1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Bài tập nhóm 7 nhiên liệu cồn

11 588 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 48,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tổng thể về nhiên liệu cồn Bài Tập Nhóm 7 Nhiên Liệu Cồn Nhiên liệu cồn là gì: Chế tạo hoàn toàn từ những thành phần tưởng chừng như bỏ đi, đồng thời lại vô cùng thân thiện với môi trường, công nghệ đầy tiềm năng này hứa hẹn sẽ tạo ra bước tiến đột phá cho một trong những nhu cầu cấp thiết nhất trong xã hội hiện nay. Trong thời đại hiện nay, chi phí dành cho việc di chuyển và đi lại như bảo trì, sửa chữa, đặc biệt là nhu cầu cung cấp nhiên liệu đã và đang trở thành một trong những vấn đề nóng hổi nhất trong phạm vi kể từ những bàn đám phán kinh tế cho đến cuộc tán gẫu giản đơn hằng ngày. Tuy nhiên, xã hội không chỉ quan tâm tới khía cạnh kinh tế mà còn ý thức rất rõ rệt về nguy cơ và rủi ro tiềm ẩn, chực chờ bùng phát thành những cuộc khủng hoảng hỗn loạn có quy mô toàn cầu, nếu chúng ta chỉ biết dựa dẫm vào một nguồn nhiên liệu duy nhất từ xăng dầu và khí đốt. Trước đó rất lâu rồi, từ năm 1826, nhân loại đã khởi động chiến dịch tìm kiếm những giải pháp sinh học

Trang 1

Bài T p Nhóm 7 ập Nhóm 7

Nhiên Li u Cồn ệu Cồn

-Nhiên li u cồn là gì: ệu cồn là gì:

Chế tạo hoàn toàn từ những thành phần tưởng chừng như bỏ đi, đồng thời lại vô cùng thân thiệu cồn là gì:n với môi

trường, công nghệu cồn là gì: đầy tiềm năng này hứa hẹn sẽ tạo

ra bước tiến đột phá cho một trong những nhu cầu cấp thiết nhất trong xã hội hiệu cồn là gì:n nay.

Trong thời đại hiện nay, chi phí dành cho việc di chuyển và đi lại như bảo trì, sửa chữa, đặc biệt là nhu cầu cung cấp nhiên liệu đã và đang trở thành một trong những vấn đề nóng hổi nhất trong phạm vi kể từ những bàn đám phán kinh tế cho đến cuộc tán gẫu giản đơn hằng ngày

Tuy nhiên, xã hội không chỉ quan tâm tới khía cạnh kinh tế mà còn ý thức rất rõ rệt

về nguy cơ và rủi ro tiềm ẩn, chực chờ bùng phát thành những cuộc khủng hoảng hỗn loạn có quy mô toàn cầu, nếu chúng ta chỉ biết dựa dẫm vào một nguồn nhiên liệu duy nhất từ xăng dầu và khí đốt

Trước đó rất lâu rồi, từ năm 1826, nhân loại đã khởi động chiến dịch tìm kiếm những giải pháp sinh học thay thế cho vấn đề ô nhiễm môi trường do nhiên liệu đốt gây ra Theo như những ghi chép về quá trình nghiên cứu lĩnh vực trên, một lựa chọn phù hợp, thỏa mãn phần nào nhu cầu cấp thiết của thế giới, cùng những đặc

tính thân thiện với môi trường chưa từng có trong tiền lệ đã xuất hiện:Ethanol.

Được chế tạo bằng phương pháp tinh chế, biến đổi thành phần thực vật trở thành năng lượng cần thiết, ethanol đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong Thế chiến II khi nhu cầu nổ ra mạnh mẽ; đồng thời ngày càng phổ biến và được nhiều người

Trang 2

biết tới, nhưng vẫn chưa đủ để trở thành nhân tố hàng đầu trên thị trường cung cấp nhiên liệu, cạnh tranh với các loại hình khác

Nguyên nhân chính là do giá thành của ethanol thường cao hơn đáng kể so với

xăng chì thông thường Hơn nữa, hàng tá những doanh nghiệp xăng dầu đã không

thể theo đuổi đến cùng công cuộc nghiên cứu và phát triển, hoàn thiện những đặc tính của ethanol, mặc dù trước đó đã đưa ra đầy rẫy những lời hứa và tuyên bố hùng hồn về một viễn cảnh tươi sáng

Cấu Tạo Của Cồn:

Êtanol, còn được biết đến như là rượu êtylic, ancol etylic, rượu ngũ cốc hay cồn,

là một hợp chất hữu cơ, nằm trong dãy đồng đẳng của rượu metylic, dễ cháy, không màu, là một trong các rượu thông thường có trong thành phần của đồ uống chứa cồn Trong cách nói dân dã, thông thường nó được nhắc đến một cách đơn

giản là rượu.

Êtanol là một ancol mạch thẳng, công thức hóa học của nó là C 2 H 6 O hay C 2 H 5 OH Một công thức thay thế khác là CH 3 -CH 2 -OHthể hiện carbon ở nhóm metyl

(CH3–) liên kết với carbon ở nhóm metylen (–CH2–), nhóm này lại liên kết với oxy của nhóm hydroxyl (–OH) Nó là đồng phân hoá học của đimetyl ête Ethanol

thường được viết tắt là EtOH, sử dụng cách ký hiệu hoá học thường dùng đại diện

cho nhóm êtyl (C2H5) là Et

Sản Xuất Cồn:

1 Nguyên liệu tinh bột

- Trên thực tế để sản xuất cồn Etylic về nguyên tắc có thể dùng bất kỳ nguyên liệu nào chứa đường hoặc Polysaccarit sau thuỷ phân sẽ biến thành đường và lên men được Do đó ta có thể dùng cả nguyên liệu giầu Xenluloza để thuỷ phân thành đường Tuy nhiên dùng nguyên liệu này kém hiệu quả kinh tế Trong thực tế điều kiện sản xuất ở nước ta chỉ dùng nguyên liệu tinh bột và mật rỉ ở đây tôi chỉ đề cập đến việc dùng nguyên liệu là tinh bột như sắn, ngô, gạo

Trang 3

a) Sắn: Về cơ bản củ sắn gồm 3 phần chính: vỏ, thịt củ và lõi, ngoài ra còn có cuống và rễ củ

- Vỏ sắn gồm có 2 phần là vỏ gỗ và vỏ cùi Vỏ gỗ có tác dụng bảo vệ củ và chống mất nước của củ,tuy nhiên vỏ gỗ dễ bị mất khi thu hoạch và vận chuyển Tỷ lệ vỏ

củ phụ thuộc vào giống sắn, độ già và khối lượng củ thường chiếm khoảng 1,5 đến 2% Vỏ cùi là một lớp tế bào cứng phủ bên ngoài, thành phần chủ yếu là xenluloza ngoài ra còn có chứa polyphenol, enzim, và linamarin

- Phần thịt củ có chứa nhiều tinh bột, protein và các chất dầu, một ít polyphenol, độc tố và enzim

- Lõi sắn nằm ở tâm củ dọc suốt chiều dài,thành phần chủ yếu là xenluloza Lõi có chức năng dẫn nước và các chất dinh dưỡng giữa cây và củ đồng thời giúp thoát nước khi phơi hoặc sấy sắn

- Thành phần củ sắn tươi dao động trong giới hạn khá lớn: tinh bột 20 đến 34%, protein 0,8 đến 1,2%, chất béo 0,3 đến 0,4%, xenluloza 1 đến 3,1%, chất tro

0,54%, polyphenol 0,1 đến 0,3% và nước 60 đến 74,2% Ngoài ra trong sắn còn chứa một lượng Vitamin và độc tố Vitamin trong sắn thuộc nhóm B Các Vitamin này sẽ bị mất một phần khi chế biến và nhất là khi nấu trong sản xuất rượu

- Độc tố trong sắn có tên chung là phazéolunatin gồm 2 glucozit Linamarin và Lotaustralin Các độc tố này thường tập chung ở vỏ cùi Bình thường

phazéolunatin không độc nhưng khi bị thuỷ phân thì các glucozit này sẽ giải phóng axit HCN

- Sắn tươi đã thái lát và phơi khô sẽ giảm đáng kể hàm lượng glucozit gây độc kể trên Đặc biệt trong sản xuất rượu,khi nấu ở nhiệt độ cao đã pha loãng nước nên với hàm lượng ít chưa ảnh hưởng đến nấm men Hơn nữa các muối xyanat khi chưng cất không bay hơi nên bị loại cùng bã rượu, điều này là rất có lợi trong sản xuất Do đó trong sản xuất rượu nguyên liệu tinh bột sắn dùng chủ yếu là sắn lát khô hoặc sắn dui

Ngoài sắn khô ta còn dùng gạo tấm và ngô để sản xuất ra cồn có chất lượng cao Riêng đối với nguyên liệu ngô trước khi dùng nên tách phôi để ép lấy dầu vừa tiết kiệm vừa không ảnh hưởng đến lên men

Quy trình:

- Chuẩn bị dịch đường lên men,bao gồm nghiền và nấu nguyên liệu để thu được dịch cháo chứa tinh bột hoà tan, dường hoá dịch cháo để biến tinh bột hoà tan thành đường rồi làm lạnh đến nhiệt độ lên men

Chuẩn bị men giống và tiến hành lên men dịch đường nhằm chuyển hoá đường thành rượu và CO2 dưới tác dụng của zymaza nấm men

Trang 4

Xử lý dịch lên men nhằm tách rượu và các chất dễ bay hơi khỏi giấm chín Sau đó

đem tinh luyện cồn thô để đượccồn tinh chế.

* Cụ thể các công đoạn tiến hành như sau:

1 Chuẩn bị nguyên liệu

- Nghiền nguyên liệu mục đích nhằm phá vỡ cấu trúc màng tế bào thực vật để giải phóng các hạt tinh bột khỏi các mô Hiện nay ở nước ta thường dùng các loại máy nghiền búa Với sắn khô khi nấu ở áp suất thường thì nghiền càng mịn càng tốt

2 Nấu nguyên liệu

- Mục đích chủ yếu của việc nấu nguyên liệu là phá vỡ màng tế bào của tinh bột để biến chúng thành dạng hoà tan trong dung dịch Quá trình nấu rất quan trọng trong sản xuất cồn Etylic, các quá trình kỹ thuật tiếp theo tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào kết quả nấu nguyên liệu

- Quá trình nấu nguyên liệu có thể thực hiện gián đoạn, bán liên tục hoặc liên tục

- Nấu gián đoạn: Đặc điểm là toàn bộ quá trình nấu được thực hiện trong cùng một nồi Phương pháp này có thiết bị và thao tác đơn giản nhưng tốn nhiều hơi đốt do không sử dụng được hơi thứ và gây tổn thất đường Quá trình nấu được thực hiện như sau: Cho nguyên liệu vào nồi,cho toàn bộ nước vào nồi với tỷ lệ 3,5 đến

4lít/kg nguyên liệu tuỳ thuộc vào hàm lượng tinh bột, đậy nắp kín cho máy khuấy làm việc rồi bắt đầu xông hơi sao cho 45 đến 60 phút thì áp suất trong nồi đạt yêu cầu Đối với nguyên liệu đã nghiền thì áp suất đạt yêu cầu khoảng 3 đến 3,5

kg/cm2 Lúc đầu cần phải đuổi hết không khí và khí không ngưng ra cho tới khi thấy có hơi nước bão hoà thoát ra ở van xả Thời gian nấu từ 60 đến 70 phút được tính từ khi đã đạt áp suất yêu cầu,nhiệt độ tương ứng là 135 đến 140 độ C Khi nấu

có thể cho thêm axit sunfuric loãng với hàm lượng 2 đến 4kg/tấn nguyên liệu sẽ nấu nhanh chín hơn và chống cho dịch cháo tinh bột ít hoặc không bị lão hoá Tuy nhiên nếu cho nhiều sẽ không có lợi do ăn mòn thiết bị và làm giảm hoạt tính của amylaza

- Nấu bán liên tục : Đặc điểm của phương pháp này là quá trình nấu được tiến hành nấu trong 3 nồi khác nhau và chia thành nấu sơ bộ,nấu chín và nấu chín thêm Phương pháp này tiết kiệm được hơi đốt và cho năng suất cao đồng thời thời gian nấu được rút ngắn tuy nhiên phải sử dụng tới 3 nồi để nấu do đó tốn kém cho thiết bị

- Nấu sơ bộ được thực hiện trong thiết bị hình trụ Lúc đầu cho lượng nước 40 đến

50 độ C vào cùng với tỷ lệ 3,5 đến 4lít/kg bột khuấy trộn rồi dùng hơi thứ từ nồi nấu chín thêm để đun dung dịch bột tới 70 đến 85 độ C và duy trì khoảng 50 đến

60 phút sau đó đưa sang nồi nấu chín

Trang 5

- Nấu chín tiến hành như trong phương pháp nấu gián đoạn tuy nhiên áp suất và thời gian nấu ít hơn áp suất nấu từ 2,8 đến 3,2 kg/cm2, nhiệt độ 130 đến 135 độ C, thời gian nấu khoảng 60 phút

- Dịch cháo sau khi nấu chín được đưa sang nồi nấu chín thêm Nồi nấu chín thêm

có dung tích gấp 3 lần so với nồi nấu chín,nhưng chỉ đổ đầy 2/3 nồi phần còn lại chứa hơi áp suất nấu từ 0,5 đến 0,7 kg/cm2, nhiệt độ 105 đến 106 độ C, thời gian nấu khoảng 50 đến 60 phút Quá trình nấu chín thêm là quá trình liên tục

- Hiện nay ở nước ta hầu hết đang sử dụng phương pháp này trong các nhà máy sản xuất cồn lớn do hiệu quả tốt, thao tác vận hành đơn giản, các thông số công nghệ không yêu cầu chặt chẽ lắm như : kích thước hạt bột, chất lượng bột…

-Nấu liên tục : Nấu liên tục cho phép có được năng suất cao, tồn hao năng lượng ít

và thời gian nấu được rút ngắn Tuy nhiên ở phương pháp này đòi hỏi các điều kiện nghiêm ngặt như về kích thước của bột phải có một tỷ lệ xác định,việc cung cấp điện, hơi nước,nước phải ổn định Quá trình nấu liên tục cũng được thực hiện thông qua 3 giai đoạn thực hiện trong 3 thiết bị khác nhau là : Nấu sơ bộ, nấu chín

và nấu chín thêm

- Khi điều kiện kỹ thuật cho phép thì phương pháp này là tốt nhất để sử dụng trong các nhà máy sản xuất cồn do nó mang tính công nghiệp và dễ cơ giới hoá,tự động hoá

3 Đường hoá dịch cháo

- Tinh bột hoà tan trong dịch cháo sau khi nấu xong chưa thể lên men trực tiếp để thành rượu được Để lên men được phải trải qua quá trình thuỷ phân do tác dụng của xúc tác amylaza để thành đường Quá trình này gọi là đường hoá nó đóng vai

trò quan trọng trong công nghệ sản xuất cồn Etylic,quyết định phần lớn hiệu suất

thu hồi rượu do giảm bớt hoặc gia tăng đường và tinh bột còn sót sau khi lên men Trong quá trình đường hoá thì tác nhân đường hoá đóng một vai trò quan trọng ở nước ta thường dùng amylaza thu được từ nuôi cấy nấm mốc hoặc các chế phẩm amylaza nhập về Hiện nay dùng các chế phẩm nhập ngoại là chính do chất lượng tốt mà chi phí lại không đắt hơn so với chi phí để tự nuôi cấy Và chủ yếu là nhập

về từ Đan Mạch

- Quá trình đường hoá dịch cháo nấu có thể thực hiện gián đoạn hay liên tục Tuy nhiên về cơ bản thì nó bao gồm các công đoạn sau:

+ Làm lạnh dịch cháo tới nhiệt độ đường hoá

+ Cho chế phẩm amylaza vào dịch cháo và giữ ở nhiệt độ trên trong thời gian xác định để amylaza chuyển hoá tinh bột thành dường

+ Làm lạnh dịch đường hoá tới nhiệt độ lên men

Trang 6

+ Sau đường hoá nhiệt độ dịch đường là 30 độ C hàm lượng đường đạt 80 đến 100g/l

4 Lên men dịch đường

- Đường hoá xong dịch đường được làm lạnh đến 28 đến 32 độ C và được đưa vào thùng lên men( hay còn gọi là thùng ủ) cùng với 10% men giống ở đây nấm men

sẽ phát triển và dưới tác dụng của nấm men,đường sẽ biến thành rượu và khí

cacbonic cùng nhiều sản phẩm trung gian khác.Đồng thời dưới tác dụng của

amylaza,dextrin tiếp tục biến thành đường và lên men được glucoza và maltoza Sau khi lên men xong ta thu được hỗn hợp gồm rượu-nước-bã còn được gọi là giấm chín

- Quá trình lên men có thể được thực hiện gián đoạn hay liên tục : Khi lên men gián đoạn,men giống và dịch đường lúc đầu được bơm song song với nhau vào thùng, lượng men giống chiếm khoảng 10% so với thể tích thùng lên men,nhưng dịch đường không bơm đầy thùng ngay mà thời gian đổ đầy một thùng lên men kéo dài từ 68 giờ để hạn chế sự phát triển của tạp khuẩn Thời gian lên men là 3 ngày Lên men gián đoạn có ưu điểm là dễ làm,khi nhiễm tạp khuẩn dễ sử lý tuy nhiên năng suất thu được từ 1m3 thiết bị thấp

- Lên men liên tục : Đặc điểm của quá trình lên men liên tục là dịch đường và men được cho vào thùng đầu – gọi là thùng lên men chính,luôn chứa một lượng lớn tế bào trong 1ml dịch Khi đầy thùng đầu thì dịch lên men sẽ chảy tiếp theo sang các thùng bên cạnh và cuối cùng là thùng chứa giấm chín Quá trình lên men được tiến hành như sau: Đầu tiên men giống được phát triển rồi được đưa vào thùng lên men cấp I,sau đó được đưa sang thùng lên men cấp II rồi mới được đưa sang thùng lên men chính,sau đó được đưa sang thùng lên men phụ Vấn đề chủ yếu của lên men liên tục là phải luôn luôn khống chế số tế bào ở thùng lên men chính khoảng 100 đến 120 triệu/ml và phải đảm bảo vô trùng

- Ưu điểm nổi bật của sơ đồ lên men liên tục là dùng một lượng lớn men giống ở thùng lên men chính nên lên men xảy ra nhanh,hạn chế được phát triển của tạp khuẩn Đồng thời nhiều men giống không những áp đảo được tạp khuẩn mà còn tạo rượu nhanh,hạn chế phát triển của chúng Mặt khác do độ chua của dịch đường cao,pH thấp cũng là yếu tố không thuận lợi cho vi khuẩn và nấm men hoang dại Sau 24 giờ đã có 78% đường được lên men,trong khi đó ở lên men gián đoạn mới chỉ đạt 42%

- Tuy nhiên khi lên men liên tục cần tính toán cẩn thận và có biện pháp công nghệ phù hợp,nếu không sẽ phản tác dụng,dễ nhiễm khuẩn hàng loạt và sử lý sẽ rất tốn kém và giảm hiệu suất

- Nhiệt độ lên men khống chế như sau : Đối với thùng lên men chính nên giữ ở 25 đến 27 độ C thùng lên men phụ từ 27 đến 30 độ C các thùng còn lại 27 đến 28 độ

Trang 7

C Trong điều kiện làm việc như vậy quá trình lên men sẽ kết thúc sau 60 đến 62 giờ so với lên men gián đoạn là 72 giờ

Sau quá trình lên men nhiệt độ dấm 34 đến 35 độ C

+ Nồng độ rượu đạt 5 đến 8%V

+ Nồng độ đường sót 3 đến 5g/l

+ Tinh bột sót 4 đến 6g/l

+ pH = 4,8 – 5,2

5 Chưng cất và tinh chế cồn

5 1 Cơ sở lý thuyết về chưng cất rượu

Chưng cất là quá trình tách rượu và các tạp chất dễ bay hơi khỏi giấm chín Kết quả ta nhận được rượu thô hay cồn thô

Giấm chín bao gồm các chất dễ bay hơi như : rượu, este, andehyt và một số ancol

có số các bon lớn hơn hai, các ancol này ta gọi là ancol cao phân tử hay dầu fusel ( còn gọi là dầu khét )

Ngoài ra trong giấm chín còn chứa tinh bột, dextrin, protit, axit hữu cơ và chất khoáng Tuy là hỗn hợp nhiều cấu tử nhưng trong thành phần của giấm chín chứa chủ yếu là rượu Etylic và nước, vì thế khi nghiên cứu người ta xem giấm chín như hỗn hợp của hai cấu tử

Quá trình chưng cất rượu có thể dựa vào 2 định luật sau ( do Cônôvalốp và Vrepski dưa ra):

Định luật I: Thiết lập quan hệ giữa thành phần pha lỏng và pha hơi ở trạng thái

cân bằng chất lỏng, cấu tử dễ bay hơi trong thể hơi luôn nhiều hơn trong thể lỏng Nếu ta thêm cấu tử dễ bay hơi vào dung dịch thì điều đó sẽ dẫn đến làm tăng độ bay hơi của hỗn hợp, nghĩa là làm giảm nhiệt độ sôi của dung dịch ở áp suất đã cho Tuy nhiên độ bay hơi của hỗn hợp chỉ tăng theo nồng độ rượu trong pha lỏng tới một nồng C% nào đó Sau đó nếu tiếp tục thêm rượu vào pha lỏng thì độ bay hơi không tăng nữa mà giảm đi Lúc này định luật I không còn đúng nữa

Định luật II: Khi chưng cất và tinh chế ở áp suất khí quyển, ta chỉ có thể nhận

được cồn có nồng độ 97, 2% V Thành phần hơi thoát ra từ dung dịch phụ thuộc vào áp suất bên ngoài Khi tăng áp suất của hệ thống hai cấu tử, cấu tử nào khi bay hơi đòi hỏi nhiều năng lượng thì hàm lượng tương đối của nó sẽ tăng trong hỗn hợp đẳng phí Do đó khi chưng cất rượu trong điều kiện chân không thì có lợi hơn

và có thể thu được rượu với nồng độ cao hơn 97, 2%V phụ thuộc vào độ chân không

5 2 Lý thuyết về tinh chế cồn

Tinh chế hay tinh luyện là quá trình tách các tạp chất khỏi cồn thô và nâng cao

nồng độ cồn

Cồn thô nhận được sau khi chưng cất còn chứa rất nhiều tạp chất ( trên 50 chất), có cấu tạo và tính chất khác nhau Trong đó gồm các nhóm chất như: aldehyt, este, alcol cao phân tử và các axit hữu cơ Hàm lượng chung của tất cả các tạp chất

Trang 8

không vượt quá 0, 5% so với khối lượng cồn Etylic Thành phần tạp chất nói

chung thay đổi phụ thuộc vào nguyên liệu Có một số tạp chất mang tính đặc thù của từng nguyên liệu

Còn sản xuất rượu từ tinh bột thường chứa furfuron và các tạp chất gây vị đắng, đó

là các tecpen Chất này khó phát hiện bằng phân tích nhưng lại dễ cảm nhận bằng

vị giác

- Phân loại tạp chất:

Trong việc tinh chế cồn người ta chia tạp chất thành ba loại sự phân loại này chỉ mang tính quy ước vì tính chất của tạp chất có thể thay đổi tuỳ theo nồng độ cồn trong tháp

Tạp chất đầu : Gồm các chất dễ bay hơi hơn rượu Etylic ở nồng độ bất kỳ, nghĩa là

hệ số bay hơi lớn hơn hệ số bay hơi của rượu Đó là các chất có nhiệt độ sôi thấp hơn nhiệt độ sôi của rượu Etylic như: aldehyt axetic, axetatetyl, axetat metyl, formiat etyl, aldehyt butyric

Tạp chất cuối: Gồm các alcol cao phân tử như alcol amylic, alcol izoamylic,

izobutylic, propylic, izopropylic ở khu vực nồng độ cao của alcol Etylic, các tạp

chất cuối có độ bay hơi kém hơn so với độ bay hơi của alcol Etylic ở khu vực

nồng độ Etylic thấp, độ bay hơi của tạp chất cuối có thể nhiều hơn so với alcol

Etylic Tạp chất cuối điển hình nhất là axit axetic, vì rằng độ bay hơi của nó kém

hơn alcol Etylic ở tất cả mọi nồng độ

Tạp chất trung gian: có hai tính chất, vừa có thể là tạp chất đầu vừa có thể là tạp chất cuối ở nồng độ cao của Etylic nó là tạp chất cuối, ở nồng độ thấp của Etylic

nó lại có thể là tạp chất đầu Đó là các chất như izobutyrat etyl, izovalerat etyl, izovalerat izoamil và axetat izoamyl

Độ bay hơi của tạp chất phụ thuộc chủ yếu vào nồng độ Etylic trong dung dịch Nếu hàm lượng tạp chất không lớn thì có thể xem như độ bay hơi của từng tạp chất riêng biệt không phụ thuộc vào hàm lượng của các tạp chất khác trong dung dịch Tạp chất đầu và tạp chất cuối tương đối dễ tách, còn tạp chất trung gian rất khó tách

Ứng Dụng Của Cồn:

Trong ngành công nghiệp: hóa chất, nhiên liệu, sơn, hương liệu, phụ gia xăng dầu:

 Được sử dụng sản xuất nhiên liệu sinh học: thông thường trộn lẫn với xăng

để tạo ra xăng E5, E10,… và nhiều tỉ lệ khác

 Được sử dụng trong các sản phẩm chống đông lạnh vì điểm đóng băng thấp

 Được sử dụng như là một dung môi dùng trong ngành công nghiệp in ấn, sơn, điện tử, dệt may, pha hương liệu công nghiệp,

Trang 9

 Là thành phần quan trọng trong công nghiệp và sử dụng để sản xuất một số hợp chất hữu cơ khác như: ethyl halogenua, ethyl ester, diethyl ether, acid acetic, ethylamin ,…

 Ứng dụng trong gia đình: tẩy rửa sơn mực, dầu mỡ nhà bếp, nhiên liệu đốt

 Khi loại bỏ các tạp chất có hại, ethanol là thành phần chính của đồ uống có cồn (các loại rượu ở nhiều nồng độ), khi uống ethanol chuyển hóa như một năng lượng cung cấp chất dinh dưỡng Nhưng nếu hấp thụ một lượng lớn thì nó lại là một độc tố gây hôn mê sâu hoặc tử vong nếu nồng độ trong máu vượt quá 0.5%

 Dùng trong chế biến thực phẩm, bảo quản thực phẩm

 Cồn Ethanol được sử dụng rộng rãi trong y tế và chống vi khuẩn

 Dùng để sản xuất thuốc ngủ vì có thể gây mê, gây buồn ngủ

 Có thể tiệc trùng các thiết bị, dụng cụ, vết thương,… vì nó có khả năng sát khuẩn cao Dung dịch thường dùng hiện nay chứa 70%, 90% ethanol Nó là hiệu quả trong việc chống lại phần lớn các loại vi khuẩn và nấm cũng như nhiều loại virus,… Trong sát khuẩn vết thương, việc sử dụng nồng độ nào tùy theo chỉ dẫn của bác sĩ

 Là một dung môi hòa tan một số thành phần trong mỹ phẩm vừa có tác dụng giữ hương thơm trong các sản phẩm khi sử dụng, nhờ đó hương thơm được giữ lâu hơn

 Là một dung môi hoàn hảo giúp hòa tan các chất và ngăn ngừa sự kết tinh của thành phần trong mỹ phẩm Khả năng này của cồn khiến kết cấu sản phẩm trở nên nhẹ hơn, đồng thời giúp các dưỡng chất quan trọng thấm nhanh và sâu hơn

 Trong sản xuất, cồn là một thành phần vô cùng hữu ích trong việc bảo quản

và tăng tuổi thọ cho mỹ phẩm , bởi nhờ đặc tính chống khuẩn và khử trùng hữu hiệu của mình

 Là thành phần chủ yếu trong các loại nước hoa cao cấp, nước xịt phòng, dùng để pha loãng hương

Thực Trạng Của Nhiên Li u Cồn: ệu cồn là gì:

Trang 10

Tại Vi t Nam: ệu cồn là gì:

Khí sinh học được áp dụng ở nhiều miền quê, bằng cách ủ phân để lấy khí đốt Trên thực tế, xăng sinh học E5 đã được lưu hành trên thị trường trong nước từ năm

2010 Từ năm 2011, Việt Nam có chính sách sử dụng xăng sinh học E5 (gồm hàm lượng Ethanol 5% và 95% xăng thông thường) làm nguyên liệu thay thế cho xăng A92 truyền thống Tuy nhiên, nhiều người còn quan ngại vì tính hút nước và dễ

bị oxy hóa của Ethanol có thể làm hư hại buồng đốt nhiên liệu của động cơ

Để giải đáp nghi ngại này thì một số chuyên gia cho rằng: Do ethanol có trị số Octan cao tới 109 nên khi pha vào xăng sẽ làm tăng trị số Octane (tăng khả năng chống kích nổ của nhiên liệu) Thêm vào đó, với hàm lượng ôxy cao hơn xăng thông dụng, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra triệt để hơn, tăng công suất, giảm tiêu hao nhiên liệu, đồng thời giảm thiểu phát thải các chất độc hại trong khí thải động cơ Đó là lý do vì sao nhiên liệu xăng sinh học được coi là nhiên liệu của tương lai, được cả thế giới quan tâm

Cần lưu ý là nếu sử dụng nhiên liệu xăng có hàm lượng ethanol cao có thể gây ảnh hưởng đến một số chi tiết kim loại, cao su, nhựa, polymer của động cơ Tuy nhiên, với hàm lượng 5% ethanol trong E5 thì các ảnh hưởng này không xảy ra Việc sử dụng xăng E5 giúp cải thiện tính năng động cơ, giảm phát thải, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và xã hội Quá trình sử dụng E5 rất thuận tiện, không cần phải điều chỉnh động cơ khi chuyển đổi giữa nhiên liệu E5 và xăng thông thường.

Trên Thế Giới:

Hiện nay có khoảng 50 nước trên thế giới khai thác và sử dụng nhiên liệu sinh học

ở các mức độ khác nhau

Mỹ sản xuất nhiên liệu sinh học chủ yếu từ hạt bắp, hạt cao lương và thân cây cao lương ngọt, và củ cải đường Khoảng 17% sản lượng bắp sản xuất hàng năm ở Hoa Kỳ dùng để sản xuất etanol Hoa Kỳ đặt chỉ tiêu saen xuất xăng sinh học để cung cấp 46% nhiên liệu cho xe hơi năm 2010, 100% vào năm 2012

Đức là một nước tiêu thụ nhiều nhất xăng sinh học trong cộng đồng EU, trong đó

có khoảng 0,48 triệu tấn ethanol Nguyên liệu chính sản xuất ethanol là củ cải đường

Pháp là nước thứ hai tiêu thụ nhiều ethanol sinh học trong cộng đồng Châu Âu với mức khoảng 1,07 triệu tấn ethanol và diezel sinh học năm 2006 Công ty Diester sản xuất diezen sinh học và Téréos sản xuất etanol là hai đại công ty của Pháp

Ngày đăng: 23/09/2016, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w