hiểu được những di tồn của lịch sử chính là thấy được những thành tựu và hạn chếcủa lịch sử nhà nước và pháp luật ở từng khu vực điển hình trên thế giới qua từng thời kỳ lịch sử, để từ đ
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Câu 1: Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật, ý nghĩa, yêu cầu, phong cách nghiên cứu, học tập LSNNPL.
Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật:
- Đối tượng: Khoa học lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới là một nghành khoa
học nghiên cứu về quá trình phát sinh, phát triển và thay thế các kiểu hình thức nhà nước
và pháp luật trong tưng thời kỳ, diễn ra tại các khu vực điển hình trên thế giới với đốitượng nghiên cứu riêng, lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới trở thành một nghànhkhoa học độc lập và phân biệt với các khoa học pháp lý khác, và với các khoa học lịch
sử khác
- Phạm vi: Lịch sử nhà nước và pháp luật gồm có lịch sử nhà nước và pháp luật
Việt nam và lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới Hai nghành khoa học này cùngnghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật nhưng cũng khác nhau về không gian vàphạm vi nghiên cứu Khác với lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, lịch sử nhà nước
và pháp luật thế giới nghiên cứu những nét chung nhất về lịch sử hình thành, tồn tại,phát triển của nhà nước và pháp luật ở những khu vực lớn, điển hình trên thế giới Khoahọc lịch sử nói chung và khoa học lịch sử nhà nước và pháp luật nói riêng được gọi làkhoa học có tính chất quan định luận ( chỉ nghiên cứu về quá khứ), vì theo nghĩa rộngnhất lịch sử là tất cả những gì đã diễn ra
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp luận: phương pháp luận của bất kỳ khoa học nào cũng là lập trường xuấtphát điểm để tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu Phương pháp luận của khoa học lịch sửnhà nước và pháp luật thế giới là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.+ Phương pháp nghiên cứu cụ thể: là tất cả những thủ pháp kỹ thuật, cách thức để nhậnthức về đối tượng nghiên cứu Để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, cần phải sử dụngtất cả các thủ pháp kỹ thuật một cách hiệu quả Có nhiều phương pháp nghiên cứu như:phân tích – tổng hợp, thống kê, phương pháp hệ thống – cấu trúc, phương pháp so sánhlịch sử, phương pháp phỏng đoán khoa học
Trang 2+ Phương pháp học tập, nghiên cứu tư liệu hiệu quả: muốn học tốt môn học này, trướctiên bạn cần tập cách “giới hạn vấn đề” Học lịch sử hoàn toàn không phải là một sự khổsai về trí nhớ Trước các vấn đề phức tạp, trước một lượng kiến thức lớn, bạn phải biếtcách đơn giản hóa chúng Trong số rất nhiều nội dung khác nhau của môn học, muốnnắm được những ý quan trọng, bạn cần có chiến lược “ít mà nhiều” Bạn hãy làm theocách lắng nghe và cố gắng rút ra những vấn đề có tính bản chất nhất, hãy vạch ra khoảng
5 đến 7 gạch đầu dòng, nhưng đó phải là những ý chính của bài giảng, bài đọc Khi bạnđọc, hãy đọc vừa đủ, để dành thời gian “nghĩ”, “hiểu” và “cảm” được sự thú vị của vấn
đề Quan trọng nhất khi đọc tài liệu là bạn phải biết cách tóm lược những ý chính từnhững vấn đề mình đọc được, từ đó phát triển vấn đề
ý nghĩa, yêu cầu, phong cách nghiên cứu, học tập LSNNPL:
- Ý nghĩa: ở phương Tây, không ai được coi là một nhà luật học thực thụ, nếu
người đó không có những hiểu biết tốt về lịch sử pháp luật, tức là hiểu được “tầng sâu”nguồn cội hình thành và phát triển của pháp luật đối với mỗi sinh viên luật học, mônhọc lịch sử nhà nước và pháp luật nói chung và lịch sử nhà nước và pháp luật nói riêng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tầm quan trọng của môn học xuất phát từ chính đòi hỏikhách quan về mục đích, nội dung, phương pháp tiếp cận và giá trị mà nó đem lại chomột sinh viên luật học
Nghiên cứu các
môn học chuyên
Phương pháp tưduy lịch sử cụ thể
Nhận thức được ditồn của lịch sử
Rút ra quy luật,những bài học kinh
Ý nghĩa của môn học
Cung cấp hệ thống tri thức lịch sử nhà nước
và pháp luật thế giới
Cơ sở phương pháp luận cho các khoa học pháp lý chuyên nghành
Trang 3nghành dễ dàng
- Yêu cầu: hiểu được nội dung của môn học được chia thành 4 phần chính: nhà
nước và pháp luật thời cổ đại; nhà nước và pháp luật thời trung đại; nhà nước và phápluật thời cận đại; nhà nước và pháp luật thời hiện đại giữa các nội dung này không phải
là sự ngắt quãng hay biệt lập giữa các thời kỳ mà là một sự phát triển liên tục, có sự kếthừa hiểu được những di tồn của lịch sử chính là thấy được những thành tựu và hạn chếcủa lịch sử nhà nước và pháp luật ở từng khu vực điển hình trên thế giới qua từng thời
kỳ lịch sử, để từ đó có hiểu biết toàn diện về các vấn đề lịch sử nhà nước và pháp luậtthế giới; nhận thức được quy luật vận động, phát triển của vấn đề nhà nước và pháp luậtthế giới
- Phong cách nghiên cứu, học tập: Học luật rất cần có một tư duy phê phán Phê
phán có cơ sở, có căn cứ không có gì là xấu, ngược lại chính phê phán, phản biện thậmchí phản biện chính mình, mới là động lực để hiểu vấn đề và là cách để khoa học pháttriển Học luật, bạn sẽ thấy muôn vàn những vấn đề phát sinh từ cuộc sống có nhữngnhận được đúng Có những nhận xét không đúng hoàn toàn và có những ý kiến hoàntoàn sai lạc Bạn hãy tập cách phát hiện vấn đề, tập tranh luận, tập phê phán và trình bàytheo cách hiểu của mình
Câu 2: Cơ sở kinh tế xã hội của sự ra đời tồn tại của sự phát triển của các nhà nước phương đông cổ đại ( Ai cập, Lưỡng hà, Ấn độ, Trung Quốc).
Đặc điểm của Nhà nước phương đông cổ đại ra đời đều đều mang tính liên kết mạnh,tính đại diện cao và tính giai cấp yếu Liên kết mạnh để giải quyết nhu cầu trị thủy chống
lũ lụt Nhà nước ban đầu thể hiện với tư cách cơ quan công quyền, đại diện cho cộngđồng Tính giai cấp yếu vì chế độ tư hữu về ruộng đất ở phương đông lúc đầu gần nhưkhông có, sở hữu vẫn là sở hữu chung về ruộng đất
Trang 41 Nhà nước Ai cập:
1.1 Sự ra đời của Nhà nước: Nhà nước ai cập ra đời vào cuối thiên niên kỷ thứ 4
trước công nguyên và trở thành trung tâm văn minh sớm nhất của thế giới cổ đại Lịch
sử cổ đại được phân ra thành Cổ, trung, Tân Vương quốc với 30 vương triều kéo dài từthứ kỷ thứ 4 trước công nguyên nguyên đến năm 331 trước công nguyên
1.2 Cơ cấu xã hội: phân hóa thành các giai tầng khác nhau: Giai cấp chủ nô; giai cấp
nô lệ; nông dân công xã
1.3 Sự hình thành và phát triển của Nhà nước: Nhà nước ban đầu ra đời là các nôm
(tập hợp nhiều công xã nông thôn) sau nhiều nôm hợp thành hai vương quốc là Thương
Ai cập và Hạ Ai cập Đến đầu thiên niên kỷ thứ 3 TCN thì hình thành nhà nước Ai cập
cổ đại Nhà nước chiếm hữu nô lệ Ai cập cổ đại là nhà nước chiếm hữu nô lệ không điểnhình vì lực lượng chủ yếu và đông đảo trong xã hội không phải không phải là nô lệ mà lànông dân công xã
Nhà nước Ai cập cổ đại chia đất nước ra là nhiều vùng gọi là nôm, các vùng được tự trịkiểu như các tiểu đô thị Trong mỗi vùng việc cai trị được thực hiện bởi người đứng đầuvới đầy đủ quyền lực Người đứng đầu do Vua bổ nhiệm và được cha truyền con nối
Sự cai trị của Ai cập cổ đại thông qua các hình thức thuế
Về quân sự: Thời Cổ vương quốc có lính chuyên nghiệp, khi chiến tranh thì nhà nướchuy động dân binh Vua và các quan đại thần được thân binh bảo vệ
1.5 Pháp luật:
Trang 5Ai cập cổ đại tồn tại khá bền vững, thời kỳ này phong tục tập quán giữ một vai trò quantrọng trong đời sống xã hội Với tín ngưỡng đa thần tôn giáo là công cụ điều chỉnh xãhội, tạo lập trật tự và ổn định xã hội.
2 Nhà nước Lưỡng Hà
2.1 Sự ra đời: Lưỡng Hà cổ đại là lãnh thổ các nước Iran, Cô oét, Irac Ban đầu nam
lưỡng hà xuất hiện nhiều quốc gia Đầu thế kỷ III TCN Áccrac là một quốc gia hùngmạnh đã tiêu diệt các quốc gia khác và thống nhất Nam lưỡng hà Vào giữa thiên niên kỷthứ III TCN thành bang Áccrac đã thống nhất toàn bộ Lưỡng Hà
2.2 Kết cấu giai cấp: Lưỡng Hà cổ đại chia thành nhiều giai cấp gồm vua, quan lại,
chủ nô và tăng lữ Cư dân tự do bao gồm thương nhân, nông dân và công xã nông thôn
và nô lệ Chế độ nô lệ lưỡng hà không phải là điển hình mà chỉ là chế độ nô lệ gia trưởng
2.3 Nhà nước: Lưỡng Hà cổ đại là chính thể quân chủ chuyên chế tập quyền Vua là
người đứng đầu nhà nước, vua nắm cả thần quyền và thế quyền, dưới vua là các đại thần,
có cơ quan tư pháp chuyên trách, có hội đồng thẩm phán, có tòa án tối cai do nhà vuađiều khiển Mỗi thành thị có thị trưởng, thị trưởng đại diện cho nhà vua và là tăng lữ có
vị thế rất lớn Thị trưởng nắm quyền về quân đội, lập pháp và tư pháp ở thành thị
2.4 Về pháp luật:
2.4.1 Luật người Xume: có ít nhất 40 Điều ở luật này thì thân phận người phụ nữ khá
thấp, người chồng có quyền ly hôn nhưng vợ thì không Luật này có sự tiến bộ coi nô lệ
là con người chứ không phải là tài sản của chủ nô Về hợp đồng không nhiều vì kinh tếvẫn theo kinh tế gia đình khép kín Tăng lữ thì là các thẩm phán Quy định về tội phạmtrong luật cũng có nhiều tiến bộ gồm hai hình phạt chính là phạt tiền và tử hình
2.4.2 Luật người Babylon: đây là bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình
điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài Điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quanđến lợi ích của giai cấp thống trị Luật kết hợp giữa vương quyền, thần quyền và phápquyền để làm thiêng hóa bộ luật.Luật tập trung điều chỉnh 4 lĩnh vực dân sự, hình sự,hôn nhân gia đình và tố tụng
3 Nhà nước Ấn Độ:
Trang 63.1 Sự ra đời: Khoảng 2000 năm TCN, Ấn độ có giai cấp và nhà nước TK VI TCN
Vương quốc Maganda là vương quốc lớn nhất và đóng vai trò chủ đạo Năm 327ee33wn năm 187 TCN , thủ lĩnh của bộ lạc Moria được nhiều người ủng hô lập raVương triều Moorria là vương triều huy hoàng nhất lịch sử Ấn Độ cổ đại, Vương triềunày thống nhất toàn bộ miền bắc Ấn Độ và các người kế thừa là Asoka đã thống nhất Ấn
độ từ Bắc đến Nam
3.2 Xã hội Ấn độ: Phân thành giai cấp chủ nô và nộ lệ và bốn đẳng cấp rất rõ ràng:
-Đẳng cấp thứ nhất là Balamon là đẳng cấp cao nhất làm nghề tôn giáo, tiếp xúc với thầnthánh nên cao quý nhất; - Đẳng cấp thứ 2 là Kshatriya gồm quý tộc võ sỹ phong kiến;Đẳng cấp thứ 3 là người chăn nuôi và buôn bán; Đẳng cấp thứ 4 là Sudra là đẳng cấpthấp hèn, khổ cực nhất và bị khinh rẻ trong xã hội
3.3 Về Nhà nước: là quân chủ chuyên chế tập quyền Vua có quyền lực lớn là bộ
phận cơ thể của thánh thần Giúp việc cho vua là các đại thần cấp cao Cả nước chiathành 01 đặc khu và 04 tỉnh, dưới tỉnh là huyện và dưới huyện là làng Công xã nôngthôn tồn tại lâu dài và vững chắc tại Ấn độ cổ đại Công xã có quyền sở hữu chung vềruộng đất là đơn vị kinh tế hoàn chỉnh, tự quản về chính trị và khép kín về kinh tế Công
xã là cơ sở của nhà nước chuyên chế
3.4 Về Pháp luật: Ấn Độ cổ đại có bộ luật Manu là bộ luật tương đối hoàn chỉnh của
Ấn độ cổ đại Bộ luật này gồm luật lệ, tập quán pháp được các nhà thần học Balamon tậphợp và biên soạn Bộ luật dưới dạng thơ gồm 2675 điều chia thanh 12 chương đề cậpđến các vấn đề về đạo đức , chính trị, luật lệ, tôn giáo và cả quan niệm về vũ trụ Luậtbao gồm các nội dung chế định về dân sự, hôn nhân gia đình , hình sự và chế định về tốtụng
4 Nhà nước Trung Quốc cổ đại
4.1 Sự hình thành nhà nước: Khoảng 3000 năm TCN công xã nguyên thủy của trung
quốc đang trên đường tan rã Phần bắc sông Dương Tử và hạ lưu sông Hoàng Hà là nơi
cư trú của các bộ lạc lớn như Hoàng Đế , Viêm Đế, Thiếu Hiệu, Thái Hiệu Các bộ lạcliên minh với nhau thành liên minh bộ lạc do Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ thay
Trang 7nhau làm thủ lĩnh Sau Hạ Vũ mất thì Hạ Khải lên thay và hình thành nhà nước TrungHoa Sau vương triều nhà Hạ là Nhà Thương và Nhà Chu Thời Đông Chu.
4.2 Tổ chức bộ máy nhà nước: được tổ chức khá đơn giản đứng đầu là vua, dưới đó
là bộ máy quan lại trung ương và địa phương
4.3 Về pháp luật: thời này Trung quốc chưa có bộ luật thành văn và phái pháp trị là
học thuyết cai trị có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và thực tiễn pháp lý thời này Nhà Tấnthống nhất Trung Quốc do nhà Tấn áp dụng pháp trị tại thời điểm cần thiết nhất phải có
sự thống nhất và phải áp dụng các biện pháp chuyên chế mạnh Phái pháp trị chủ trươnglấy nhân đức để lập lại trật tự xã hội không phù hợp với hoàn cảnh loạn lạc lúc bấy giờ.Phái pháp trị đề cao vai trò của pháp luật Pháp trị chủ trương không phân biệt sang hèn
và phải xử bằng pháp luật Pháp trị cũng nâng cao bổn phận của nhà Vua không phải chútrọng và đạo tu thân mà cốt ở việc ấn định pháp luật cho minh bạch và ban bố cho mọingười biết và tuân theo Theo quan niệm của phái pháp trị, pháp luật rõ ràng thì quancũng không dám xử trái Dân biết pháp luật thì cũng không dám vi phạm pháp luật
Câu 3: Nội dung cơ bản của Bộ luật Hammurabi (ở Lưỡng Hà cổ đại), và so sánh
nó với Bộ luật Manu (ở ấn Độ cổ đại).
Nội dung bộ luật: Bộ luật Hammurabi là bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời lỳ cổ đại,gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nộidung và phần kết luật Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình,bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu làđiều chỉnh quan hệ xã hội liên quan tới lợi ích của giai cấp thống trị
- Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vuathống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ
- Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật Nội dung của bội luật bắt nguồn từ sự kếthừa từ những bộ luật trước đó, cụ thể là những pháp điển của người Xume,ngoài rachứa đựng những sắc lệnh của vua Hammurabi và nhiều quyết định của tòa án cao cấpbấy h.Trong đó, điều đầu tiên là bộ luật quy định thủ tục kiện cáo, cách xét xử tức tục tốtụng Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội trộm cắp, bắt cóc nô lệ, về quyền
Trang 8nguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa mầu Các hình thức cho vay lãi, nô lệ vì nợ cũngđược quy định rất cụ thể Sau đó bộ luật dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về giađình, về các hình thức trị tội khi làm tổn hại tới thân thể người khác, hình phạt đối vớitội thủ tiêu dấu trên mặt nô lệ, trách nhiệm và tiền công của những người làm thuê trongxây dựng, nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp Và cuối cùng, những điều khoảnquy đinh về mua bán nô lệ.
- Phần kết luận của bộ luật: khẳng định lại công đức và uy quyền của Hammurabi Nhàvua trừng trị thẳng tay những kẻ nào hủy hoại bộ luật
*So sánh Bộ Luật Hammurabi và Bộ Luật Manu
- Bộ Luật Hammurapi là bộ luật thành văn sớm nhất được xây dựng trên cơ sở lấy từnhững tiền lệ pháp của người Xume, những quy định của tòa án và cá phán quyết của tòa
án ca lúc bây giờ, và mệnh lệnh chiếu chỉ của nhà vua bởi vậy mà Bộ Luật chú trọng tậptrung điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội lúc bấy giờ Tuy rằng Bộ Luật Manu cùngđược xây dựng từ những luật lệ, những tập quán của giai cấp thống trị nhưng nó lại đượccác giáo sĩ Bà La Môn tập hợp dưới dạng trường ca, được trình bày dưới dạng câutrường ca, tuy có điều chỉnh quan hệ pháp luật nhưng nó còn bao gồm rất nhiều vấn đềnhư chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới và vũ trụ, bởi vậy Bộ Luật bao gồm 2685điều trong khi đó Hammurapi chỉ có 282 điều Tuy nhiên, bộ Luật Hammurapi lại điềuchỉnh các quan hệ xã hội tiến bộ hơn rất nhiều so với Manu
- Nội dung:
Chế độ hợp đồng: hai bộ luật điều có phần điều kiện có hiệu lực hợp đồng, Bộ LuậtManu chủ yếu đề cập tới vấn đề hợp đồng vay mượn, Bộ luật Hammurapi còn nói đếnvấn đề hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, hợp đồng gửi giữ, cả hai bộ Luật đều dung chínhbản thân con người làm vật bảo đảm, tuy nhiên Bộ luật Hammurapi có những quy địnhcũng như chế tài rõ ràng hơn so với Manu, Bộ luật Manu có tính phân biệt rõ ràng đốivới đẳng cấp cao đó là Bà La Môn
Chế định hôn nhân: Bộ luật Manu có sự bất bình đẳng rõ rệt giữa vợ và chồng, hônnhân mang tính chất mua bán, người vợ được người chồng mua về, trong khi đó bên Bộ
Trang 9luật Hammurapi có thủ tục kết hôn, tuy cũng có sự bất bình đẳng nhưng Bộ luật vẫn cóđiều khoản bảo vệ người phụ nữ.
Chế độ thừa kế: về cơ bản 2 Bộ luật đều có 2 hình thức thừa kế là: theo luật pháp vàtheo di chúc, đều thừa kế theo tài sản người cha Bên Bộ luật Hammurapi có thêm phầnĐiều kiện tước quyền thừa kế
Chế độ hình sự: Bộ luật Manu có sự phân biệt đẳng cấp rõ ràng: khoan dung cho ngườiđẳng cấp trên và trừng trị thẳng tay đối với kẻ đẳng cấp dưới có hành vi xâm phạm tớiđẳng cấp trên, bên BL Hammurapi có quan niệm hình sự là trừng trị tội lỗi, mang tínhchất trả thù ngang nhau tuy nhiên chỉ là tương đối Các hình thức xử phạt của hai bộLuật đều rất dã man
Chế độ tố tụng: Bộ Luật Manu thì coi trọng chứng cứ nhưng chứng cứ lại phụ thuộcvào giới tính và đẳng cấp, chứng cứ của đẳng caapscao có tính quyết định Bộ luậtHammurapi cũng coi trọng chứng cứ nhưng không phân biệt đăng cấp và điều quantrọng là được xét xử công khai rất tiến bộ
Bộ luật Manu mang tính phân biệt đẳng cấp rất rõ rệt, mọi điều khoản đều ủng hộ đẳngcấp trên Bộ Luật Hammurapi tuy cũng có sự phân biệt nhưng cùng với đó cũng có tínhdân chủ nhất định, cũng có sự bảo vệ với người dân
Câu 4: Đặc điểm của pháp luật phương đông thời kỳ cổ đại
Nhà nước phương Đông cổ đại có 4 trung tâm văn minh là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ vàTrung Quốc.Vì nhà nước và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ nên khi nhà nước ra đờithì giai cấp cầm quyền cũng đồng thời ban hành pháp luật
2 bộ luật lớn ở phương Đông thời cổ đại là bộ luật Hamurapi (Lưỡng Hà) và bộ luậtManu (Ấn Độ) Đặc điểm cơ bản của pháp luật Phương Đông cổ đại là:
- Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội Bảo vệ quyền lợi và địa vị củagiai cấp thống trị
- Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa các convới nhau do ảnh hưởng của chế độ gia trưởng
Trang 10- Ranh giới giữa hình sự và dân sự mờ nhạt, các hình phạt hà khắc và nặng nề về cả mặttâm lý và thân thể.
- Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ giáo và tư tưởng thống trị
- Về hình thức, từ ngữ cụ thể, có tính hệ thống
a Nội dung Bộ luật Hammurabi:là bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời lỳ cổ đại, gồm
282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung vàphần kết luật Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồmcác quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu là điềuchỉnh quan hệ xã hội liên quan tới lợi ích của giai cấp thống trị
- Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vuathống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ
- Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật Nội dung của bội luật bắt nguồn từ sự kếthừa từ những bộ luật trước đó, cụ thể là những pháp điển của người Xume,ngoài rachứa đựng những sắc lệnh của vua Hammurabi và nhiều quyết định của tòa án cao cấpbấy h.Trong đó, điều đầu tiên là bộ luật quy định thủ tục kiện cáo, cách xét xử tức tục tốtụng Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội trộm cắp, bắt cóc nô lệ, về quyền
và nghĩa vụ của binh lính, quyền lợi của người lính canh ruộng đất Tội sử dụng bừa bãinguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa mầu Các hình thức cho vay lãi, nô lệ vì nợ cũngđược quy định rất cụ thể Sau đó bộ luật dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về giađình, về các hình thức trị tội khi làm tổn hại tới thân thể người khác, hình phạt đối vớitội thủ tiêu dấu trên mặt nô lệ, trách nhiệm và tiền công của những người làm thuê trongxây dựng, nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp Và cuối cùng, những điều khoảnquy đinh về mua bán nô lệ
- Phần kết luận của bộ luật: khẳng định lại công đức và uy quyền của Hammurabi Nhàvua trừng trị thẳng tay những kẻ nào hủy hoại bộ luật
Giá trị cơ bản:
- Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật được thể hiện rõ ngay từ mụcđích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật: “Vì hạnh phúc của loài người thầnAnu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm-Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và
Trang 11ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho
kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samat sai xuống dânđen, tỏa sáng khắp muôn dân
- Về kỹ thuật lập pháp, tuy không phân chia thành các ngành luật nhưng bộ luật cũngđược chia thành nhóm các điều khoản có nội dung khác nhau Phạm vi điều chỉnh làquan hệ xã hội như hôn nhân gia đình, ruộng đất, thừa kế tài sản, hợp đồng dân sự, hình
b Nội dung bộ luật Manu: Trong các triều vương quốc cổ đại Ấn Độ, Luật Manu là
luật hoàn chỉnh nhất Theo truyền thuyết, luật này được chép lại từ lời răn của Manu - ông tổ của tộc người Arya Về thực chất đây là bản trường ca gồm 12 chương với 2.685 văn thơ do tăng lữ đạo Braman biên soạn từ thế kỷ II trước Công nguyên (thời vương quốc Môria) Đây là hình thức luật độc đáo nhất, điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội quan trọng lúc bấy giờ; cụ thể:
Về quyền sở hữu, Luật Manu chủ yếu quy định quyền sở hữu ruộng đất Hình thức sở hữu ruộng đất lúc bấy giờ là tập trung vào nhà Vua, Nhà nước và công xã Ruộng đất của nông dân do công xã phân chia, nghiêm cấm tuỳ tiện thay đổi ranh giới hoặc chuyển dịch quyền tư hữu Nếu làng xã tranh chấp đất đai một cách man trá, thì đất đai đó bị nhàvua thu lại Bên cạnh ruộng đất, Luật Manu quy định khá chi tiết về căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ sở hữu đối với vật: Nếu chủ sở hữu cho người khác
sử dụng đồ vật của mình trong vòng 10 năm không đòi lại thì họ mất quyền sở hữu đó
Trang 12Về khế ước, họ chỉ ra khá đầy đủ về tính hợp pháp của hợp đồng và những căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu (ký với người mắc bệnh tâm thần, say rượu; người chưa thành niên; ký do cưỡng bức hoặc lừa đảo v.v) Hợp đồng được chia nhiều loại như: Hợp đồng mua bán, vay mượn, cầm cố, thuê mướn v.v trong đó có kèm theo hình thức thưởng - phạt nhưng phân biệt đẳng cấp rõ ràng; ví dụ: chủ nợ được thu giữ tài sản dùng bạo lực hoặc bắt con nợ làm nô lệ.
Về hôn nhân và gia đình: Nguyên tắc chung là phải kết hôn cùng đẳng cấp Trừ trường hợp nam giới vì tình yêu thì có thể lấy vợ ở đẳng cấp dưới làm kề Hình thức kết hôn không theo nghi thức thủ tục Nhà nước mà có thể tổ chức lễ cưới, mua bán vợ, cướp vợ hoặc hình thức khác theo quy định của lệ làng
Đối với tài sản thừa kế, vợ chồng có quyền thừa hưởng di sản thừa kế của nhau Các conđược quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại theo nguyên tắc chia đều Con gái nếu đi lấy chồng sẽ hưởng 2/3 định suất để làm của hồi môn
Về hình sự, Luật Manu tôn trọng chứng cứ và sự thật khách quan, nhưng giá trị của chứng cứ luôn phụ thuộc vào đẳng cấp và giới tính Theo nguyên tắc này người đẳng cấpcao phạm tội với đẳng cấp thấp bị xử nhẹ; người đẳng cấp thấp phạm thượng sẽ bị xử nặng Phụ nữ thường bị xử nặng hơn nam giới
Câu 5: Trình bày khái quát quá trình dân chủ hoá bộ máy nhà nước Aten, tổ chức
bộ máy nhà nước Cộng hoà dân chủ chủ nô Aten và nhận xét tính chất dân chủ của nhà nước này.
1/ Về quá trình dân chủ hoá nhà nước Aten
Quá trình dân chủ hoá nhà nước Aten gắn liền với các cuộc cải cách của tầng lớp quí tộc chủ nô mới Tầng lớp này đã đề xướng và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại sự độc
quyền của quí tộc, chủ nô và được sự ủng hộ của tầng lớp bình dân Tầng lớp chủ nô
mới thông qua các cuộc cải cách đã dần nắm được quyền lực chính trị và chuyển hoá chính thể quân chủ chủ nô sang chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô.
Trang 13Quá trình dân chủ hoá nhà nước Aten được tiến hành thông qua 3 cuộc cải cách lớn:
1.1.Cuộc cải cách thứ nhất: Cuộc cải cách của Xô lông (594 TCN)
Xô - lông là một quí tộc chủ nô mới, được bầu vào bộ máy nhà nước Ông là người mở đầu cho quá trình dân chủ hoá bằng nhiều biện pháp cải cách:
Đẳng cấp thứ hai: thu nhập từ 300 mêđin, có quyền tham gia hội đồng 400 người;
Đẳng cấp thứ ba: thu nhập từ 200 mêdin, có quyền tham gia hội đồng 400 người và phải tham gia quân đội;
Đẳng cấp thứ tư: thu nhập dưới 200 mêđin, được tham gia vào hội nghị công dân nhưng
có điều kiện và không được giữ chức vụ quan trọng, phải đi lính và đóng thuế
Xô lông thành lập Hội đồng 400 người, mỗi bộ lạc được bầu 100 người thuộc đẳng cấp
thứ hai và thứ ba Hội đồng 400 người là cơ quan hành chính đồng thời là cơ quan tư vấncủa nhà nước, đây là cơ quan phải giải quyết những công việc giữa hai phiên họp của hội
Trang 14nghị công dân; phải chuẩn bị những vấn đề đưa ra thảo luận, bàn bạc tại Hội nghị công dân
Những chuyển biến tích cực mà cuộc cải cách của Xô - lông đã đem lại là:
+ Về kinh tế, cải cách của Xô lông đã góp phần giải phóng một số lượng đông những người nông dân, trở thành một lực lượng hậu thuẫn cho cuộc cải cách của Xô lông; + Cuộc cải cách này góp phần làm nâng cao địa vị kinh tế của quí tộc chủ nô mới; + Tạo điều kiện kích thích công thương nghiệp phát triển;
+ Tước bỏ phần nào lợi ịch của tầng lớp quí tộc chủ nô cũ, bắt đầu đặt nền móng cho việc xây dựng nền cộng hoà dân chủ chủ nô.
1.2 Cuộc cải cách thứ hai: Cải cách của Clít-xten
Clitxten là người thuộc tầng lớp quí tộc chủ nô mới, sau cuộc cải cách của Xôlông, Clixten được bầu vào giữ chức vụ quan trọng
Cuộc cải cách của Clixten chủ yếu trên lĩnh vực chính trị xã hội:
1 chia Aten thành 3 phân khu, mỗi phân khu chia thành 10 phân khu nhỏ, cứ 3 phân khu
ở 3 đơn vị hành chính khác nhau hợp thành 1 bộ lạc mới (mỗi bộ lạc mới bao gồm 3 phân khu nhỏ trong 3 phân khu hành chính) Tất cả hợp thành 10 bộ lạc;
2 Mở rộng hội đồng 400 người thành Hội đồng 500 người (Mỗi bộ lạc mới bầu 50
người thuộc đẳng cấp thứ hai hoặc ba Điều kiện để được bầu vào Hội đồng là công dân
tự do Aten, phải là nam giới, và từ 18 tuổi trở lên);
3 Thành lập một cơ quan mới có tên là Hội đồng 10 tướng lĩnh, mỗi người đại diện cho
1 bộ lạc mới với điều kiện: có thu nhập lớn nhất trong bộ lạc, đảm bảo về tài sản, và có tài năng về quân sự
4 Đặt ra Luật bỏ phiếu bằng vỏ sò: Trong phiên họp đầu tiên của Hội nghị công dân họp
Trang 15vào mùa xuân, buộc tất cả công dân Aten có đủ điều kiện tham gia Trong vỏ sò ghi tên
kẻ chống phá nền dân chủ, nếu có 6000 vỏ sò thì kẻ đó bị kết tội là chống đối lại nền dânchủ và bị trục xuất khỏi Aten trong thời gian là 10 năm
Sau cuộc cải cách này thì chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô đã chính thức ra đời Trongchính thể này, quí tộc chủ nô mới nắm giữ hầu hết các vị trí quan trọng, công dân tự do được tham gia chính trị môt cách rộng rãi, cuộc cải cách này tạo điều kiện cho sự lớn mạnh của nhà nước Aten
1.3 Cuộc cải cách thứ ba: Cải cách của Pêriclet
Pêriclét đã có công lao lớn nhằm xây dựng Aten phát triền thành một thành bang phát triển về nhiều mặt Cuộc cải cách của Pêriclét diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị - xã hội:
1 Pêriclét đã có công lao rất lớn trong việc tăng quyền lực cho Hội nghị công dân.
Hội nghị công dân là cơ quan hoạt động thường xuyên, cứ 10 ngày tiến hành họp một lần Trong Hội nghị công dân, các thành viên đều có quyền thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước Qui định này tạo điều kiện cho mọi công dân đều có thể tham gia giữ các chức vụ trong bộ máy nhà nước
2 Ông cũng là là người đầu tiên tiến hành việc cấp lương cho nhân viên cơ quan nhà
nước như sĩ quan, binh lính Đồng thời thường xuyên tiến hành thực hiện trợ cấp, phúc
lợi cho công dân nghèo gặp khó khăn
2 Tổ chức bộ máy nhà nước Aten
+ Hội nghị công dân: Tính chất cộng hoà của nhà nước này thể hiện rõ nhất ở tổ chức
và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất làHội nghị công dân
Về tổ chức, thành phần của hội nghị công dân theo qui định của luật năm 451 TCN,
Trang 16những công dân được tham gia Hội nghị này phải là những công dân tự do Aten, là nam giới, đủ 18 tuổi trở lên, có cả cha mẹ là người Aten
Về thẩm quyền, Hội nghị công dân có quyền quyết định những vấn đề lớn của đất nước
như vấn đề chiến tranh, hoà bình; vấn đề xây dựng hay thông qua các đạo luật; giám sát các cơ quan nhà nước khác Ngoài ra Hội nghị công dân còn có quyền bầu ra các quan chức nhà nước, xét duyệt công việc quan trọng của Toà án, có quyền cung cấp lương thực cho thành phố
+ Hội đồng 500 người: Được thành lập bởi Hội nghị công dân bằng hình thức bỏ phiếu
Cơ quan này giữ chức năng hành chính, tư vấn Sau cải cách Clixten thì đây còn là cơ quan đại diện cho nhà nước về đối ngoại, có quyền quản lí về tài chính
+ Hội đồng 10 tướng lĩnh: Cơ quan này cũng được bầu trong hội nghị công dân Về
chức năng, đây là cơ quan lãnh đạo quân đội, thực hiện chính sách đối ngoại nhưng chịu
sự kiểm sát của Hội nghị công dân, nhưng không được hưởng lương
+ Toà bồi thẩm: Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất của nhà nước Thành
phần tham dự toà bồi thẩm rất đông Dưới thời Pêriclét, có tới 6000 thẩm phán, họ được bầu hàng năm ở Hội nghi công dân bằng hình thức bỏ phiếu Nhà nước Aten không có Viện công tố, mọi người dân có thể phát đơn kiện - tức là tự khởi tố hoặc là tự bào chữa cho mình Trong phiên toà sau khi đã nghe hai bên đối chất toà họp kín để quyết định
bản án
3 Nhận xét chung về tính chất dân chủ của nhà nước cộng hoà dân chủ chủ nô Aten
Thành quả rõ nét nhất của nhà nước Aten chính là xây dựng được một nhà nước dân
chủ chủ nô đầu tiên trong lịch sử nhân loại, là nhà nước đầu tiên khai sinh ra hình thức dân chủ trực tiếp, khai sinh ra hình thức chính thể Cộng hoà Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhà nước Aten có thể phát triển và đạt đến trình độ văn minh cao
ở thời cổ đại là do nhà nước này đã liên tục có các cuộc cải cách rất toàn diện từ kinh
Trang 17tế, chính trị, đến văn hoá - xã hội.
1 Ngay từ cuộc cải cách của Xô lông, xu hướng chung của các cuộc cải cách là tước bỏ
bớt đặc quyền kinh tế và quyền lợi chính trị của quí tộc; Trong 3 cuộc cải cách thì cải
cách của Xô lông đã đưa ra bước đột phá về kinh tế, đây chính là nền móng cơ bản nhất
để kinh tế công thương nghiệp phát triển, là cơ sở hạ tầng vững chắc, tạo điều kiện cho các cuộc cải cách về các lĩnh vực chính trị - xã hội của Clít-xten và Pêriclét sau này
2 Việc phân chia đẳng cấp đã tạo điều kiện cho tầng lớp nông dân và thợ thủ công ngày
càng đông đảo, không những thế nó còn tạo điều kiện để củng cố, nâng cao địa vị về kinh tế của quí tộc chủ nô mới, tạo điều kiện kích thích công thương nghiệp phát triển
3 Thường dân cũng được tham gia vào sinh hoạt chính trị của nhà nướckhi thoả mãn 3
điều kiện: là công dân tự do cha và mẹ đều là người Aten, nam giới và đủ 18 tuổi Đây làmột qui định đặc biệt tiến bộ đối với một nhà nước thời kỳ cổ đại
4 Hội nghị công dân có thực quyền Đặc biệt hội nghị công dân có nhiều quyền mà
không một thiết chế nào trong bộ máy nhà nước có được đó là:
i + Quyết định vấn đề chiến tranh, hoà bình;
ii + Xây dựng hay thông qua các đạo luật
iii + Có quyền giám sát các cơ quan nhà nước khác;
iv + Bầu các quan chức nhà nước, xét duyệt công việc quan trọng của Toà án, có quyền cung cấp lương thực cho thành phố, có thực quyền rất lớn
5 Luật bỏ phiếu bằng vỏ sò để chống lại âm mưu thiết lập nền độc tài là một qui định khá đặc thù, mặc dù còn có hạn chế song phần nào đãkhẳng định khát vọng dân chủ,
không chỉ ở người dân mà ở cả những nhà cải cách, những người thuộc tầng lớp quí tộc chủ nô mới.
Trang 186 Sản phẩm của thể chế dân chủ ở Hy Lạp cổ đại nói chung và nhà nước CHDC chủ nô
Aten nói riêng đã đưa Hy Lạp phát triển rực rỡ trở thành đỉnh cao của nền văn minh cổ
đại trên nhiều phương diện như văn học
7 Tuy nhiên tính chất dân chủ của nhà nước Aten cũng có nhiều hạn chế, trước hết ta
thấy số lượng những người không được tham gia vào đời sống chính trị là nô lệ và kiềudân chiếm số lượng áp đảo so với số lượng dân tự do Như vậy những người là lựclượng lao động chủ yếu trong xã hội không có quyền công dân Hơn nữa trong số 90.000dân tự do, có không quá 30% thoả mãn đầy đủ cả 3 yêu cầu: nam giới, 18 tuổi, cha mẹ làngười Aten Vì rất nhiều người già, phụ nữ và trẻ nhỏ hoặc nam giới 18 tuổi nhưng cha
mẹ là kiều dân thì cũng không được tham gia vào đời sống chính trị Con số cao nhất củaHội nghị công dân ước tính là khoảng 6000 người, lại tập trung ở thủ đô của Aten, dovậy không phải tất cả những người đủ điều kiện ở những nơi khác có thể tham gia
Câu 6: So sánh và chỉ ra nét khác biệt cơ bản giữa nhà nước Xpác và nhà nước Aten (Hy Lạp cổ đại).
So sánh hình thức chính thể Aten và Xpac
a Giống nhau:
- Cả Aten và Spác đều là hai thành bang thuộc Hy Lạp
- chính thể nhà nước đặc trưng là chính thể cộng hòa chủ nô 1 - Nhà nước được xây dựng và thống trị bởi giai cấp chủ nô – giai cấp nắm các đặc quyền về kinh tế và chính trị; chung mục đích bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai cấp chủ nô trong xã hội - Cả hai nhà nước trên đều tồn tại trên cơ sở tư hữu và quan hệ bóc lột nô lệ
Trang 19b Khác biệt
1 Hội nghị công dân
Cả hai nhà nước Xpac & Aten đều thừa nhận đây là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước
Mang tính hình thức
Thành phần: Nam công dân từ 30
tuổi trở lên, có bố mẹ là người Xpac
Hoạt động: Chỉ được triệu tập khi
hai vua đồng ý, không hoạt động
thường xuyên;
Quyền hạn: Không có quyền thảo
luận công việc nhà nước
Biểu quyết những quyết định đã rồi;
Hình thức biểu quyết la hét (mơ hồ),
xếp hàng;
Mặc dù được thừa nhận là cơ quan
quyền lực của Hội nghị công dân;
PL thừa nhận là cơ quan quyền lực thực quyền lớn
Nam công dân từ 18 tuổi, có bố mẹ là người Aten
bộ máy NNGiám sát hoạt động do cơ quan NN do mình bầu ra
Cùng tòa án đua ra quyết định cuối cùng củaTATC
Thừa nhận hay tước bỏ quyền công dânNX: quyền lực nhà nước thuộc về tay công dân khi tham gia hội nghị công dân theo quyđịnh của pháp luật
Nền dân chủ trực tiếp
2 Hai vua
Có quyền ngang nhau.; vừa giữ vai
trò thủ lĩnh quân sự, vừa giữ vai trò
2 Hội đồng 500 nhưng không có vua
Có vai trò quan trọng trong hội nghị công dân, được bầu bằng cách bỏ phiếu
Trang 20Hai vua là thành viên của hội đồng
3 Hội đồng trưởng lão
Lựa chọn trong hàng ngũ quý tộc
danh vọng, 60 tuổi trở lên;
Quyết định những vấn đề có liên
quan đến quốc gia như chiến tranh
và hòa bình;
3 Hội đồng 10 tướng lĩnh có nhiệm kì
Bầu bằng cách giơ tay biểu quyết, công nhângiàu có mới đảm nhận
Chỉ huy quân đội thực hiện những chính sách đối ngoại
4 Hội đồng 5
Giám sát bao trùm tất cả các cơ
quan khác, kể cả hai vua & hội đồng
trưởng lão; giải quyết các công việc
ngoại giao, tài chính, tư pháp, kiểm
tra tư cách công dân,
Hội đồng này là tập đoàn của tầng
lớp quý tộc bảo thủ
Từ tên gọi, thành phần, chức năng
quyền hạn của cơ quan, quyền lực
nhà nước chỉ thuộc về tầng lớp quý
tộc thị tộc, tầng lớp này thao túng
toàn bộ nhà nước
Tính dân chủ bị hạn chế tối đa
4 Tòa bồi thẩm
Cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhấtCông dân từ 30 tuổi trở lên có quyền ứng cửĐây là hình thức chính thể cộng hòa dân chủchủ nô hoàn thiện nhất trong thời Peridet Công dân đã có địa vị pháp lí trong xã hội, đặc biệt là những quyền bầu cử ứng cử, phátđơn kiện, bào chữa và tự bào chữa, Từ tên gọi nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần của bộ máy nhà nước hoàn toàn không có giai cấp quý tộc chủ nô Quyền hạn thuộc về công dân
Nền dân chủ điển hình của hình thức cộng hòa cổ đại
Trang 21Câu 7: Trình bày nội dung cơ bản của luật la mã Và lý giải sự phát triển của pháp luật dân sự ở La mã Thời kỳ cổ
a/ Nội dung cơ bản của luật la mã:
Luật La Mã là bộ luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ.Luật la mã đượcchia làm 2 thời kỳ khác nhau:
*Thời kỳ đầu của nền cộng hòa – luật 12 bảng
Năm 550 Trước CN, sau 1 năm làm việc , Ủy ban biên soạn PL gồm 5 quý tộc và 5 bìnhdân đã soạn xong bộ luật và được ghi trên 12 bảng đóng đặt tại quảng trường thành phố
- Về dân sự: ND chính của luật này nhằm bảo vệ quyền tư hữu tài sản của chủ nôgiàu có Theo bộ luật, kẻ nào xâm phạm đến tài sản của người khác như: đốt nhà, trộmcắp, phá hoại hoa màu đều bị xử tử Nếu như kẻ nào đương đêm vào nhà ăn trộm mà bịgiết ngay tại chỗ thì hành vi ghiết người đó được coi là hợp pháp
- Luật còn quy định người sắp chết được quyền để lịa tài sản cho bất cứ người nàothừa kế Nếu người chết không có thân thích bên nội thì tài sản đó thuộc về thị tộc
- Về hình sự: Bộ luật quy định những hình phạt tàn khốc với con người Ví dụ: Luâtquy định con nợ nếu không trả nợ đúng hạn , con nợ sẽ bị chủ bắt giam, gong cùm.Trong thời gian 60 ngày bị giam giữ, con nợ bị mang tới quảng trường 3 lần vào nhữngphiên chợ để xét xử Nếu quá 60 ngày vẫn không trả nợ chủ nợ có thể mang tùng xẻo cơthể…
- Về hôn nhân gia đình: Cấm kết hôn giữa người bình dân và quý tộc, quyền lựcngười đàn ông rất lớn (Tài sản do chồng quản lý, người cha có thể bán con để làm nô lệ)
- Vấn đề bồi thường ngoài vi phậm hợp đồng: Nếu ai gây thương tích làm tàn tậtngười khác và không bồi thường thì việc trả thù ngang bằng là hợp pháp
- Về tố tụng dân sự: Nếu ai đó được triệu tập đến tòa, người đó phải đến, nếu khôngđến anh ta sẽ bị bắt giữét xử cụ thể, thẩm phán sẽ bị tử hình nếu có bằng chứng về tộinhận hối lộ
Trang 22Điểm đặc biệt của luật 12 bảng đã có quy định liên quan đến trách nhiệm của thẩm phán
và quy định cấm xử tử hình khi chưa thông qua xử
*Luật La mã thời kỳ cuối của nền cộng hòa
Mức độ hoàn thiện của luật La mã được đánh gía rất cao, thể hiện ở chỗ bảo vệ tất cả cácmặt của chế độ tư hữu, phạm vi điều chỉnh của luật rất sâu rộng, điều chỉnh hầu hết cácquan hệ xã hội đương thời đó là chế định về quyền sở hữu, về thừa kế tài sản Kỹ thuậtlập pháp rõ rang, lời văn chuẩn mực, giá trị pháp lý cao
- Chế định về quyền sở hữu, chiếm hữu: thừa nhận 3 hình thức sở hữu: sở hữu nhànước, sở hữu công xã và tư hữu
- Về chế định hợp đồng: điều kiện hiệu lực của HĐ là phải tự nguyện, không lừadối và nội dung phải hợp pháp
- Về thừa kế: có 2 loại: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo luật
- Về hôn nhân gia đình: thừa nhận hôn nhân gia đình 1 vợ, 1 chồng trên cơ sở tựnguyện
b/ lý giải sự phát triển của pháp luật dân sự ở La mã Thời kỳ cổ
- Thứ nhất Luật La Mã dựa trên nền tảng của nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh
mẽ, quan hệ nô lệ phát triển mạnh và mang tính điển hình đòi hỏi phải có hệ thống luậtchặt chẽ chi phối mối quan hệ xã hội đó; lãnh thổ của đế quốc không ngừng được mởrộng do các cuộc chiến tranh xâm lược nên có nhiều kế thừa, sự kết hợp nhiều hệ thốngpháp luật của những nước bị xâm lược
- Do mưu đồ bá chủ thế giới của đế quốc La mã cổ đại, đã kết hợp, kế thừa nhiều hệthống pháp luật khác của các nước bị La mã xâm lược
Câu 8: So sánh đặc điểm về hình thức chính thể nhà nước ở các quốc gia Phương Đông và Phương Tây trong thời kỳ cổ đại
Hình thức nhà nước
Trang 23Hình thức chính thể ở Phương Đông về cơ bản là hình thức quân chủ Vua đứng đầu nhà
nước, có quyền lực cao nhất về mọi mặt, vua được thần thánh hoá, được coi là vị thần vĩđại, là thiên tử hoặc tăng lữ tối cao Biểu hiện ở các lĩnh vực, về thế quyền (quyền đứngđầu bộ máy nhà nước), quyền được đặt ra luật lệ và bắt buộc thần dân phải tuân thủ Nhàvua có quyền bổ nhiệm, điều động quan lại và quân đội để thực hiện quyền quản lí tốicao về mọi mặt Mọi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều tập trung trong tay nhàvua Về thần quyền, vua là vị tăng lữ tối cao được chọn lựa quốc giáo, hệ tư tưởng chínhthống, được tế trời, có quyền quản lí mọi sinh hoạt về tinh thần, về tôn giáo và tínngưỡng Thế quyền được kết hợp chặt chẽ với thần quyền để thống trị nhân dân, dướivua là hệ thống quan lại từ trung ương đến địa phương Mọi chức quan, mọi cơ quan nhànước chỉ có quyền tư vấn cho vua, thực thi mệnh lệnh của nhà vua Thông qua hệ thốngquan lại, vua có quyền kiểm soát toàn quốc, cai quản toàn bộ đất đai và thần dân Quầnchúng nhân dân phải phục tùng vô điều kiện giai cấp thống trị và hầu như không đượctham gia bất cứ sinh hoạt chính trị nào của đất nước
Ở Phương Tây, hình thức chính thể được biểu hiện rất đa dạng gồm dân chủ chủ nô,
cộng hoà quý tộc, quân chủ chuyên chế Ví dụ nhà nước Xpác (nhà nước cộng hoà quý
tộc chủ nô); nhà nước Aten (nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô); nhà nước La mã (cộng hoà và quân chủ chuyên chế) Những nhà nước được tổ chức theo chính thể cộng hòa thìcác thiết chế quan trọng được hình thành bằng phương thức bầu cử Ví dụ: Thiết chế Hộinghị công dân ở nhà nước Aten; Hai vua trong nhà nước Xpac được hình thành bằng phương thức bầu cử.ra
Giống nhau
- Sự ra đời của Nhà nước cổ đại ở phương Đông và phương Tây đều tuân theo một qui luật chung, đó là sự hình thành trên cơ sở những mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thểđiều hòa được
- Về bản chất: quyền lực chính trị trong các nhà nước ở Phương Đông và Phương Tây cổ
đại thuộc về giai cấp chủ nô Cơ cở kinh tế của nhà nước là dựa trên chế độ chiếm hữu
Trang 24của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và nô lệ.Cơ sở xã hội là một hệ thống kết cấu
giai cấp khá phức tạp trong đó về cơ bản có hai giai cấp chủ nô và nô lệ
- Về chức năng: Hoạt động chủ yếu của nhà nước thời kỳ này là bảo vệ, củng cố chế độ
sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược,đồng thờiphòng thủ, bảo vệ đất nước và tiến hành các hoạt động ngoại giao, buôn bánvới các quốc gia khác
- Về tổ chức bộ máy nhà nước:Bộ máy nhà nước ở cả Phương Đông và Phương Tây đã
bao gồm các cơ quan chuyên trách với chức năng, nhiệm vụ khác nhau và trong bộ máy đều có một bộ phận quan trọng là các cơ quan quản lý về quân sự, cảnh sát
Khác nhau:
1 Hình thức Là nhà nước quân chủ với 3
Ăng ghen đã chỉ ra 3 hình thức cơ bản của sự xuất hiệnnhà nước:
+ Nhà nước Aten+ Nhà nước Giéc manh+ Nhà nước Roma cổ đại
2 Bộ máy nhà nước Đứng đầu nhà nước là nhà
vua, vua có quyền lực vô hạn, tuyệt đối quyết định các vấn đề chiến tranh hay hòa bình Ngoài quyền lực
về hành chính, vua còn nắmtối cao về tôn giáo và được
Đứng đầu nhà nước phươngtây không phải là vua mà là đại hội công dân Đại hội bầu ra các quan chức nhà nước,, thảo luận và thống nhất các đạo luật, quyết định chiến tranh hay hòa
Trang 25coi đại diện hay hiện thân dòng dõi của thần thánh
bình các vấn đề phát triển của đất nước
3 Cấu trúc nhà
nước
Chỉ có một nhà nước duy nhất
Nhà nước chia thành các bang nhỏ và hoạt động độc lập như 1 quốc gia
4 Cơ quan xét xử Phương Đông nhìn chung
cơ quan xét xử không tách riêng thành cơ quan độc lập với cơ quan hành chính.
Cụ thể quyền xét xử tối cao thuộc về người đứng đầu nhà nước và thường được nhà vua uỷ nhiệm cho một
cơ quan đặc biệt ở trung ương Tại các địa phương, hoạt động xét xử thuộc thẩm quyền của viên quan đứng đầu đơn vị hành chínhđó
Phương Tây ngay từ đầutính chuyên nghiệp và tínhđộc lập trong hoạt động xét
xử đã cao hơn.Các cơ quan
xét xử thường được tách khỏi cơ quan hành chính và phân nhóm để xét xử những loại vụ việc cụ thể Ví dụ: ở
La mã (thời kì cộng hòa) cơquan xét xử chuyên tráchđược thành lập với số lượngkhá đông các thẩm phánđược bầu, hoạt động thườngxuyên theo các nhóm vớiquy chế hoạt động chặt chẽ
Câu 9 Đặc điểm nhà nước và pháp luật Trung Quốc
I ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TRUNG QUỐC
12 triều đại phong kiến Trung Quốc kéo dài từ năm 221 TCN (nhà Tần) đến năm 1911(nhà Thanh) Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nhà nước phong kiến Trung
Quốc mang đặc điểm của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền điển
hình của phương Đông với những đặc điểm sau:
Trang 26- Mọi quyền lực đều tập trung vào tay Hoàng đế - Vua - Thiên tử Hoàng đế nắm cả thếquyền và thần quyền Bộ máy quan lại đều là tôi tớ, giúp việc cho Hoàng đế; dân chúngtrong nước đều là thần dân của Hoàng đế đất nước chia làm các quận, huyện, châu, tùythời kỳ Thông qua đội ngũ quan lại ở trung ương và địa phương, Hoàng đế kiểm soáttoàn quốc, toàn dân, nhờ đó chế độ quân chủ chuyên chế ngày càng được củng cố;
- Nhất nguyên chính trị;
- Chức năng nhà nước: xâm lược, bành trướng lãnh thổ;
- Tư tưởng tôn giáo bao trùm là Nho giáo (Đức trị), ngoài ra còn có Pháp trị
Nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến Trung Quốc tồn tại và phát triển dựa trên cơ
sở và do những nhu cầu sau:
Cơ sở kinh tế xã hội: đó là chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất và nhu cầu trị
thủy
Cơ sở chính trị: giai cấp địa chủ Trung Quốc hầu hết là trung và đại địa chủ.
Cơ sở tư tưởng của nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Hoa ảnh hưởng sâu
sắc của tư tưởng Nho giáo
Tiêu biểu nhất cho mô hình nhà nước là nhà Đường (618-907) - triều đại cựcthịnh nhất của lịch sử phong kiến Trung Quốc Nhà Đường đã tiến hành cải cách tổ chứcnhà nước nhằm củng cố và tăng cường chính thể quân chủ chuyên chế Điểm mới về bộmáy nhà nước thời kỳ này là nhà Đường lập ra Tam sảnh (tương tự Tam quyền) giúp nhàvua quản lý các công việc của đất nước, có sự phân công rõ ràng nhưng vẫn phải phốihợp trong công việc
Lúc này Trung Quốc được chia thành 10 đạo, đến thế kỷ VIII tăng lên 15 đạo,đứng đầu là Tiết độ sứ Quan lại cấp huyện trở lên đều do triều đình bổ nhiệm
Để củng cố nhà nước tập quyền, nhà Đường cải cách chế độ "sĩ tộc và mở rộngkhoa cử": sỹ tộc không theo huyết tộc mà theo phẩm trật cap thấp của quan lại; còn khoa
Trang 27cử thì có 8 khoa mục, quan trọng nhất là khoa tiến sỹ các đại thần thời Đường phần lớnxuất thân từ khoa tiến sỹ.
Về quân đội, nhà Đường chú trọng phát triển kỵ binh và có lực lượng quân độirất hùng mạnh
II ĐẶC TRƯNG CỦA PHÁP LUẬT PHONG KIẾN TRUNG QUỐC
Luật pháp phong kiến Trung Quốc có 5 nguồn chủ yếu:
Lệnh: Chiếu chỉ của hoàng đế ban ra
Luật: Quy định về chế độ ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi thươngnghiệp
Cách: cách thức làm việc của quan chức nhà nước
Thức: Thể thức có liên quan đến việc khám nghiệm, tra hỏi, xét xử
Lệ: án lệ
Pháp luật phong kiến là pháp luật nho giáo: các quan điểm đạo đức lễ nghi nhogiáo được thể chế hóa vào trong pháp luật là những đặc trưng quan trọng của pháp luậtphong kiến Trung Quốc Pháp luật Trung Quốc có sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị,giữa lễ và hình Luật công có xu hướng phát triển hơn so với luật tư, nghiêng về hình sựhơn dân sự
2.1 Pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự kết hợp giữa lễ và hình
Lễ là nguyên tắc xử sự của con người thuộc các đẳng cấp khác nhau trong các quan hệ
xã hội Lễ là nội dung trọng tâm của nho giáo Lễ giáo phong kiến xác lập và củng cốmối quan hệ tam cương, ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội, quan hệ vua tôi, quan hệcha mẹ - con cái, quan hệ chồng - vợ Đó là trật tự của xã hôi phong kiến Hình là hìnhphạt hay nói rộng ra là pháp luật
Trang 28Từ thời Tây Chu, lễ dần dần trở thành một thể chế chính trị, hỗ trợ cho hình luật.Tuy nhiên, do đặc điểm tình hình lúc bấy giờ và do sự xuất hiện các tư tưởng chính trịkhác, đặc biệt là thuyết pháp trị - phù hợp với tình hình xã hội nên việc áp dụng lễ giáochưa giữ vai trò chủ đạo Đặc biệt trong triều đại nhà Tần, Tần Thủy Hoàng chủ trươngchỉ sử dụng pháp luật, không dùng lễ giáo nhân nghĩa để cai trị Do đó, lễ giáo trong thời
kì này rất mờ nhạt
Từ nhà Hán trở về sau, đặc biệt là từ đời Hán Vũ Đế chủ trương sử dụng Nho giáo
để quản lí nhà nước và biến Nho giáo thành quốc giáo thì lễ- nội dung trọng tâm củaNho giáo trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội phong kiến Lễ kết hợp với hìnhluật để chủ trương xây dựng và thực thi pháp luật Trong mối quan hệ giữa lễ và hình thìcác nguyên tắc của lễ làm sự chỉ đạo, còn lễ mượn sự cưỡng chế của hình để duy trì.Thực hiện chủ trương kết hợp lễ và hình, nhà nước phong kiến Trung Quốc áp dụng cácnguyên tắc: Đức chủ hình phụ, Lễ pháp tịnh dụng
Nhà nước phong kiến Trung Quốc còn sử dụng nguyên tắc “tam cương ngũthường” của nho gia làm chủ đạo Tam cương là nội dung cơ bản trong giáo lí của đạonho và được pháp luật bảo vệ bằng việc quy định 10 trọng tội (thập ác) Trong đó các tộitrái với đạo hiếu có 6 tội (ác nghịch, bất đạo, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn) Cáctội bất trung với hoàng quyền phong kiến có 4 tội (mưu phản quốc, mưu đại nghịch,mưu phản loạn, đại bất kính) Trong quan hệ hôn nhân theo giáo lí đạo Nho và cũng làtheo luật pháp quy định, người chồng có quyền li dị vợ nếu người vợ chỉ cần phạm mộttrong 7 điều sơ suất (thất suất): không con, dâm dật, không phụng sự cha mẹ chồng,miệng lưỡi nói năng lung tung, trộm cắp, ghen tuông, ác tật Luật pháp từ Hán đếnĐường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều “nhất chuẩn hồ lễ” (chỉ lấy lễ làm chuẩn) Haynói cách khác luật pháp luôn luôn củng cố và bảo vệ lễ giáo phong kiến, trật tự của đẳngcấp của xã hội phong kiến, chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến
Tuy nhiên, việc dùng lễ đã gây ra việc áp dụng pháp luật không thống nhất Xuấthiện hiện tượng “tội đồng luận dị” (tội giống nhau nhưng lí luận khác đi dẫn đến hìnhphạt cũng khác nhau) Và do vậy, tệ quan lại xét xử một cách võ đoán hoành hành Các
Trang 29quan lại tùy tiện trong cách xét xử, có điều kiện phát sinh tiêu cực Điển hình là ĐổngTrọng Thư chủ trương dùng sách “Xuân Thu” của Khổng tử để làm cơ sở cho việc xửán.
2.2 Pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị, giữa quy phạm pháp luật với quy phạm đạo đức.
Trong xã hội phong kiến Trung Quốc đã tồn tại hai quan điểm đối lập nhau đó là: quanđiểm của Pháp gia và quan điểm của Nho gia Hai quan điểm này như hai sợi chỉ đỏxuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của xã hội phong kiến Trung Quốc Từ đó đặt
ra câu hỏi nên dùng pháp luật mà trừng trị hay nên dùng đạo đức mà giáo dục? Quanđiểm của hai trường phái này được thể hiện tương ứng qua hai học thuyết pháp trị vàđức trị
Nội dung của học thuyết pháp trị:
Học thuyết Pháp trị là học thuyết của phái Pháp gia, phái Pháp gia có nguồn gốc từ thờiXuân Thu, người khởi xướng là Quản Trọng Sau này có một nhà tư tưởng xuất sắc đó làHàn Phi Hàn phi đã lập ra trường phái Pháp trị muốn cai trị đất nước phải có ba yếu tố:Pháp, Thuật, Thế
Pháp: Phải là pháp luật thành văn, phải có hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch,
hợp lí, ổn định, ban hành cho khắp dân chúng biết; phải thi hành pháp luật nghiêmchỉnh, triệt để, chí công vô tư "không khoan dung người mình yêu, không khắc nghiệtngười mình ghét"
Thế: Quyền lực uy lực của nhà vua đảm bảo cho nhà vua có thể thực hiện được Ở
đây thuyết pháp trị sử dụng nội dung “chính danh” của Nho giáo, theo đó vua phải làmtròn phận sự của mình, các quan lại, dân chúng tùy theo danh phận của mình mà làmtròn công việc của mình Trong đó chỉ có vua mới là người có thể cai trị thiên hạ
Thuật: phương pháp, thủ đoạn cai trị của người cầm quyền kiểm soát được bề tôi,
nó bao gồm hai nội dung: bổ nhiệm và khảo thạch “kiểm tra, thưởng phạt”
Trang 30Ở Trung Quốc, tư tưởng pháp trị được biểu hiện đầu tiên trong một câu nói của QuảnTrọng - tướng quốc của Tề Hoàn Công vào khoảng đầu thời Xuân Thu: “vua - tôi, trên -dưới, sang - hèn đều tuân theo pháp luật cả, thế gọi là đại trị” Sau những nguyên lí đứctrị của Khổng Tử được đề ra, đã xuất hiện từng bước những bất đồng về chính trị giữa
Nội dung của học thuyết đức trị: (là nội dung chủ yếu của Nho giáo)
Là học thuyết chính trị của phái Nho gia xuất phát thời Xuân Thu, do Khổng Tử khởixướng Quan điểm của Nho giáo thể hiện trên hai phương diện: Quan điểm đạo đức: cơ
sở để duy trì trật tự xã hội nêu ra 5 tiêu chuẩn đạo đức của người quân tử: Nhân Lễ Nghĩa - Trí - Tín, đặc biệt nhấn mạnh nhân và lễ Nhân là điều tốt đẹp con người luônhướng tới, cung kính, khoan dung, luôn luôn giữ chữ tín, luôn luôn làm lợi cho ngườikhác Lễ theo quan niệm của Khổng Tử là các tiêu chuẩn đạo đức của con người Lễhướng con người ta có cách xử sự đúng đắn trong mối quan hệ giữa người với ngườitrong xã hội: vua – tôi, bề trên – người dưới, quan hệ vợ chồng Nêu lên mối quan hệvua tôi, cha con, chồng vợ, bằng hữu
-Từ đời Hán trở đi, Đức trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội cũng như trongchính sách cai trị của nhà nước Đến thời Đường, Đức trị của nho giáo còn được bổ sungthêm thuyết Nhân trị của Phật giáo Nhân trị ở đây là lòng từ bi, cứu nhân độ thế Đếnđời Tống, Minh sự suy yếu của đạo đức nho giáo được biểu hiện qua sự suy thoái củatriều đại, một số học giả khôi phục lại học thuyết pháp trị nhưng không thành Đến cuốiđời Thanh, nho giáo và tư tưởng đức trị cũng bị phê phán kịch liệt
Trang 31Tóm lại, trong suốt thời kì phong kiến Trung Quốc đức trị và pháp trị đã cùng tồn tại vớinhau, tương hỗ nhau Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn khác nhau thì mức độ ảnh hưởng củahai học thuyết này có khác nhau Nhìn chung thì nho giáo giữ vị trí thượng tôn, pháp trịvẫn được áp dụng nhưng không thể hiện một cách công khai
Hạn chế:
Nho giáo là công cụ bảo vệ chế độ vương quyền: Quyền lực nhà nước phảitập trung trong tay vua; chỉ người cầm quyền mới có nhân, họ thường xuyên phải tudưỡng bản thân, tuân theo lễ, nêu gương sáng để cai trị thiên hạ;
Hạn chế về thế giới quan: Không thấy được tồn tại xã hội đã thay đổi và chorằng loạn lạc là do lễ hư, nhạc hỏng, không tuân theo lễ;
Tư tưởng Nho giáo là tư tưởng hoài cổ, không kích thích lao động sản xuất,coi nhẹ lợi ích vật chất, không chú trọng khoa học kĩ thuật, khoa học tự nhiên;
Tư tưởng nhân đạo nhưng ảo tưởng, không phù hợp với tình cảnh chiến tranhloạn lạc
Nhìn chung, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Trung Quốc đượcthiết lập, không chỉ đáp ứng nhu cầu tổ chức công cuộc trị thủy – thủy lợi, tập trung,củng cố quyền lực của hoàng đế và hệ thống quan lại trong nước mà còn phục vụ hệ tưtưởng chính trị bành trướng, xâm lược, nô dịch và đồng hóa của các triều đại Trung Hoađối với các quốc gia khác
10 Nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại bền vững và phổ biến của hình thức Nhà nước quân chủ chuyến chế ở Phương Đông?
Xét về vùng lãnh thổ, phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu Á và phần Đông Bắc châu Phi Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến những nền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Arập, Trung Hoa, không thể không nhắc đến Nho giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Hinđu giáo và hàng loạt tín ngưỡng bản địa mang màu sắc phương Đông
Trang 32Trong lịch sử, chế độ phong kiến phương Đông ra đời sớm là do yêu cầu làm thủy lợi phục vụ nông nghiệp, đoàn kết chống ngoại xâm nên đã hình thành những quốc gia lớn, tồn tại lâu dài: khoảng 20 thế kỉ (tính từ đầu công nguyên đến những năm đầu của thế kỉ XX) Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn tới quán trình phát triển của chế độ phong kiến
và nhà nước phong kiến Nhà nước phong kiến điển hình thời kỳ này là nhà nước Trung Quốc với hình thức chính thể quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
Về cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước phong kiến.
Thứ nhất, ruộng đất là tư liệu sản xuất chính trong chế độ phong kiến.
Ở Phương Đông, chế độ ruộng đất không thuần nhất như ở phương Tây Hiện tượng phổbiến về ruộng đất của chế độ phong kiến tồn tại quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước (của vua) đồng thời đối với ruộng đất tư nhân; vua cũng có quyền sở hữu tối cao Tư hữuruộng đất (hầu hết là của trung và đại địa chủ, một phần nhỏ của nông dân) phát triển chậm
Thứ hai, về định tính và định hình giai cấp Địa chủ phong kiến là những người có nhiều
ruộng đất riêng của mình và bóc lột bằng địa tô
Ở phương Đông, ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, một phần được phân phong cho quý tộc quan lại (thường ruộng đất loại này, người được phong không có quyền mua bán), một phần được cấp cho nông dân theo định kì cày cấy để nhà nước thu thuế, như chế độ quân điền ở Trung Quốc, Việt Nam, chế độ ban điền ở Nhật Bản…
Như vậy, định tính và định hình của giai cấp ở phương Đông không sắc nét như ở
phương Tây
Thứ ba, trong khi phương Tây cho đến thế kỉ XIV, văn hóa, giáo dục vẫn bị giáo hội
lũng đoạn kìm hãm, cả xã hội sống trong lạc hậu, thì ở phương Đông, Trung Quốc, Ấn
Độ, Ả Rập là những trung tâm văn minh lớn của thế giới, với những thành tựu to lớn về văn học, triết học, nghệ thuật, khoa học tự nhiên…với những phát minh quan trọng của Trung Quốc (giấy, in, thuốc súng, la bàn) Khác hẳn với phương Tây, vua chúa phong kiến ở phương Đông thường là những nhà tri thức lớn trong xã hội
Trang 33Về tư tưởng, nhìn chung cả phương Đông và phương Tây đều lấy tôn giáo làm cơ sở
lý luận cho chế độ thống trị Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt rõ rệt: ở Phương Đông, chế
độ quân chủ chuyên chế rất mạnh và có nhiều tôn giáo trong cùng một nước Các tôn giáo đều không có tổ chức giáo hội mang tính quốc tế Mặc dù vậy nhưng gần như suốt trong quá trình tồn tại của chế độ phong kiến, nhà nước luôn sử dụng những giáo lý của tôn giáo để xây dựng và cũng cố một nhà nước quân chủ chuyên chế và bành trướng xâm lược ra bên ngoài như Nho giáo (Trung Quốc), Hồi giáo …
Về hình thức và chức năng của nhà nước.
Những nhà nước cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ … là những nơi có điềukiện thiên nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nơi mà quá trình phânhóa xã hội, tập trung của cải tư hữu và đấu tranh giai cấp diễn ra sớm nhất
- Do nhu cầu chống chọi với thiên nhiên và tổ chức sản xuất mà các nhà nước phương Đông đã ra đời
- Ở phương Đông ra đời và tồn tại một hình thức nhà nước đặc thù, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mà mọi quyền lực đều ở trong tay nhà vua và bộ máy quan lại cồng kềnh, quan liêu
- Các quốc gia cổ đại phương Đông đã duy trì lâu dài chế độ nô lệ gia trưởng và các hìnhthức áp bức bóc lột kiểu gia trưởng nên vai trò của nô lệ trong xã hội chưa nổi bật
Ở phương Đông, hình thức, kết cấu của nhà nước phong kiến là trung ương tập quyền, phát triển thành hình thức chính thể quân chủ chuyên chế và mang tính chuyên chế cực đoan Chính thể này tồn tại trong suốt thời kì chế độ phong kiến
VD: Trong các nhà nước phong kiến phương Đông, nhà nước phong kiến Trung Hoa làđiển hình Ở Trung Quốc bộ máy nhà nước cũng tiêu biểu cho kiểu nhà nước chuyên chếphương Đông Đặc trưng của kiểu nhà nước này là có một chính thể quân chủ chuyênchế tập quyền cao độ, hoàn hảo Dưới chế độ phong kiến, vua là người nắm trong taytoàn bộ quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp (nhất nguyên về chính trị) Vua được
Trang 34lớn, dưới vua là tầng lớp quý tộc quan lại phụ trách các công việc hành chính, quân đội,nông nghiệp…phục vụ Vua Vua và tước hiệu quý tộc được truyền lại cho con cháu.Vua nắm cả thần quyền.
Pháp luật đời Hán quy định tội thập ác (6 tội trong đạo hiếu, quan hệ gia đình và
4 tội bất trung) hoặc sử dụng sách Xuân Thu của Khổng tử làm cơ sở cho việc xử án để bảo vệ thứ bậc trong quan hệ nho giáo hay nói cách khác, bảo vệ lễ giáo phong kiến, củng cố tính tối thượng của nhà vua và địa vị hệ thống quan lại
Chính thể quân chủ chuyên chế phương Đông hình thành và phát triển do những yếu tố sau:
+ Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhà vua và sự tồn tại của các công xã nông thôn
+ Do đòi hỏi của cuộc xâm lược bành trướng hoặc trong công cuộc chống chinh phục.+ Do tập quán chính trị và tâm lý chính trị truyền thống Nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến là sự kế thừa và phát triển chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô
+ Tư tưởng cơ bản của tôn giáo phương Đông là muốn tạo ra thể chế xã hội ổn định trong trật tự gia đình, trong nhà nước, bảo vệ chế độ phong kiến là mục tiêu cơ bản.+ Do truyền thống kết hợp chặt chẽ giữa vương quyền và thần quyền
+ Cũng như thời kì chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến ở phương Đông còn có một chức năng đặc biệt và rất quan trọng, chức năng tổ chức công cuộc trị thủy và thủy lợi
Ở phương Tây, hình thức chính thể quân chủ chuyên chế chỉ xuất hiện ở thời kì cuối-thời kì suy vong của chế độ phong kiến và chỉ ở một số nước như Pháp, Anh, Tây Ban Nha…còn ở một số nước như Đức, Ý, tình trạng cát cứ phong kiến tồn tại suốt cả chế độ phong kiến
Như vậy, ở phương Đông đã xuất hiện phổ biến và tồn tại bền vững một hình thức nhà
nước đặc biệt Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, còn gọi là chủ nghĩa chuyên chế phương Đông Đặc trưng của kiểu nhà nước này là quyền lực vô hạn
Trang 35của nhà vua về thần dân và ruộng đất Nhà vua đã cùng với bộ máy quan lại tổ chứcquản lí xã hội tương đối chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, trong đó hình phápđược đề cao Các quốc gia phương Đông sở dĩ thiết lập được thiết chế chính trị này bởivua các nước đó nắm được quyền sở hữu tối cao về ruộng đất và về thần dân trong cảnước Có thể nói khắp dưới gầm trời không đâu không phải đất nhà vua, khắp dưới mặtđất không đâu không phải thần dân của nhà vua Do nắm được tư liệu sản xuất là toàn bộruộng đất nên các nhà vua đã dùng nó để ràng buộc các thần dân và nắm trọn quyềnchính trị Xã hội phương Đông thời phong kiến phân hoá chậm chạp, đồng thời tính giaicấp rất hạn chế và mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng phát triển chưa tới mức độ gaygắt, quyết liệt như ở phương Tây
Một lí do nữa về sự tồn tại của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền làcác nhà nước thường được hình thành ở lưu vực những con sông lớn Điều kiện tự nhiên
đã chứa đựng trong đó cả ưu đãi và thử thách Bất cứ một cộng đồng nào ở đây cũngphải tiến hành công cuộc trị thuỷ và thuỷ lợi, bảo vệ mùa màng Nhu cầu này đòi hỏiphải tập trung quyền lực vào trung ương để có thể huy động được sức người sức của,nhân tài vật lực
Ngoài ra các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông còn tiến hành các cuộc chiến tranh
để mở rộng bờ cõi hoặc bảo vệ lãnh thổ của mình, do đó cũng cần phải tập trung quyềnlực vào tay trung ương để huy động lực lượng vật chất và tinh thần
Câu 11 Các giai đoạn phát triển cơ bản của Nhà nước và pháp luật phong kiến Tây Âu? Lí giải nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi các hình thức nhà nước?
Các giai đoạn phát triển
Lịch sử nhà nước và pháp luật phong kiến Tây Âu được nhắc tới cơ bản trùng với thời
kỳ Trung cổ của Tây Âu Đây là giai đoạn sau thời kỳ cổ đại (sự sụp đổ của Đế chế Tây
La mã cổ đại năm 476) và trước thời kỳ cận đại (cuộc cách mạng tư sản Anh năm 1642).Quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước và pháp luật phong kiến Tây Âu có thể chia thành 3 giai đoạn tương ứng với các niên đại lớn như sau:
Trang 36- Giải đoạn I: từ thế kỷ V tới thế kỷ thứ IX (giai đoạn mở đầu) Đây là thời kỳ thành lập nhà nước phong kiến France sau chiến thắng của người German năm 476 kéo dài tới năm 888.
- Giai đoạn II: từ thế kỷ IX tới thế kỷ XV (giai đoạn phát triển) Đây là thời kỳ phân quyền cát cứ ở Tây Âu Thời kỳ này bắt đầu bằng sự kiện ký kết Hòa ước Verdun của 3 người cháu của Charlemagne năm 843 chia vùng đất Tây Âu thành 3 nước Italia, Đức, Pháp Trong đó, Đức và Pháp có tính chất phân quyền mạnh nhất do sự lớn mạnh của thếlực các lãnh chúa
- Giai đoạn III: từ thế kỷ XIV tới năm 1649 (giai đoạn suy tàn) Đây là thời kỳ thiết lập và tồn tại nhà nước quân chủ chuyên chế Bắt đầu từ sự kiện giai cấp tư sản muốn
mở rộng thị trường đã liên kết với nông nô ủng hộ nhà Vua, chống lại lãnh chúa, thiết lập nhà nước quân chủ chuyên chế (mạnh nhất là ở Anh và Pháp)
Trang 37Sự thay đổi các hình thức nhà nước
Trong thời kỳ Trung cổ của Phong kiến Tây Âu, ta có thể thấy nổi lên hai hình thức tổchức nhà nước cơ bản:
- Hình thức nhà nước phong kiến (giai đoạn đầu) và nhà nước phong kiến tập quyền(giai đoạn cuối), theo đó quyền lực nhà nước được tập trung vào người đứng đầu làvua và các thủ lĩnh đứng đầu các vương quốc mới được thành lập sau sự sụp đổcủa đế chế Tây La Mã Đất nước được chia thành các khu quản hạt, đứng đầu là bátước, có quân đội riêng, tài chính riêng, pháp luật riêng như 1 tiểu vương quốc.Lúc đầu mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương còn gắn kết quaviệc nhà Vua thu thuế, nghĩa vụ quân sự
- Hình thức nhà nước phong kiến cát cứ, theo đó quyền lực nhà nước được phân chiacho các lãnh chúa đứng đầu mỗi vùng, lãnh chúa có quyền lực tối cao trong vùngđất của mình và ít chịu sự áp đặt quyền lực của Vua Mối quan hệ giữa chínhquyền trung ương và địa phương ngày càng lỏng lẻo Thời gian này kéo dài trongquá trình phát triển của phong kiến Tây Âu
Qua các sự kiện tiêu biểu đánh dấu sự hình thành và kết thúc của một giai đoạn lịch sử trong quá trình phát tiển của Nhà nước và Pháp luật phong kiến Tây Âu, ta có thểthấy một số nguyên nhân, động lực dẫn tới sự thay đổi các hình thái tổ chức nhà nước phong kiến Tây Âu như sau:
- Trong thời kỳ đầu, cùng với sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã, các bộ tộc người German đã thành lập các vương quốc nhỏ trong lòng lãnh thổ cũ của Đế chế Tây La Mã Trong giai đoạn này, Tây Âu bị chia thành nhiều vùng lãnh thổ nhỏ, có sự tranh giành quyền lực, ảnh hưởng và đất đai giữa các thủ lĩnh người german Do đó, trong giai đoạn đầu này, mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế phù hợp với tình hình chiến sự và có sự
đe dọa diễn ra liên tục từ bên ngoài cũng như thuận tiện cho việc tập trung các nguồn lực
để tiến hành chiến tranh xâm lược, mở trộng lãnh thổ Bên cạnh đó, về mặt quy mô tổ chức nhà nước phong kiến trong giai đoạn này còn nhỏ về quy mô và có tính đơn giản
Trang 38- Trong thời kỳ sau, cùng với sự phân chia quyền lực và lãnh thổ đã tương đối ổn định, Tây Âu hình thành biên giới lãnh thổ rõ ràng hơn giữa các quốc gia lớn Cùng với
xu thế hòa bình giữa các quốc gia lớn, sự phát triển của bộ máy nhà nước (về cả quy mô
và tính phức tạp), và để ban thưởng cho các quý tộc, tướng lĩnh đã chiến đấu cùng với vua trong giai đoạn lập quốc, các Vua châu âu (điển hình là Pháp, Đức, Ý) đã chia lãnh thổ của mình cho các lãnh chúa, theo đó, quyền lực nhà nước được phân chia cho các lãnh chúa trên vùng đất của mình Chế độ phong tước tập quyền; phân phong ruộng đất theo kiểu phân đứt, sau đó được lãnh chúa phân lại cho các chức danh thấp hơn Người dân không trực tiếp chịu sự cai trị của nhà vua mà là lãnh chúa Cùng với sự độc lập về kinh tế các vùng lãnh thổ được phân chia chịu sự cai quản độc lập của lãnh chúa tại vùng
đó với hệ thống các cơ quan nhà nước và hệ thống pháp luật riêng, độc lập với nhau; giao thông cách biệt, không phát triển; kinh tế không thông thương Do đó, trong giai đoạn này, các vùng lãnh thổ trở thành các tiểu quốc gia độc lập, triều đình trung ương chỉ có ý nghĩa hình thức và không có bộ máy có thể thực thi quyền lực trực tiếp tới người dân
- Trong giai đoạn cuối của nhà nước phong kiến, sự phát triển của quy mô sản xuất, sựhình thành và lớn mạnh của giai cấp tư sản, công nhân thành thị và nông dân (lực lượng sản xuất) đã làm nẩy sinh nhu cầu phát triển, mở rộng thị trường Trong khi đó, tình hìnhcát cứ địa phương trên toàn lãnh thổ Châu Âu là trở ngại chính cùng với quyền lực quá lớn của lãnh chúa ở địa phương Chế độ cát cứ kìm hãm sự phát triển của kinh tế thành thị; thị dân bị lãnh chúa bóc lột nặng nề và sách nhiễu để kiếm tiền và kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa, thị dân đã đấu tranh chống lại lãnh chúa phong kiến để giải phóngthành thị và giành quyền tự trị với mô hình cơ quan đại diện đẳng cấp và chính quyền tự trị thành phố Thành thị được giải phóng mang lại cho dân quyền tự do bình đẳng, thúc đẩy kinh tế công thương nghiệp phát triển nhanh chóng Tầng lớp tư sản, công nhân thành thị, nông dân và các lãnh chúa yếu thế đã liên kết để nâng cao vai trò và thống nhất quyền lực nhà nước vào vua, do đó dẫn tới sự trở lại của hình thức nhà nước quân chủ chuyên chế qua hai giai đoạn, cụ thể:
Trang 39+) Giai đoạn đầu: Chính thể quân chủ trung ương tập quyền được xác lập lại, xóa
bỏ chế độ phân quyền cát cứ Khi xuất hiện nghị viện thì chính thể Nhà nước là quân chủcộng hòa phong kiến hay cộng hòa thành thị
+) Giai đoạn sau: xây dựng nhà nước theo chính thể quân chủ chuyên chế khi cả quý tộc phong kiến, tư sản và giáo hội đều có nhu cầu tập quyền
Như vậy có thể thấy nguyên nhân ban đầu của sự thay đổi các hình thức nhà nước phong kiến Tây Âu, bên cạnh yếu tố lịch sử là nhà nước Frang do hoàng đế Clovit giành được từ một cuộc đảo chính nên liên kế nhà nước lỏng lẻo, có yếu tố kinh tế xã hội là chính quyền trung ương không có sự chi phối lớn đến chính quyền địa phương; sự phân phong tước vị và ruộng đất của Vua cho các lãnh chúa, thì giai đoạn sau cơ bản là do nhu cầu phải thay đổi hình thức tổ chức nhà nước cho phù hợp với lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất mới trong xã hội Đó là sự ra đời của tầng lớp tư sản và công nhân thành thị cùng với sự phát triển của thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bên cạnh hoạtđộng sản xuất nông nghiệp truyền thống
Câu 12: Trình bày những điều kiện kinh tế - xã hội của sự tồn tại nền quân chủ phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời kì phong kiến.
Chế độ quân chủ phân quyền cát cứ ở Tây Âu là chế độ do vua cai trị, tuy nhiên bêntrong mỗi quốc gia lại có những lãnh địa tồn tại và phát triển độc lập, đứng đầu là lãnhchúa Mỗi lãnh địa có tòa án riêng, được thu thuế riêng, có quân đội riêng Nhà vua hầunhư không có khả năng tác động gì đối với các lãnh chúa, không có quyền điều động,thuyên chuyển, hay thay thế các lãnh chúa
Điều kiện kinh tế - xã hội của sự tồn tại nền quân chủ phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời
kì phong kiến:
- Vua không có quyền sở hữu tối cao về ruộng đất, thay vào đó là sở hữu tư nhân vềruộng đất của các lãnh chúa rất lớn, mặt khác chế độ phân phong ruộng đất và chế độ
Trang 40- Tiếp đến các lãnh chúa lại phân phong ruộng đất cho cận thần của mình "Bồi thầncủa bồi thần không phải là bồi thần của ta" Vua không có ảnh hưởng trực tiếp đến cáccận thần của lãnh chúa hay dân cư trong địa phận Mỗi lãnh địa có nhiều trang viên,trong mỗi trang viên phong kiến lại chia làm hai phần: phần thứ nhất gồm lâu đài và một
số ruộng đất, vườn tược do lãnh chúa trực tiếp quản lý và sức lao động ở đây là tô laodịch của nông nô Phần thứ hai chủ yếu gồm đất canh tác được chia thành nhiều khoảnhnhỏ cấp cho các gia đình nông dân lĩnh canh
- Sự hình thành đế quốc phong kiến Phơ – răng là kết quả trực tiếp từ các cuộc chiếntranh, được hình thành từ bạo lực, không có cơ sở kinh tế, chính vì vậy Nhà nước nàychỉ là sự liên hiệp tạm thời, thiếu vững chắc
- Các tước vị của nhà nước phong kiến phương Tây được cha truyền con nối, mỗi lãnhchúa đều có quân đội riêng nên nhà vua không có khả năng tác động đối với các lãnhchúa
- Các lãnh địa có phạm vi khác nhau, có nhiều lãnh địa rất lớn, mỗi lãnh địa có luậtpháp riêng, quân đội riêng, được thu thuế riêng nên những lãnh địa lớn có khả năng lấn
át quyền hành của nhà vua
- Quan hệ giữa lãnh chúa và nông dân là quan hệ bóc lột địa tô
- Pháp luật thời kì này không cho phép cư dân của các lãnh địa khác nhau kết hôn vớinhau
- Các lãnh địa có trình độ kinh tế - xã hội rất khác nhau, vì vậy nó có khuynh hướngphát triển riêng, muốn tách ra khỏi sự ràng buộc với chính quyền trung ương
- Kinh tế của các lãnh địa chủ yếu là kinh tế tự nhiên, khép kín tự cấp tự túc, lấy trồngtrọt và chăn nuôi là chủ yếu, ít có nhu cầu giao thương với các lãnh địa khác, chính vìvậy giao thông không được chú trọng đầu tư nên kém phát triển, liên hệ từng vùngkhông thường xuyên, chặt chẽ
Chính những nguyên nhân trên đã khiến cho chế độ phân quyền cát cứ ở Tây Âutồn tại lâu dài, nó đã kìm hãm sự phát triển của các quốc gia ở đây cho đến khi kinh tếhàng hóa và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, nối các quốc gia thành một thịtrường thống nhất, thúc đẩy kinh tế phát triển