1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

142 bài tập nhóm luật thương mại TÌNH HUỐNG TM 1 NT 2 19

14 353 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 117,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo điểm h khoản 1 điều 41 Luật doanh nghiệp 2005 LDN 2005 quy định: thành viên công ty TNHH 2 thành viên trở lên có quyền “định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để t

Trang 1

TÌNH HUỐNG: TM 1 NT 2 – 19

Tháng 6/2007, A cùng hai người bạn của mình là B và C hùn vốn thành lập công ty TNHH ABC A góp vốn bằng một chiếc ôtô được các thành viên nhất trí định giá theo giá thị trường tại thời điểm góp vốn là 1 tỉ đồng, chiếm 50% vốn điều lệ B và C mỗi người cam kết góp 500 triệu đồng bằng tiền mặt chiếm 25% vốn điều lệ Sau khi được cấp GCN ĐKKD, A, B đã thực hiện việc góp vốn cho công ty theo đúng quy định của pháp luật, C mới góp trước

280 triệu

Câu hỏi: Phân tích để thấy rõ:

1/ Tháng 7/2007, A tặng cho G một nửa phần vốn góp của mình tại

công ty ABC nhưng B và C không đồng ý để G trở thành thành viên của công

ty G có thể trở thành thành viên công ty không?

2/ Ông E ký hợp đồng cho công ty ABC vay 1 tỷ, hạn thành toán là

12/12/2008 Tháng 7/2008, ông E yêu cầu công ty thanh toán nhưng công ty không thanh toán được Ông E có quyền nộp đơn yêu cầu TA mở thủ tục phá sản với công ty ABC không?

3/ Sau ba năm hoạt động, công ty làm ăn thua lỗ và tạo ra khoản nợ lên

tới 3,5 tỷ đồng Mặt khác, chiếc ô tô A góp vốn chỉ còn trị giá 500 triệu Các chủ nợ yêu cầu các thành viên của công ty phải bỏ thêm tài sản để trả cho hết nợ?

4/ Tháng 8/2009, công ty ABC bị TA áp dụng thủ tục thanh lý tài sản

để trả nợ Tài sản của công ty còn lại đem bán đấu giá, được 2 tỷ Thứ tự thanh toán sẽ như thế nào nếu các khoản nợ là:

1 Nợ lương người lao động: 200 tr

2 Nợ ngân hàng 1 tỷ, thế chấp bằng nhà xưởng (định giá tại thời điểm vay: 1,2 tỷ, bán đấu giá được 1,3 tỷ)

3 Nợ ông E 1 tỷ thế chấp bằng ô tô (định giá tại thời điểm vay là 800

tr, bán đấu giá được 500 tr)

4 Nợ bà F 800 tr

5 Nợ thuế 500 tr

6 Phí phá sản xác định là 30 tr

Trang 2

NỘI DUNG

1/ Tháng 7/2007, A tặng cho G một nửa phần vốn góp của mình tại công ty ABC nhưng B và C không đồng ý để G trở thành thành viên của công ty G có thể trở thành thành viên công ty không?

Theo điểm h khoản 1 điều 41 Luật doanh nghiệp 2005 (LDN 2005) quy

định: thành viên công ty TNHH 2 thành viên trở lên có quyền “định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty” Đồng thời, khoản

5 điều 45 LDN 2005 quy định: “Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác” Như vậy,

tặng cho một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mình là một trong các quyền của

thành viên công ty TNHH 2 thành viên trở lên Tuy nhiên, G có thể trở thành

thành viên của công ty TNHH ABC hay không thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Theo điểm b khoản 4 điều 13 LND 2005 quy định các cá nhân không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu

hạn, công ty hợp danh: “Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức” Mặt khác, khoản 5 điều 45 LDN 2005 quy định: “…Trường hợp người được tặng cho là người

có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận”

Như vậy theo quy định tại các điều này thì tình huống trên có thể xảy ra

3 trường hợp:

Trường hợp 1: nếu G là người thuộc đối tượng không được góp vốn

vào công ty TNHH theo quy định tại khoản 4 điều 13 LDN 2005 Điều 19

pháp lệnh cán bộ công chức năm 2003 quy định: “Người đứng đầu,

Trang 3

cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề

mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước” Như vậy, pháp luật

hạn chế quyền được góp vốn của cán bộ công chức là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; vợ hoặc chồng của những người đó Những người này không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý và bởi vậy những người này không thể trở thành thành viên của doanh nghiệp nói chung và công ty nói riêng Bởi vậy, nếu G thuộc đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức thì đương nhiên G không thể trở thành thành viên công ty ABC theo quy định của pháp luật

Trường hợp 2: G không thuộc đối tượng bị cấm góp vốn vào công ty

TNHH và là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba của ông A thì theo quy định tại khoản 5 điều 45 Luật doanh nghiêp 2005 như trên thì cho dù B

và C không đồng ý thì G vẫn đương nhiên trở thành thành viên của công ty ABC

Trường hợp 3: G không thuộc đối tượng bị cấm góp vốn vào doanh

nghiệp và là người không cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba của ông A

Theo quy định tại khoản 5 điều 45 LDN 2005 thì: "Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận" Tại điểm n khoản 2 điều 47 LDN 2005 cũng quy định một trong các quyền của hội đồng thành viên là: “Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty" Như vậy có thể

thấy việc quyết định để một người được tặng cho phần vốn góp có thể trở thành thành viên của công ty hay không thuộc thẩm quyền của hội đồng thành viên Vì vậy, phải do hội đồng thành viên quyết định Mà quyết định của hội đồng thành viên được quy định tại điều 52 LDN 2005 Điều 52 LDN 2005 quy định:

Trang 4

"Hội đồng thành viên thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định.

Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì quyết định về các vấn đề sau đây phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên:

2 Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây:

a) Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;

b) Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, sửa đổi,

bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại, giải thể công ty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

3 Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều

lệ chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định”

Vì vậy, việc thông qua quyết định để G trở thành thành viên công ty TNHH ABC hay không sẽ tùy theo quy định của điều lệ mà có thể thông qua tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản

- Nếu điều lệ công ty TNHH ABC quy định: quyết định để một người được cho phần vốn góp có trở thành thành viên công ty hay không phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên Khi

đó, việc có cho G trở thành thành viên công ty ABC hay không phải được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp

Trang 5

thuận (vì điều lệ công ty chỉ có thể đưa ra tỷ lệ số phiếu chấp thuận trên tông

số vốn góp lớn hơn 65% nên 65% vẫn lã tỷ lệ bé nhất có thể);

- Nếu điều lệ công ty TNHH ABC quy định: quyết định để một người được cho phần vốn góp có trở thành thành viên công ty hay không phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên; Hoặc điều lệ công ty không có quy định về vấn đề này Khi đó, việc có cho G trở thành thành viên công ty ABC hay không sẽ được đưa ra hội đồng thành viên dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản và phải được số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ chấp thuận (vì điều lệ công ty chỉ có thể đưa ra tỷ lệ số phiếu chấp thuận trên tông số vốn góp lớn hơn 75% nên 75% vẫn là tỷ lệ bé nhất có thể)

Số phiếu biểu quyết của mỗi thành viên tương ứng với phần vốn góp (điểm b khoản 1 điều 42 LDN 2005) Trong đó phần vốn góp được hiểu theo quy định tại khoản 5 điều 4 LDN 2005, nghĩa là tỷ lệ vốn mà mỗi thành viên của công ty góp vào vốn điều lệ, bên cạnh đó, khoản 6 điều 4 định nghĩa:

“Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty” do vậy số

phiếu biểu quyết của mỗi thành viên sẽ tương ứng với phần vốn mà thành viên đó đã cam kết góp vào công ty Trong khi đó, phần vốn góp của A, B, C trong công ty ABC tương ứng là 50%, 25%, 25% Như vậy, khi đưa việc có cho G trở thành thành viên công ty ABC hay không ra hội đông thành viên và

bị B, C phản đối thì chỉ có 50% số phiếu của A (trên tổng số vốn góp) chấp thuận Vì vậy, G không thể trở thành thành viên của công ty ABC khi không được sự đồng ý của B và C

Như vậy, G có thể trở thành thành viên công ty ABC nếu G không thuộc đối tượng bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp và là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba của ông A

Trang 6

2/ Ông E ký hợp đồng cho công ty ABC vay 1 tỷ, hạn thành toán là 12/12/2008 Tháng 7/2008, ông E yêu cầu công ty thanh toán nhưng công ty không thanh toán được Ông E có quyền nộp đơn yêu cầu TA mở thủ tục phá sản với công ty ABC không?

Luật Phá sản năm 2004 quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục

phá sản của chủ nợ tại khoản 1 điều 13: “Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó”

Theo quy định này thì điều kiện đầu tiên để một chủ nợ có thể nộp đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản là: “nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” Trong đó, “Lâm vào tình trạng phá sản” được hiểu theo điều 3 luật Phá sản năm 2004 như sau: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” Và phần 2 chương I nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP

của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số

quy định của Luật phá sản giải thích: “Doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

2.1 Có các khoản nợ đến hạn.

Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) đã rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp;

2.2 Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán, nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán.

Yêu cầu của chủ nợ thanh toán các khoản nợ đến hạn phải có căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã )”.

Trang 7

Như vậy, “nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” nghĩa

là nhận thấy doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ

nợ có yêu cầu Bên cạnh đó khoản 2 điều 13 Luật phá sản cũng quy định đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung như:

“…

d) Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;

đ) Quá trình đòi nợ;

e) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản”.

Bởi vậy, để nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chủ nợ phải có đầy đủ các giấy tờ tài liệu để chứng minh các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn, chủ nợ đã có yêu cầu nhưng không được doanh nghiệp thanh toán (như như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp)

Trong trường hợp của ông E, ông E ký hợp đồng cho công ty ABC vay

1 tỷ, hạn thanh toán là 12/12/2008 Tháng 7/2008, ông E yêu cầu công ty thanh toán nhưng công ty không thanh toán được Vì thời điểm ông E yêu cầu công ty ABC thanh toán là chưa đến thời hạn thanh toán nên không thể coi việc không thanh toán được của công ty ABC đối với khoản nợ của ông E là không có khả năng thanh toán nợ đến hạn

Nhưng chúng ta có thể nhận thấy một vấn đề đó là: trong nội dung Luật phá sản không quy định các chủ nợ chỉ được dùng chính khoản nợ của mình

để chứng minh doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, nhưng vì việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các giấy tờ, tài liệu đi kèm để chứng minh doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu Vì vậy ông E sẽ rất khó có được những loại giấy tờ này nếu ông không phải là chủ nợ của khoản nợ đến hạn

đó

Trang 8

Còn nếu là các chủ nợ của các khoản nợ đến hạn khác mà nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản thì khi đó ông E sẽ là người có quyền lợi lien quan bởi khoản nợ của ông E khi đó sẽ được coi là đến hạn và sẽ được thanh toán cùng các khoản nợ khác Nhưng khi đó Tòa án sẽ yêu cầu tự chủ nợ của khoản nợ đến hạn đó nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà không chấp nhận cho ông E sử dụng khoản nợ đến hạn đó để nộp đơn Chính vì vậy trong trường hợp này ông E không có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản với công ty ABC

3/ Sau ba năm hoạt động, công ty làm ăn thua lỗ và tạo ra khoản nợ lên tới 3,5 tỷ đồng Mặt khác, chiếc ô tô A góp vốn chỉ còn trị giá 500 triệu Các chủ nợ yêu cầu các thành viên của công ty phải

bỏ thêm tài sản để trả cho hết nợ?

Việc xác định nghĩa vụ của các thành viên trong công ty TNHH ABC đối với khoản nợ 3,5 tỷ của công ty cần xem xét các vấn đề sau:

Vấn đề thứ nhất, giảm sút giá trị tài sản góp vốn Tại thời điểm thành

lập công ty, A góp vốn bằng chiếc ôtô được các thành viên nhất trí định giá theo giá thị trường tại thời điểm góp vốn là 1 tỉ đồng, ba năm sau chiếc ô tô A góp vốn chỉ còn trị giá 500 triệu Vì việc góp vốn của A bằng chiếc xe ô tô đã được các thành viên nhất trí là 1 tỷ đồng theo đúng giá thị trường tại thời điểm góp vốn nên không xem xét áp dụng khoản 2 điều 30 LDN năm 2005 về định giá tài sản góp vốn để xác định nghĩa vụ của các thành viên trong trường hợp định giá cao hơn giá trị thực của tài sản tại thời điểm góp vốn Vì vậy, việc sau ba năm chiếc ô tô mà A góp vốn chỉ còn trị giá 500 triệu đồng sẽ được xác định như sau:

Vì công ty TNHH có sự phân tách tài sản (tài sản của công ty và tài sản của thành viên) Khi góp vốn vào công ty các thành viên công ty có trách nhiệm chuyển quyền sở hữu tài sản đó sang cho công ty theo quy định tại điều

29 Luật Doanh nghiệp năm 2005 vì vậy, kể tự thời điểm thành viên công ty chuyển quyền sử hữu tài sản góp vốn sang cho công ty thì thành viên đó

Trang 9

không phải chịu trách nhiệm về sự mất giá của tài sản đó Mọi sự mất giá tài sản của công ty các thành viên trong công ty không phải chịu trách nhiệm Vì vậy, tuy sau ba năm chiếc ô tô mà A đã góp vào công ty chỉ còn trị giá 500 triều đồng nhưng vì chiếc ô tô đó giờ không còn là tài sản của A nữa mà đã trở thành tài sản của công ty, nó không thuộc trách nhiệm của các thành viên trong công ty nên chủ nợ không có quyền yêu cầu họ phải bỏ thêm tài sản bù vào phần tài sản hao hụt này để trả nợ

Vấn đề thứ hai, trách nhiệm của các thành viên công ty đối với các

khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty Trong ông ty TNHH vấn đề trách nhiệm của các thành viên được áp dụng theo quy định tại điểm b khoản

1 điều 38 LDN 2005: “Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp” Như vậy, trong công ty TNHH có sự phân tách tài sản: tài sản

của công ty và tài sản của thành viên Công ty phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Vì vậy, khi công ty không đủ khả năng thanh toán nợ thì các chủ nợ cũng không có quyền yêu cầu các thành viên trong công ty góp thêm tài sản (trừ những tài sản đã cam kết góp vào công ty mà chưa thực hiện) để trả cho hết nợ

Vấn đề thứ ba, việc C chưa góp đủ tài sản vào công ty như đã đăng ký

tại thời điểm đăng ký kinh doanh Tại thời điểm đăng ký kinh doanh tuy C đăng ký góp 500 triệu đồng nhưng mới chỉ góp được 280 triệu đồng, C chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của mình đối với công ty Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 38 và khoản 1 điều 42 LDN năm 2005 về nghĩa vụ

của thành viên công ty TNHH thì C có nghĩa vụ: “Góp đủ, đúng hạn số vốn

đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty…” Vì vậy, khi

Trang 10

quyền yêu cầu C bỏ thêm 220 triệu đồng trong tài sản của mình đã cam kết góp vào công ty mà chưa thực hiện để trả nợ

Như vậy, sau ba năm hoạt động, công ty làm ăn thua lỗ và tạo ra khoản

nợ lên tới 3,5 tỷ đồng Mặt khác, chiếc ô tô A góp vốn chỉ còn trị giá 500 triệu Tuy nhiên, các chủ nợ chỉ có thể yêu cầu C bỏ thêm tài sản đã cam kết góp vào công khi đăng ký kinh doanh để trả nợ còn đối với A và B thì các chủ

nợ không thể đưa ra những yêu cầu này

4/ Tháng 8/2009, công ty ABC bị TA áp dụng thủ tục thanh lý tài sản để trả nợ Tài sản của công ty còn lại đem bán đấu giá, được

2 tỷ Thứ tự thanh toán sẽ như thế nào nếu các khoản nợ là:

1 Nợ lương người lao động: 200 triệu

2 Nợ ngân hàng 1 tỷ, thế chấp bằng nhà xưởng (định giá tại thời điểm vay: 1,2 tỷ, bán đấu giá được 1,3 tỷ)

3 Nợ ông E 1 tỷ thế chấp bằng ô tô (định giá tại thời điểm vay là 800 triệu, bán đấu giá được 500 triệu)

4 Nợ bà F 800 triệu

5 Nợ thuế 500 triệu

6 Phí phá sản xác định là 30 triệu

Thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại điều 35 Luật Phá sản về xử lý các khoản

nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố:

“Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã”.

Ngày đăng: 16/05/2016, 12:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w