1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP NHÓM MÔN NHÂN HỌC Y TẾ & XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE-VẤN ĐỀ LẠM DỤNG RƯỢU BIA Ở VIỆT NAM

16 880 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM, MÔN NHÂN HỌC Y TẾ, & XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE,-VẤN ĐỀ LẠM DỤNG, RƯỢU BIA Ở VIỆT NAM

Trang 1

BÀI TẬP NHÓMMÔNNHÂN HỌC Y TẾ

& XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE

Vấn đề: Lạm dụng rượu bia ở Việt Nam

Nhóm 2 – Lớp K10C

1 Trần Thị Vân Anh 6 Nguyễn Như Nga

2 Nguyễn Thùy Dương 7 Phạm Mai Phương

Trang 3

I Tình hình lạm dụng rượu bia ở Việt Nam 1

II Tình hình lạm dụng rượu bia giữa các nhóm xã hội khác nhau 3

1 Giới 3

2 Nhóm tuổi 4

3 Nhóm dân cư 4

4 Trình độ học vấn 4

5 Nghề nghiệp 5

6 Dân tộc 5

III Các điều kiện xã hội dẫn tới sự phân bố khác nhau giữa các nhóm xã hội 6

1 Giới 6

2 Nhóm tuổi 6

3 Nhóm dân cư 7

4 Trình độ học vấn 7

5 Nghề nghiệp 7

6 Dân tộc 7

IV Mô hình các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến vấn đề lạm dụng rượu bia .8

1 Cấp độ cá nhân 8

2 Cấp độ nhóm xã hội 8

3 Cấp độ thiết chế xã hội 9

Trang 5

I.Thực trạng lạm dụng rượu bia ở Việt Nam

Sử dụng rượu bia là một thói quen mang đậm nét văn hoá truyền thống tại nhiều quốc gia

trong đó có Việt Nam Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho con người cảm

giác hưng phấn, khoan khoái, lưu thông huyết mạch… Song rượu bia lại là chất kích thích, gây

nghiện vì vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến

tình trạng lạm dụng rượu bia Lạm dụng rượu bia gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức

khoẻ cộng đồng và xã hội

Thế nào là lạm dụng rượu bia: Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bị coi

là lạm dụng rượu bia khi sử dụng ở mức: đối với nam giới, uống hơn 3 lon/ly bia (330ml) nồng

độ 5%/ngày hoặc hơn 3 chén rượu (30ml) nồng độ từ 30 độ trở lên/ngày; đối với nữ giới, uống

hơn hai lon bia/ngày và hơn 2 chén rượu/ngày

Ở nước ta, quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế trong những năm qua đã giúp cho

đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Xu hướng sử dụng rượu bia trong sinh hoạt hàng

ngày, trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công việc… đang ngày càng gia tăng Tại hội thảo

“Chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của sử dụng rượu

bia” do Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội trong 2 ngày 18 - 19/3/2009,theo thống kê của Viện Chiến

lược và chính sách y tế (Bộ Y tế), năm 2006, tại Việt Nam, tỉ lệ người có sử dụng rượu bia chiếm

33,5%, trong đó số người lạm dụng rượu (theo tiêu chuẩn của WHO) lên tới 18%, lạm dụng bia

là 5%,và đang có xu hướng tăng lên trong những năm tiếp theo.Đại bộ phận những người sử

dụng ruợu thường uống rượu nấu thủ công: 95,7% Đa số những người sử dụng bia thường uống

bia nhà máy: 87,9% Trong số này bia TW chỉ chiếm > 40% còn lại là bia địa phương Địa điểm

uống rượu bia chủ yếu là tại nhà và tại lễ tiệc, uống tại quán, nhà hàng, khách sạn chiếm > 11%

http://www.hspi.org.vn/vcl/danh-gia-tinh-trang-lam-dung-ruou-bia-tai-mot-so-dia-phuong-t67-951.html

Thạc sĩ Vũ Thị Minh Hạnh, Viện Chiến lược và Chính sách y tế cho biết, mức độ sử

dụng bia rượu ở người Việt Nam khá cao: 6,4 đơn vị/ngày,26,1 đơn vị/tuần,vượt khá xa ngưỡng

sử dụng rượu an toàn theo quy định của WHO.(Đơn vị rượu thường có từ 8-14g rượu nguyên

chất (pure ethanol) chứa trong dung dịch đó Mỗi đơn vị tương đương 270ml bia, hoặc 1 chén

rượu vang 125ml, hay 1 chén rượu mạnh 25ml Dùng quá mức này được coi là lạm dụng).

Trang 6

Nhóm 2 – K10C Lạm dụng rượu bia

Tình hình sản xuất, lưu thông và tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam liên tục gia tăng trong

những năm gần đây Mức tiêu thụ rượu, bia bình quân tại Việt Nam khoảng 1,07% cồn nguyên

chất/người/năm đứng thứ 149 thế giới (bia là 27 lít/người/năm) Mỗi năm Việt Nam sản xuất 1,2

tỷ lít bia Con số này tăng 8-10% sau từng năm Lượng rượu được tiêu thụ ở Việt Nam mỗi năm

là 350 triệu lít Con số thực tế cao hơn rất nhiều do chưa kiểm soát được lượng rượu nấu thủ

công

http://www.hspi.org.vn/vcl/daNH-GIa-TiNH-HiNH-LaM-DuNG-RuoU-BIA-TaI-VIeT-NAM-t62-1121.html

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xuất bản hồi năm 2011, Việt Nam được

xếp vào nhóm các quốc gia uống bia, tức là mức độ tiêu thụ bia vượt xa so với các loại rượu và

đồ uống có cồn khác Theo số liệu năm 2005 của WHO dẫn ra trong báo cáo, tỉ lệ tiêu thụ bia ở

Việt Nam là 97% tổng số rượu bia được uống hàng năm

Tình trạng sử dụng và lạm dụng rượu bia tràn lan ở một số nơi đã làm cho trật tự an toàn

xã hội và an toàn giao thông trở thành những vấn đề đáng báo động Bình quân mỗi ngày cả

nước có gần 40 trường hợp tử vong vì tai nạn giao thông, trong đó hơn 50% số trường hợp là do

người điều khiển các phương tiện tham gia giao thông sử dụng rượu bia Người lạm dụng rượu

bia còn dễ mắc các bệnh như: Gan, dạ dày, đại tràng tạo ra gánh nặng y tế và sức khỏe của mỗi

gia đình, cộng đồng

Tình trạng lạm dụng rượu bia đang là một vấn đề đáng báo động ở Việt Nam cần phải có

các biện pháp hạn chế kịp thời để giảm tỷ lệ người lạm dụng rượu bia và mức tiêu thụ rượu bia ở

Việt Nam

II Tình hình lạm dụng rượu bia giữa các nhóm xã hội khác nhau

sáchYtế;ViệnChiếnlượcvàChínhsáchYtế,BộYtếđãtiến hànhnghiêncứuđánhgiávề

“TìnhhìnhlạmdụngrượubiatạiViệt Nam”,cuộc điềutrađãchỉrarằng:

Tỉ lệ sử dụng và lạm dụng rượu bia có sự khác nhau rõ nét giữa các nhóm dân cư, nhóm

dân tộc, theo giới, theo tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp.

Trang 7

1%

59.1%

12.8%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

Năm 2006 Năm 2012

Nam giới

Nữ giới

- Giới:

Năm 2006,tỉlệ sửdụngrượu trongnhómnamlà64%, nhóm nữ là 1%.Theo một nghiên cứu

khác năm 2012: 59,1% nam và 12,8% nữ đã sử dụng rượu bia.

Biểu đồ: Tỉ lệ sử dụng rượu trong

nhóm nam và nữ năm 2006 và

năm 2012 (%)

 CuộcĐiềutraquốcgiavềvịthànhniênvàthanhniênViệt

sốtổchứcquốctếthựchiệnnăm2003(SAVY1) ở đối tượng thanh thiếu niên (TTN) cho

thấy:uốngrượu,bialàhiệntượngphổbiếnởnamTTN(69%)

vàítphổbiếnhơnởnữthanhthiếuniênvới28,1%nữ TTN

chungnhữngngườiđượchỏiđãtừnguống hết(mộtcốcrượu/bia)làkhácao,58,6%,trong đó

79,9%đốivới namvà36,5%đốivớinữ

http://www.unicef.org/vietnam/vi/media_2390.html

- Nhóm tuổi:

 Tuổi bắt đầu sử dụng rượu trung bình là ở Việt Nam là 24 tuổi

 So với thế giới, tuổi bắt đầu uống rượu ở nước ta muộn hơn song đang có xu hướng trẻ

hóa rất rõ nét: 1/3 số người bắt đầu uống trước 20 tuổi

 Cuộc điều tra SAVY 2 năm 2009 ở TTN cho thấy tỉlệ từnguốnghếtmộtcốc rượu,bia

tănglêntheođộtuổi,ởnhómtuổi14-17 là 39%,nhóm tuổi18-21là 72% và82%ởnhómtuổi22-25

http://www.gopfp.gov.vn/home;jsessionid=5D190CF1D096560D9331104092744EB0?

p_p_id=47_INSTANCE_Tw1f&p_p_lifecycle=0&p_p_state=exclusive&p_p_mode=view&

_47_INSTANCE_Tw1f_struts_action=%2FCMS_NEWS_LIST

%2Fview_category&_47_INSTANCE_Tw1f_ArticleID=88226&_47_INSTANCE_Tw1f_T

Trang 8

Nhóm 2 – K10C Lạm dụng rượu bia

ypeID=NC-TD

- Nhóm dân cư: Hành vi uống rượu, bia phổ biến hơn ở thành thị (56,9%) so với nông

thôn (46%)

- Trình độ học vấn:

 Những người có học vấn càng cao thì càng hay sử dụng rượu bia Cứ 5 người trình độ

học vấn trên đại học thì gần 4 người sử dụng rượu bia Trong khi đó, ở những người có trình

độ tiểu học và trung học, tỉ lệ sử dụng đồ uống có cồn chỉ là 1 phần 3 hay 1 phần 4

- Nghề nghiệp:

 Theo kết quả điều tra của Vụ các vấn đề xã hội- Văn phòng quốc hội (2008) có 50%

nông dân, 25% người thất nghiệp và 20% người làm trong ngành dịch vụ có sử dụng rượu

Nông dân xếp hàng đầu trong mọi ngành nghề về lạm dụng rượu 28% Tình trạng này

cũng khá nặng nề ở những người làm trong doanh nghiệp 26% và lao động tự do là 21%,

cán bộ nhà nước chiếm 17% Số này cao hơn các nhóm thất nghiệp, buôn bán nhỏ.

0%

20%

40%

60%

80%

77%

46%

34% 27% 30%

Biểu đồ: Tỉ lệ sử dụng rượu bia phân theo trình độ học vấn năm 2006 (%)

Tỉ lệ sử dụng rượu bia

Trang 9

- Dân tộc:

 Người dân tộc thiểu số tuy không nhỉnh hơn người Kinh về tỷ lệ uống rượu nhưng mức

lạm dụng lại cao gấp đôi; cứ 3 người uống thì 2 người lạm dụng

Biểu đồ:Tỉ lệ sử dụng rượu bia

trong của nam và nữ TTN nhóm dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh/Hoa ở SAVY 2 năm

2009 (%)

0%

10%

20%

30%

Nông dân

Doanh nghiệp

Lao động

tự do

Cán bộ nhà nước

28% 26%

21%

17%

Biểu đồ: Tỉ lệ lạm dụng rượu bia phân theo nghề nghiệp năm 2006 (%)

Tỉ lệ lạm dụng rượu bia (%)

85%

79%

50%

34%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

Dân tộc thiểu số Dân tộc Kinh/Hoa

Nam TTN

Nữ TTN

Trang 10

Nhóm 2 – K10C Lạm dụng rượu bia

III Phân tích những điều kiện xã hội (cấp độ thiết chế và văn hóa) dẫn tới sự phân

bố khác nhau giữa các nhóm xã hội

- Giới:Nam giới uống rượu bia nhiều hơn nữ giới

 Nơi làm việc:

 Nam giới thường phải tiếp đối tác, bàn việc làm ăn, kí hợp đồng trên bàn tiệc, nếu có

rượu thì mọi việc làm ăn sẽ dễ dàng hơn

 Nam giới sau giờ làm thườngcùng bạn bè tụ tậpđi “nhậu” với nhau => thói quen khó

từ bỏ

 Sự quản lý, giáo dục từ gia đình:

 Con gái không được uống rượu

 Nam TTN sống trong gia đình có cha nghiện rượu thì nguy cơ sử dụng rượu bia cao

 Dịch vụ xã hội: Sự tràn lan của thị trường rượu bia (quán nước, quán cà phê, quán

bar….) => nam giới sẽ dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ rượu bia

 Quan niệm “Nam vô tửu như kì vô phong”, nam giới uống rượu để chứng tỏ bản lĩnh

đàn ông, thể hiện phong độ

 Nữ giới nếu uống rượu thì sẽ bị cho là ăn chơi, hư hỏng

 Nam giới thường có một nhóm bạn Nếu nam giới nào không biết uống rượu/bia sẽ bị

bạn bè cười chê, cho rằng kém cỏi, thiếu bản lĩnh

- Nhóm tuổi:Tỉ lệ sử dụng rượu bia tăng theo độ tuổi Tuổi sử dụng rượu bia ở nước ta

đang có xu hướng trẻ hóa.

 Ở lứa tuổi 14-25việc sử dụng rượu bia chủ yếu do bạn bè rủ rê, tụ tập uống rượu bia

 Ở những độ tuổi lớn hơn, khi điều kiện kinh tế đã tự chủ, công ăn việc làm ổn định, chịu

sự ảnh hưởng của môi trường làm việcthì việc sử dụng hay lạm dụng rượu bia cũng tăng

theo

- Nhóm dân cư:Hành vi uống rượu, bia phổ biến hơn ở thành thị so với nông thôn

 Những người sống ở thành thị dễ tiếp cận hơn với thị trường rượu bia phong phú còn

những người sống ở nông thôn chủ yếu sử dụng các nguồn rượu bia giá rẻ, tự nấu

 Mức sống của người sống ở thành thị thường cao hơn so với ở nông thôn => có điều kiện

sử dụng nhiều rượu bia

- Trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn càng cao thì sử dụng rượu bia

Trang 11

 Phần lớn những người có trình độ học vấn cao thì có công ăn việc làm ổn định, mức

sống cao hơn những người có trình độ học vấn thấp, không biết chữ => có điều kiện sử

dụng nhiều loại rượu bia

 Những người có trình độ học vấn cao sẽ làm việc ở những môi trường làm việc có nhiều

nguy cơ phải sử dụng nhiều rượu bia: tiếp khách, tiếp đối tác,kí hợp đồng…

- Nghề nghiệp:Nông dân lạm dụng rượu bia nhiều nhất (28%), tiếp đến là người làm

doanh nghiệp (26%); lao động tự do (21%); cán bộ nhà nước (17%)

 Nông dân, lao động tự do hầu hết là những người lao động tay chân, thị trường rượu bia

ở địa phương rộng rãi, phần lớn họ thường uống rượu tự nấu có nồng độ cồn cao, giá rẻ, dễ

mua Việc uống rượu trở thành thói quen hàng ngày, rượu xuất hiện trong các bữa cơm gia

đình => uống nhiều dẫn đến lạm dụng

- Dân tộc:Phần lớn những người dân tộc thiểu số uống rượu và lạm dụng rượu nhiều hơn

dân tộc Kinh/Hoa

 Người dân tộc thiểu số chưa tiếp cận được với các quy định của nhà nước

 Uống rượu là văn hóa truyền thông của đồng bào dân tộc thiểu số, thể hiện sự tôn trọng,

mến khách; là phương tiện để giao tiếp với mọi người trong cộng đồng

 Ở một số dân tộc thì uống rượu là quy định trong gia đình

IV.Xây dựng mô hình các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến vấn đề lạm dụng rượu bia ở

Việt Nam

Trang 12

Nhóm 2 – K10C Lạm dụng rượu bia

Mô hình các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc lạm dụng rượu bia

1 Cấp độ cá nhân

- Lối sống:

 Thói quen ăn nhậu của nam giới sau giờ làm

 Thói quen uống rượu bia mỗi khi tụ tập bạn bè, khi buồn chán hay vui mừng

2 Cấp độ nhóm xã hội

- Giới: Nam giới thường sử dụng và lạm dụng rượu bia nhiều hơn nữ giới.

- Dân tộc: Nhóm dân tộc thiểu số là những người sử dụng và lạm dụng rượu bia nhiều

hơn nhóm dân tộc Kinh/Hoa

- Nhóm dân cư: Những người sống ở thành thị có tỉ lệ sử dụng rượu bia cao hơn những

người sống ở nông thôn

- Tuổi: Tỉ lệ sử dụng rượu bia tăng theo độ tuổi và đang có xu hướng trẻ hóa.

- Trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao thì sử dụng và lạm dụng cả

rượu và bia, còn những người trình độ học vấn thấp thì chủ yếu lạm dụng rượu

- Nghề nghiệp: Những người làm công việc văn phòng ( cán bộ nhà nước, doanh

nghiệp…) sử dụng nhiều rượu bia, tuy nhiên tỉ lệ lạm dụng rượu bia lại cao ở nhóm nông

Trang 13

3 Cấp độ thiết chế xã hội

- Pháp luật: Nhà nước ta đã đưa ra 1 số nghị định quy định về việc sử dụng rượu bia.

 Nghị định 40/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 04 năm 2008 về sản xuất,kinh

doanh rượu

 Nghị định số 06/2009/NĐ-CP, ngày 22 tháng 01 năm 2009 xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá

 Nghịđịnhsố53/CPngày26/6/1994quyđịnh biện phápxửlýhànhchính đốivớicán

bộ,viênchứcnhànướcvà ngườicóhànhviliênquan đến say rượu,bêtha

- Truyền thông đại chúng:

 Những hình ảnh quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi rượu bia xuất hiện trên các phương

tiện thông tin đại chúng => người dân dễ tiếp cận hơn với rượu bia

 Mô tả hình ảnh tiêu cực, tác hại của rượu bia khi tham gia giao thông; hậu quả của ngộ

độc rượu trên tờ rơi, áp phích, khẩu hiệu

- Nhà nước:

 Ban hành các quy định quản lý, kiểm soát quy trình xuất sản xuất, lưu thông rượu bia

 Đưa ra nhữngchếtàinghiêmđểxửlývàkiểmsoáttìnhhìnhsản xuất,lưu thông,quảngbávà

sửdụngrượu,biatrái quy định

- Y tế công cộng:

 Thực hiện các chương trình giảm hại đối với các nhóm nguy cơ: truyền thông tuyên

truyền tác hại của bia rượu; xây dựng các chính sách phòng chống tác hại của rượu bia

- An sinh xã hội: Nhà nước quy định: những trường hợp tai nạn giao thông do sử dụng

rượu bia sẽ không được hưởng chế độ bảo hiểm y tế

- Tôn giáo: Một số tôn giáo nghiêm cấm việc uống rượu: Hồi giáo, Ấn độ giáo…

- Giáo dục:

 Nhà trường đã đưa ra các quy định cấm học sinh, sinh viên sử dụng rượu bia trong

trường học

 Đưa ra các hình thức xử phạt nghiêm đối với các hành vi sử dụng rượu bia trong nhà

trường

- Gia đình: Sự quản lý, giáo dục con cái trong gia đình.

- Kinh tế:

Trang 14

Nhóm 2 – K10C Lạm dụng rượu bia

 Điều kiện kinh tế của gia đình càng cao thì càng có điều kiện sử dụng rượu bia nhiều

 Việc tăng thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ rượu bia góp phần hạn chế việc sử dụng rượu

bia

- Nơi làm việc:

 Công việc: phải tiếp đối tác làm ăn, ngoại giao, bạn bè…

 Nhu cầu giao tiếp bạn bè, đồng nghiệp; tạo dựng mối quan hệ

- Dịch vụ xã hội: Sự phổ biến, tràn lan của các dịch vụ rượu bia (quán nước, quán bar,

quán cà phê…) => người dân dễ tiếp cận hơn với rượu bia

4 Cấp độ văn hóa

- Giá trị:

 Sử dụng rượu, bia để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp như: tiếp khách (“khách đến nhà

không trà thì rượu”); kết bạn (“rượu ngon phải có bạn hiền”); thổ lộ tình cảm (rượu

vào, lời ra)

 Rượu cũng là một biểu trưng văn hóa trong cộng đồng, tập quán truyền thống: hội hè,

ma chay, cưới hỏi “Phi tửu bất thành lễ”

 Uống rượu được coi là việc làm thể hiện sự thân thiện, vui vẻ, hòa hợp với mọi người

xung quanh

- Niềm tin:.

 Quan niệm “Nam vô tửu như kì vô phong”, làm trai phải biết uống rượu mới thể hiện

được vẻ nam tính, bản lĩnh, phong độ

 Nữ giới được cho là phái yếu, phải tỏ ra nữ tính, nếu uống rượu bia sẽ bị cho là ăn

chơi,hư hỏng

 Nhiều người nghiện rượu cho rằng rượu được làm từ gạo nên uống rượu cũng giống

như ăn cơm =>lạm dụng rượu trong các bữa ăn hằng ngày

 Nhiều người tin rằng uống rượu sẽ có khả năng chữa được bệnh

- Tiểu văn hóa:

 Văn hóa thanh niên: TTN thường uống rượu để thể hiện bản thân với nhóm bạn, người

nào không biết uống rượu sẽ bị chê cười và bị loại khỏi nhóm

 Văn hóa của người dân tộc thiểu số: mời rượu là thể hiện sự tôn trọng, mến khách,

Ngày đăng: 02/08/2015, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w