Người có NLHVDS đầy đủ có quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự, có thể làngười đại diện theo PL hoặc ủy quyền cho hộ gia đình, tổ chức tham gia giao kết dân sự, có quyền định đoạt tài sả
Trang 1MỤC LỤC
niệm
2 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân 2.1 Khái niệm
2.2 Đặc điểm
2.3 Nội dụng
3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân 3.1 Khái niệm
3.2 Đặc điểm
3.3 Nội dung
4 Xắc định tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan hệ 5 pháp luật dân sự
6 Quyền nhân thân
7 Hộ tịch nơi cư trú của cá nhân 7.1 Hộ tịch
7.2 Nơi cư trú của cá nhân
8 Giám hộ 8.1 Khái niệm
8.2 Điều kiện của cá nhân để trở thành người giám hộ
8.3 Các hình thức giám hộ
8.4 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
8.5 Quản lý tài sản của người được giám hộ
8.6 Thay đổi và chấm dứt giám hộ
8.7 Giám sát việc giám hộ
Page
3
3 3 5
6 6 7 12 13 18 19 22
27
36
Trang 28.8 Hậu quả chấm dứt việc giám hộ
9 Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú Tuyên
Theo pháp luật dân sự Việt Nam, thì có sáu loại chủ thể của quan hệ pháp luật Dân sự.
Đó là: cá nhân, pháp nhân, các tổ chức, cơ quan công quyền, hộ gia đình và tổ hợp tác.Trong các loại chủ thể nêu trên thì con người, những thành viên của xã hội là chủ thể cóvai trò quan trọng nhất Khái niệm “cá nhân” trong pháp luật Dân sự Việt Nam đượcdùng để chỉ “con người”, là cách để phân biệt với chủ thể “pháp nhân”
Cá nhân bao gồm cả công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch, trong đó
công dân là loại chủ thể cá nhân chủ yếu của quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, để cóthể trở thành chủ thể thực sự của pháp luật Dân sự thì con người – hay gọi là “cá nhân”phải có năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi
2 NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
2.1 Khái niệm
Theo khoản 1 điều 14 của BLDS 2005 quy định: năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là khả năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự
Quyền dân sự là khả năng xử sự của người có quyền được pháp luật cho phép và được bảo vệ bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước VD: quyền tác giả, quyền
đối với hình ảnh
Trang 3Nghĩa vụ dân sự là cách xử sự của người có nghĩa vụ được pháp luật quy định VD:Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ
Như vậy, năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân là điều kiện cần để cá nhân có thểtham gia các quan hệ pháp luật Dân sự và trở thành chủ thể của quan hệ đó
2.2 Đặc điểm
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được nhà nước ghi nhận trong các văn bản
pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; vào hình thái kinh tế - xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là sự phản ánh địa vị pháp lý của cá nhân trong
xã hội được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật Địa vị pháp lý là thứ bậc
vị trí của cá nhân trong một xã hội có nhà nước , địa vị đó do nhà nước quy định màthông qua đó các cá nhân được hưởng những quyền nhất định Được ghi nhân từ điều
14 đến điều 16 BLDS 2005
2 Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự
Khoản 2 điều 14 BLDS quy định: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự nhưnhau” , không phân biệt tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội…nói cách khác , mọi cánhân đều có khả năng như nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự, không bị hạn chế bởi bất
cứ lí do nào
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không đồng nghĩa với quyền dân sự chủ quancủa cá nhân mà chỉ là tiền đề để cho công dân có các quyền dân sự cụ thể Tuy nhiên,chủ thể không có khả năng hưởng quyền thì cũng không thể có quyền dân sự cụ thểđược
Các cá nhân bao gồm cả công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch đều có thểtham gia các quan hệ pháp luật dân sự khác nhau Tuy nhiên, mỗi loại chủ thể cá nhântùy theo năng lực pháp luật của mình chỉ có thể tham gia vào một số quan hệ pháp luậtnhất định
Trang 43 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính không thể tách rời , nó phát sinh vào thời điểm người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết ( khoản 3 điều 14
BLDS 2005)
Mặc dù năng lực dân sự cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đóchết (Khoản 3 điều 14 ) nhưng có một số trường hợp được pháp luật quy định ngườichưa sinh ra (bào thai) đã được hưởng một số quyền dân sự nhất định
VD: theo điều 635 BLDS 2005: người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống và thờiđiểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thànhthai sau khi người để lại di sản chết
4. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không phụ thuộc vào độ tuổi, khả năng
nhận thức, lý trí… mà nó gắn bó suốt đời mỗi cá nhân từ khi sinh ra cho đến khi chết
đi VD: một người cho dù bị mất năng lực hành vi dân sự, thì họ vẫn có các quyền đối
với họ tên, xắc định giới tính, quyền sở hữu tài sản,
5. Điều 16 BLDS 2005 quy định: “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không hề
bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định”
Mọi giao dịch dân sự nhằm mục đích hạn chế hoặc hủy bỏ năng lực pháp luật dân sựcủa cá nhân đều bị xem là vô hiêu, trừ trường hợp pháp luật quy định Có 2 trường hợp
- Quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 5VD: tòa án ra quyết định cấm cư trú đối với một người nào đó trong khoảng thời gianxác định Tuy nhiên đây không phải là tước bỏ năng lực pháp luật dân sự mà chỉ là tạmđịnh chỉ khả năng này Việc hạn chế này chỉ đối với một số quyền cụ thể mà không phải
là năng lực pháp luật dân sự nói chung
*Tính bảo đảm của năng lực pháp luật dân sự
Khả năng có quyền và nghĩa vụ vẫn chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp luậtquy định cho các chủ thể Để biến những “khả năng” này thành các quyền dân sự cụthể cần phải có những điều kiện khách quan cũng như chủ quan Những điều kiệnkhách quan là những điều kiện kinh tế, xã hội, những chính sách của Đảng và Nhà nướcthực hiện trong từng giai đoạn cụ thể Thiếu những điều kiện kinh tế, pháp lý này, cácquyền đó vẫn chỉ tồn tại dưới dạng “khả năng” mà không thể thành những quyền dân sự
cụ thể được Nhà nước ta đang thực hiện đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa tạo những điều kiện thuận lợi để pháthuy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế nhằm đáp ứng ngày càng cao những nhucầu của nhân dân Đây là những cơ sở chính trị, kinh tế, pháp lý quan trọng nhằm pháphuy hiệu quả của nền kinh tế thị trường đồng thời hạn chế những mặt trái của nó Nhànước tạo mọi điều kiện để đảm bảo năng lực pháp luật dân sự của công dân được thựchiện , biến những “khả năng” đó trở thành thực tế Tạo ra hành lang pháp lí thôngthoáng , mềm dẻo là tạo điều kiện cho khả năng biến năng lực pháp luật của cá nhânthành các quyền năng dân sự cụ thể
2.3 Nội dung
Điều 15 BLDS 2005 quy định nội dung NLPLDS của cá nhân, theo đó cá nhân có cácquyền và nghĩa vụ như sau :
1- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản
Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho ngườikhác trừ trường hợp pháp luật quy định
Trang 6Quyền nhân thân được quy định từ điều 24 đến 52 BLDS 2005 Theo đó, quyền nhânthân được chia làm 2 nhóm :
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản như quyền đối với họ tên, hình ảnh,
quyền xác định giới tính, quyền giữ bí mật về đời tư, danh dự nhân phẩm…
- Quyền nhân thân gắn với tài sản là những quyền có thể mang lại lợi ích vật
chất nhất định cho các cá nhân như quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ…
Cá nhân không được lạm dụng quyền nhân thân để xâm phạm tới lợi ích nhà nước,cộng đồng, quyền và lợi ích của cá nhân khác
BLDS 2005 có chế tài bảo vệ các nhân thân : Yêu cầu người có hành vi vi phạm hoặcyêu cầu tòa án buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm quyềnnhân thân, xin lỗi, cải chính công khai, hoặc phải bồi thường thiệt hại về vật chất vàtinh thần
2- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.
Quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện
các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những trường hợp nhất định.
Quyền sở hữu là một trong những quyền đặc biệt quan trọng của cá nhân vì thông qua
đó cá nhân có thể thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình Các cá nhân cóquyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp của chính mình và được pháp luật tôn trọng, bảovệ
Cá nhân có quyền để lại di sản cũng như hưởng di sản thừa kế theo di chúc và theo quy định của pháp luật.
Tại điều 16-1 chương II thiên thứ I của BLDS pháp có ghi: cơ thể người, các bộ phận
cơ thể người và sản phẩm từ cơ thể người không thể trở thành đối tượng của quyền tàisản Điều này trong quyền nhân thân gắn với tài sản không được đề cập đến Hay nhữngvấn đề về ADN hay biến đổi gen, không được phép mang thai hộ được trình bày rõtrong BLDS pháp thì trong BLDS Việt Nam trước nay chưa có nói tới nên quyền cá
Trang 7nhân của con người tuy rộng nhưng con người vẫn không có pháp luật điều chỉnh chonhững vấn đề trên, xã hội con người chưa thể phát triển toàn diện.
BLDS Việt Nam tuy có chịu sự ảnh hưởng của những bộ luật trước hay của những nướcphát triển khác như Pháp, Nhât nhưng do sự phát triển của đất nước, sự tiến bộ củacon người, xã hội nên chưa thể phát huy, theo kịp được luật pháp các nước
3- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua các giao dịch qua lại là biện phápquan trọng và thông dụng nhất làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự Các quyền nàyđược thể hiện trong nguyên tắc của luật dân sự “ tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận”
và được thể hiện cụ thể trong phần thứ 3 của BLDS
Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự của chủ thể còn phát sinh từ các căn cứ khác: bồi thường thiệthại, thực hiện công việc không có ủy quyền
Điều 15 quy định các nội dung chung nhất, chủ yếu nhất của NLPLDS là các quyền dân
sự mà chủ thể là cá nhân Phù hợp với quan niệm pháp luật dân sự hiện đại, BLDS coiquyền và cả nghĩa vụ dân sự là những nội dung hợp thành NLPLDS Quyền nhân thân
và quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là quyền thực tế; còn quyền thừa kế, quyềntham gia quan hệ dân sự là những quyền tạo căn cứ phát sinh những quyền thực tế khác
Ví dụ quyền được mua, bán, thuê nhà tạo tiền đề có quyền sở hữu, quyền sử dụng ngôinhà mua được, thuê được
3 NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
3.2 Đặc điểm: NLHV DS ở các cá nhân khác nhau là khác nhau
Trang 8 Năng lực hành vi thể hiện qua :
- Khả năng thực hiện quyền
- Khả năng thực hiện nghĩa vụ
Năng lực hành vi có 3 đặc điểm:
- Tính điều kiện
NLHVDS của cá nhân không mặc nhiên xuất hiện khi cá nhân được sinh ra NLHVDScủa cá nhân chỉ có được khi đáp ứng những điều kiện nhất định Theo BLDS2005, dựatrên những điều kiện nhất định mà một cá nhân có thể có NLHVDS đầy đủ , một phần,NLHVDS bị hạn chế hoặc không có NLHVDS
Các điều kiện để một cá nhân có NLHVDS bao gồm:
Trang 9+ Đối với những người có quyền, lợi ích liên quan đến người có NLHVDS một phần,NLHVDS hạn chế: đảm bảo quyền , lợi ích liên quan của họ đến người có NLHVDSmột phần, NLHVDS hạn chế, tránh sự phá tán tài sản chung của gia đình
BLDSVN 2005 đã quy định về các mức năng lực hành vi dân sự như sau:
Người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
Người có năng lực hành vi không đầy đủ
Người không có năng lực hành vi dân sự
Người mất năng lực hành vi dân sự
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Xét theo độ tuổi thì điều 18 BLDS 2005 quy định “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên làngười thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên.”
Người có đủ NLHVDS
Cá nhân có NLHVDS đầy đủ khi đã phát triển đến mức độ hoàn chỉnh về trí tuệ, thểchất, y học, tâm lý học, sinh lý học và các ngành học liên quan đã chứng minh thôngthường con người đạt được sự phát triển này khi đã thành niên đủ 18 tuổi, người dưới
18 tuổi chưa đạt được sự phát triển này nên chưa coi là người thành niên Điều 18BLDS quy định: “người đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi làngười chưa thành niên”
Việc xác định một người thành niên hay chưa là rất quan trọng, vì chỉ có ngườithành niên mới là người có NLHVDS đầy đủ, trừ trường hợp có quyết định của tòa ántuyên bố người đó mất, hạn chế NLHVDS Việc xác định này cũng cần phải chính xác
Trang 10VD: một cá nhân sinh ngày 10/10/1992 thì 18 năm sau đến ngày 10/10/2010 cá nhân đómới được coi là người đủ 18 tuổi, là người thành niên.
Người có NLHVDS đầy đủ là người thành niên (người đủ 18 tuổi trở lên) vàkhông mắc bệnh tâm thần và các bệnh khác làm cho người đó không có khả năng nhậnthức và làm chủ hành vi dân sự của mình, hoặc không bị tòa án tuyên bố là bị hạn chếNLHVDS
Người có NLHVDS có đầy đủ tư cách chủ thể, có quyền tham gia vào các quan
hệ PLDS với tư cách chủ thể độc lập, tự chịu trách nhiệm về những hành vi của bảnthân và trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà người đó tham gia
Người có NLHVDS đầy đủ có quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự, có thể làngười đại diện theo PL hoặc ủy quyền cho hộ gia đình, tổ chức tham gia giao kết dân
sự, có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình…
So sánh với bộ luật dân sự Pháp ta thấy có một số điểm khác biệt :
Chương III Thiên thứ X có quy định về trường hợp “Có năng lực hành vi đầy đủ khi chưa đến tuổi thành niên”
- Trường hợp người chưa thành niên không còn cả cha lẫn mẹ thì cũng có thể được công nhận là có năng lực hành vi đầy đủ theo thủ tục trên, theo yêu cầu của hội đồng gia tộc.
Trang 11Khi người chưa thành niên được công nhận là có đầy đủ năng lực hành vi thì được phép xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự như người thành niên, sẽ không còn chịu
sự quản lý của cha và mẹ.
Tuy nhiên, đối với việc kết hôn hoặc nhận làm con nuôi người khác, người chưa thành niên đó vẫn phải tuân theo các quy định như trường hợp chưa có năng lực hành vi đầy đủ,và họ không được làm thương nhân.
Như vậy, có thể thấy BLDS Pháp quy định rất rõ ràng và đầy đủ các năng lựchành vi dân sự của người chưa thành niên khi kết hôn hoặc khi được công nhận có nănglực hành vi đầy đủ Bộ luật dân sự của Việt Nam còn nhiều hạn chế so với các nướckhác
Người có NLHVDS một phần
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầusinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác (theo khoản
1 điều 20 BLDS 2005 của Việt Nam)
Đây là nhóm đối tượng thuộc độ tuổi chưa thành niên có thể thực hiện một số giao dịch
có sự đồng ý của người đại diện( cha, mẹ hoặc người giám hộ.)
Phần lớn giao dịch của nhóm đối tượng này có đặc điểm:
- Có giá trị nhỏ
- Phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, học tập hàng ngày
- Giao dịch tức thời, chủ yếu là hợp đồng mua bán trao đổi
- Một số trường hợp giao dịch mang tính chất dài hạn như hợp đồng may đo quầnáo
Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sảnriêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp phápluật có quy định khác.(khoản 2 điều 20 BLDS 2005 VN)
Trang 12VD: một người đủ 16 tuổi và có có đủ số tiền mua 1 chiếc áo thì anh ta không cần có sựđồng ý của ai để có thể mua cho mình 1 cái áo
Nhìn chung lứa tuổi này đang dần hoàn thiện về trí tuệ, thể chất để có thể thựchiện một số giao dịch
Người không có NLHVDS
Người không có năng lực hành vi là những người chưa đủ 6 tuổi thuộc độ tuổi chưa
thành niên do người đại diện theo pháp luật xác lập có thể là cha mẹ hoặc người giámhộ
Theo điều 21 BLDS 2005 của Việt Nam thì ”Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lựchành vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diệntheo pháp luật xác lập, thực hiện.”
Những người chưa đủ 6 tuổi hoàn toàn không có năng lực hành vi dân sự Để bảo vệquyền và lợi ích của họ luật quy định người không có khả năng tự mình thực hiện cácquyền và nghĩa vụ dân sự nhất thiết phải được đại diện trong quá trình xác lập và thựchiện các quyền và nghĩa vụ đó
Tuy nhiên từ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống thì hơi bất tiện nếu như mọi giao dịch nhỏ của trẻ em luôn đi kèm với bố mẹ.
Trang 13Người bị tòa án quyết định mất NLHVDS phải có người giám hộ (khoản 1, điều
22 BLDS 2005) người giám hộ đương nhiên của người mất NLHVDS được quy địnhtại điều 62 BLDS2005 Trong trường hợp không có người giám hộ đương nhiên thìUBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị cử một tổchức đảm nhiệm việc giám hộ
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất NLHVDS thì theo yêu cầu củachính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án quyết định hủy bỏtuyên bố mất NLHVDS
Như vậy, một người mất NLHVDS hay không phải có kết luận của tổ chức giámđịnh có thẩm quyền và bị tòa án ra quyết định tuyên bố mất NLHVDS dựa trên yêu cầucủa người có quyền và lợi ích liên quan
Hậu quả pháp lý: mọi giao dịch dân sự của người này đều do người đại diện hợp phápxác lập và thực hiện
Người bị hạn chế NLHVDS
Theo điều 23 BLDS 2005 thì người bị hạn chế NLHVDS là người nghiện ma túy,nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và theo yêu cầu củangười có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyếtđịnh tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vidân sự và phạm vi đại diện Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giaodịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày để trách sự tổn thất do những ngườinày mang lại
Người đại diện không được thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản củangười được đại diện, trong trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch có liên quanđến tài sản có giá trị lớn của người được đại diện thì phải được sự đồng ý của ngườigiám sát người giám hộ
Trang 14Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theoyêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổchức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành
vi dân sự
Tuy nhiên vẫn còn một số thiếu sót trong bộ luật này :
- Nếu những người không nghiên ma túy, không nghiên các chất kích thích khácnhưng thường xuyên phá tán tài sản của gia đình và của người khác thì tòa án có thể raquyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay không?
- Bộ luật không quy định về việc hạn chế năng lực hành vi dân sự của người có khuyết tật
So sánh với bộ luật dân sự Pháp ta thấy
Bộ luật dân sự pháp quy định thêm về những trường hợp đặc biệt mà pháp luật sẽ bảo hộ:
- Nếu người thành niên mà năng lực hành vi bị biến đổi khiến cho người đó lâm vào tình trạng không thể tự mình thực hiện các quyền của mình thì được pháp luật bảo
hộ khi thực hiện những hành vi cụ thể hoặc được pháp luật bảo hộ liên tục.
Người thành niên do hoang phí, do lối sống vô độ hoặc do lười biếng mà rơi vào cảnh nghèo túng hoặc không đảm bảo được việc thực hiện các nghĩa vụ gia đình cũng có thể chịu sự bảo hộ của pháp luật.(điều 488 bộ luật dân sự Pháp)
- Nếu khả năng về tinh thần của người đó bị suy giảm do bệnh tật, do tật nguyền hoặc tuổi tác thì những quyền lợi của người đó được bảo đảm bằng một trong những chế độ bảo hộ(điều 490 bộ luật dân sự Pháp)
=> bộ luật dân sự Pháp đã quy định rõ ràng hơn về những trường hợp bị hạn chế vàmất NLHV dân sự
4 XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH CHỦ THỂ CỦA CÁ NHÂN TRONG CÁC QUAN
HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
Trang 15Việc xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan hệ pháp luật Dân sự dựa trên
cơ sở năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự
NLPL và NLHVDS không phải là những thuộc tính tự nhiên của con người mà xuấthiện trên cơ sở quyết định của pháp luật, phụ thuộc vào ý chí nhà nước trong từng giaiđoạn phát triển của xã hội
NLPL và NLHVDS tạo thành chủ thể quan hệ pháp luật, là những thuộc tính pháp lý cómối quan hệ chặt chẽ với nhau Chủ thể pháp luật chỉ có NLPL mà không có NLHV thìkhông thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
NLPL là điều kiện cần, NLHV là điều kiện đủ cho cá nhân có thể tham gia quan hệpháp luật
Tuy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng giữa NLPL và NLHVDS của cá nhân cógiới hạn rõ nét:
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân không có ngay khi cá nhân sinh ra mà phải đạtđến độ tuổi nhất định (6 tuổi) mới bắt đầu có năng lực hành vi dân sự
- Pháp luật ghi nhận mọi công dân có năng lực pháp luật dân sự như nhau Bộ luật dân
sự quy định "mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau nghĩa là có tínhbình đẳng về năng lực pháp luật dân sự giữa các cá nhân"
- Năng lực hành vi dân sự (của các cá nhân khác nhau là khác nhau) của cá nhân là
cá nhân tự tạo ra quyền, tự tạo ra nghĩa vụ, tự thực hiện các quyền và tự gánh chịu tráchnhiệm về hành vi của mình nên pháp luật không công nhận sự bình đẳng về năng lựchành vi Năng lực hành vi của cá nhân phụ thuộc vào độ tuổi khả năng nhận thức, khảnăng làm chủ hành vi
Trang 16 Vị trí, vai trò trong năng lực chủ thể
- Năng lực pháp luật dân sự là điều kiện "cần" để cá nhân tham gia vào các quan hệ dân
sự Năng lực hành vi dân sự là điều kiện đủ
- Năng lực pháp luật dân sự mới là khả năng hưởng quyền còn năng lực hành vi dân sự
là "cầu nối" giữa năng lực pháp luật dân sự và quyền dân sự hiện thực hoá các nội dungcủa năng lực pháp luật dân sự
Liên quan đến NLPL cá nhân, BLDS đã quy đinh một số trường hợp ngoại lệ trongquan hệ thừa kế Người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thànhthai trước khi người để lại di sản chết thì được xác định là người thừa kế
Cá nhân chỉ có thể tự mình, tức là bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,nghĩa vụ dân sự khi cá nhân đó là người thành niên, tức là người từ đủ 18 tuổi trở lên
mà không bị mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS
Đối với người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sựphải được người địa diện theo pháp luật đồng ý, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhucầu sinh hoạt hành ngày phù hợp với lứa tuổi
Đối với trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tại sản riêng bảo đảmthực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần
có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác VD: theo Điều 652 khoản 2, di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 phải đượclập thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý
Mọi giao dịch của người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất NLHVDSđều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân có hàng loạt các dấu hiệu vàthuộc tính tự nhiên và xã hội mà trên cơ sở đó, phân biệt các cá nhân với nhau và đồngthời có ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của cá nhân đó Các thuộc tính đó là: họ tên, quốc
Trang 17tịch, độ tuổi, tình trạng gia đình,… Từ những thuộc tính này, luật quy định mỗi ngườitham gia vào quan hệ pháp luật với một tên (họ), nhất định (nhân danh mình) với quốctịch, độ tuổi và giới tính đã xác định Các thuộc tính này được xác định ngay từ khi sinh
ra cùng với việc đăng kí khai sinh
Các thuộc tính này gắn với nhân thân cá nhân và được pháp luật ghi nhận, trở thành cácquyền nhân thân của mỗi con người
Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong
Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho ngườikhác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Quyền nhân thân là một khái niệm pháp lý chỉ quyền năng dân sự của cá nhân đượcpháp luật ghi nhận.Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật dân sự là cụ thể hóaquyền con người đã được quy định trong Hiến Pháp năm 1992.Quyền nhân thân gắnliền với những giá trị tinh thần của con người và về nguyên tắc không thể chuyển giaocho người khác
BLDS Việt Nam năm 1995 đã ghi nhận các quyền nhân thân của cá nhân và các quyềnnày được kế thừa, phát triển trong BLDS năm 2005 Quyền nhân thân là một khái niệmpháp lý chỉ quyền năng dân sự của cá nhân được pháp luật ghi nhận.Quyền nhân thânđược quy định trong bộ luật dân sự là cụ thể hóa quyền con người đã được quy địnhtrong Hiến Pháp năm 1992 Một xã hội càng tiến bộ, phát triển bao nhiêu thì quyềnnhân thân của cá nhân càng được pháp luật tôn trọng và mở rộng bấy nhiêu Cùng với
sự phát triển của đất nước, quyền nhân thân của cá nhân cũng ngày càng được côngnhận và bảo vệ cao hơn trong pháp luật Việt Nam Từ Bộ luật Dân sự 1995 đến BLDS
2005, pháp luật đã mở rộng thêm quyền nhân thân của cá nhân từ 20 quyền lên thành 26quyền nhân thân trong đó bổ sung thêm các quyền như quyền hiến bộ phận cơ thể;quyền hiến xác, hiến các bộ phận trên cơ thể sau khi chết; quyền nhận bộ phận cơ thểngười; quyền xác định lại giới tính… Có thể nói đây là những cơ sở pháp lý quan trọngtrong việc tôn trọng và bảo vệ quyền nhân thân của con người Tuy nhiên các quyền
Trang 18này chỉ được thực hiện trong y học, khám chữa bệnh mà không mang mục đích kinhdoanh, thương mại, tránh tình trạng biến các bộ phận cơ thể người thành hàng hóa.Chúng ta có thể thấy những quyền nhân thân mới được bổ sung vào bộ luật Dân sự
2005 đã xuất hiện trong BLDS Pháp:
Điều 16-3:
“Chỉ được phép xâm phạm đến tính toàn vẹn của cơ thể người trong trường hợp cần
thiết (Luật số 99-641 ngày 27-7-1999, Điều 70) vì mục đích “chữa bệnh” cho người
đó
Hoạt động trên phải được sự đồng ý trước của người đó, trừ trường hợp tình trạng củangười đó đòi hỏi phải tiến hành liệu pháp chữa trị nhưng người đó không thể đưa ra ýkiến đồng ý.”
Điều 16-1:
“Cơ thể người, các bộ phận cơ thể người và sản phẩm từ cơ thể người không thể trở
thành đối tượng của quyền tài sản”
Các quyền nhân thân trên trong BLDS Pháp về tổng quan đều nói về vấn đề tôn trọng
cơ thể người nhằm bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trước và saukhi chết Ở Việt Nam xuất phát từ tình hình thực tế mà đưa ra quy định cho phù hợpnhư quyền xác định lại giới tính…
Thừa nhận quyền hiến xác; hiến và nhận các bộ phận cơ thể
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, để duy trì sự sống, rất nhiều người bệnh cầnphải thay hay ghép một số bộ phận cơ thể (ví dụ như thay thận, ghép gan…) nên Điều
33 và 34 của BLDS đã cho phép cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mìnhkhi còn sống, hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữabệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Việc Nhà nước ta thừa nhận hành vinày và xây dựng cơ chế pháp luật để điều chỉnh nó cũng là một hình thức đấu tranh cóhiệu quả chống tình trạng sử dụng các bộ phận người vì mục đích thương mại đangmanh nha xuất hiện
Trang 19Song song với điều đó là quy định “cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của ngườikhác chỉ để chữa bệnh cho mình” Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là quyền hiến bộ phận cơthể người, quyền hiến xác, quyền hiến bộ phận cơ thể sau khi chết và quyền nhận bộphận cơ thể người không phải là quyền tự do không giới hạn Luật nêu rõ: Việc nhận,
sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại bị nghiêm cấm
Hóa giải mâu thuẫn giữa luật và tập quán
Yêu cầu của việc thực hiện các phẫu tích trên tử thi trong ngành y luôn là cấp báchnhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứu, chữa bệnh Nhưng thực tế vẫn đi ngược lạimong muốn của ngành, vì việc mổ tử thi là vấn đề nhạy cảm và mang nhiều yếu tố tâmlinh đối với người á Đông Đối với quyết định cho phép mổ tử thi cần phải được sựđồng ý của cha mẹ, người giám hộ của người quá cố Hơn nữa, khái niệm “người thânthích” được quy định tại khoản 5 Điều 32 BLDS năm 1995 lại có thể hiểu theo nghĩa rấtrộng và chưa có văn bản nào giải thích cụ thể nên vừa gây khó khăn, ách tắc cho ngành
y và cả với những gia đình có yêu cầu
Để khắc phục bất cập, khoản 4 Điều 32 BLDS mới đã quy định các trường hợp cụ thểđược phép giải phẫu tử thi như sau:
“Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;
b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khikhông có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;
c) Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp
Giới tính - chỉ được xác định lại, không được chuyển đổi
Việc chuyển đổi giới tính là vấn đề mới và rất phức tạp về mặt xã hội, mới chỉ xảy rarất ít trường hợp, chưa có tính phổ biến và chưa phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ởnước ta hiện nay Do đó, cần phải có thời gian để tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thêmkinh nghiệm các nước khác trên thế giới và khu vực
Trang 20Tuy nhiên, từ thực tiễn là trong thời gian gần đây, một số nơi ở nước ta (ví dụ nhưTP.HCM) có nhiều cuộc phẫu thuật nhằm xác định lại giới tính dẫn đến một yêu cầubức xúc về việc phải có pháp luật điều chỉnh về vấn đề này Đáp ứng thực tiễn đó, Điều
36 BLDS đã quy định về việc xác định lại giới tính như sau:
“Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính Việc xác định lại giới tính của mộtngười được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinhhoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về
Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật”
Như vậy, BLDS quy định việc xác định lại giới tính của một người chỉ được thực hiện
trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác, cần có sự can thiệp của y học để xác định rõ, chứ không quy định quyền
thay đổi giới tính Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế và truyền
Kèm theo việc xác định lại giới tính, việc thay đổi họ tên của cá nhân sau khi giới tính
đã thay đổi (ví dụ như từ nam chuyển sang thành nữ) là nhu cầu thực tế và chính đáng,nhằm tránh gây nhầm lẫn trong cuộc sống Từ đó, BLDS đã bổ sung quyền thay đổi họ,tên trong trường hợp cá nhân đã thay đổi giới tính tại điều 27 như sau: Cá nhân cóquyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trongtrường hợp cá nhân đó đã được xác định lại giới tính
Căn cứ vào nội dung các quyền nhân thân, quyền nhân thân của cá nhân có thể đượcphân loại thành hai nhóm là quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân khônggắn với tài sản Phân loại này được thể hiện tại khoản 1 Điều 15 BLDS 2005
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản (phi tài sản)
Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được quy định từ Điều 26 đến Điều 51BLDS 2005 Các quyền nhân thân không gắn với tài sản này được công nhận đối vớimọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh
Trang 21kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó Các quyền nhân thân này thể hiện giátrị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người
đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác như quyền đối với họ tên, hình ảnh, quyền xác định giới tính, quyền giữ bí mật về đời tư, danh dự, nhân phẩm,…
Ngược lại, các quyền nhân thân gắn với tài sản chỉ được xác lập cùng với sự hình thànhcủa một tài sản vô hình (như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, kiểudáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, …) Đây là quyền nhânthân của chủ thể đối với tài sản vô hình mà người đó sáng tạo ra Các quyền nhân thânnày được quy định tại khoản 2 Điều 738 và mục a khoản 1 Điều 751 BLDS 2005.Trong số các quyền này có một quyền có thể chuyển giao được sang cho chủ thể khác –
đó là quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm theo quy định tạiKhoản 1 Điều 742 BLDS 2005: “Công bố hoặc cho phép người khác công bố tácphẩm”
Quyền nhân thân mang những giá trị xã hội và có những đặc điểm nhất định :
1 Quyền nhân thân thuộc về cá thể từ khi sinh ra hoặc do pháp luật quy định Trongthực tế tất cả mọi người đều có quyền này Đây là một đặc điểm khác biệt để phân biệtquyền nhân thân và quyền tài sản Theo pháp luật, các quyền tài sản như quyền sở hữuthì tất cả mọi người đều có quyền sở hữu nhưng trên thực tế nhiều người không cóquyền này Quyền nhân thân được quy định như một thực tế chứ không phải sự thể hiệncủa “khả năng” dân sự
2 Quyền nhân thân không nằm trong tài sản của cá nhân Tài sản ở đây được hiểu làcác vật mặc định hoặc tiền, các giấy tờ khác
3 Quyền nhân thân về nguyên tắc không thể bị định đoạt và vì vậy không thể chuyểnnhượng Đây là một vấn đề khá phức tạp trong lý thuyết về quyền nhân thân Thôngthường, một quyền không thể bị định đoạt có nghĩa là không thể là đối tượng giao dịch
Trang 22Tuy nhiên, có quyền nhân thân thành quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhânthân phi tài sản.
4 Về nguyên tắc, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, trừ trườnghợp theo quy định của pháp luật
5 Quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của pháp luật khá đa dạng nên hành vixâm phạm đến quyền nhân thân cũng khá đa dạng dưới những hình thức, mức độ khácnhau Để bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân có hiệu quả ngoài việc sử dụng nhiềuphương thức bảo vệ khác nhau còn phải áp dụng các biện pháp bảo vệ khác nhau nhưbiện pháp xử lý hành chính, biện pháp xử lý hình sự, biện pháp dân sự, biện pháp xử lý
kỷ luật Trong các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân đó thì biện pháp dân sự là mộttrong các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả và được áp dụng phổ biến nhất.Các biện pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân trong trường hợp bị xâm phạm được quyđịnh trong pháp luật dân sự Theo quy định tại Điều 25 BLDS thì cá nhân có quyềnnhân thân bị xâm phạm được áp dụng các biện pháp dân sự sau để bảo vệ quyền nhân
thân của mình như tự cải chính; yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi
vi phạm; yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.
Tự mình cải chính là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm được
áp dụng trong trường hợp người có hành vi trái pháp luật đưa ra những tin tức khôngđúng xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân Đây là biện pháp cho phép người
có quyền nhân thân bị xâm phạm kịp thời bảo vệ quyền nhân thân của mình, hạn chếđược hậu quả thiệt hại cả về vật chất và tinh thần do những tin tức không đúng ra gâyra
Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm là biện pháp bảo vệ quyền nhânthân của cá nhân có thể áp dụng trong mọi trường hợp quyền nhân thân bị xâm phạm
So với biện pháp tự cải chính thì biện pháp này được áp dụng trong một phạm vi rộng
Trang 23hơn Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này thông thường chỉ có hiệu quả trong trườnghợp người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân sớm nhận thức được hành vi trái phápluật của họ Nếu người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân không nhận thức đượchành vi trái pháp luật của họ thì người có quyền nhân thân bị xâm phạm phải áp dụngbiện pháp bảo vệ khác mới bảo vệ được quyền nhân thân của mình.
Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạmcũng là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân có thể áp dụng trong mọi trườnghợp quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm Đây là biện pháp bảo vệ quyền nhânthân có hiệu quả vì sau khi nhận được yêu cầu thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ ápdụng các biện pháp đủ mạnh do pháp luật quy định buộc người có hành vi trái pháp luậtxâm phạm đến quyền nhân thân chấm dứt hành vi đó Trên thực tế, biện pháp nàythường được người có quyền nhân thân bị xâm phạm áp dụng trong trường hợp đã yêucầu chấm dứt hành vi trái pháp luật nhưng không được đáp ứng Trong các cơ quan Nhànước áp dụng biện pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án là cơquan có nhiệm vụ, quyền hạn bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân chủ yếu và trongviệc áp dụng biện pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án áp dụng
có hiệu quả nhất Tuy nhiên, bảo vệ quyền nhân thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệđược tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và đòi hỏi người có quyền nhân thân bịxâm phạm yêu cầu Tòa án bảo vệ phải chứng minh được quyền nhân thân của mình,hành vi xâm phạm quyền nhân thân của họ là trái pháp luật
Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩmquyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại là biện pháp bảo vệ quyền nhân thânđược thực hiện khi người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của
cá nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho họ Nếu có hành vi trái pháp luậtxâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thầnthì cá nhân có quyền nhân thân bị xâm có quyền yêu cầu người có hành vi trái pháp luậtbồi thường thiệt hại
Trang 24Nếu người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân khôngchịu bồi thường thì người có quyền nhân thân bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa ánhoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền nhân thân bịxâm phạm được thực hiện các biện pháp bảo vệ trên để bảo vệ quyền nhân thân củamình Việc áp dụng một hay nhiều biện pháp bảo vệ quyền nhân thân hoặc áp dụngbiện pháp bảo vệ quyền nhân thân nào là tùy vào trường hợp cụ thể quyền nhân thân bịxâm phạm và do người có quyền nhân thân bị xâm phạm tự lựa chọn quyết định Tuynhiên, việc lựa chọn được biện pháp bảo vệ phù hợp sẽ giúp cho việc bảo vệ quyềnnhân thân của cá nhân có hiệu quả.
6 HỘ TỊCH VÀ NƠI CƯ TRÚ CỦA CÁ NHÂN
6.1 Hộ tịch
Đăng kí hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn ,ly hôn ,giám hộ, nuôi con nuôi , thay đổi họ tên,quốc tịch ,xác định dân tộc, cải chính hộ tịch,và theo những quy định khác của pháp luật về hộ tịch.Đây
là những sự kiện pháp lý quan trọng để xác lập ,thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ phápluật liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân như quyền sở hữu, quyền thừa
kế
Về khai sinh bộ luật dân sự quy định mọi người sinh ra đều có quyền được khai sinh,không phân biệt con trong giá thú hay ngoài giá thú, để bảo đảm mọi người được khaisinh của trẻ sơ sinh, pháp luật quy định cha, mẹ hoặc những người thân thuộc khác củatrẻ sơ sinh co trách nhiệm khai sinh cho trẻ sơ sinh ,trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi thì
cá nhân ,tổ chức nhận nuôi dưỡng phải khai sinh cho trẻ sơ sinh
Việc khai tử, bộ luật dân sự xác định nguyên tắc khi có người chết, thì người thânthích ,chủ nhà đó, đơn vị cơ quan , tổ chức nơi có người chết phải khai tử cho người đó
Trang 25Trong trường hợp trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải dược khai sinh và khai tử ;nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay ,thì không phải khai sinh và khai tử.
6.2 Nơi cư trú của cá nhân theo quy định của pháp luật hiện hành
Điều 48:
1- Nơi cư trú của một cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú và có đăng kí tạm trú.
2- Khi không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 điều này, thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản nếu tài sản của người đó có ở nhiều nơi.
3- Cá nhân có thể lựa chọn một nơi khác với nơi cư trú của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nơi cư trú của cá nhân là một địa điểm riêng, trước hết đó là nơi hàng ngày diễn ranhững sinh hoạt cá nhân của một người Nơi cư trú của cá nhân còn là nơi diễn ranhững mối liên hệ, quan hệ chủ yếu của người đó với chủ thể dân sự khác
Dưới góc độ pháp luật dân sự, nơi cư trú của một người phải là nơi sinh sống thườngxuyên của người đó Nơi sinh sống thường xuyên của một người, trước tiên phải là nơingười đó có nhà ở hợp pháp Nhà ở hợp pháp ở đây có thể là một ngôi nhà được tạodựng một cách thô sơ hay kiên cố, nhà ở riêng biệt hay chung cư…Bên cạnh yếu tố
“nhà ở hợp pháp, nơi sinh sống thường xuyên của một người phải là nơi người đóthường xuyên sử dụng để phục vụ cuộc sống riêng tư của cá nhân và gia đình mình.Đây chính là yếu tố để phân biệt nơi sinh sống thường xuyên của một người với nơi sảnxuất kinh doanh hay nơi làm việc của họ
Để xem xét khía cạnh pháp lí của nơi cư trú ngoài việc xem xét cá nhân đó sinh sốngthường xuyên ở địa điểm này không, cần phải xem xét đến một yếu tố nữa đó là hộkhẩu thường trú của họ Nghĩa là, việc sinh sống thường xuyên của người này phải
Trang 26được pháp luật công nhận bằng một loại giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
đó là sổ hộ khẩu Muốn có được sự công nhận này, cá nhân phải đăng kí nhân khẩuthường trú tại cơ quan công an có thẩm quyền và được cơ quan đó cấp sổ hộ khẩu Hộkhẩu thường trú làm cho khái niệm “nơi cư trú” có một đặc tính quan trọng, đó là tínhduy nhất Nghĩa là một người trong cùng một thời điểm chỉ có thể có một nơi cư trú.Đây cũng chính là tiêu chí để phân biệt “nơi cư trú” và “nơi ở” Nơi ở của một cá nhân
là nơi người đó thực tế đến ở (thường xuyên hoặc không thường xuyên) nhưng với nơi
ở điều kiện về hộ khẩu thường trú không được đặt ra Vì vậy, một người có thể có nhiềunơi ở nhưng chỉ có thể có một nơi cư trú Khi đăng kí đến một nơi cư trú mới, thôngqua việc đăng kí hộ khẩu – đương nhiên họ sẽ mất nơi cư trú cũ – thông qua việc cắt hộkhẩu
Chế định nơi cư trú không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối vơi từng cá nhân mà nó còn làmột trong những biện pháp quản lí hành chính hữu hiệu của nhà nước đối với công dâncủa mình Đối với cá nhân, chế định nơi cư trú là cơ sở để bảo đảm việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ công dân, là cơ sở đê phát sinh mối quan hệ của cá nhân đối với nhànước, ví dụ việc đăng kí cho trẻ mới sinh, thừa kế, li hôn…Đối với nhà nước, chế địnhnơi cư trú là một biện pháp quản lí xã hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội
Trong luật dân sự có ba cách thức xác định nơi cư trú, đó là:
a Nơi cư trú của một cá nhân được xác định theo nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú.
b Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú hoặc có đăng kí tạm trú.
c Khi không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo hai cách trên thì nơi cư trú
là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản.
Trang 27Ba cách thức xác định nơi cư trú nói trên thể hiện một sự mềm dẻo của pháp luật Việcxác định nơi cư trú của cá nhân phải thông qua việc đăng kí hộ khẩu thường trú và đăng
kí tạm trú là một biện pháp có tính chất quản lí hành chính của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, nó quan hệ mật thiết với các chế định của luật hành chính, luật dân sự Còncách xác định nơi cư trú theo nơi có tài sản là một chế định quản lí đặc thù của luật hình
sự, nó là sự mở rộng của luật dân sự so với cách xác định nơi cư trú của luật hành chính
và luật hình sự Rộng hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính, luật hình sự, luậtdân sự còn điều chỉnh các mối quan hệ mang tính chất tài sản Vì vậy, việc xác định nơi
cư trú của cá nhân theo nơi có tài sản chính là thể hiện sự mềm dẻo và tính đặc thù củaluật dân sự, theo đó từ mối quan hệ mang tính tài sản giữa các tài sản giữa các chủ thể
sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ Tuy hiên cũng cần phải nhấn mạnh rằng trong 3cách thức xác định nơi cư trú nói trên, cách xác định nơi cư trú theo nơi có tài sản chỉchủ yếu được áp dụng trong quan hệ pháp luật dân sự
Ngoài ra, nơi cư trú còn cần phải được phân biệt với nơi sản xuất kinh doanh của một
cá nhân (hoặc một nhóm người), nơi cá nhân thực hiện các hoạt động nghề nghiệp củamình Pháp luật cho phép cá nhân có thể sử dụng nơi cư trú của mình làm nơi hoạt độngnghề nghiệp hoặc có thể lựa chọn một nơi khác vơi nơi cư trú của mình để xác lập, thựchiện quyền, nghĩa vụ dân sự Ví dụ, một người có thể dùng ngay chính nơi cư trú củamình để làm trụ sở cho doanh nghiệp tư nhân do mình làm chủ, hoặc có thể mua hoặcthuê trụ sở cho doanh nghiệp của mình ở nơi khác với nơi cư trú của mình
So sánh
a.Giữa BLDS 1995 và BLDS 2005.
Điều 52 BLDS 2005 quy định:” khoản 1 Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp
mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặcnơi tạm trú.”
Trang 28Với quy định tại Điều 48 BLDS 1995, thì luật xác định nơi cư trú của cá nhân còn phụthuộc vào việc đăng kí hộ khấu thường trú qua đó ta thấy quy định tại khoản 1 điều 52BLDS 2005 có phần khách quan, khái quát hơn,cụ thế hơn không mang tính chất Hànhchính như quy định tai BLDS 1995 Thể hiện rõ quan niệm pháp lí về nơi cư trú của cánhân được xác định không chỉ là nơi đế xác lập ,thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự màcòn chủ yếu cụ thế hóa quyền tự do cư trú cúa ca nhan mà hiến pháp nghi nhận
Việc xác định nơi để thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự được quy định tại cácphần khác nhau của BLDS vs các trường hợp cụ thể khác nhau Tự do chọn nơi cư trúgắn liền vs tự do đi lại (Đ 48 BLDS 2005), một trong các quyền con người, quyền côngdân, và quyền tự do về dân sự của cá nhân
Bộ Luật dân sự 2005 Tại Điều 53 và tại Điều 49 bộ luật DS 1995 Nơi cư trú của
Tại khoản 2 cá điều có quy định độ tuổi của việc có thể có nơi cư trú khác nhau vớiBLDS 1995 là trên 15 tuôi còn BLDS 2005 là độ tuổi dưới 18 tuôi
Bên cạnh đó BLDS 1995 còn quy định các vấn đề hộ tịch và đăng ký hộ tịch từ Điều
54 đến Điều 66 Đây thực chất là các quan hệ hành chính do pháp luật hành chính điềuchỉnh Do đó các nhà làm luật đã loại bỏ những quy định này trong BLDS sửa đổi, bổsung năm 2005
b.Luật dân sự Việt Nam với luật dân sự Pháp.
Bộ luật dân sự pháp là một bộ luật có lịch sư lâu đời, chính vì thế có rất nhiều sự khácbiệt so với những bộ luật hiện đại ngày nay trong đó có bộ luật dân sự Việt Nam.trong
đó bộ luật dân sự pháp có những cách quy định một cách rõ ràng ,cụ thể và chi tiếttrong từng điêu khoản của thiên và các trương
Trong các thiên về Chứng thư và hộ tịch,Nơi cư trú các điều khoán được quy địnhmột cách rõ ràng,cụ thể,chi tiết thì ngược lại trong luật dân sự việt nam phần hộ tịch vànơi cư trú lai quy định một cách khái quát trung nhất,không quy định một cách cụ thểcho từng trường hợp.VD như trong phần chứng thư,hộ tịch của luạt dân sự pháp được
Trang 29chia thanh rất nhiều chương các chương như: chương I quy đinh chung,chương II đăng
kí khai sinh, chương III chưng thư công nhận con ngoài giá thú,chương IV giấy khaitử,chương V chứng thư hộ tịch liên quan đến quân nhân và thủy thủ trong một sốtrường hợp đặc biệt…trong các trương lại đươc quy định bởi các điều cụ thể.ngươc laitrong luật dân sự việt nam lai quy đinh thành các điêu môt cách khái quát.trong bộ luậtdân sự viêt nam 2005 đã bỏ chương hộ tịch và nơi cư trú vì coi đó là quy định của luậthành chinh
Mỗi cá nhân không phụ thuộc vào độ tuổi và tình trạng sức khỏe có khả năng đượcmang quyền và gánh chịu nghĩa vụ, nghĩa là có năng lực pháp luật Tuy nhiên, khôngphải tất cả các cá nhân có khả năng tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ củamình do người đó không có đầy đủ năng lực hành vi hoặc hoàn toàn không có hay mấtnăng lực hành vi Để hỗ trợ cho những người như vậy trong việc thực hiện, bảo vệquyền và lợi ích của mình có thể áp dụng chế độ giám hộ Giám hộ là một trong nhữnghình thức pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân và qua đó bảo đảm ổn địnhtrật tự xã hội
Xét về bản chất pháp lý, giám hộ là một chế định pháp luật dân sự, mặc dù nó gắn vớiquan hệ hôn nhân gia đình và có cả yếu tố hành chính
Giám hộ trong quan hệ gia đình là một bộ phận của chế định giám hộ, nhưng được quyđịnh trong luật hôn nhân và gia đình ( chương IX- Giám hộ) vì sự hỗ trợ năng lực chủthể cho cá nhân trước hết do những người gắn bó với nhau trong hôn nhân, huyết thống,
và nuôi dưỡng thực hiện
Yếu tố hành chính trong giám hộ liên quan đến giám sát việc thực hiện trách nhiệm củangười làm giám hộ Như vậy, không thể kết luận giám hộ là một chế định hỗn hợp
7.1 Khái niệm.
Theo Khoản 1 Điều 58 BLDS 2005 quy định: Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đâygọi chung là người giám hộ ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc
Trang 30chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất nănglực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
So sánh : So với khái niệm giám hộ quy định tại Điều 67 BLDS 1995 thì khái niệm
giám hộ nêu ở Điều 58 BLDS 2005 ngoài việc sửa đổi từ ngữ còn sửa nội dung câu
“người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủđược hành vi của mình” bằng câu “người mất NLHV dân sự”
=> Việc thay đổi này làm cho điều luật vừa ngắn ngọn vừa thể hiện được sự chặt chẽ vàchính xác hơn Vì khái niệm mất NLHV dân sự đã được quy định tại Điều 24 BLDS
1995, Điều 22 BLDS 2005 Vì vậy điều luật không cần mô tả lại những biểu hiện củangười mất NLHV dân sự
7.2 Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ (Điều 60 BLDS):
3 Có điều kiện cần thiết bảo đảm việc giám hộ
So sánh :
- So với quy định tại Điều 69 BLDS 1995 thì Điều 60 BLDS 2005 đã bỏ tiêu chí
“đủ 18 tuổi trở lên” và bổ sung tiêu chí quy định tại khoản 2
- Việc bỏ tiêu chí “đủ 18 tuổi trở lên” là chính xác vì với tiêu chí “có NLHV dân
sự đầy đủ” là đã bao hàm tiêu chí “đủ 18 tuổi trở lên”
Trang 31- Việc bổ sung tiêu chí quy định về đạo đức, phẩm chất của người được cử làmgiám hộ quy định tại khoản 2 Điều 60 là rất cần thiết để bảo đảm được quyền và lợi íchhợp pháp của người được giám hộ.
a) Giám hộ đương nhiên.
Giám hộ đương nhiên là hình thức do pháp luật quy định, người giám hộ đương nhiênchỉ có thể là cá nhân Người giám hộ đương nhiên là những người trong cùng một trực
hệ ( Điều 61, 62 BLDS) Hình thức giám hộ đương nhiên cũng được phân loại dựa theongười được giám hộ, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên và ngườigiám hộ đương nhiên của người mất NLHV dân sự
* Về hình thức giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (Điều 61 BLDS
2005) quy định: người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn
cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất NLHV dân sự,
bị hạn chế NLHV dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không cóđiều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, thì
sẽ do anh, chị, em ruột của người đó thực hiện (tính từ anh cả trở đi), nếu các anh, chịkhông thể thực hiện được việc giám hộ thì sẽ do ông, bà nội, ông, bà ngoại thực hiện,nếu ông bà nội, ngoại không đủ điều kiện làm người giám hộ thì sẽ do cô, dì, chú, bácthực hiện việc giám hộ
* Về hình thức giám hộ đương nhiên của người mất NLHV dân sự ( quy định tại
Điều 62 BLDS 2005):
Trang 32- Đối với người mất NLHV dân sự thì những người giám hộ đương nhiên được xác địnhtheo thứ tự ưu tiên như sau:
+ Chồng và vợ với nhau
+ Con đối với cha me (bắt đầu từ con cả)
+ Cha mẹ đối với con
b) Giám hộ được cử.
Việc cử người giám hộ do UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám
hộ thực hiện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất NLHV dân sự không
có người giám hộ đương nhiên
* Thủ tục cử người giám hộ (Điều 64 BLDS 2005) quy định:
1 Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử ngườigiám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người đượcgiám hộ
2 Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ
7.4 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.
Giám hộ là một chế định pháp luật nhằm hộ trợ năng lực chủ thể quan hệ pháp luật dân
sự cho các cá nhân không thể tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.Người làm giám hộ chủ yếu là để thực hiện trách nhiệm công dân của mình, tráchnhiệm của những người khỏe mạnh đối với người đau yếu, của người lớn đối với trẻnhỏ… Lợi ích lớn nhất của người giám hộ là giá trị tinh thần trong hoạt động thực hiệntrách nhiệm giám hộ của mình
Trang 33diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quyđịnh người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự xác lập, thực hiện giao dịch dânsự; quản lý tài sản của người được giám hộ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ngườiđược giám hộ.
Trong việc quản lý tài sản của người được giám hộ, người giám hộ có trách nhiệm quản
lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của mình Người giám hộ được thực hiệncác giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của ngườiđược giám hộ Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặtcọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phảiđược sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ (Giám sát việc giám hộ được quy địnhtại Điều 59 BLDS 2005)
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác.Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tàisản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợiích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát
b, Quyền của người giám hộ.
Việc xác định quyền của người giám hộ trong BLDS xuất phát từ yêu cầu của việc thựchiện nghĩa vụ, trách nhiệm của người giám hộ đối với người được giám hộ
Điều 68 BLDS 2005 quy định như sau:
1 Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầucần thiết của người được giám hộ
2 Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giámhộ
3 Đại diện cho người được giám trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sựnhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
7.5 Quản lý tài sản của người được giám hộ
Trang 34Điều 69 BLDS 2005 quy định việc quản lý tài sản của người được giám hộ, ngoài việcsửa đổi bổ sung từ ngữ, câu chữ, khoản 3 Điều 69 BLDS 2005 bổ sung quy định: “Cácgiao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sảncủa người được giám hộ không bị coi là vô hiệu nếu giao dịch đó được thực hiện vì lợiích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ”.
Khoản 3 Điều 79 BLDS 1995 không có quy định này Việc bổ sung quy định này là cầnthiết và hợp lý Quy định này không những không làm hại đến quyền và lợi ích củangười được giám hộ, mà lại bảo đảm được sự bình đẳng giữa người giám hộ với nhữngngười khác trong các giao dịch dân sự và phù hợp với đạo lý của người Việt Nam
7.6 Thay đổi và chấm dứt giám hộ.
* Thay đổi việc giám hộ(Điều 70 BLDS 2005).
1 Người giám hộ được thay đổi trong các trường hợp sau đây:
a, Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 60 BLDS
b, Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất tích, tổ chức làm giám
hộ chấm dứt hoạt động
c, Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ
d, Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ
2 Trong trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quyđịnh tại Điều 61, 62 BLDS là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộđương nhiên thì việc cử người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 63 củaBLDS
3 Thủ tục thay đổi người giám hộ được cử được thực hiện theo quy định tại Điều 64,
71 BLDS
Trang 35Khi thay đổi người giám hộ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có người giám hộmới, người đã thực hiện việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ cho người thay thếmình Trình tự, thủ tục chuyển giao giám hộ được quy định tại Điều 71 BLDS 2005.
* Chấm dứt việc giám hộ(Điều 71 BLDS 2005).
Việc giám hộ chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1 Người được giám hộ đã có NLHV dân sự đầy đủ
2 Người được giám hộ chết
3 Cha, mẹ của người được giám hộ đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụcủa mình
4 Người được giám hộ được nhận làm con nuôi
7.7 Giám sát việc giám hộ
So sánh : Giám sát việc giám hộ quy định tại Điều 59 BLDS 2005 so với Điều 68
BLDS 1995 thì được sửa đổi, bổ sung sau :
Điều 59 BLDS 2005 quy định:
1 Người thân thích của người giám hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm ngườigiám sát việc giám hộ để theo dõi đôn đốc kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiệngiám hộ, xem xét giải quyết kịp thời những đề nghị, kiến nghị của người giám hộ liênquan đến việc giám hộ
2 Trong trường hợp không có người giám hộ thân thích của người được giám hộ hoặcnhững những người thân thích không cử được người giám sát việc giám hộ thì Uỷ bannhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ cử người giám sát việc giámhộ
Điều 68 BLDS 1995 quy định: Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người giám hộ
cư trú và người cử người giám hộ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra ngườigiám hộ trong việc thực hiện giám hộ
Trang 36So sánh : Quy định trên đây của Điều 59 BLDS 2005 hợp lý hơn so với quy định tại
Điều 68 BLDS 1995
Quy định của Điều 68 BLDS 1995 không phân biệt rõ được trách nhiệm giám sát việcgiám hộ của Uỷ ban nhân dân cấp xã với người cử người giám hộ Do đó không thểkhông xảy ra tình trạng Uỷ ban tưởng đã có người cử người giám hộ giám sát việc giám
hộ, ngược lại người cử người giám hộ lại cho rằng đã có Uỷ ban giám sát hoặc tìnhtrạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau
Hơn nữa việc giám hộ chỉ đặt ra đối với những cá nhân cụ thể, do đó trách nhiệm giámsát việc giám hộ trước hết phải là của những người thân của người được giám hộ, đây làvấn đề đạo lý của cuộc sống, chỉ khi không có người thân của người được giám hộ làmđược việc đó, mới đòi hỏi đến trách nhiệm của cộng đồng mà Uỷ ban nhân dân cấp xã
là người đại diện
Điều 59 BLDS 2005 còn dùng từ “kiến nghị” của người giám hộ thay cho từ “khiếunại” ở Điều 68 BLDS 1995 Tuy chỉ là một sửa đổi nhỏ nhưng rất chính xác và làm rõđược bản chất của sự việc
Ngoài ra, Điều 59 BLDS 2005 còn bổ sung thêm khái niệm người thân thích “Ngườithân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ;nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ
là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có aitrong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác, chú, cậu,
cô, dì của người được giám hộ” và “người giám sát việc giám hộ phải là người cóNLHV dân sự đầy đủ”
Trang 37- Đây là những bổ sung quan trọng, tránh được tình trạng sau khi có luật lạiphải chờ văn bản hướng dẫn mới thi hành được.
7.8 Hậu quả chấm dứt việc giám hộ (quy định tại Điều 73 BLDS).
1 Khi việc giám hộ chấm dứt thì trong thời hạn ba tháng, kể từ thời điểm chấm dứt việcgiám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám hộ hoặc với cha, mẹcủa người được giám hộ
Trong trường hợp người được giám hộ chết thì trong thời hạn ba tháng, kể từ thời điểmchấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người thừa kế của ngườiđược giám hộ; nếu hết thời hạn đó mà chưa xác định được người thừa kế thì người giám
hộ tiếp tục quản lý tài sản của người được giám hộ cho đến khi tài sản được giải quyếttheo quy định của pháp luật về thừa kế và thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường,thị trấn nơi người được giám hộ cư trú
Việc thanh toán tài sản được thực hiện với sự giám sát của người giám sát việc giám hộ
2 Các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám
hộ được người giám hộ thực hiện như sau:
a) Chuyển cho người được giám hộ khi người này đã có năng lực hành vi dân sự đầyđủ;
b) Chuyển cho cha, mẹ của người được giám hộ trong trường hợp quy định tại khoản 3
và khoản 4 Ðiều 72 của BLDS;
c) Chuyển cho người thừa kế của người được giám hộ khi người được giám hộ chết
8 THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ TUYÊN BỐ MẤT TÍCH, TUYÊN BỐ CHẾT
Chế định “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết” trong
bộ Luật dân sự có ý nghĩa quan trọng, vì trong quan hệ dân sự, mối quan hệ về quyền
và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, việc một người vắng mặt
ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh rằng người dó cònsống hay đã chết sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các chủ thể liên quan khác Các quy định
Trang 38trong chế định này Các quy định trong chế định này nhằm giúp cho các giao lưu dân sựđược diễn ra thông suốt, bảo vệ được quyền, lợi ích của những người liên quan và củachính người vắng mặt.
8.1 Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
a) Sự biệt tích (vắng mặt) của một người
Khi một người đi khỏi nơi cư trú của mình và không ai biết người đó đang ở đâu, cònsống hay đã chết thì pháp luật xem đây là trường hợp “biệt tích” (vắng mặt tại nơi cưtrú) Khi một người “biệt tích” 6 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi íchliên quan (gọi chung là người liên quan) có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếmngười vắng mặt tại nơi cư trú của họ
b) Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú (Điều 75)
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắngmặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý:
Ðối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷquyền tiếp tục quản lý;
Ðối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu
vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý
Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Ðiều này thì Toà
án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cưtrú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản
lý tài sản
c) Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú(Điều 76)
Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình;
Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng;
Trang 39 Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằngtài sản của người đó theo quyết định của Toà án;
Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo choToà án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.d) Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú (Điều 77)
Quản lý tài sản của người vắng mặt;
Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng,nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt;
Ðược thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản
8.2 Tuyên bố mất tích
a) Về việc mất tích
Một người được xem là mất tích khi trong suốt một thời gian dài không ai biết người đóđang ở đâu, đang sống hay đã chết Tuy vậy, về mặt pháp lý, chỉ có tòa án là nơi duynhất có quyền phán quyết (tuyên bố) một người nào đó có mất tích hay không, theonhững thủ tục chặt chẽ
b) Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích
Quy định chứng cứ bắt buộc cho thủ tục này là chứng cứ chứng minh người bịyêu cầu tuyên bố mất tích “đã biệt tích 2 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực
về việc người đó còn sống hay đã chết” và chứng minh cho việc “người yêu cầu đã ápdụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm”
Khác với thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thủ tục giảiquyết yêu cầu tuyên bố mất tích cũng có việc thông báo (được thực hiện theo đúng quyđịnh tại Điều 327 và Điều 328 BLTTDS) nhưng là thông báo trước khi mở phiên họpxét đơn yêu cầu Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý, Toà án phải ra quyết địnhthông báo tìm kiếm và thời hạn thông báo là 4 tháng
c) Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích (Điều 79)
Trang 40 Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản
1 Ðiều 75 của Bộ luật tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà ántuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Ðiều 76 và Ðiều 77 của Bộluật
Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bốmất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha,
mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thânthích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ địnhngười khác quản lý tài sản
d) Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân mất tích
Việc tuyên bố một người mất tích có ý nghĩa khá quan trọng vì sẽ dẫn đến những hậuquả pháp lý liên quan đến việc giải quyết tài sản, quan hệ nhân thân…của người đó
Cụ thể: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin lyhôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Tài sản của người mất tích sẽ được quản lý nhưtrường hợp người vắng mặt theo điều 75,76,77,79 của Bộ luật Dân sự về quản lý tài sảncủa người bị tuyên bố mất tích
Người bị tuyên bố mất tích sẽ tạm thời bị đình chỉ tư cách chủ thể tuy nhiênkhông bị cấm dứt tư cách chủ thể Sau đó, nếu quá 3 năm kể từ ngày Tuyên bố mất tích
mà vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống thì cũng theo yêu cầu củanhững người có quyền lợi, nghĩa vũ liên quan Tòa án sẽ xem xét và tuyên bố “đã chết”.Lúc này, tài sản của người mất tích sẽ trở thành tài sản của người đã chết - trở thành disản và được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế
Tuy nhiên, cũng có trường hợp một người đã tuyên bố là mất tích (hay thậm chí
là đã chết) lại trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống Khi đó theo yêu cầucủa người đó hoặc người của người có quyền, lợi ích liên quan Tòa án sẽ ra quyết địnhhủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích trước đây Lúc này người bị tuyên bốmất tích trở về được nhận lại tài sản của mình Trong trường hợp vợ hoặc chồng của