1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài soạn Lịch sử Việt Nam P.3

104 547 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vua Bảo Đại
Tác giả Phan Thị Tươi
Trường học Trường Đại Học XYZ
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại bài soạn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 904,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm này được hình thành trong thời gian ông làm việc cho tạp chí Nam PhongCó thể xem tạp chí Nam Phong là ngọn cờ văn hóa của chủ nghĩa thực dân với chủ trương “dunghòa văn hóa Đôn

Trang 1

ĐỀ TÀI: VUA BẢO ĐẠI

Người thực hiện: Phan Thị Tươi Lớp: A3K18

I TIỂU SỬ

Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển, tục danh “Mệ Vững”,sinh 22/10/1913 (23/09 năm Qúy Sửu) tại Huế, là con vua Khải Định và bà Từ Cung Hoàng Thị Cúc.Ngày 28/04/1922 Vĩnh Thụy được xác lập Đông cung Hoàng Thái Tử Tháng 06/1922, Vĩnh Thụyđược vợ chồng cựu khâm sứ Trung Kì nhận làm con nuôi rồi ăn học ở Pháp Ngày 06/11/1925, vuaKhải Định mất, Vĩnh Thụy về thọ tang cha và ngày 08/01/1926, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm vualấy niên hiệu Bảo Đại Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp tiếp tục học Tháng 09/1932, Bảo Đạihồi loan về nước, chính thức làm vua, Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại nộicác, hành chính… Ngày 08/04/1932, Bảo Đại ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mìnhchấp chính, thành lập Viện dân biểu Tháng 12/1933, Bảo Đại ngự du Bắc hà thăm dân chúng

II CUỘC ĐỜI

Ngày 20/03/1934, Bảo Đại làm đám cưới với Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm NamPhương Hoàng Hậu Ông là nhà vua đầu tiên bỏ chế độ cung tần, thứ phi

Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11/03/1945, BảoĐại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm

1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam

Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, ngày 25/08 chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh buộcBảo Đại phải thoái vị Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ trang trọng ở Ngọ Môn, Huế vào chiều30/08.Trong dịp này, ông có câu nói nổi tiếng “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước

nô lệ” Tháng 09/1945, ông được chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối caochính phủ lâm thời Việt Nam”

Ngày 08/03/1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại đã kí hiệp ước Elyseethành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là quốc gia Việt Nam đứng đầu làBảo Đại Bảo Đại yêu cầu Pháp trao trả Nam kì cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.Ngày 24/04/1949, Bảo Đại về nước Ngày 14/06/1949, Bảo Đại tuyên bố tạm giữ chức Hoàng đếcho đến khi tổng tuyển cử Ngày 01/07/1946, Chính phủ lâm thời của quốc gia Việt Nam được thànhlập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng

Trang 2

Ngày 04/10/1955, Uỷ ban trưng cầu dân ý đưa ý kiến đòi phế truất Bảo Đại và ông đã mất cơ hộitrở về chính quốc với 5.721.735 phiếu truất Bảo Đại sống lưu vong ở Pháp cho đến khi qua đời vàongày 31/07/1997 tại Quân y viện Nal-de-Grace, hưởng thọ 84 tuổi Ông đươci an táng tại nghĩa trangPasy, quận 16, Pais.

Bảo Đại là vua cuối cùng của triều Nguyễn Triều Nguyễn trải qua 13 đời vua, đầu tiên là vuaGia Long, vua Minh Mạng, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, ThànhThái, Duy Tân, Khải Định, và Bảo Đại

Cựu hoàng Bảo Đại có 8 người vợ, nhân tình và 13 người con Cuộc đời của ông cũng rất thú vịkhi gắn liền với số 13 – một con số được người phương Tây quan niệm là xui xẻo

Ngày nay ở đường Chi Lăng, thành phố Huế có một người đã từng là cung nữ phục vụ vua BảoĐại vẫn đang sống, bà là cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn

Khi còn làm Hoàng đế, Bảo Đại sống ở cố đô Huế, cũng là nơi định đô của các vua chúa nhàNguyễn Quần thể di tích cố đô Huế gồm:

-Cụm di tích trong kinh thành: kinh thành Huế, kỳ đài, trường Quốc Tử Giám, điện Long An,bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế, đình Phú Xuân, hồ Tịnh Tâm, Tàng thư lâu, viện Cơ Mật – TamTòa, đàn Xã Tắc, Hoàng thành Huế và Tử Cấm thành

-Các di tích ngoài kinh thành gồm các lăng tẩm các vua nhà Nguyễn và các di tích khác như TrấnBình đài, Phu Văn lâu Tòa Thương Bạc, Văn miếu, Võ miếu, hồ Quyển, điện Voi Ré, điện Hòn Chén,chùa Thiên Mụ, trấn Hải Thành, nghênh Lương Đình, cung An Định

Xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi hoàn thành công trình này

Xin chân thành cảm ơn

ĐỀ TÀI: PHẠM QUỲNH

Người thực hiện: Khuất Duy Thương

Trang 3

Lớp: A3K18

I TIỂU SỬ

Phạm Quỳnh sinh năm 1893 tại Hà Nội, trong một gia đình bốn đời đều là nhà nho nghèo Chíntháng mất mẹ, chín tuổi mất cha, được bà nội cưu mang rau cháo nuôi cháu qua ngày Lớn lên mộtchút thì bà lo tìm toàn những chỗ học không mất tiền để Phạm Quỳnh theo học Từ trường tiểu họcPháp Việt phố Hàng Đào ở gần nhà (số 1 phố Hàng Trống) đến trường Thông Ngôn ở bờ sông Hồnghơi xa, nên Phạm Quỳnh chỉ toàn cuốc bộ đi học Năm 1908, trường Thông Ngôn nhập với trườngThành Chung Nam Định thành trường Bưởi (tức trường Chu Văn An sau này) thì vừa lúc Phạm Quỳnh

đỗ thủ khoa khóa đầu tiên trường Bưởi

II CUỘC ĐỜI

Từ năm 1916, Phạm Quỳnh bắt đầu viết báo cho nhiều tạp chí nổi tiếng đương thời Từ năm 1917,ông là chủ bút Nam Phong Tạp chí- cuốn tạp chí tuyên truyền cho tư tưởng Việt Pháp đề huề

Ngày 2/5/1919, ông là người sáng lập và là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức

Từ năm 1925-1928, Phạm Quỳnh là Hội ưởng Hội Tri Trí Bắc Kỳ.Năm 1926 ông làm ở Hội đồng

Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương

Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp,

để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảohộ

Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội Năm 1932, giữ chức TổngThư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ

Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhàNguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đólàm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945)

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập Ông

về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế

Ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế Ông mất sau

đó một thời gian tại làng Hiền Sỹ, tỉnh Thừa Thiên

III QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ

“Dựa vào thực dân Pháp và chế độ quân chủ để thực hiện độc lập quốc gia theo chế độ quân chủlập hiến”

Trang 4

Quan điểm này được hình thành trong thời gian ông làm việc cho tạp chí Nam Phong

Có thể xem tạp chí Nam Phong là ngọn cờ văn hóa của chủ nghĩa thực dân với chủ trương “dunghòa văn hóa Đông – Tây”, kết hợp truyền bá văn hóa, văn minh “Đại Pháp” với phục hồi các “quốctúy, quốc hồn” của văn hóa phong kiến bằng công cụ là chữ quốc ngữ, vốn được đề xướng bởi các nhànho yêu nước duy tân thời Đông Kinh Nghĩa Thục, nhưng lúc này chuyển thành công cụ của văn hóathực dân – phong kiến mang bộ mặt của chủ nghĩa dân tộc thỏa hiệp với chế độ thuộc địa Nhờ sự bảo

hộ của chính quyền thực dân và tài năng xuất sắc của Phạm Quỳnh, trong tình hình thoái trào củaphong trào yêu nước trong thập niên 1910-1920, tạp chí Nam Phong cùng với tên tuổi của PhạmQuỳnh nổi tiếng từ Bắc chí Nam, nhờ khai thác được tâm lý yêu nước thỏa hiệp bằng con đường bảotồn ngôn ngữ văn hóa dân tộc một cách hợp pháp, xua tan ảnh hưởng của tinh thần ái quốc từ đầu thế

kỷ XX và ảnh hưởng của phong trào cách mạng dân tộc dân chủ sắp sửa hình thành trong những năm

20, tiến tới thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1930 Đó là nguyên nhân sâu xa của “thành công”tạp chí Nam Phong cùng với sự nghiệp văn hóa-học thuật của Phạm Quỳnh

Xong cũng chính tư tưởng chính trị này dẫn Phạm Quỳnh từ bỏ con đường làm báo, dấn thân vàocon đường làm quan Từ chức Ngự Tiền Văn Phòng của Bảo Đại đến Thượng thư Bộ Học tiến lênThượng thư Bộ Lại, đứng đầu nội các của Nam Triều, thay thế nội các của Nguyễn Hữu Bài, tranhquyền chức đầu triều với Ngô Đình Diệm, thắng lợi nhờ sự đỡ đầu và tín nhiệm của Toàn quyền PierrePasquier

Đương thời, tuy Phạm Quỳnh được đánh giá cao về tài năng người viết văn, làm báo, song bị đánhgiá thấp về nhân cách người học giả, người trí thức Ngô Tất Tố cho rằng ông và Nguyễn Văn Vĩnh

“đánh bài Tây” với nhau, đánh lừa người khác để thu lợi chia nhau Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu thậmchí chê ông tuy có tài làm báo song “lập thân ám muội” Chung quy là vì ông hợp tác quá “chân thành”với Pháp Có lẽ điều đáng ghi nhận nhất của ông là tuy làm quan cao chức trọng như vậy cho chế độthực dân, phong kiến, song không nghe nói ông có phạm tội gì làm hại những người yêu nước và cáchmạng như những tên tay sai thô bỉ và độc ác khác Tuy phạm sai lầm to lớn về chính trị, song ông vẫncòn giữ được ít nhiều phong độ trí thức, nhiều người chê trách ông song cũng nhiều người kính nểông Ông tự nguyện làm một thứ công cụ cho bọn thực dân cáo già, phục vụ cho chính sách giảo quyệtcủa chúng, được chúng tin cậy, ưu đãi và thực lòng tin cậy, hy vọng vào chúng Lúc nhận ra, tỏ lòngtiếc nuối và hối hận thì đã muộn rồi như những lời thú nhận muộn màng của ông vào cuối đời

IV SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

Ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng như:

• Hoa Đường tùy bút_Kiến văn Cảm tưởng I, Những trang viết tùy bút Phạm Quỳnh viết trongnhững ngày cuối đời ở Huế (1945)

Trang 5

• Mười ngày ở Huế

• Mục lục Nam Phong

• Thượng Chi văn tập

• Luận giải Văn học và Triết học

• Pháp du hành trình nhật ký

V KẾT LUẬN

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên - con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ ChíMinh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: "Cụ Phạm là ngườicủa lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này Con cháu cứ vững tâm đi theo Cách mạng"

Hơn 60 năm nay, Phạm Quỳnh là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức củabao nhiêu người ở bên này bên kia chiến tuyến Giằng xé đó làm cho vấn đề Phạm Quỳnh càng trở nênrắc rối, phức tạp thêm Cách mạng khó giải thích, thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác, lợidụng Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông Khác với những người đương thời,tấm lòng của hậu thế đối với người xưa thường trân trọng hơn, bao dung hơn và công minh hơn Độlùi về thời gian cũng giúp cho cái nhìn vào lịch sử sáng suốt hơn, thấu tình đạt lý hơn Không nhậpnhoạng biến xấu thành tốt, biến tội thành công, đảo điên chính tà, lẫn lộn phải trái, song đối với nhữngnhân vật lịch sử có số phận bi kịch như Phan Thanh Giản thế kỷ XIX, Phạm Quỳnh thế kỷ XX, thiếttưởng cần có sự đánh giá lại một lần nữa để thể hiện tấm lòng của lớp người đi sau đối với lớp người

đi trước Phải rộng trí hiểu biết để rộng lòng tha thứ, để trân trọng, để thương yêu Đãi cát tìm vàng,gạn đục khơi trong Lịch sử dân tộc bao gồm mọi cống hiến nhỏ to của mọi người con rứt ruột đẻ racủa dân tộc qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử Thế hệ ngày nay cũng không bỏ sót một cốnghiến, mọi giá trị nào từ những hy sinh, đau khổ, máu xương của các tiền nhân; những người vô danh

đã vậy, huống hồ là những con người đã để lại dấu vết của mình trong lịch sử, những giá trị tinh thần

và văn hóa kèm theo những giọt máu của lòng mình và cả thân xác, sinh mệnh của mình

Nói chung, Phạm Quỳnh là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho độc lậpchủ quyền và tự trị của Việt Nam.Ông cũng là nhà văn hóa lớn, là một trong số ít những “người khổnglồ” của nước ta nửa đầu thế kỉ XX

ĐỀ TÀI: NGUYỄN TRUNG TRỰC

Người thực hiện: Trần Văn Thành Lớp: A3K18

I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Trang 6

Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền Tuy nhiên,

ở giai đoạn này chế độ phong kiến Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng ở nhiều mặt Cácchính sách của nhà Nguyễn đã gây ra các ảnh hưởng tiêu cực tới xã hộilucs bấy giờ

Trong lúc ấy, thực dân Pháp đã ráo riết xâm lược nước ta Chúng lợi dụng con đường tôn giáo đẻtiến hành cuộc xâm lược Bằng sự môi giới của Bá Đa Lộc, Hiệp ước Véc Xai được ký kết Thông quabản hiệp ước này, thực dân Pháp chính thức đặt chân vào nước ta

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, bắtđầu cuộc xâm lược Việt Nam Sau khi chiếm được thành Gia Định, Pháp lần lượt đánh chiếm ba tỉnhmiền Đông (1862), rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kì (1867) không tốn một viên đạn

II ANH HÙNG NGUYỄN TRUNG TRỰC

1 Tiểu sử

Nguyễn Trung Trực (1839? –1868) là thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp vào nửa cuối thế

kỷ 19 ở Nam Bộ, Việt Nam

Sinh ra dưới thời Minh Mạng, thuở nhỏ ông có tên là Chơn Từ năm Kỷ Mùi (1859) đổi là Lịch(Nguyễn Văn Lịch, nên còn được gọi là Năm Lịch), và cũng từ tên Chơn ấy cộng với tính tình ngaythật, nên ông được thầy dạy học đặt thêm tên hiệu là Trung Trực

Nguyên quán gốc Nguyễn Trung Trực ở xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.Ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là Nguyễn Văn Phụng (hoặc Nguyễn Cao Thăng), mẹ là bà Lê KimHồng

Sau khi hải quân Pháp nhiều lần bắn phá duyên hải Trung Bộ, gia đình ông phải phiêu bạt vàoNam, định cư ở xóm Nghề, làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, Phủ Tân An (nay thuộc

xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) và sinh sống bằng nghề chài lưới vùng hạ lưu sôngVàm Cỏ Không rõ năm nào, lại dời lần nữa xuống làng Tân Thuận, tổng An Xuyên.(nay là xã TânTiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) Ông là con trưởng trong một gia đình có 8 người con Lúc nhỏ,ông rất hiếu động, thích học võ nên khi lớn lên ông là người có thể lực khoẻ mạnh, giỏi võ nghệ và làngười có nhiều can đảm, mưu lược

Tháng 2 năm 1859, Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong

hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắng theo và còn chiêu mộ đượcmột số nông dân vào lính để gìn giữ Đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Trương Định Năm

1861, nhờ công đốt tàu L’Espérance, ông được triều đình phong chức Quyền sung Quản đạo nên cònđược gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch Trong sự nghiệp kháng thực dân Pháp của ông, có hai chiếncông nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:

“Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên đia

Trang 7

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.”

2 Chiến công tiêu biểu

a) Trận Nhật Tảo

Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (25 tháng 2 năm 1861), Nguyễn Trung Trực về Tân An Lúc này,Pháp đã chiếm Mỹ Tho (tức thành Định Tường thất thủ vào ngày 12 tháng 4 năm 1861) nên thườngcho những tàu chiến vừa chạy tuần tra vừa làm đồn nổi di động Một trong số đó là chiếc tiểu hạmEspérance (Hy Vọng), án ngữ nơi vàm Nhựt Tảo, thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh LongAn

Vào khoảng sáng ngày 10 tháng 12 năm 1861, Nguyễn Trung Trực cùng Phó quản binh HuỳnhKhắc Nhượng, Tán quân Nguyễn Học, Võ Văn Quang và hương thôn Hồ Quang Chiêu tổ chức cuộcphục kích đốt cháy tàu chiến này

Trận này quân của Nguyễn Trung Trực đã diệt 17 lính và 20 cộng sự người Việt, chỉ có 8 ngườitrốn thoát (2 lính Pháp và 6 lính Tagal, tức lính đánh thuê Philippines, cũng còn gọi là lính Ma Ní).Lúc đó, viên sĩ quan chỉ huy tàu là trung úy hải quân Parfait không có mặt, nên sau khi hay tin dữ,Parfait đã dẫn quân tiếp viện đến đốt cháy nhiều nhà cửa trong làng Nhật Tảo để trả thù

Theo sau chiến thắng vừa kể, nhiều cuộc tấn công quân Pháp trên sông, trên bộ đã liên tiếp diễnra

b) Trận đồn Kiên Giang

Sau lần đốt được tàu L’Espérance của Pháp, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân tiếp tục chiếnđấu qua lại trên các địa bàn Gia Định, Biên Hòa Đến khi hòa ước Nhâm Tuất (1862), ba tỉnh miềnĐông lọt vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực nhận chức Lãnh binh, đưa quân về hoạt động ở

ba tỉnh miền Tây Đầu năm 1867, ông được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữđất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì tòa thành này đã bị quân Pháp chiếm lấy (24 tháng 6 năm1867) Không theo lệnh triều đình rút quân ra Bình Thuận, Nguyễn Trung Trực đem quân về lập mậtkhu ở Sân chim (tả ngạn sông Cái Lớn, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang) Từ nơi này, ông lại dẫn quânđến Hòn Chông (nay thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, lập thêm căn cứ khángPháp

Ở Kiên Giang, sau khi nắm được tình hình của đối phương và tập trung xong lực lượng (trong số

đó có cả hương chức, nhân dân Việt - Hoa - Khmer); vào 4 giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1868,Nguyễn Trung Trực bất ngờ dẫn quân từ Tà Niên (nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnhKiên Giang) đánh úp đồn Kiên Giang (nay là khu vực UBND tỉnh Kiên Giang), do Trung úy Sauternechỉ huy

Trang 8

Kết thúc trận, nghĩa quân chiếm được đồn, tiêu diệt được 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu trên 100khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình được 5 ngày liền

Đây là lần đầu tiên, lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não của tỉnh.Nhận tin Chủ tỉnh Rạch Giá cùng vài sĩ quan khác bị giết ngay tại trận, George Diirrwell gọi đây làmột sự kiện bi thảm (un événement tragique) Hai ngày sau (ngày 18 tháng năm 1868), Thiếu tá hảiquân A Léonard Ausart, Đại úy Dismuratin, Trung úy hải quân Richard, Trung úy Taradel, Trần BáLộc, Tổng Đốc Phương nhận lệnh Bộ chỉ huy Pháp ở Mỹ Tho mang binh từ Vĩnh Long sang tiếp cứu.Ngày 21 tháng 6 năm 1868, Pháp phản công, ông phải lui quân về Hòn Chông (Kiên Lương, KiênGiang) rồi ra đảo Phú Quốc, lập chiến khu tại Cửa Cạn nhằm kình chống đối phương lâu dài

c) Trận chiến cuối cùng

Tháng 9 năm 1868, chiếc tàu Groeland chở Lãnh Binh Tấn (tức Huỳnh Văn Tấn, còn được gọiHuỳnh Công Tấn, trước có quen biết ông Trực vì cùng theo Trương Định kháng Pháp Sau này, Tấntrở thành cộng sự cho Pháp), cùng 150 lính ở Gò Công đến đảo Phú Quốc để bao vây và truy đuổiông Trực

Một ngày trong tháng 10 năm 1886, Nguyễn Trung Trực bị Pháp bắt, trận chiến cửa cạn kếtthúc.Tuy nhiên , việc Nguyễn Trung Trực bị bắt hay ra hàng, các sử liệu ghi không giống nhau

Ngày ra hàng, Nguyễn Trung Trực ăn mặc chỉnh tề và đã được người Pháp tiếp đón với thái độ rấtxem trọng Gặp lại ông, Lãnh binh Tấn liền lấy tình bạn xưa (trước đây hai người có quen nhau vìcùng theo Trương Định kháng Pháp) ra đối đãi ân cần, tử tế Trên con tàu về lại đất liền, Tấn khôngngớt lời khuyên dụ

Bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung.Theo Việt sử tân biên, mặc dù Lãnh binh Tấn đã hết sức can thiệp để Pháp tha mạng cho ông Trực,nhưng Đô đốc toàn quyền Nam Kỳ G Ohier không chịu Vì cho rằng không thể tha được "một người

đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết chết 30 người Pháp!" Và rồingày 27 tháng 10 năm 1868, nhà cầm quyền Pháp đã đưa ông Trực về lại Rạch Giá và sai một ngườikhmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình tại chợ Rạch Giá, hưởngdương khoảng 30 tuổi

Vào buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhân dân nhiều nơi đổ xô ra chợ Rạch Giá, vì Phápđem Nguyễn Trung Trực ra hành quyết Ông Trực yêu cầu Pháp mở trói, không bịt mắt để ông nhìnđồng bào và quê hương trước phút "ra đi" Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt ông, đã trải xuống đấtmột chiếc chiếu cho ông bước đứng giữa Ông hiên ngang, dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời,nhìn đất nước và từ giã đồng bào… Tương truyền, trước khi bị hành quyết Nguyễn Trung Trực đãngâm một bài thơ:

“Thư kiếm tùng nhưng tự thiếu niên,

Trang 9

Yêu gian đàm khí hữu long tuyền, Anh hùng nhược ngộ vô dung địa.

Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.”

Thi sĩ Đông Hồ dịch:

“Theo việc binh nhưng thuở trẻ trai,

Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.

Anh hùng gặp phải hồi không đất, Thù hận chang chang chẳng đội trời.”

Tuy nhiên về mộ cua Nguyễn Trung Trực còn nhiều giả thuyết Tuy nhiên người ta tin hơn cảcho rằng mộ thật của Cụ là ở sau dinh Tỉnh trưởng cũ (nay là Cung thiếu nhi TP Rạch Giá, nằm kềbên UBND tỉnh Kiên Giang), rồi không rõ ai đã trồng bên mộ một cây đa Năm 1986 chánh quyền tỉnhKiên Giang đã tìm được hài cốt ông ở nơi ấy và đã di táng về bên trong khuôn viên đình thờ NguyễnTrung Trực tại TP Rạch Giá

III NHẬN XÉT

Tuy xuất thân là người dân chài nhưng Nguyễn Trung Trực đã chứng tỏ một tài năng quân sự xuấtsắc Cụ thể: chiến thuật đột kích thần tốc,bất ngờ; cách lựa chọn căn cứ; cách tổ chức các cứ điểmtrong hệ thống bố phòng:dân cư, giao thông,và địa hình; quan tâm đến khâu thực túc binh cường Ôngcòn là người tài đức vẹn toàn Ông có thân hình vạm vỡ,sức lực cường tráng khỏe mạnh,mang trongmình võ nghệ cao cường Ông còn là người thể hiện trung hiếu vẹn toàn.Ông rất thương yêu kínhtrọng mẹ

Nguyễn Trung Trực hi sinh nhưng chí khí của ông khiến cho kẻ thù kính phục, triều đình và dânchúng tiếc thương Hiện nay ở cá tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long có hàng chục đền thờ Nguyễn TrungTrực Ngoài đền thờ chính ở Tp Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang, còn có rất nhiều đền thờ ghép Hằng nămđều tổ chức lễ tưởng niệm trọng thể.Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Gía tổ chức lễ giỗ vào cácngày từ 27 đến 29 tháng 8 âm lịch Đình và mộ nơi đây được công nhận là di tích Lịch Sử - Văn Hóacấp Quốc Gia vào ngày 6 tháng 12 năm 1989

ĐỀ TÀI: CÁC CHÚA NGUYỄN

Người thực hiện: Đặng Thị Thu Thảo Lớp: A3K18

I CHÍN CHÚA

Trang 10

1 Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1525-1613), con út của Nguyễn Kim, xưng Chúa năm 1558, có

10 con trai và 2 con gái Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là

Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.

2 Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi hay Chúa Bụt (1563-1635), con trai thứ sáu của Chúa

Tiên, kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị Chúa Trịnh giữ tại Đàng Ngoài, có

11 con trai và 4 con gái Chúa Sãi là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc Tương

truyền lúc mẹ ngài có thai chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ "Phúc" Lúc

kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là "Phúc" Nhưng bà nóirằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họđược hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc

Nguyên Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hi Tông Hiếu Văn hoàng đế.

3 Nguyễn Phúc Lan tức Chúa Thượng (1601-1648), con trai thứ hai của Chúa Sãi, kế nghiệp

năm 1635 vì anh trưởng chết sớm, có 3 con trai và 1 con gái Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là

Thần Tông Hiếu Chiêu hoàng đế.

4 Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền (1620-1687), con trai thứ hai của Chúa Thượng, kế nghiệp

năm 1648 vì cả anh lẫn em đều chết sớm, có 6 con trai và 3 con gái Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông

là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế.

5 Nguyễn Phúc Thái tức Chúa Nghĩa (1650-1691), con trai thứ hai của Chúa Hiền, kế nghiệp

năm 1687 vì anh trưởng chết sớm, có 5 con trai và 5 con gái (Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì Chúa

Nghĩa là Nguyễn Phúc Thái; còn Nguyễn Phúc Trăn không có, mà chỉ có Nguyễn Phúc Trân, em kếcủa Chúa tức Cương quận công.) Chúa Nghĩa là người dời đô đến Huế Nhà Nguyễn sau này truy tôn

ông là Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế.

6 Nguyễn Phúc Chu tức Chúa Minh (còn gọi là Quốc Chúa) (1675-1725), con trai trưởng của

Chúa Nghĩa, kế nghiệp năm 1691, có 38 con trai và 4 con gái Chúa Minh là người đầu tiên sai sứ sangnhà Thanh để xin phong vương nhưng không được nhận vì nhà Thanh vẫn xem vua Lê của Đàng

Ngoài là vua của toàn xứ Việt lúc đó Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hiển Tông Hiếu Minh

hoàng đế.

7 Nguyễn Phúc Chú tức Chúa Ninh (1697-1738), con trai trưởng của Chúa Minh, kế nghiệp năm

1725, có 3 con trai và 6 con gái Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế.

8 Nguyễn Phúc Khoát tức Vũ Vương (còn gọi là Chúa Vũ) (1714-1765), con trai trưởng của

Chúa Ninh, kế nghiệp năm 1738, có 18 con trai và 12 con gái Đến lúc này Chúa Trịnh đã xưng vươngnên Nguyễn Phúc Khoát cũng gọi mình là Vũ Vương vào năm 1744 và xem Đàng Trong như một

nước độc lập Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thế tông Hiếu Vũ hoàng đế.

Trang 11

9 Nguyễn Phúc Thuần tức Định Vương (còn gọi là Chúa Định) (1754-1777), con trai thứ 16 của

Vũ Vương, kế nghiệp năm 1765, không có con Khi còn sống, Vũ Vương đã có ý định cho con trai thứchín là Nguyễn Phúc Hiệu nối ngôi Sau khi Nguyễn Phúc Hiệu chết, và con ông hãy còn quá nhỏ, VũVương định cho con trai thứ hai của mình là Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn, là cha củavua Gia Long sau này) nối ngôi Khi Vũ Vương chết, một vị quan lớn trong triều là Trương Phúc Loangiết Nguyễn Phúc Luân và lập Nguyễn Phúc Thuần, lúc đó mới 12 tuổi, lên ngôi Năm 1777 ông bị

nhà Tây Sơn giết khi ở tuổi 26, chưa có con nối dõi Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Duệ Tông

Hiếu Định hoàng đế.

II CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN Ở ĐÀNG TRONG

Với ý đồ tách Đàng Trong ra khỏi sự thống trị của nhà Lê - Trịnh, Nguyễn Hoàng và nhữngngười nối nghiệp như Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Tần v.v một mặt củng cố việc phòng thủđất Thuận Quảng, chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh, mặt khác tìm đường lối ngoại giaomềm dẻo, mở rộng lãnh thổ xuống phía nam Cho đến năm 1757, cả vùng đất Thủy Chân Lạp hoàntoàn thuộc quyền hành của chúa Nguyễn

1 Bộ máy hành chính

Cho đến giữa thế kì XVIII, họ Nguyễn đã làm chủ một vùng đất rộng lớn từ nam dải Hoành Sơncho đến mũi Cà Mau Hình thành 12 đơn vị hành chính gọi là dinh: Thuận - Quảng cũ gồm 6 dinh: BốChính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu (hay Chính dinh cũ), Chính Dinh, Quảng Nam Vùng đất mới chiathành 6 dinh: Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ(Vĩnh Long) Ngoài

ra có một trấn phụ thuộc: Hà Tiên Mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng, xã (hayphường, thuộc) Riêng dinh Quảng Nam quản 3 phủ: Thăng Hoa, Quảng Ngài, Quy Nhơn

Thủ phủ ban đầu đóng ở xã Ái Tử thuộc Cựu Dinh, năm 1570 dời vào xã Trà Bát (Triệu Phong Quảng Trị), năm 1626 dời vào xã Phước Yên, sau đó dời sang Kim Long (đều thuộc Thừa Thiên), cuốicùng vào khoảng năm 1687 dời về Phú Xuân (Huế) Thời Nguyễn Phúc Khoát (1739 - 1765) Phú Xuânđược gọi là đô thành

-Trong suốt quá trình trị vì, các chúa Nguyễn đều cố gắng củng cố, hoàn thiện bộ máy hành chính.Chính sách cai trị ở Đàng Trong có nhiều tiến bộ, khoan hòa, hợp lòng dân hơn hẳn Đàng Ngoài đangngày một rệu rã

2 Tình hình xã hội

Gần 200 năm dưới thời nhà Chúa, bộ mặt Đàng Trong có những thay đổi đáng kể, từ một nơi lamchướng trở thành chốn đô hội bậc nhất, cư dân chăm lo làm ăn, đời sống đầy đủ sung túc; nông nghiệpđược chú trọng và đạt nhiều thành tựu, thương mại, đặc biệt là ngoại thương rất phát triển

Trang 12

Tuy nhiên, 7 cuộc giao chiến trong giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh là nỗi đau chia cắt được

sử sách sau này ghi lại rất rõ ràng: Cuộc chiến đầu tiên 1627

•Cuộc chiến thứ hai 1633

•Quân Nguyễn đánh ra Bố Chính

•Cuộc chiến thứ ba 1643

•Cuộc chiến thứ tư 1648

•Đại chiến lần thứ năm 1655 – 1660: Giằng co ở Nghệ An

•Cuộc chiến thứ sáu 1661-1662

•Cuộc chiến thứ bảy 1672Trong các lần giao tranh, hầu hết là do quân đội Chúa Trịnh đánh vào, duy chỉ có cuộc chiến thứnăm, Chúa Nguyễn buộc phải xuất quân vì lí do chủ động

3 Quân đội

Quân đội của chúa Nguyễn gồm 3 loại: quân Túc vệ hay Thân quân, quân chính quy ở các dinh

và thổ binh hay tạm binh Các loại quân đều chia thành cơ, đội, thuyền

Cũng như ở Đàng Ngoài, quân đội Đàng Trong gồm bộ binh, thủy binh, tượng binh và pháobinh Thủy binh rất mạnh, đã từng đánh bạt một hạm thuyền Hà Lan trong một trận Đầu thế kỉ XVII,người Đàng Trong học được cách đúc súng, các thuyền lớn đều có 5 khẩu đại bác Chúa Nguyễn cũngthường tổ chức các cuộc thi bắn súng, huấn luyện thủy quân

III KẾT LUẬN

Như vậy, từ sau khi Nguyễn Hoàng từ bỏ đất Bắc, trở lại Thuận Quảng, họ Nguyễn dần dần xâydựng vùng đất Đàng Trong thành một lãnh địa riêng, có chính quyền độc lập, mặc dầu, cho đến trướcnăm 1744 vẫn giữ tước vị Quốc công, dùng niên hiệu của vua Lê Trong lúc đó, nhân dân vẫn luônluôn xem vùng đất Thuận Quảng là Đàng Trong của nước Đại Việt xưa

ĐỀ TÀI: VUA HÀM NGHI

Người thực hiện: Vũ Thu Thủy Lớp: A3K18

Khi có dịp đến thăm Huế, tôi đã lang thang rất lâu khắp Kinh đô, khắp các cung điện, đền Miếu,lăng tẩm kỳ bí Lòng đầy xúc động, tôi đứng trước ngai vàng triều Nguyễn, ngẫm xem những ai đãtừng ngồi trên chiếc ngai vàng này, và đặc biệt tôi nghĩ về một người trong số họ, một con người rấtđỗi tài năng và có một số phận không bình thường

Trang 13

Tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với những sự kiện lớn lao trong lịch sử cuộc đấu tranh giảiphóng của nhân dân Việt nam chống lại ách thống trị của thực dân Pháp mà còn là sự khởi đầu cho nềnhội họa hiện đại Việt Nam Đó là cựu hoàng triều Nguyễn – Vua Hàm Nghi.

I CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Hoàng đế Hàm Nghi (3 tháng 8 năm 1871 – 4 tháng 1 năm 1943) là vị Hoàng đế thứ 8 của nhàNguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Ngày nay, cùng Việt Nam xemông, cùng với các vua chống Pháp Thành Thái, Duy Tân là ba vị vua yêu nước trong thời kỳ Phápthuộc

1 Xuất thân

Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch , còn có tên là Nguyễn Phúc Minh Ông là conthứ 5 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, sinh ngày 17 tháng 6 nămTân Mùi, tức 3 tháng 8 năm 1871(có tài liệu ghi ông sinh ngày 22 tháng 7 năm 1872) Ông là em ruộtcủa vua Kiến Phúc Ưng Đăng và Chánh Mông (hay Ưng Kỷ), tức là vua Đồng Khánh sau này

2 Thời gian tại kinh thành Huế

Khâm sứ Pierre Paul Rheinart thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tự tiện lập vua, khônghỏi ý kiến đúng như đã giao kết nên gửi quân vào Huế bắt Triều đình phải xin phép Nguyễn VănTường và Tôn Thất Thuyết phải làm tờ xin phép bằng chữ Nôm nhưng viên Khâm sứ không chịu, bắtlàm bằng chữ Nho Hai ông phải viết lại, viên Khâm sứ mới chịu và sau đó đi cửa chính vào điện làm

lễ phong vương cho vua Hàm Nghi.Công việc đầu tiên mà vua Hàm Nghi phải thủ vai, dưới sự hướngdẫn của Tôn Thất Thuyết là tổ chức đón phái đoàn Pháp từ Tòa khâm sứ ở bờ Nam sông Hương sangđiện Thái Hoà làm lễ tôn vương cho nhà vua Đây là thắng lợi mà phe chủ chiến của triều đình Huế đãđạt được trong việc bảo vệ ngai vàng của Hàm Nghi; còn đối với người Pháp thì sau những yêu sách,đòi hỏi bất thành, họ đành phải nhân nhượng để tránh thêm những rắc rối mới bằng cách chấp nhậnmột sự việc đã rồi

3 Phong trào Cần Vương.

Ngày 2 tháng 6 năm Ất Dậu tức là ngày 13 tháng 7 năm 1885, tại Tân Sở, Vua Hàm Nghi năm đóvưà tròn 14 tuổi, đã ban chiếu gọi là “Lệnh Dụ Thiên Hạ Cần Vương” hay là Dụ Cần Vương kêu gọitoàn dân Việt Nam từ Bắc chí Nam cùng đứng lên tiêu diệt bọn thực dân Pháp để dành lại quyền độclập và tự do cho đất nước

Trang 14

Phong trào Cần Vương nổ ra vào cuối thế kỉ 19 do đại thần nhà Nguyễn Tôn Thất Thuyết nhândanh nghĩa của vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp.

II CUỘC ĐỜI LƯU VONG

1 Lưu vong

Vào 4 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu đi vào Lăng Cô.Trước phút rời xa quê hương, nhà vua nhìn lên bờ, không nén được cảm xúc vì nỗi niềm riêng và vậnnước nên đã oà khóc Từ Sài Gòn, ngày 13 tháng 12 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống chiếc tàumang tên "Biên Hoà" vượt đại dương đi Bắc Phi Do không quen đi trên biển, nhà vua bị say sóng liênmiên nhưng vẫn không hề thốt ra một lời kêu ca, oán thán Chiều chủ nhật, 13 tháng 1 năm 1889, cựuhoàng Hàm Nghi đến thủ đô Alger của Algérie Lúc này nhà vua vừa bước qua tuổi 18

2 Một gia đình Việt giữa xứ người

Đến năm 1904, khi đã 33 tuổi, vua cưới vợ là cô Marcelle Laloe, con gái ngài luật sư chánh án tòathượng thẩm Alger Ngài Laloe góa vợ, có một con gái duy nhất, là người rất được trọng vọng đối vớidân bản xứ, có lẽ thông cảm với hoàn cảnh của vị vua nước Nam đang lưu vong nên đã gả con gái cho.Không thể một mình sống mãi nơi đất khách quê người, năm 1904, cựu hoàng đính hôn với côMarcelle Laloe (sinh năm 1884) - con gái của ông Laloe - chánh án toà Thượng Phẩm Alger

3 Mối tình ấm áp

Sau ngày cưới một năm (1905), cựu hoàng viết thư về Huế báo tin vui cựu hoàng mới có con gáiđầu lòng là Công Chúa Như Mai Ba năm sau nữa (1908), cựu hoàng có thêm Công Chúa thứ hai làNhư Lý, và qua năm 1910, thêm một con trai là Hoàng Tử Minh Đức Các con của cựu hoàng rất cóhiếu với cha mẹ và đều thành đạt

Đến năm 1944, vua Hàm Nghi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày (cander de I'estomac) tại Biệt ThựGia Long (Alger) Hạnh phúc của cựu hoàng với bà Marcelle Laloe được tròn 40 năm (1904-1944)

4 Vua Hàm Nghi về với Tổ quốc

Ngày 25-3-2008, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế đã gửi tờ trình đến Hội đồng Trị sự NguyễnPhước Tộc để trao đổi vấn đề tổ chức và chọn địa điểm an táng hài cốt vua Hàm Nghi

Đến nay tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bước đầu thống nhất phương án chọn địa điểm đặt nơi yên nghỉvĩnh hằng cho vua Hàm Nghi tại vùng đồi Thủy Xuân - TP Huế Đó là một khu đất nằm kề các khulăng những người thân của vua gồm lăng người cha Kiên Thái vương và hai vua anh là Đồng Khánh

và Kiến Phúc (nằm trong khu vực lăng Tự Đức)

Trang 15

III HÀM NGHI TRONG VĂN HỌC VÀ TIỂU THUYẾT NƯỚC NGOÀI

Có thể nói, từ nửa cuối thế kỷ XVIII, các nhà văn Nga đã bắt đầu quan tâm ngày càng nhiều đếncác quốc gia phương Đông và nền văn hóa của họ Chính vì vậy mà suốt thế kỷ XIX, nền văn hóa Nga,

ở mức độ nào đó, đã trở nên giàu có màu sắc thẩm mỹ hơn nhờ nắm bắt được một cách nghệ thuậtthực tại của các nước phương Đông, cùng với nền văn hóa và nghệ thuật của họ, trong đó có ViệtNam, mặc dù sự tiếp xúc với Việt Nam là rất ít Nhưng các nhà văn Nga vẫn luôn quan tâm đến nỗiđau tinh thần của nhân dân Việt Nam với một tình cảm chân thành

IV KẾT LUẬN

Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước Việt Nam, mà còn đi vào văn học, tiểu thuyết nước ngoài như một câu chuyện cổ tích thần kỳ.

Tên tuổi ông không chỉ gắn liền với những sự kiện lớn lao trong lịch sử cuộc đấu tranh giải phóngcủa nhân dân Việt Nam chống lại ách thống trị của thực dân Pháp, mà còn là sự khởi đầu cho nền hộihọa hiện đại Việt Nam

Tên tuổi ông cũng gắn liền với một trong những cuộc tiếp xúc trực tiếp sớm nhất trong lịch sửquan hệ văn hóa Việt - Nga và đó cũng là một trang tuyệt vời trong lịch sử văn hóa nhân loại nóichung

ĐỀ TÀI: TÔN THẤT THUYẾT

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Lớp: A3K18

I TIỂU SỬ

Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi, tại làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yếncạnh Kinh thành Thuận Hóa, nay thuộc thôn Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế Ông là

Trang 16

con thứ hai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, cũng là cháu 5 đời của chúa Nguyễn Hiềnvương (Nguyễn Phúc Tần).

II SỰ NGHIỆP

1 Làm quan dưới thời vua Tự Đức

Tôn Thất Thuyết giữ nhiều chức vụ quan trọng như: An sát tỉnh Hải Dương,Biện lý Bộ hộ ,Tántương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm "dẹp loạn" ở các tỉnh phía Bắc,Tham tán đạithần hàm Thị Lang Bộ hình(1873),Thượng thư bộ binh và được cử vào Viện Cơ Mật(1883)

2 Làm quan dưới thời vua Dục Đức, Hiệp Hòa

Tôn Thất Thuyết cùng Nguyễn Văn Tường phế bỏ vua Dục Đức, đưa Hiệp Hòa lên ngôi

Năm 1883, ông phản đối hiệp ước Harmand và bị giáng chức

Tháng 11 năm 1883, Tôn Thất Thuyết đảo chính phế bỏ Hiệp Hòa đưa Kiến Phúc lên ngôi, giữchức Thượng Thư bộ binh

Tháng 8 năm 1884, Hàm Nghi lên ngôi Dịp này giúp Tôn Thất Thuyết trong việc kêu gọi triềuđình chống Pháp

3 Làm quan dưới thời vua Hàm Nghi: Phong trào Cần Vương

Ông lên đường đi Vân Nam, đến Quảng Đông vào 2 /1887 Ông chủ trương cầu viện nhà Thanhgiúp Việt Nam đánh thực dân Pháp Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt vì thuộc hạ Trương QuangNgọc phản bội, Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm đều chết trong lần đó Nhưng cuộc cầu viện bấtthành

Trang 17

b) Một số cuộc khởi nghĩa xung quanh phong trào Cần Vương như: Nghĩa hội Quảng Nam củaNguyễn Duy Hiệu, Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở HươngKhê, Hà Tĩnh, Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An

c) Nguyên nhân thất bại là do cuộc khởi nghĩa còn mang tính chất địa phương, quan hệ với dân chúng

không được ổn định, mâu thuẫn sắc tộc,

* Vài nét về vua Hàm nghi

Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình Vô tình vị vua trẻ tuổi đãlàm một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước: với ý chí cương quyết độc lập và dù người Pháp cóđóng quan tại Huế, triều đình An Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn Thái độ ấy do Hội đồngPhụ chính đề ra Hội đồng ấy rất có lý mà tin chắc rằng dân chúng trông vào thái độ của nhà vua đểnoi theo, xem thái độ ấy như mệnh lệnh [chống lại người Pháp] không nói ra bằng lời ”

4 Hoạt động tại Trung Quốc

Tôn Thất Thuyết đã cùng các đồng sự của ông tổ chức liên lạc với các cuộc chống Pháp bên trongnước, mua sắm vũ khí, đạn dược về cho nghĩa quân Trâu bò, lúa gạo từ Việt Nam được chuyển sangTrung Quốc và đổi lấy vũ khí đưa về Việc tiếp tế này duy trì mãi đến năm 1894 thì kết thúc do biêngiới Việt - Trung bị khoá

Năm 1888 ông lại cử Tống Duy Tân về xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hùng Lĩnh Năm 1889, Tôn

Thất Thuyết cử người về Hà Tĩnh và phong cho Phan Đình Phùng làm Bình Trung tướng quân

Năm 1892, ông đã chỉ đạo cho Lương Phúc đưa quân xâm nhập tổng Hoành Mô thuộc Móng Cái,phát tuyên ngôn dưới danh nghĩa Hàm Nghi để đánh Pháp Năm 1895, ông cho một đạo quân tiến đánhCao Bằng, chiếm vùng Lục Khu nhưng bị Pháp đẩy lui

Ông bị cấm túc, không được ra khỏi nơi cư trú và đã trở nên điên dại Gia sản bị tịch biên, TônThất Thuyết trở thành tội nhân bị truy nã Cha ông là Tôn Thất Đính cũng bị lưu đày; mẹ, vợ và cáccon cũng bị truy sát…trên đường bỏ trốn

II VỀ GIA ĐÌNH

1 Cha ông Đề Đốc Tôn Thất Đính: với trận đánh ở Phú Yên(1802-1885), hết mình phò tá vua, tìm

đường đi theo vua Hàm Nghi và đã bị đi đày

2 Tôn Thất Đàm (1864-1888) là con trai trưởng của Tôn Thất Thuyết, từng đảm nhận chức vụ Khâmsai chưởng lý quân vụ đại thần Cùng em trai Tôn Thất Tiệp, ông là một trong những chỉ huy của

phong trào Cần Vương

Trang 18

3 Tôn Thất Thiệp (1870-1888) là con trai thứ của Tôn Thất Thuyết Cùng anh trai Tôn Thất Đàm, làmột trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương.

III NHỮNG NHẬN XÉT NHIỀU CHIỀU VỀ CUỘC ĐỜI TÔN THẤT THUYẾT

1 Có nhiều ý kiến xung quanh Tôn Thất Thuyết: là hành động của kẻ "quên lời sách xưa", "chẳng giữđạo trung", "vì thân", "quyền thần sâu hiểm" ; là người nhát gan, loại thù địch, kém thức thời…

2 Những lời ca ngợi về Tôn Thất Thuyết:

Nước ta quan tướng anh hùng,

Bá quan văn võ cũng không ai tày

Quan tướng đây là Tôn Thất Thuyết Nhân dân đă ca ngợi ông qua những lời trên, trích trong Vèthất thủ kinh đô; lời vè không quá xa sự thực

IV TƯỞNG NHỚ

Nhân dân ở thôn Vân Khê,xã Thủy Thanh,huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựngphủ thờ Tôn Thất Thuyết Qua cầu An Cự theo đường Tỉnh Lộ qua cầu Ngói Thanh Toàn về thôn VânKhê, khoảng 7km ta sẽ nhìn thấy phủ thờ Tôn Thất Thuyết

Nhiều đường phố mang tên Tôn Thất thuyết, Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp

ĐỀ TÀI: PHẠM BÀNH

Người thực hiện: Dương Thị Thúy Lớp: A3K18

I CUỘC ĐỜI

Trang 19

Phạm Bành (1827 – 1887) quê ở huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa, là một vị quan nổi tiếng thanhliêm và tận tâm vì dân chúng Cùng nhiều sĩ phu khác, ông tham gia phong trào Cần Vương với vai trò

là phó tướng của nghĩa quân Ba Đình, mộ quân khởi nghĩa, xây dựng căn cứ Ba Đình bảo vệ cửa ngõmiền trung và đánh địch ở đồng bằng Lập căn cứ Ba Đình ( Nga Sơn, Thanh Hóa) gồm ba làng: MỹKhê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh nghĩa quân có thể kiểm soát, khống chế đường số 1 Lúc này, đã về giànhưng ông luôn sát cánh cùng nghĩa quân trong mỗi cuộc khởi nghĩa và khích lệ dân chúng Sau khi bịthất thủ, Phạm Bành phải rút quân về Mã Cao Không bắt được Phạm Bành, chúng liền bắt mẹ và conông giam ở Thanh Hóa để buộc ông phải ra hàng Vì thương mẹ và con, ông đã giả vờ ra đầu thú đểcứu họ, nhưng ngay sau hôm mẹ và con được thả ông đã uống thuốc độc tự tử để tỏ rõ khí tiết củamình, giữa sự tiếc thương cuả đồng bào Phạm Bành mất ngày 18 tháng 3 năm Đinh Hợi (11-4-1887).Nguyễn Đôn Tiết khóc ông:

“Quân tử nhất sinh tam khả bạch, Tướng quân tùy tử diện tơ hồng”.

Dịch:

“Quân tử trọn đời lòng vẫn trắng, Tướng quân dù chết mặt vẫn hồng”.

Nguyễn Xuân Ôn, lãnh tụ phong trào chông Pháp ở Nghệ An lúc đó, đã ca ngợi ông như sau:

“Khoa hạng Thang châu đệ nhất môn, Gia huynh cựu thị cá kin côn.

Thúy hoa thiên viễn ngô quân tại, Huyện thảo đường cao lão mẫu tồn.

Nghĩ bả dư sinh phò quốc vận.

Cánh tương nhất tử báo quân ân.

Anh hùng thành bại hà tu luận, Trực đắc cương thường vạn cổ tôn”.

Trang 20

Ngờ đâu một chết báo ơn vua.

Cương thường giữ trọn ngàn đời kính,

Xá kể anh hùng tiếng được thua.”

Ngô Đình Chí ( Một văn nhân) khi nghe tin Phạm Bành mất đã làm câu đối viếng sau:

“Xả thân thành nhân báo quốc quyên sinh, sinh bất tử

Di trung vi hiếu cần vương nghĩa tử, tử do sinh”.

Dịch:

“Bỏ mình làm việc nhân đền nợ nước, là còn chẳng mất Đem trung thay chữ hiếu báo ơn vua, dù mất vẫn còn”.

Về văn thơ, ông có để lại một bài thơ nhan đề “Ký hữu”:

“Đồng châu đồng quận hựu đồng danh

Cố chước chung bôi ký trực tình Tâm tại Đông A ninh cố tử Chí tồn Nam Việt khẳng thâu sinh

:

Dịch: “Gửi bạn”

Cùng tên cùng quận lại cùng châu Mượn chén ghi tình vĩnh biệt nhau Lòng ở Đông A thà một chết Chí vì Nam Việt sống thừa sao”.

(Khương Hữu Dụng dịch).

II SỰ NGHIỆP

Phạm Bành đã tham gia khởi nghĩa Ba Đình cùng với Đinh Công Tráng (thủ lĩnh) và nhiều tướnglĩnh khác Căn cứ Ba Đình được xây dựng kiên cố như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước, tách biệtvới các làng khác Nghĩa quân đã giành được nhiều thắng lợi nhưng về sau ông đã bị giết hại và bị treođầu với giá cao Đặc biệt hơn, ở giai đoạn sau Bác Hồ đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ranước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã đủ thấy ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này với nhân dân Việt Nam

và nền độc lập dân tộc Sau khi vua Hàm Nghi kêu gọi toàn dân hưởng chiếu Cần Vương, đã có rấtnhiều người tham gia Sau bao nhiêu nổ lực của quân và dân ta, cuộc tấn công lần một của địch liêntục bị thất bại nặng nề Nghĩa quân dũng cảm và mưu trí chiến đấu với vũ khí hiện đại của quân địch.Trước tình hình này giặc hoảng sợ bao vây cứ điểm Ba Đình, mục tiêu của chúng là gấp rút nốiliền con đường giao thông giữa hai miền trung - bắc để tiến hành lên hoàn thành bình định miền đồngbằng

Trang 21

Với sự giúp đỡ của cha Sáu, địch đã chia quân tập trung tại mặt trận Ba Đình một số quân rất lớn.Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương nghĩa quân đã giam chân được một số địch đông vàtrong một thởi gian lâu như vậy Sau đó, chúng lợi dụng thủy triều để xây dựng công sự Nhưng saubao nhiêu cố gắng cuối cùng Ba Đình đã bị triệt hạ Phạm Bành bị uy hiếp đến tính mạng cử ngườithân, ông đã hi sinh thân mình để bảo vệ họ, bao nhiêu người thương khóc ông

Đảm nhận xây dựng hệ thống cứ điểm Mã Cao và phối hợp với các nghĩa quân khác, Hà Văn Mao

ra sức xây dựng và tăng cường lực lượng nghĩa quân Lúc này có nhiều phong trào nổ ra như phongtrào của Phạm Bành, phong trào của Hoàng Bật Đạt, phong trào của Nguyễn Đôn Tiết, phong trào củaNguyễn Phương, phong trào của huyện Nông Cống, phong trào của huyện Quảng Xương, phong tràocủa huyện Hà Giang Cuộc khởi ngha Ba Đình được đánh giá rất cao

Về phong trào Cần Vương: Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX là phong trào dân tộc, phong

trào yêu nước chống chủ nghĩa thực dân xâm lược kết hợp với chống triều đình phong kiến đầu hàng

đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp Phong trào thu hút được một số các quan lại trong triều đình và văn thân.Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giờ Phong trào Cầnvương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứngchiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, kéo dài từ 1885 cho đến 1895 Cuộc khởi nghĩa được chia làmhai giai đoạn chính: giai đoạn đầu (1885- 1888): Ở giai đoạn này chuẩn bị lực lượng và cơ sở chiếnđấu Sau một vài trận tập kích không hiệu quả ta phải rút quân về Phùng Công (Hơng Sơn) và làm lốiđánh du kích Năm 1887, ta tìm sự hỗ trợ và liên kết lực lượng giai đoạn sau ( 1889- 1896) -Trậnchống càn ở Cồn Chùa và Khe Đen do Đề Niên (Phan Bá Niên) chỉ huy vào ngày 1 tháng 9 năm 1889

Ta tổ chức dược khoảng 28 trận lớn nhỏ trong giai đoạn này như:

-Trận tấn công đồn Dương Liễu vào ngày 15 và 16 tháng 12 năm 1889

-Trận tấn công huyện lỵ Hương Sơn vào cuối tháng 12 năm 1889

-Trận chống càn ở La Sơn và Thường Sơn do Đề Thăng và Phan Trọng Mưu chỉ huy vào tháng 3

Trang 22

Đình Phùng (1847-1895), và một cộng sự đắc lực của ông là tướng Cao Thắng (1864-1893) Lập đượcnhiều chiến công và gây cho Pháp nhiều tổn thất nặng nề Cần vương mang nghĩa "giúp vua" Tronglịch sử Việt Nam, trước thời nhà Nguyễn từng có những lực lượng nhân danh giúp nhà vua phát sinhnhư thời Lê sơ, các cánh quân hưởng ứng lời kêu gọi của vua Lê Chiêu Tông chống lại quyền thầnMạc Đăng Dung Tuy nhiên phong trào này không để lại nhiều dấu ấn và khi nhắc tới Cần Vươngthường được hiểu là phong trào chống Pháp xâm lược.

III KẾT LUẬN

Qua những hiểu biết về Phạm Bành, chúng ta càng thêm trân trọng hình ảnh thiêng liêng của dântộc với những trang sử vẻ vang về những buổi loạn lac Ông tuy không quá nổi tiếng như Hai BàTrưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, … để ai ai cũng biết đến cái tên Phạm Bành, nhưng khi đã biết thìkhông ai có thể quên được ông một người anh hùng, có khí tiết của kẻ trượng phu, không cam tâmchịu nỗi nhục mất nước, chịu sự dầy xéo đần áp của bè lũ xâm lược

Tuy trong quá trình nghiên cứu tôi không nhận được thông tin về hình ảnh của ông nhưng chắcchắn rằng không phải vì thế mà chúng ta không thể hình dung ra hình ảnh của người anh hùng này,linh hồn ông luôn dõi theo ngàn đời trong quá trình đất nước vươn lên lấy lại vị trí của chính mình vàbắt đầu lớn mạnh Dân tộc Việt Nam sẽ ngàn đời nhắc đến ông và mãi mãi biết ơn ông như biết baonhiêu vị anh hùng dân khác

ĐỀ TÀI: ĐINH CÔNG TRÁNG VÀ KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH

Thực hiện: Hoàng Hà Thu Lớp: A3K18

I ĐINH CÔNG TRÁNG

Trang 23

Tướng Pháp Mason đã nhận định về Đinh Công Tráng: "

Người có trật tự, trọng kỉ luật,cương trực, hay nghiêm trị nhữngthủ hạ quấy nhiễu dân; có chínhẫn nại, biết mình, biết người,không bao giờ hành binh cẩu tha,giỏi lập trận thế" Tướng PhápMason nhận định về ông như thế.Đinh Công Tráng sinh năm NhâmDần (1842-1887), quê ở làng Trinh

Xá, huyện Thanh Liêm (Hà Nam)

Là một người yêu nước và thiếttha với vận mệnh của tổ quốc, ôngkhông thể ngồi yên khi đất nước

bị Pháp giày xéo Đang làm chánhtổng, Đinh Công Tráng đã rời quêgia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm Khi Hoàng Kế Viêm phối hợp với quân cờ đen của LưuVĩnh Phúc cầm cự với Henri Rivière, Đinh Công Tráng đã tham gia trận đánh ở Cầu Giấy Nhờ cókinh nghiệm chiến đấu, ý chí dũng cảm và tư chất thông minh nên ông đã trở thành lãnh tụ củacuộc khởi nghĩa Ba Đình

II PHẠM BÀNH

Một chiến sĩ Cần Vương chống Pháp, sinh năm 1842, mất năm 1887, người làng TrángXách,huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam lừng danh với chiến lũy Ba Đình

Ông hùng cứ nơi chiến khu Ba Đình, chống nhau với quân Pháp suốt ba năm Hai tướng Metzinger

và Doddo đến đánh đều bị ông đẩy lui Đến đầu năm 1887, đại tá Brissand thống lãng 76 sĩ quan và3.530 quân tinh nhuệ, đánh luôn mấy ngày và tổn thất nặng nề mới phá được

Thành Ba Đình do ông đóng giữ rộng 400 thước, dài 1200 thước, bao bọc 3 làng Mậu Tịnh, MiKhê, Thượng Thọ, chống giữ từ tháng 4-1885 đến 20-1-1887 Thành vỡ, ông chạy về Nghệ An và bịbắn chết trong đêm 5-10-1887 tại làng Trung Yên

Ngô Đình Chí ( Một văn nhân) khi nghe tin Phạm Bành mất đã làm câu đối viếng sau:

“Xả thân thành nhân báo quốc quyên sinh, sinh bất tử

Di trung vi hiếu cần vương nghĩa tử, tử do sinh”.

Trang 24

Dịch là:

“Bỏ mình làm việc nhân đền nợ nước, là còn chẳng mất Đem trung thay chữ hiếu báo ơn vua, dù mất vẫn còn”

III VÀI NÉT VỀ CĂN CỨ BA ĐÌNH

+ Ba Đình ở phía tây huyện Nga Sơn, cách thành phố Thanh Hóa 40 m về phía Tây Bắc, là một vịtrí quân sự xung yếu của tỉnh

+ Từ Ba Đình theo đường sông có thể xuôi ra biển, ngược lên thượng du bằng sông Mã; theođường bộ có thể thông với các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Hà Trung, Vĩnh Lộc

+ Ba Đình gồm 3 làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê Cả 3 làng nằm lọt trong cánh đồngtrũng, khoảng giữa hai con sông Hoạt và sông Chính Đại, cách xa các thôn xóm khác

+ Vào mùa lũ,nước sông dâng lên khiến 3 làng như ba cái đình trôi nổi trên mặt nước

+ Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là lũy tredày đặc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre Ở trong là một lớp thành đất cao 3 m, chân rộng

8 đến 10m

+ Có thể nói rằng căn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một chiến tuyến phòng ngự quy mônhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ 19 Ngoài Ba Đình, còn có các căn cứ hỗ trợ: căn cứ Phi Lai củaCao Điển, căn cứ Quảng Hóa của Trần Xuân Soạn, căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao

IV KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH

Trang 25

Và tiếp đó, nghĩa quân đã tấn công nhiều phủ thành, chặn đánh các đoàn xe, gây cho quân Pháp nhiềuthiệt hại

Từ 18-12-1886 đến 20-1-1887 Đại tá Brissand thống lĩnh 76 sĩ quan và 3.500 quân vây hãm và tiếnđánh căn cứ Ba Đình Quân Pháp đã nã tới 16.000 quả đại bác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ

Ba Đình thành biển lửa Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại kẻ thùđông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân hiện đại Trong những trận chiến đấu vô cùng ác liệt này,nghĩa quân đã mưu trí dũng cảm, bám trụ từng tấc đất, đập tan nhiều cuộc tấn công, gây tổn thất nặng

nề cho quân đội Pháp, làm chấn động tinh thần binh lính Pháp ở Việt Nam và còn là nỗi lo sợ cho bọnPháp ở chính quốc Nhưng vì lực lượng quá nhỏ không thể đương đầu với đội quân Pháp vừa đôngvừa mạnh, nên lực lượng của nghĩa quân Ba Đình bị thương vong nhiều Để tránh khỏi bị tiêu diệthoàn toàn, nghĩa quân Ba Đình đã mở con đường máu vượt qua vòng vây dày đặc của quân Pháp, rútkhỏi căn cứ lên Mã Cao để củng cố lực lượng và chuẩn bị cuộc chiến đấu mới

Đến sáng ngày 21 tháng 1 năm 1887, quân Pháp mới chiếm được Ba Đình Sau đó, quân Pháp đãtriệt hạ hoàn toàn cả ba làng của căn cứ Ba Đình, tiếp tục cho quân truy kích nghĩa quân ở Mã Cao, rồitiếp tục đến Thung Voi, Thung Khoai và cuối cùng là tận miền tây Thanh Hóa, nơi đóng quân củaCầm Bá Thước Các thủ lĩnh Nguyễn Khế, Hoàng Bật Đạt hy sinh Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại

tự sát chỉ còn Đinh Công Tráng chạy về Nghệ An Quân Pháp treo giải cái đầu ông với giá trị tiềnthưởng rất cao Mùa hè 1887, vì tham tiền viên Lý trưởng làng Chính An đã mật báo cho quân Phápđến bắt và sát hại Đinh Công Tráng

Hồ Chí Minh sau này đã chọn tên Ba Đình để đặt cho Quảng trường Ba Đình, nơi đọc Tuyênngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Hiện nay di tích lịch sử Chiến khu Ba Đình thuộc xã Ba Đình, cách trung tâm huyện Nga Sơn 4

km về phía Tây - Bắc đã được xếp hạng cấp quốc gia

Phạm Bành và Đinh Công Tráng là người lãnh đạo trong phong trào này

V PHỐ ĐINH CÔNG TRÁNG - HÀ NỘI

Trang 26

Kéo dài từ đường Trần Khánh Dư tới đường Trần Hưng Đạo, sau năm 1954 đoạn đầu đã đượcngăn lại, đưa vào khu doanh trại của bộ đội biên phòng Nguyên là phần đất của 1 trong 6 thôn thuyềnchài gọi là Thủy Cơ Thời Pháp thuộc đây là phố Béc-tơ-đơ Vi-le (rue Berthe de Villers) Tên hiện nayđược đặt sau Cách Mạng.

ĐỀ TÀI: TỐNG DUY TÂN

Người thực hiện: Vũ Thị Thu Lớp: A3K18

I TIỂU SỬ

- Tống Duy Tân sinh năm 1837, mất năm 1892 Ông là người làng Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc,tỉnh Thanh Hóa

Trang 27

- Năm Canh Ngọ (1870), ông đỗ cử nhân, đến năm Ất Hợi (1875), thì đỗ tiến sĩ Bước đầu, ông được

bổ làm Tri huyện, sau làm Đốc học Thanh Hóa rồi Thương biện tỉnh vụ

II SỰ NGHIỆP

1 Hưởng dụ chiếu Cần Vương (năm 1886):

- Trận chiến kinh thành Huế được xem như là mốc đánh dấu cho sự nối tiếp của phong trào khởinghĩa vũ trang mới dưới danh nghĩa Cần Vương diễn ra sôi nổi, kéo dài đến năm 1896

- Trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ chia ra làm hai phe: một bên là chủ chiến có Tôn ThấtThuyết và Nguyễn Văn Tường, một bên phe chủ hòa có Trần Tiễn Thành và Nguyễn Hữu Độ…

- Họ phế bỏ những ông vua có biểu hiện thân Pháp, đưa Ưng Lịch còn nhỏ tuổi lên ngôi và lấy hiệu

là Hàm Nghi, trừ khử những người không cùng chính kiến, bổ sung thêm lực lượng quân sự, bí mậtliên kết với sĩ phu, văn than các nơi,…

- Trong khi tổ chức toàn quyền về chính trị và quân sự Pháp tại Việt Nam là Đờ-Cuốc-Xi đang tổchức yến tiệc tại tòa khâm sứ Pháp tại Huế, Tôn Thất Thuyết đã hạ lệnh cho các đạo quân của mìnhtấn công quân Pháp ở đồn Mang Cá và tòa Khâm Sứ Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt nhưng cuốicùng quân ta bị quân Pháp phản công, chúng cướp bóc và tàn sát nhân dân ta vô cùng man rợn

- Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi ra khỏi hoàng thành, rồi chạy ra sơn phòng Tân Sở(Quảng Trị)

- Tôn Thất Thuyết lấy danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi văn than, sĩ phu vànhân dân cả nước đứng lên vì vua mà kháng chiến

- Chiếu Cần Vương đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong nhân dân và nhiều cuộc khởi nghĩa đãdiễn ra ở khắp nơi trên cả nước Có một số những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu cho phong trào CầnVương như: Khởi nghĩa Bãi Sậy(1883-1892) do Nguyễn Thiệt Thuật lãnh đạo Sau một khoảng thờigian dài chiến đấu cuối cùng vào tháng 7-1889 bị quân Pháp bao vây, Nguyễn Thiện Thuật trong thếcùng phải ra hàng và bị chúng đầy sang An-giê-ri

- Một số những cuộc khởi nghĩa khác như: Khởi nghĩa Ba Đình(1886-1887) dưới sự lãnh đạo củaPhạm Bành và Đinh Công Tráng, Khởi nghĩa Hương Khê(1885-1896) do Phan Đình Phùng lãnh đạo,Khởi nghĩa Yên Thế(1884-1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo…

2 Khởi nghĩa Hùng Lĩnh

*Giai đoạn 1:

- Cuộc khởi nghĩa do Tống Duy Tân lãnh đạo

- Năm 1885, hưởng dụ chiếu Cân Vương Tống Duy Tân được vua Hàm Nghi phong làm Chánh sứsơn phòng Thanh Hóa Sau đó, ông tham gia xây dựng chiến khu Ba Đình

Trang 28

- Ngoài căn cứ Phi Lai trong sự nghiệp chung, Tống Duy Tân còn chuẩn bị lực lượng và căn cứkháng Pháp ngay tại quê hương mình, đó là vùng thượng nguồn sông Mã thuộc Vĩnh Lộc, Thanh Hóa

- Năm 1887, đông đảo quân Pháp kéo đến đàn áp dữ dội phong trào Cần Vương ở tỉnh này Căn

cứ Ba Đình và căn cứ Mã Cao nối tiếp nhau thất thủ Sau đó, các thủ lĩnh lần lượt hy sinh (Đinh CôngTráng, Nguyễn Khế, Hoàng Bật Đạt), tự sát (Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại), hoặc đi tìm phương

*Giai đoạn 2:

- Đầu năm 1889,Tống Duy Tân về đến quê nhà Sau khi tập hợp lại lực lượng, thì ông trở thànhngười chỉ huy chính của phong trào kháng Pháp tại Hùng Lĩnh ở thượng nguồn sông Mã (thuộc huyệnVĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa)

- Ngày 22 tháng 10, quân Pháp từ Thanh Hóa lại kéo đến tấn công Sau ngày kịch chiến, TốngDuy Tân cho quân rút về phía Bắc Phố Cát (Thạch Thành) Cuối tháng này, nhờ có những toán quân

cũ của tướng Trần Xuân Soạn tìm đến tham gia, nên Tống Duy Tân lại cho quân đẩy mạnh hoạt độngtrong các huyện Yên Định, Thọ Xuân, Nông Cống Sau đó, đôi bên còn giao chiến thêm nhiều trậnnữa, đáng kể là trận Vạn Lại (Vạn Ninh-Thọ Xuân) ngày 30 tháng 11 và trận Yên Lược (Thọ Xuân)vào ngày 2 tháng 12 cùng năm

- Thấy công cuộc thôn tính nước Việt bị cản trở, thực dân Pháp liền tăng cường lực lượng để dậptắt phong trào do Tống Duy Tân làm thủ lĩnh Trước lực lượng đối phương đông đảo, lại được trang bị

vũ khí mạnh, ông phải cho quân vừa chống đỡ, vừa rút dần lên vùng miền núi ở phía Tây Thanh Hóa

- Tháng 3 năm 1892, từ sông Đà, Đốc Ngữ dẫn quân vượt sông Mã vào Thanh Hóa Sau khi bànbạc, Tống Duy Tân và Đốc Ngữ cùng hợp quân đi tấn công quân Pháp ở hang Niên Kỷ (nay thuộc xãThiết Ống, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa) Mặc dù thu được một số thắng lợi, nhưng cũng khôngthể nào cứu vãn được tình thế -Sau đó, ông về ẩn náu ở hang Niên Kỷ (nay thuộc xã Thiết Ống,huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa), còn Cao Điển cùng một số thuộc hạ quyết chí theo thì đóng trênmột ngọn đồi gần bên Chẳng lâu sau, Cao Ngọc Lễ (vừa là học trò cũ, vừa là cháu kêu Tống Duy Tânbằng cậu) đi mật báo cho Pháp đến bủa vây và bắt được Tống Duy Tân vào ngày 4 tháng 10 năm 1892

- Không chiêu hàng được, Tống Duy Tân bị thực dân Pháp cho xử tử tại Thanh Hóa ngày 5 tháng

10 (âm lịch) năm Nhâm Thìn (1892)[8], lúc 55 tuổi Đến đây, cuộc khởi nghĩa mà ông cùng đồng đội

đã cố công gầy dựng coi như kết thúc

Trang 29

3 Những đóng góp của Tống Duy Tân trong phong trào đấu tranh chống Pháp của dân tộc

- Có thể thấy rằng, tuy cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh không dành được thắng lợi xong nó cũng cho

ta thấy sự đoàn kết một lòng của quần chúng nhân dân trong phong trào đấu tranh chống thực dânPháp

- Hưởng dụ chiếu Cần Vương, Tống Duy Tân đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh cùng là mộttrong những cuộc khởi nghĩa đã đánh một đòn nặng nề vào âm mưu xâm lược của thực dân Pháp

- Người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã có được sự ủng hộ của nhiều tầng lớp người dân không chỉngười Kinh mà còn những người dân Mường, người Thái…nhờ có sự ủng hộ của nhân dân được xemnhư là một yếu tố quan trọng giúp cuộc khởi nghĩa dành được những chiến thắng

- Năm Canh Ngọ năm 1870 ông đỗ cử nhân, năm Ất hợi(1875) ông đỗ tiến sĩ Bước đầu, ông được

bổ làm Tri huyện, sau làm Đốc học Thanh Hóa rồi Thương biện tỉnh vụ Nhưng với một lòng yêu nướctha thiết, sâu sắc.Ông đã thấy, đã chứng kiến những điều độc ác mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhândân ta

- Trong cảnh đất nước lầm than, nhân dân khổ cực là một con người yêu nước cũng giống như biếtbao nhiêu những nhân sĩ cùng thời Hưởng dụ chiếu Cần Vương(1885) Tống Duy Tân đã tham giatrong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp Một con người vì nước, vì dân đã chiến đấu dũngcảm, không bao giờ chịu khuất phục trước quân thù.Sự hy sinh to lớn ấy của Tống Duy Tân càng thểhiện tấm lòng trung- quân ái quốc sâu sắc của ông

Với tầm nhìn xa và tài thao lược quân sự Tống Duy Tân đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần Vương Ông đã đưa ra những quyếtsách quan trọng rất đúng đắn, kịp thời để lãnh đạo quân sĩ và cũng đã dành được những chiến thắng

Tuy cuộc khởi nghĩa đã thất bại xong với những điều mà Tống Duy Tân đã làm được cũng cho tathấy lòng yêu nước của mỗi con người là sức mạnh tinh thần to lớn giúp họ có thể vượt qua tất cảnhững gian khổ ngay cả khi đứng trước mặt kẻ thù Ngay cả khi đối mặt với cái chết Tống Duy Tânvẫn làm thơ:

“Nhị kim thủy liễu tiên sinh trái

Tự cổ do truyền bất tử danh.”

- Sự hy sinh của Tống Duy Tân đã khiến cho nhân dân cả nước nói chung và nhân sĩ Thanh Hóanói riêng đã làm những câu thơ để thể hiện niềm cảm phục sâu sắc với một con người đã hy sinh vìnhân dân, dân tộc:

“Tự cổ anh hùng, thiết thạch can trường nan tận tả Đáo đầu sự thế, xuyên hà huyết lệ hạt năng lưu.”

Nghĩa là:

Trang 30

“Từ trước anh hùng, dạ sắt gan vàng không xiết tả Đến cùng sự thế, máu sông lệ suối chảy sao trôi.”

III VINH DANH

- Con phố Tống Duy Tân dài khoảng 200m kéo dài từ phố Trần Phú đến đường Điên Biên Phủ

- Nó thường được gọi là “Phố ẩm thực” của Hà Nội ngày nay Phố mang tên nhà chí sỹ yêu nướccuối thế kỷ XIX - Tiến sỹ Tống Duy Tân (1837 - 1892), người làng Động Biện, huyện Vĩnh Lộc, tỉnhThanh Hoá Con phố được mang tên Tống Duy Tân từ năm 1964

- Con phố còn có tên gọi là “Phố gà tần” bởi vì có rất nhiều những nhà hàng bán gà tần thuốc bắc,ngon nổi tiếng bởi hương và vị đặc trưng

Phan Đình Phùng đỗ cử nhân năm 1876 Năm sau, đậu đình nguyên tiến sĩ, được bổ làm Tri huyệnYên Khánh (tỉnh Ninh Bình) Sau đó cụ được đổi về kinh đô Huế, sung chức Ngự sử đô sát viện CụPhan nổi tiếng trong triều về đức tính cương trực, thẳng thắn Năm 1882, cụ dâng sớ đàn hặc thiếu bảoNguyễn Chánh về tội "ứng binh bất viện" (cầm quân ngồi yên không đi tiếp viện) khi giặc Pháp tấn

Trang 31

công thành Nam Định Do bất đồng quan điểm với Tôn Thất Thuyết về việc phế Dục Đức, lập HiệpHòa (1883) cụ bị cách chức, về quê lập trại cày, tự hiệu là "Châu Phong".

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, Phan Đình Phùng đã đứng ra chiêu tập lực lượng chốngPháp Các anh hùng, hào kiệt khắp bốn tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Quảng Bình tự nguyện liên kết lựclượng dưới quyền chỉ huy của cụ Phan Nghĩa quân đã xây dựng căn cứ tại Hương Sơn, Hương Khê(Hà Tĩnh)

Cụ Phan đã tổ chức lực lượng nghĩa quân theo đạo quân chính quy; có 15 quân thứ với cùng mộtkiểu trang phục, kỷ luật nghiêm minh Các quân thứ được đặt tại các địa phương, rải suốt bốn tỉnh vàhợp tác tác chiến nhịp nhàng theo kế hoạch từ đại bản doanh núi Vụ Quang Cụ cùng các tướng nhưCao Thắng nghiên cứu, chế tác thành công được gần 500 khẩu súng trường kiểu 1874 của Pháp đểtrang bị cho quân lính Phan Đình Phùng rất chú ý đến công tác ngụy vận Cụ thường bảo với nghĩaquân: "Hễ khi giao chiến vạn bất đắc dĩ hãy bắn giết lính tập, bởi họ là anh em đồng bào với mình".Bằng đức tính và tài năng của mình, Phan Đình Phùng đã cảm hóa được các tướng lĩnh giỏi nhưCao Thắng, Nguyễn Thanh, Nguyễn Trạch, Phan Đình Cam, Cầm Bá Thước, Nguyễn Mục, v.v hếtlòng trung thành với sự nghiệp chống Pháp

Suốt mười năm trời (1885 - 1895), bất chấp mọi khó khăn gian khổ, nghĩa quân Phan Đình Phùng

đã gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất nặng nề Ngoài các hình thức chiến đấu tiến lui, công đồn, diệtviện, Phan Đình Phùng đã chỉ huy nghĩa quân xây dựng làng chiến đấu, áp dụng lối đánh du kích, cóhầm chông cạm bẫy

Sau một loạt trận công đồn, chiến thắng lẫy lừng, trận Vụ Quang (10-1894) là nổi tiếng, vang dội

và gây cho giặc thất bại nặng nề nhất

Thực dân Pháp thấy không thể dùng sức mạnh quân sự dẹp tắt được nghĩa quân, nên dùng mọi thủđoạn dụ dỗ, mua chuộc cụ Phan Chúng lợi dụng các tên Việt gian như: Phan Trọng Mưu, Võ Khoa,Hoàng Cao Khải viết thư lấy tình xưa nghĩa cũ để khuyên cụ ra hàng Trước mọi sự cám dỗ, đườngmật, Phan Đình Phùng vẫn giữ lòng son sắt cự tuyệt Trong lúc cuộc chiến đấu còn tiếp diễn thì khôngmay ngày 28-12-1895, do mắc bệnh lỵ nặng, Phan Đình Phùng đã qua đời tại bản doanh (núi Quạt) thọ

49 tuổi

Phan Đình Phùng mất đi, cuộc khởi nghĩa cũng kết thúc Song, cuộc khởi nghĩa Hương Khê xứngđáng là đỉnh cao của phong trào Cần Vương Đây cũng là thời điểm kết thúc sứ mạng lãnh đạo củatầng lớp sĩ phu phong kiến Việt Nam chống Pháp

II SỰ NGHIỆP THƠ VĂN

Phan Đình Phùng không chỉ là người lãnh đạo tài năng mà còn là nhà thơ Cụ đã sáng tác một sốcâu đối (Điếu Lê Ninh, Khốc Cao Thắng), thơ (Đáp hữu nhận ký thi, Thắng trận hậu cảm tác, Kiến

Trang 32

ngụy binh thi cảm tác, Phúc đáp Hoàng Cao Khải) Tác phẩm của cụ cho ta thấy cụ là nhà nho trungnghĩa với dân với nước.

Các tác phẩm chính:

Khóc Cao Thắng

Điếu Lê Ninh,

Đáp hữu nhân kí thi

Thắng trận hậu cảm tác,

Lâm chung thời tác,

Kính kí Hoàng Cao Khải thi

Viết sử địa dư vựng cách (sử địa kí hiệu A 971)

Cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo kéo dài 10 năm, có quy mô lớn nhất so với cáccuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương Những chiến thắng của lực lượng nghĩa quân do PhanĐình Phùng chỉ đạo được xem là những trận đánh tiêu biểu, là đỉnh cao nghệ thuật quân sự của ViệtNam thời bấy giờ

Trước khi từ trần, Phan Đình Phùng đã để lại bài thơ "Lâm chung thời tác":

"Nhung trường phụng mệnh thập canh đông

Vũ lược y nhiên vị tấu công

Cùng lộ ngao thiên nan trạch nhạn

Phỉ đồ biến địa thượng đồn phong

Cửu trùng xa giá quan sơn ngoại

Tứ hải nhân dân thủy hỏa trung

Trách vọng dũ long ưu dũ trọng

Tướng môn thâm tự quý anh hùng".

(Nhung trường vâng mệnh đã mười đông

Vũ lược còn chưa lập được công Dân đói kêu trời xao xác nhạn Quân gian chật đất rộn ràng ong Chín lần xa giá non sông cách Bốn bể nhân dân nước lửa nồng Trách nhiệm càng cao, càng nặng gánh Tướng môn riêng thẹn mặt anh hùng)

Bản dịch của TRẦN HUY LIỆU

Đây là bài thơ tuyệt mệnh của Phan Đình Phùng được nhiều nho sĩ và các nhà nghiên cứu văn học xếpvào loại xuất sắc trong nền văn học cận đại Bài thơ nói lên nỗi lòng của Phan Đình Phùng – Nỗi lòngcủa một kẻ sĩ vì nước vì dân; lo nỗi lo của dân, của nước; đau cùng nỗi khổ của nhân dân và vận nướctrong cảnh bị ngoại bang xâm lược Tâm sự của một người yêu nước trước khi trút hơi thở cuối cùng

Trang 33

vẫn thấy chưa làm tròn trách nhiệm đối với nhân dân và đất nước Phan Đình Phùng là tấm gươngsáng về lòng yêu nước, thương dân Nghe tin Phan Đình Phùng mất, Nguyễn Thượng Hiền đã làm thơkhóc ông:

"Vạn lí ai già bất khả văn,

Lục long thiên ngoại cách yên phân

Binh qua chấp nghĩa phù tông quốc

Bào hốt lâm nguy bái thánh quân

Lang miếu cự truyền chân ngự sử

Giang hồ kim khấp cố tướng quân

Tha niên tái kiến trung nguyên định

Hãn tặc Thường sơn hữu đại luân".

(Muôn dặm kèn buồn tiếng vẳng đưa

Ngoài trời xe ngựa khói mây mờ

Binh qua vị nghĩa lo phò nước Bào hốt lâm nguy ngoảnh lạy vua Lang miếu trước khen đài gián giỏi Giang hồ nay khóc tướng quân xưa

Trung nguyên sẽ thấy ngày bình địnhChống giặc ghi công lúc bấy giờ"

Bản dịch của LÊ THƯỚC

Lúc ông mất, các văn thân đất Nghệ Tĩnh có hợp soạn một câu đối điếu ông:

"Thành bại anh hùng mạc luận, thử cô trung, thử đại nghĩa, thệ dữ chư quân tử thủy chung; Châu chi anh, Mặc chi linh, độc thư mỗi niệm cương thường trọng; Khả hận giả thùy điên đại hạ, nhất mộc nan chi, cung lãnh yên tiêu, thùy nhân bất tác thâm sơn oán; Huống đương nhật long phi vân ám; cộng ta nhân sự vô thường, khả liên La Việt giang sơn, bách niên văn hiến phiền nhung mã;

Trang 34

Cổ kim thiên địa vô cùng, nhi lưu thủy, nhi cao phong, đồng thử đại trượng phu vũ trụ; Lam chi phong, Hồng chi tuyết, xung hàn vô nại bá tùng điêu; Vị hà tai hội quyết đồi ba, trung lưu để trụ, tinh

di vật hoán, hà nhân bất khởi cố viên tình? Cập thử lời nhạn tán phong xuy, kham thán thiên tâm mạc trợ, độc thử tùng mai khí tiết nhất tử tinh thần quán Đẩu Ngưu".

(Anh hùng thành bại kể chi? Dạ sắt son, lòng vàng đá, thề cùng các bạn giữ trước sau; Son mực

đúc khí tinh anh, trung hiếu hẹn hò cùng sử sách; ngao ngán nhẻ, lầu cao sắp đổ, một cột khó nâng; phòng vắng khói tan, liếc mắt non xanh thêm tức tối Và bây giờ rồng bay mây ám, xót xa việc thế không lường; Thương thay La Việt giang sơn, văn hiến trăm năm thành trận mạc.

Trời đất xưa nay thế mãi, đá dựng ngược, nước chảy xuôi, đó vẫn non sông phương tuấn kiệt; Lam Hồng nổi cơn bão tuyết, bách tùng úa rụng luống xông pha Đau đớn thay! Đê vỡ sóng vồ, giữa dòng trụ đứng; sao dời vật đổi, ngảnh đầu người cũ phải bôn chôn Đương lúc này gió thổi nhạn lìa, căm giận lòng trời cay nghiệt; riêng cảm Tùng Mai khí tiết, tinh thần một thác rạng trăng sao.)

Bản dịch của NGUYỄN Q THẮNG – NGUYỄN BÁ THẾ

Từ năm 1895 đến năm 2009, qua 114 năm, có lẽ câu đối của các văn thân đất Nghệ Tĩnh làm điếuPhan Đình Phùng là một trong những câu đối độc đáo , dài nhất, hàm súc nhất, một tuyệt tác nói lênđầy đủ về hoàn cảnh đất nước thời bấy giờ, về cuộc đời, sự nghiệp và tấm lòng của Phan Đình Phùngđối với nhân dân và đất nước Một tấm lòng của người anh hùng sáng ngời như trăng sao, sống mãicùng non sông đất nước

III ĐÁNH GIÁ

Phan Đình Phùng-con người tượng trưng cho long yêu nước.Đó là đánh giá của Chủ tịch Hồ ChíMinh, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại nói về cụ Phan Đình Phùng,người anh hùng của phong trào vũ trang yêu nước chống Pháp vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX

mà hôm nay chúng ta trang trọng tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày mất của Cụ

Trong bất kỳ thời đại nào của lịch sử dân tộc, chủ nghĩa yêu nước cũng là một động lực cho sự tồnvong và phát triển của đất nước Do đó kỷ niệm cụ Phan Đình Phùng, một con người tượng trưng cholòng yêu nước, chúng ta càng cảm nhận được sâu sắc ý nghĩa thiết thực của việc làm này Nhân dịpngày giỗ lần thứ 100 của cụ Phan Đình Phùng cũng là vào dịp sắp bước qua năm mới, xin chúc tất cảchúng ta sức khỏe, dốc lòng phấn đấu vì sự nghiệp chung của đất nước làm cho dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng và văn minh, khỏi phụ công ơn những bậc tiền bối đã từng chiến đấu và hy sinh cho

Tổ quốc như cụ Phan Đình Phùng

ĐỂ TÀI: CAO THẮNG

Trang 35

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thuấn Lớp: A3K18

I TIỂU SỬ

Cao Thắng (1864-1893) là một trợ thủ đắc lực của Phan Đình Phùng, và là một chỉ huy xuất sắctrong cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) trong lịch sử Việt Nam ở cuối thế kỷ 19 Cao Thắngsinh trưởng trong một gia đình nông dân ở Hàm Lại thuộc xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh HàTĩnh Mặc dù nhà nghèo nhưng Cao Thắng vẫn được đi học và luyện tập võ nghệ

Năm Giáp Tuất (1874), khi mới 10 tuổi, Cao Thắng đi theo Đội Lựu (Trần Quang Cán) làm liênlạc cho nghĩa quân mà triều đình Huế gọi là giặc Cờ Vàng Sau khi Đội Lựu chết, Cao Thắng lẩn trốn,được giáo thụ Phan Đình Thuật (anh ruột Phan Đình Phùng) đưa về nuôi.Năm 1881, khi ông Thuậtmất Cao Thắng trở về Sơn Lễ làm ruộng Năm Gíáp Thân (1884), Cao Thắng bị vu cáo là thủ phạmgiết vợ Quản Loan nên bị bắt và giam tại nhà lao Hà Tĩnh.Ngày 2 tháng 10 năm Ất Dậu (5 tháng 11

năm 1885), thủ lĩnh trong phong trào Cần vương là Lê Ninh đã đưa quân đến tập kích tòa thành trên,giết chết Bố chánh Lê Đại, bắt sống Án sát Trịnh Vân Bưu, và giải phóng tù nhân, trong đó có CaoThắng

II HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

1 Gia nhập lực lượng Hương Khê

Trở lại quê nhà, Cao Thắng cùng Cao Nữu (em ruột) và Nguyễn Kiểu (bạn thân) chiêu mộ đượckhoảng 60 người đồng chí hướng, rồi tất cả cùng tự nguyện đến tham gia cuộc khởi nghĩa Hương Khê

do tiến sĩ Phan Đình Phùng (người được vua Hàm Nghi giao trọng trách tổ chức phong trào kháng

Pháp ở Hà Tĩnh) làm thủ lĩnh.Về nhà ông cùng em ruột là Cao Đạt chiêu tập dân đinh khởi nghĩa rồigia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng, được cụ Phan hết sức tin cẩn giao cho chức Quản Cơ, mặc dùmới 21 tuổi nhưng Cao Thắng tỏ ra là một tướng tài được quân sĩ tin phục Năm 1887 Phan ĐìnhPhùng ra Bắc để liên kết các lực lượng chống Pháp, ông được trao quyền chỉ huy nghĩa quân Ông đãcho xây dựng một hệ thống đồn luỹ hình thành một thế trận liên hoàn, cũng chính vì thế những căn cứnày đã có thể giữ vững được cho đến ngày cuối cùng của cuộc khởi nghĩa (1896)

Ban đầu, Cao Thắng được phong làm Quản cơ Năm 1887, Cao Thắng cùng các chỉ huy khácnhư Cao Nữu, Cao Đạt, Nguyễn Niên, đem quân đến làng Lê Động (Hương Sơn) để tổ chức lại lựclượng, luyện quân, xây dựng hệ thống đồn lũy, rèn đúc vũ khí, Cuối tháng 9 năm 1889, Phan ĐìnhPhùng từ Bắc Kỳ trở về Hà Tĩnh Nhờ Cao Thắng và các chỉ huy khác, mà lực lượng lúc này đã cókhoảng ngàn lính và 500 khẩu súng kiểu Pháp và rất nhiều súng hỏa mai Nhận thấy trong công tácchuẩn bị, mọi mặt đều đã khá, Phan Đình Phùng và Cao Thắng bèn cho mở rộng địa bàn hoạt động ra

Trang 36

khắp bốn tỉnh là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình; làm cản trở con đường đi lại Nam và công cuộc thôn tính nước Việt của quân Pháp.

Bắc-Kể từ đó trở đi, Cao Thắng trở thành một trợ thủ đắc lực của thủ lĩnh Phan Đình Phùng, và làmột chỉ huy dũng cảm và xuất sắc của lực lượng Hương Khê Mặc dù bận rộn công việc điều hànhchung và rèn đúc vũ khí, nhưng Cao Thắng cũng đã tham dự một số trận đánh, và giành được thănglợi Thấy nghĩa quân Hương Khê ngày càng lớn mạnh, quân Pháp một mặt tăng cường càn quét, thuhẹp phạm vi hoạt động của quân, mặt khác tìm cách cắt đứt liên lạc giữa các quân thứ, và giữa nghĩaquân với nhân dân.Lúc đầu nghĩa quân cụ Phan rất thiếu súng đạn, quân ta chỉ có súng kíp, nạp đạn ởđằng nòng, bắn xong một phát lại phải nạp đạn lại, rất nhiêu khê và mất thì giờ Cao Thắng chỉ mong

có một khẩu súng của thực dân Pháp để học kiểu Thế rồi dịp may đã đến

2.Cao Thắng và những khẩu súng trường

Cao Thắng không những là một nhà chỉ huy quân sự đầy mưu lược, nhà chỉ đạo tổ chức thựctiễn tài giỏi mà còn là một người sáng tạo Nhận thức được vấn đề vũ khí có tác dụng rất lớn trongchiến tranh, vấn đề đặt ra đối với Cao Thắng là bằng mọi cách phải chế tạo được súng như của Tây

Từ đó ông cho tập trung thợ rèn Trung Lương, Vân Chàng, thợ mộc Xa Lang về Trường Sim mở lòrèn đúc súng theo kiểu 1874 của Pháp, Cao Thắng cho tập trung những thợ rèn giỏi ở trong vùng lại.Ông tự tay tháo một khẩu súng ra thành từng mảnh, xem xét kích thước, công dụng của từng bộ phận,rồi đốc thúc thợ rèn cứ theo đúng kích thước mà làm, nếu hỏng lại rèn lại cho đến kỳ được mới thôi.Súng của Cao Thắng giống của Pháp đến mức, sau này khi dẹp được cuộc khởi nghĩa của Phan ĐìnhPhùng, một số khẩu súng của nghĩa quân được đưa về Pháp, hai loại súng đó để gần nhau không thểphân biệt được.Chẳng bao lâu những kho vũ khí lớn như Khe Rèn, đồn Cây Khế ở Đại Hàm đã chứahàng trăm khẩu súng kiểu 1874 cùng rất nhiều đạn dược, súng bắn rất hiệu nghiệm và chỉ có nhượcđiểm là bắn không xa bằng súng Pháp do ruột gà ngắn và không có rãnh bên trong

Ta biết rằng, trong rừng sâu, thiếu thốn đủ thứ, lại bị phong tỏa bốn bề, nghĩa quân phải dùnggọng ô uốn lại mà làm ruột gà nên độ đàn hồi của lò xo không đủ mạnh Sắt thì cho người bí mật đicác chợ quê mua gom sắt vụn, cày hư, cuốc hỏng về rèn lại.Còn vỏ đạn thì góp nhặt những mâmđồng, nồi đồng, đập dẹp, dát mỏng mà cuốn lại Thật là một sự sáng tạo tuyệt vời Số súng này cộngthêm 150 khẩu súng kíp của nghĩa quân có từ trước thành 500 khẩu, quả là một hỏa lực mạnh trongbuổi đầu của nghĩa quân lúc bấy giờ

Nhờ tài năng tổ chức chỉ huy biết coi trọng cả hai mặt quân sự và chính trị của Cao Thắng nênvùng căn cứ địa Hương Khê, Hương Sơn được củng cố vững mạnh, từ đó làm bàn đạp để mở rộng địabàn hoạt động phá thế bao vây của địch Sau khi ở Bắc về cụ Phan, linh hồn của cuộc khởi nghĩa vàCao Thắng, rường cột của cuộc khởi nghĩa đã mở rộng vùng kháng chiến và phát triển lực lượng với

Trang 37

15 quân thứ và Cao Thắng được phong làm Chưởng vệ tức Tổng chỉ huy nghĩa quân Dưới quyền chỉhuy của Cao Thắng trong những năm 1889 – 1892 nghĩa quân căn bản giữ vững và phát triển đượclực lượng liên tục tấn công địch ở Thanh Chương, Anh Sơn (Nghệ An) khắp nơi ở Hà Tĩnh và cáccuộc càn quét của địch đều bị bẻ gãy Nhưng đến đầu năm 1893 sau khi đánh dẹp xong các cuộc khởinghĩa ở Bắc Kỳ, quân Pháp tập trung lực lượng khép vòng vây dồn nghĩa quân Hương Khê lên vùngrừng núi Một mặt chúng cắt đứt các đường tiếp tế lương thực mặt khác dùng kế ly gián dụ hàng, vòngvây của địch ngày càng khép chặt, để phá thế bao vây Cao Thắng đề nghị với Phan Đình Phùng một

kế hoạch táo bạo là đánh thẳng vào tỉnh thành Nghệ An đầu não chỉ huy của địch khai thông conđường ra Bắc Tuy nhiên trong một trận đánh ở Thanh Chương ( Nghệ An) vị tướng tài trẻ tuổi đã hysinh lúc 29 tuổi giữa lúc tài năng đang chín muồi đó là một tổn thất vô cùng to lớn của nghĩa quânHương Khê và phong trào chống Pháp ở Trung Kỳ, cụ Phan như mất cánh tay phải đắc lực của mình

3 Tử trận

Để phá thế bị bao vây và mở rộng địa bàn hoạt động, được thủ lĩnh Phan Đình Phùng đồng ý,

tháng 11 năm 1893, Cao Thắng cùng Cao Nữu, Nguyễn Niên đem khoảng một ngàn quân từ NgànTrươi mở trận tấn công lớn vào tỉnh lỵ Nghệ An Trên đường hành quân, nhiều đồn trại đối phương bịphá bỏ Nhưng trận tấn công đồn Nu (hay Nỏ) ở Thanh Chương, Cao Thắng trúng mưu của viên đồntrưởng tên Phiến.Lợi dụng cơ hội nghĩa quân bị mất người đứng đầu tài giỏi, quân Pháp tăng thêmbinh lực rồi siết chặt vòng vây Nghĩa quân Hương Khê cố gắng đánh trả những cuộc vây quét, nhưngthế lực của lực lượng ngày càng giảm sút

4 Đóng góp

Ở hạt Hà Tĩnh, trong khoảng 11 năm, nhiều người đã liều mạng đánh nhau với Pháp, vất vảtrăm trận đánh trở thành danh tướng một thời, trong số ấy nổi bật có Chưởng doanh nghĩa binh là CaoThắng, Thắng quả cảm, thiện chiến, thấy một cái súng tây mà có thể y theo kiểu chế tạo ra tinh xảokhông kém gì của Pháp Đánh nhau với Pháp, ông đã chém được đầu những quan một, quan hai củaPháp, quân Pháp đã phải khuyên nhau hễ gặp Thắng là phải tránh đi Giá mà trong nước có được mấytrăm ông Thắng thì người Pháp chả phải rút về Tây ư? Bằng sự tài trí hơn người của mình cùng với

sự sáng tạo, Cao Thắng đã thành công trong việc chế tạo được khẩu súng - một vũ khí vô cùng lợi hạicủa nghĩa quân lúc bấy giờ Ông là người có công đầu trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê và trở thànhanh hùng dân tộc Việt Nam

5 Sau khi hy sinh

Trang 38

Sau khi Cao Thắng mất, nghĩa quân Hương Khê thắng một trận lớn ở Vụ Quang (tháng 10 năm

1894), nhưng vẫn xoay chuyển được tình thế Tháng 12 năm 1895, thủ lĩnh Phan Đình Phùng cũng bị

tử thương trong một trận kịch chiến Đến đầu năm 1896, cuộc khởi nghĩa Hương Sơn mà Phan Đình Phùng, Cao Thắng và các tướng lĩnh khác đã dày công xây dựng kết thúc

Theo sử liệu thì di hài Cao Thắng được nghĩa quân đưa về chôn cất tại Ngàn Trươi (núi VụQuang) Hiện ở làng Khê Thượng, huyện Hương Khê có đền thờ ông, và tên ông cũng đã được dùng

để đặt tên cho trường học, đường phố tại nhiều tỉnh thành trên khắp nước Việt Nam.Cao Thắng ngườicon ưu tú của quê hương đã hiến trọn cuộc đời trẻ tuổi vì sự nghiệp của dân tộc, đó là một vị tướng trẻtuổi, nhà chỉ huy và tổ chức quân sự giỏi, một “ kỹ sư quân giới” một nhà sáng chế thông minh sángtạo Thân thế và sự nghiệp của Cao Thắng mãi mãi chói ngời trong trang sử anh hùng của dân tộcchống Pháp xâm lược cuối thế kỷ 19 Theo sử liệu thì di hài Cao Thắng được nghĩa quân đưa về chôncất tại Ngàn Trươi (núi Vụ Quang) Hiện ở làng Khê Thượng, huyện Hương Khê có đền thờ ông, vàtên ông cũng đã được dùng để đặt tên cho trường học, đường phố tại nhiều tỉnh thành trên khắp nước

Việt Nam

ĐỀ TÀI: HOÀNG HOA THÁM

Người thực hiện: Nguyễn Thị Bích Thuận Lớp: A3K18

Trang 39

I TIỂU SỬ

Hoàng Hoa Thám (1858 – 1913) hồi còn nhỏ tên là Trương Văn Nghĩa quê ở làng Dị Chế, huyệnTiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; sau di cư lên Sơn Tây (Hà Tây), rồi đến Yên Thế (Bắc Giang) Bố là TrươngVăn Thận và mẹ là Lương Thị Minh Sinh thời, bố mẹ Hoàng Hoa Thám đều là những người rất trọngnghĩa khí; cả hai ông bà đều gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhàn Nùng Văn Vân ở SơnTây

II CUỘC ĐỜI

Năm 16 tuổi, ông tham gia khởi nghĩa của Đại Trận (1870-1875) Khi Pháp chiếm Bắc Ninh(tháng 3 năm 1884) thì Hoàng Hoa Thám gia nhập nghĩa binh của Trần Quang Loan, lãnh binh BắcNinh Năm 1885, ông tham gia khởi nghĩa của Cai Kinh (Hoàng Đình Kinh) ở Lạng Giang (1882-1888) Sau khi Cai Kinh chết, ông đứng dưới cờ nghĩa Lương Văn Nắm (tức Đề Nắm) và trở thànhmột tướng lĩnh có tài Tháng 4 năm 1892, Đề Nắm bị thủ hạ Đề Sặt sát hại và Hoàng Hoa Thám trởthành thủ lĩnh tối cao của phong trào Yên Thế Đề Thám tiếp tục hoạt động, lập căn cứ ở Yên Thế vàtrở thành thủ lĩnh danh tiếng nhất của phong trào nông dân chống Pháp với biệt danh "Hùm xám YênThế" Trong gần 30 năm lãnh đạo đã tổ chức đánh nhiều trận, tiêu biểu là các trận ở thung lũng HốChuối (tháng 12 năm 1890) và Đồng Hom (tháng 2 năm 1892)

Trong ba năm (1893-1895) quân Pháp đã tập trung lực lượng để đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế,Pháp không từ một thủ đoạn nào, từ phủ dụ đến bao vây tàn sát Tay sai của Pháp là Lê Hoan cầm đầuđoàn quân, một mặt dụ hàng, mặt khác ra sức triệt hạ các xóm làng nơi nghĩa quân Yên Thế hoạtđộng

Hoa Thám bằng chiến thuật du kích tài tình đã tránh được mũi nhọn của quân Pháp và đã gâycho họ những tổn thất nặng nề Nghĩa quân Yên Thế đã trừng trị những kẻ phản bội như Đề Sặt Thấy chưa thể dập tắt được phong trào Yên Thế, nên vào năm 1894, Pháp đã yêu cầu giảng hòa, cắtnhượng cho nghĩa quân bốn tổng thuộc Yên Thế Hoàng Hoa Thám cũng muốn tranh thủ thời gian đểchuẩn bị thêm lực lượng, ông đồng ý hòa hoãn Nhưng chỉ vài tháng sau (đến tháng 10 năm 1895),Pháp đã bội ước, huy động lực lượng mở những cuộc tấn công trên quy mô lớn vào Yên Thế Pháptreo giải thưởng 30.000 franc cho kẻ nào bắt được Hoàng Hoa Thám Lần ra quân này của quân Phápcũng không đàn áp được phong trào nông dân Yên Thế, nên Pháp phải yêu cầu giảng hòa lần thứ haivào năm 1897

Trong hơn 10 năm hòa hoãn (từ tháng 12 năm 1897 đến ngày 29 tháng 1 năm 1909), nghĩa quânYên Thế đã có những bước phát triển mới: địa bàn hoạt động được mở rộng từ trung du đến đồngbằng, kể cả vùng Hà Nội Hoàng Hoa Thám tổ chức ra "đảng Nghĩa Hưng" và "Trung Chân ứng nghĩađạo" làm nòng cốt Đặc biệt, Hoàng Hoa Thám đã chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ngày 27 tháng 6 năm 1908

Trang 40

của binh lính yêu nước ở Hà Nội (gọi là vụ Hà thành đầu độc) Sự kiện này làm chấn động khắp cảnước Ngoài ra, Hoàng Hoa Thám xúc tiến việc xây dựng Phồn Xương thành căn cứ kháng chiến,đồng thời bí mật liên hệ với lực lượng yêu nước ở bên ngoài Nhiều sĩ phu như Phan Bội Châu, PhanChu Trinh, Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên đã gặp gỡ Hoàng Hoa Thám và bàn

kế hoạch phối hợp hành động, mở rộng hoạt động xuống đồng bằng

Ngày 29 tháng 1 năm 1909, Thống sứ Bắc kỳ đã huy động 15.000 quân chính quy và khố xanh,

400 lính dõng là một lực lượng lớn nhất từ trước tới lúc đó do đại tá Batay và đại thần Lê Hoan chỉhuy tổng tấn công vào căn cứ Yên Thế Đề Thám vừa tổ chức đánh trả, vừa phải rút lui khỏi Yên Thế,đến Thái Nguyên, Tam Đảo, nhưng con ông là Cả Trọng bị tử thương và con gái út là Trương Thị Thế

bị bắt Lực lượng nghĩa quân giảm sút dần và tới cuối 1909 bị tan rã Đề Thám phải sống ẩn náu trongnúi rừng Yên Thế cùng hai thủ hạ tâm phúc

Ông bị mắc mưu ba người Họ "trá hàng" với lời hứa sẽ bày cho nghĩa quân cách chế tạo bomtấn Tại một ngôi lều chạy loạn ở khu vực Hố Nấy, họ chuốc rượu say rồi giết Đề Thám cùng haithuộc hạ thân tín của ông Họ mang đầu ba ông ra Nhã Nam giao nộp cho Pháp Đó là ngày 10 tháng 2năm 1913 Thủ cấp của Đề Thám cùng thuộc hạ bị Pháp bêu ở cả Nhã Nam, Bắc Ninh để thị uy dânchúng

ĐỀ TÀI: BẠCH THÁI BƯỞI

Người thực hiện: Vương Đắc Tùng Lớp: A3K18

Ở nước ta, lịch sử đã ghi lại sự phát triển rất sớm của các ngành nghề thủ công nghiệp, tuy nhiên

đó chỉ là những ngành nghề thủ công quy mô nhỏ mà người quản lý thường là chủ gia đình Đến thời

Ngày đăng: 04/12/2013, 10:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đầu thế kỉ 20, sĩ phu Việt Nam đã chuyển hướng đấu tranh sang nhiều hình thức khác nhau, dù phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục tan rã nhưng các hạt nhân của nó đã ăn sâu vào lòng nhân dân Việt Nam. - Bài soạn Lịch sử Việt Nam P.3
u thế kỉ 20, sĩ phu Việt Nam đã chuyển hướng đấu tranh sang nhiều hình thức khác nhau, dù phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục tan rã nhưng các hạt nhân của nó đã ăn sâu vào lòng nhân dân Việt Nam (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w