần vương có nghĩa là giúp
vua Nội dung chủ yếu của chiếu Cần vương là kêu
gọi “bách quan, khanh sĩ”, văn thân sĩ phu và nhân
dân ra sức Cần vương vì mục tiêu đánh Pháp, khôi
phục nền độc lập dân tộc, lập lại chế độ phong kiến
có vua hiền tôi giỏi Vì vậy có thể hiểu ngắn gọn:
Chiếu cần vương kêu gọi văn thân, sĩ phu, nhân dân,
phò vua, giúp vua cứu nước Khẩu hiệu “Cần vương”
đã nhanh chóng thổi bùng ngọn lửa yêu nước cháy âm
ỉ bấy lâu, một phong trào đấu tranh vũ trang chống
Pháp diễn ra sôi nổi, liên tục kéo dài 12 năm, đến cuối
thế kỷ XIX mới chấm dứt Trước đây, triều Nguyễn
chưa một lần hiệu triệu nhân dân đứng lên cứu nước,
vì vậy ngọn cờ cần vương giờ đang nhanh chóng quy
tụ lực lượng
- Chiếu Cần vương đã thổi bùng ngọn lưủa đấu tranh của nhân dân ta Phong trào Cần vương bùng nổ kéo dài suốt 12 năm cuối thế kỉ XIX
* Hoạt động 1: Nhóm
- Gv chia lớp thành 2 khu vực và giao việc
+ Khu vực thứ nhất (1 dãy bàn hoặc hai dãy bàn) đọc
SGK diễn biến giai đoạn 1 phong trào Cần vương để
+ Khu vực 2: Còn lại, đọc SGK giai đoạn 2 của phong
trào để thấy được:
- Lãnh đạo:
2 Các giai đoạn phát triển của phong trào Cần vương.
Trang 34- Địa bàn:
- Diễn biến:
- Kết quả:
- Tính chất của phong trào Cần vương
- GV yêu cầu HS mỗi một bàn hợp thành một nhóm
đọc SGK, thảo luận, tự trình bày vào vở GV yêu cầu
HS theo dõi lược đồ coi đó là nguồn kiến thức
- HS làm theo hướng dẫn của GV
- GV gọi đại diện một nhóm: giai đoạn 1lên trình bày
kết quả làm việc của nhóm:
- HS trả lời về giai đoạn 1885-1888 (từ khi phát động
đến khi Hàm Nghi bị bắt)
+ Lãnh đạo trực tiếp là Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết
và các sĩ phu, văn thân yêu nước
+ Lực lượng tham gia: Chủ yếu là nhân dân, có các
đồng bào dân tộc thiểu số
+ Địa bàn: Rộng lớn từ Bắc vào Nam, song sôi nổi
nhất là từ Huế trở ra Bắc (nhìn vào lược đồ không
thấy đấu tranh của nhân dân Nam Kì vì Nam Kì đã bị
Pháp thôn tính từ trước)
+ Diễn biến chính: Các cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng
nổ, khắp nơi gây cho địch nhiều thiệt hại, tiểu biểu có
khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê gắn liền với
tên tuổi các thủ lĩnh: Phan Đình Phùng, Phạm Bành,
Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn
Quang Bích… sau đó thực dân Pháp phối hợp với tay
sai mở các cuộc đàn áp, các cuộc khởi nghĩa lần lượt
thất bại, nhiều lãnh tụ bị bắt hoặc hy sinh, Tôn Thất
Thuyết sang Trung Quốc cầu viện
+ Kết quả: Phong trào cần vương khiến thực dân pháp
phải đối phó vất vả Sợ không thực hiện được yêu
cầu ổn định tình hình Việt Nam của chính phủ và
quốc hội Pháp Thực dân Pháp quyết tâm bắt được
Hàm Nghi hòng dập tắt phong trào Cần Vương
Chúng mua chuộc tên Trương Quang Ngọc người hầu
cận của vua Hàm Nghi, đêm nagỳ 30/10/1888 Trương
Quang Ngọc đã dẫn thủ hạ đến bắt vua giữa lúc mọi
người đang ngủ say Hàm Nghi rơi vào tay giặc
- GV cung cấp thêm tư liệu: sau khi bắt được vua
- Phong trào Cần vương bùng
nổ và phát triển qua 2 giai đoạn
+ Từ 1885-1888
- Lãnh đạo: Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, các văn thân, sĩ phu yêu nước
- Lực lượng: Đông đảo nhân dân, có cả dân tộc thiểu số
- Địa bàn: rộng lớn tư Bắc vào Nam, sôi nổi nhất là Trung kỳ (từ Huế trở ra) và Bắc Kì
- Diễn biến: Các cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng nổ tiêu biểu có khởi nghĩa ba Đình, Hương Khê, Bãi Sậy
- Kết quả: cuối năm 1888, Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt và bị lưu đày sang Angiêri
Trang 35Hàm Nghi tại căn cứ Hà Tĩnh, thực dân Pháp đã đưa
vua về Huế và tìm mọi cách thuyết phục nhà vua trẻ
cộng tác với Pháp làm bù nhìn, chúng đề nghị đưa
vua về Huế gặp gia đình, thăm vua Đồng Khánh
nhưng vua đều từ chối quyết liệt, thẳng thắn khước
từ, vua nói: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám
nghĩ chi đến cha mẹ anh chị em nữa”
Không mua chuộc nổi, thực dân Pháp đã đày vua đi
an trí tại Angiê (thủ đô Angiêri thuộc địa của pháp ở
Bắc Phi), từ đấy Hàm Nghi ở tại một ngôi biệt thự
cách Angiê 12km, đặt tên là biệt thự Gia Long, lúc
đầu nhà vua tẩy chay không học tiếng Pháp, về sau để
hiểu được văn hoá Pháp và thế giới, cựu hoàng đã
nhanh chóng học và làm chủ tiếng Pháp, hiểu sâu sắc
về văn chương, mĩ thuật Pháp và trở thành một hoạ sỹ
có tài Dù vậy về đến nhà, vua vẫn giữ tập quán Việt
nam, búi tóc, quần the, áo dài Việt Nam Cựư hoàng
cưới con gái một vị chánh án, có 3 con: Một hoàng tử
và hai hoàng nữ Cựư hoàng sống ở Angiêri 47 năm
và mất ở đây, thọ 64 tuổi
Lúc đầu những nhà vua yêu nước như Hàm Nghi,
Thành Thái, Duy Tân không được thờ trong thế miếu
của nhà Nguyễn Đến 1956 chính phủ Sài Gòn mới
thiết hướng án thờ Hàm Nghi trong thế miếu ở Huế
cùng các vua Thành Thái, Duy Tân
- GV tiếp tục gọi đại điện HS nhóm 2 trình bày kết
quả làm việc của mình HS trả lời:
+ Lãnh đạo: không có sự chỉ đạo của triều đình, chỉ
còn các sĩ phu, văn thân, vua bị bắt
+ Địa bàn: Thu hẹp dần, quy tụ thành những trung
tâm lớn, hoạt động đi vào chiều sâu
+ Kết quả: Khi tiếng súng Hương Khê đã im trên núi
Vụ Quang cuối năm 1895 đầu năm 1896 thì phong
trào Cần vương coi như chấm dứt
- GV hỏi: Tại sao sau khivua Hàm Nghi bị bắt phong
trào vẫn tiếp tục nổ ra? Điều đó nói lên cái gì? Gv
gợi ý: phong trào Cần vương là phong trào hưởng ứng
khẩu hiệu phò vua giúp nước vậy tại sao khi vua bị
bắt mà phong trào vẫn diễn ra?
* Từ năm 1888-1896
- Lãnh đạo: các sỹ phu văn thân yêu nước tiếp tục lãnh đạo
- Địa bàn: Thu hẹp, quy tụ thành trung tâm lớn Trọng tâm chuyển lên vùng núi và trung
du, tiêu biểu có khởi nghĩa Hồng Lĩnh, Hương Khê
- Kết quả: năm 1896 phong trào thất bại
Trang 36- HS suy nghĩ trả lời:
- GV nhận xét kết luận: sau khivua bị bắt, tính chất
Cần vương, phò vua không còn, nhưng mục đích cứu
nước còn và luôn là mục tiêu hướng tới của nhân dân
ta Vì vậy phong trào vẫn tiếp tục diễn ra kể cả sau
khi vua bị bắt Chứng tỏ “Cần vương” chỉ là danh
nghĩa khảu hiệu còn tính chất yêu nước chống Pháp
là chủ yếu vì vậy phong trào Cần vương mang tính
dân tộc sâu sắc
* Tính chất của phong trào:
Là phong trào yêu nước chống thực dân Pháp theo khuynh hướng, ý thức hệ phong kiến, thể hiện tính dân tộc sâu sắc
* Hoạt động 1: Nhóm
Do tiết này khố lượng kiến thức rất lớn vì vậy GV tổ
chức cho HS học theo nhóm là chính
- GV lập một mẫu bảng thống kê lên bảng, hoặc trình
chiếu trên power point
- GV chia lớp làm 4 nhóm: sau đó giao nhiệm vụ:
+ Nhóm 1: Thống kê vè cuộc khởi nghĩa Ba Đình
theo mẫu và trả lời câu hỏi: Căn cứ Ba Đình có điểm
mạnh, điểm yếu gi`?
+ Nhóm 2: Thống kê về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và
trả lời câu hỏi: Cách tổ chức và chiến đấu của nghĩa
quân bãi Sậy có gì khác biệt với nghĩa quân Ba Đình?
+ Nhóm 3: Thống kê về khởi nghĩa Hương Khê và trả
lời câu hỏi: Tại sao khởi nghĩa Hương Khê là cuộc
khởi nghĩa tiêu biểu nhất của phong trào Cần vương?
+ Nhóm 4: Thống kê về cuộc khởi nghĩa nông dân
Yên Thế và trả lời câu hỏi: Những điểm khác biệt của
khởi nghĩa nông dân Yên Thế với các cuộc khởi nghĩa
Cần Vương
- Học sinh: cứ hai bàn làm thành một nhóm nhỏ và cử
đại diện làm thư ký ghi chép tổng hợp kết quả làm
việc của nhóm vào giấy (hoặc vào vở)
- GV động viên khuyến khích và hướng dẫn các nhóm
tự làm việc trả lời các câu hỏi được giao, sau đó gọi
đại diện các nhóm trả lời
- HS các nhóm trình bày trước lớp kết quả làmviệc
II Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần vương và phong trào đấu tranh tự vệ cuối thế kỉ XIX
Cuộc khởi nghĩa
Thời gian Lãnh đạo Hoạt động
chủ yếu Kết quả ý nghĩa
Mĩ Khê (Nga Sơn, Thanh Hoá)
- Xây dưng căn cứ Ba Đình kiến cố, độc đáo làm căn cứ chính
và một số căn
cứ ngoại vi như căn cứ
Mã Cao Xây dựng lực lượng tập trung có khoảng 300 người
- Hoạt động chủ yếu của nghĩa quân là chặn đánh các đoàn xe, toán lính đi qua căn cứ, gây cho Pháp nhiều thiệt hại
- Pháp tổ chức nhiều cuộc tấn công căn cứ
Ba Đình nhưng thất bại
- Ngày 15/1/1887 quân Pháp tổng tấn công căn cứ, cuộc chiến diễn ra
ác liệt đêm 20/1/1887 nghĩa quân phải mở đường máu rút lên Mã Cao 21/1 địch chiếm được căn cứ, các thủ lĩnh bị bắt hoặc tự sát khởi nghĩa thất bại
-Kinhnghiệm:
tránh thủ hiểm
ở một nơi, phải liên lạc với các cuộc khởi nghĩa