1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SK KN TIEU HOC

14 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 161 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã nêu rõ:” Giáo dục và Đào tạo nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ,

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay, Giáo dục và Đào tạo giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ gìn phát triển và lưu truyền nền văn hoá nhân loại Trong thời kỳ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, đất nước tiến hành Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá thì tiềm năng trí tuệ là động lực chính của sự phát triển GD được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của Quốc Gia Chính vì vậy, Đảng và nhà nước ta đánh giá rất cao vai trò của Giáo dục

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã nêu rõ:” Giáo dục và Đào tạo nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng

bộ về ngành nghề, phù hợp với việc phân công lao động xã hội.”

Tại văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã nêu: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu… nhằm phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển.”

Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chúng ta đã thực sự coi “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Trong nghị quyết Đại hội đã khẳng định:

“Muốn tiến hành Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh Giáo dục và Đào tạo, phát huy nguồn nhân lực con người, đó là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh bền vững”

Trong thời đại khoa học hiện nay,khi nhân loại bước vào kỷ nguyên mới,”kỷ nguyên tri thức”thì vấn đề nguồn lực con người luôn được coi là vấn

đề quan trọng

Đối với bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.Với mục tiêu hình thành ở học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đăn lâu dài về tri tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất và có kĩ năng cơ bản: Nghe- nói- đọc- viết - tính toán có những hiểu biết về tự nhiên xã hội Vì thế cần phải quan tâm đến quá trình tư duy của học sinh mà khả năng tư duy của học sinh ở từng độ tuổi là khác nhau, dẫn đến khả năng nhận thức cũng khác nhau Như vậy tư duy là hoạt động không thể thiếu được trong nhận thức thế

Trang 2

giới và tồn tại song song với xã hội loài người

Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục Tiểu học tôi nhận thấy khả năng tư duy của học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 trường Tiểu học Cao Xá nói riêng còn ở mức độ thấp cần phải có biện pháp nâng cao giúp cho các em nhận thức thế giới tốt hơn, lĩnh hội các kiến thức khoa học, tri thức xã hội và phát triển toàn diện nhân cách Vì vậy mà tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài

“Nâng cao khả năng tư duy của học sinh lớp 4 trong việc học Toán ”

Trang 3

PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

Lê-nin đã vạch rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là "từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý và nhận thức hiện thực khách quan" Có hai quá trình nhận thức, đó là nhận thức cảm tính và nhận thức lý

tính Nhận thức cảm tính là mức độ thấp nhất, còn nhận thức lý tính là nhận thức cao hơn gồm hai quá trình là tư duy và tưởng tượng

a Tư duy là gì ?

- Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó ta chưa biết

b Đặc điểm của tư duy:

Tư duy của con người mang bản chất xã hội nên nó có các đặc điểm sau:

Tư duy mang tính "có vấn đề" Khi gặp những hoàn cảnh những tình huống

mà vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của con người không đủ giải quyết, lúc đó con người rơi vào "hoàn cảnh có vấn đề" khi ấy con người phải vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết và đi tìm cái mới, hay nói khác đi là con người tư duy

Tư duy mang tính khái quát hoá bởi nó có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối liên hệ có tính chung, những mối liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tượng

Tính gián tiếp của tư duy: Tư duy của con người phản ánh thế giới một cách gián tiếp, phản ánh bằng ngôn ngữ nhờ phương tiện ngôn ngữ và khả năng khái quát hoá

Tư duy có mối quan hệ mật thiết với ngôn ngữ và nhận thức cảm tính: ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với tư duy là phương tiện của tư duy Nhờ có ngôn ngữ mà con người nhận thức được tình huống có vấn đề để tư duy và giải quyết

Tư duy và nhận thức cảm tính thuộc hai mức nhận thức khác nhau, nhưng

Trang 4

không tách rời nhau có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau Nhà tâm lý học Xô

Viết X.L.Rubinxtin đã viết: "Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm chỗ dựa chi phối khả năng phản ánh cảm giác, tri giác, làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi nhạy bén, tri giác có tính lựa chọn, ý nghĩa hơn"

c Các thao tác của tư duy:

Thao tác phân tích, tổng hợp: là quá trình con người dùng trí óc để phân tích các sự kiện hiện tượng nối tổng hợp lại thành một chỉnh thể giúp nhận thức đối tượng bao quát hơn

Thao tác so sánh là đối chiếu để tìm ra sự sống và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng

Thao tác khái quát hoá trìu tượng hoá: trìu tượng hoá là gạt bỏ những thuộc tính, những mối quan hệ không cần thiết về một phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy Còn khái quát hoá là sắp xếp các đối tượng khác nhau vào thành một nhóm để tìm ra những thuộc tính chung, những mối liên hệ có tính quy luật

Như vậy khả năng tư duy khái quát hoá có vai trò quan trọng trong việc nhận thức của học sinh, giúp các em biết bao quát nhiều sự vật để tìm ra điểm chung, bản chất từ đó rút ra được khái niệm, công thức Như vậy muốn phát triển khả năng tư duy sáng tạo của học sinh, người giáo viên phải tạo ra nhiều tình huống có vấn đề cho các em giải quyết Hiện nay, với phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trọng tâm đã kích thích được tính tự

động, tích cực suy nghĩ của các em

d Khả năng phát triển tư duy của học sinh lớp 4:

Trong việc nhận thức thế giới học sinh lớp 4 đang chuyển dần từ tính cụ thể trực quan trong tư duy, tưởng tượng sang trìu tượng khái quát Ví dụ khi tính toán học sinh lớp 1, 2 còn dùng que tính Nhưng lên lớp 4, 5 các em đã có thể tính nhẩm Trong hoạt động khái quát hoá học sinh lớp 1, 2 thường căn cứ vào dấu hiệu bề ngoài, cụ thể, trực quan nhưng ở lớp 4, 5 các em đã biết dựa vào dấu hiệu bản chất để khái quát hoá thành khái niệm, quy luật

Trang 5

Như vậy trong sự phát triển tư duy của học sinh Tiểu học tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và chuyển dần sang tính khái quát ở cuối cấp

Trong quá trình giáo dục học sinh Tiểu học người giáo viên cần nắm chắc các đặc điểm tâm lý này, chú ý đảm bảo tính trực quan trong dạy học dùng người thực, việc thực với những gương tốt để giáo dục trẻ và định hướng phát triển khả năng phân tích, tổng hợp khái quát hoá trong tư duy Từ đó giúp trẻ lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển toàn bộ nhân cách cho học sinh

Trong quá trình tư duy thì khái quát hoá đóng vai trò quan trọng trong công việc lĩnh hội tri thức Nó giúp học sinh bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm để tìm ra bản chất, các mối liên hệ có tính quy luật

2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn sáng kiến gúp cho người giáo viên thấy được khả năng tư duy của học sinh lớp 4 trong quá trình học toán từ đó giúp giáo viên có phương pháp dạy học phù hợp với khả năng tư duy của học sinh

Từ đó chất lượng giáo dục xẽ được năng lên

3 CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Qua thực tế giảng dạy Tôi đã đi sâu vào tìm hiểu về khả năng tư duy khái quát hoá của học sinh lớp 4A trong việc học Toán Trong thời gian khảo sát, ngắn ngủi với kinh nghiệm của bản thân tôi đã trực tiếp điều tra 20 em học sinh lớp 4 của trường

Trong 20 học sinh được nghiên cứu có 10 học sinh nữ và 10 học sinh nam , các em đều ở lứa tuổi 9, 10 tuổi, là con em các gia đình làm nông nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng rất nhiều phương pháp như: quan sát, điều tra, thống kê thực nghiệm bằng cách lập các câu hỏi điều tra và các bài tập thực nghiệm để rút ra những kết luận thực tiễn về khả năng tư duy khái quát hoá trong việc học Toán của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Cao Xá

Trang 6

Câu hỏi 1:

Trong các môn học: Tiếng Việt, Toán, Đạo Đức em thích môn nào nhất ? Kết quả thu được là 3 cách trả lời với tỷ lệ như sau:

Nhìn vào bảng kết quả điều tra tôi nhận thấy số học sinh thích học môn Toán chỉ chiếm 40% Đó là những em có học lực khá, giỏi Còn các em trả lời không thích học môn Toán chiếm tỷ lệ cao: 60% những em học sinh yếu môn học này Như vậy câu hỏi đặt ra cho chúng ta là vì sao các em không thích học môn Toán Theo tôi nguyên nhân là do các em bị rỗng kiến thức từ các lớp dưới nên dẫn đến không hiểu được kiến thức mới Từ đó mà không có khả năng tự tìm hiểu và làm bài tập dẫn đến việc sợ học môn Toán và làm ảnh hưởng tới khả năng tư duy của các em

Khi hỏi những học sinh thích học môn Toán hầu hết các em đều trả lời

"Ham thích được tìm hiểu, suy nghĩ tìm ra những lời giải hay, ngắn gọn của những bài toán khó" Như vậy ta thấy khả năng tư duy của những em này ở

mức độ cao hơn các em không thích học Toán Các em biết phân tích, tổng hợp các vấn đề nêu ra trong các môn học đặc biệt là môn Toán Nhờ vậy mà

khả năng tư duy khái quát hoá của các em cũng phát triển

Sau khi điều tra bằng câu hỏi thực nghiệm, tôi đã phân loại được khả năng nhận thức cũng như khả năng tư duy khái quát hoá của học sinh lớp 4 trong việc học toán Để tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này tôi đã đưa ra một số bài tập thực nghiệm

Bài tập 1:

Cho 10 số tự nhiên: 10, 14, 18, 24, 33, 39, 64, 73, 81 Em hãy cho biết làm thế nào để tìm được các số chia hết cho 3

- Cách tiến hành:

+ Phát phiếu học tập cho học sinh

+ Theo dõi và quy định thời gian cho học sinh thực hiện

+ Thu thập và thống kê

Trang 7

- Kết quả thu được: có 2 cách trả lời

+ Cách 1: Chia từng số cho 3, có 6 em chiếm 30%

+ Cách 2: Dựa vào dấu hiệu để tìm, có 14 em: chiếm 70%

Như vậy kết quả thu được là 70% học sinh đã biết dựa vào dấu hiệu chung, bản chất để tìm ra được các số chia hết cho 3 Từ đó các em có khái niệm và tìm

ra được quy luật chung để giải bài toán một cách nhanh nhất

Tuy vậy vẫn còn một số học sinh còn chưa biết dựa vào dấu hiệu mà thực hiện máy móc bằng cách đem chia từng số cho 3 Điều đó chứng tỏ khả năng tư duy khái quát hoá của các em còn thấp, mặc dù vẫn tìm ra kết quả đúng nhưng

sẽ không tạo ra được sự thông minh, sáng tạo trong việc nắm bắt kiến thức

Để tìm hiểu thêm về khả năng tư duy khái quát hoá của học sinh tôi tiếp tục đưa ra một bài tập về phân số

Bài tập 2:

Hãy quy đồng mẫu số các phân số sau:

; ;

- Cách tiến hành:

+ Phát phiếu học tập cho học sinh thực hiện

+ Thu thập, thống kê

+ Trò chuyện để tìm hiểu

- Kết quả thu được: Có 2 cách tìm mẫu số chung của 3 phân số

+ Cách 1: Lấy tử số và mẫu số phân số thứ nhất nhân với tử số và mẫu số

của phân số thứ 2 và thứ 3

Lấy tử số và mẫu số của phân số thứ 2 nhân với tử số và mẫu số của phân

số thứ nhất và thứ ba

Lấy tử số và mẫu số của phân số thứ ba nhân với tử số và mẫu số của phân

số thứ nhất và thứ hai

+ Cách 2: Xét trường hợp mẫu số của phân số nào chia hết cho mẫu số của

các phân số còn lại thì ta lấy mẫu số đó làm mẫu chung

- Kết quả:

Trang 8

Cách làm Số lượng Tỷ lệ

Làm theo cách 1 có 4 em: chiếm 20% Làm theo cách thứ 2 có 16 em chiếm 80%

Với bài tập này tôi đưa ra nhằm khảo sát mức độ khái quát hoá của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức về phân số

Qua kết quả thu được tôi nhận thấy vẫn có một số em làm bài tập theo cách máy móc, dập khuôn không sáng tạo Như vậy chứng tỏ khả năng

nắm kiến thức của những em này ở mức độ trung bình, còn ít luyện tập, thực hành làm các bài tập về phân số Nên không tìm ra dấu hiệu chung của bản chất của nó

Qua đây tôi nhận thấy trong công tác giáo dục người giáo viên phải quan tâm, giúp đỡ các em có ý thức học cao hơn Đưa các em tập trung suy nghĩ, tư duy vào các vấn đề đặt ra làm cho các em có óc tư duy, sáng tạo Tạo cho các

em có lòng ham mê học toán hơn

Còn với các em có cách làm ngắn gọn tôi đã trò chuyện với các em và được

biết: "Chúng em đã làm rất nhiều bài toán về cộng trừ phân số ngoài các bài tập trên lớp em còn làm thêm ở nhà Nên khi quy đồng mẫu số các phân số trước tiên em tìm mẫu chung bằng cách xét các mẫu sau đó mới quy đồng" Từ

đây tôi nhận thấy tăng các giờ luyện tập thực hành cũng là một phương pháp để phát triển khả năng tư duy khái quát của học sinh càng cao thì chất lượng giáo dục và dạy học càng đạt hiệu quả tốt

Để tìm hiểu thêm về vấn đề này tôi tiếp tục đưa ra một bài tập dạng trắc nghiệm

Bài tập 3:

Hãy điền chữ Đ vào ô em cho là đúng chữ S vào ô em cho là sai:

2975 + 4017 > 4017 + 2975

2975 + 4017 < 4017 + 3000

2975 + 4017 = 4017 + 2900

Trang 9

Sau khi cho học sinh thực hiện vào phiếu học tập tôi thu được kết quả như sau:

- Có14 em làm đúng cả 3 phép tính chiếm 70%

- Có 24 em làm đúng 2 phép tính và sai 1 chiếm 20%

- Có 2 em làm sai đúng 1 phép sai 2 chiếm 10%

Qua bài tập này và sau khi dự giờ 1 tiết toán của lớp 4 tôi nhận thấy khả năng phát triển tư duy khái quát hoá cao chủ yếu ở những học sinh có học lực khá giỏi Như vậy mỗi người giáo viên chúng ta phải có biện pháp rèn luyện, nâng cao khả năng tư duy khái quát hoá cho học sinh và phải có phương pháp giáo dục phù hợp khắc phục những em học sinh lười tư duy luôn bị động, không tự giác suy nghĩ Từ đó đưa các em vào hoạt động có đầu tư suy nghĩ để phát triển khả năng tư duy

Bài tập 4: (Câu hỏi)

Trong các hình: Hình chữ nhật, hình vuông, hình bình hành đều có thể gọi chung là hình gì ?

Với câu hỏi này tôi đưa ra nhằm kiểm tra khả năng tư duy khái quát của các

em trong việc học tập về các yếu tố hình học Từ đó có thể xem xét khả năng khái quát để tìm ra những đặc điểm, những dấu hiệu chung nhất của một

số hình và đưa những đặc điểm này thành khái niệm đơn giản

Kết quả thu được : Có 18 em trả lời là hình tứ giác chiếm 90%

Có 2 em trả lời không biết chiếm 10%

Với kết quả trên tôi nhận thấy học sinh nắm bắt tri thức về hình học ở mức

độ cao Các em đã nhận biết được cái chung bản chất của các hình chữ nhật, hình vuông, hình bình hành đêu được cấu tạo từ 4 đoạn thẳng khép kín gọi là hình tứ giác Các hình đều có những đặc điểm khác nhau nên có tên gọi khác nhau

Có thể nói để học sinh nắm được bản chất của các hình trong quá trình giảng dạy giáo viên phải có liên hệ thực tế cuộc sống và liên hệ giữa bài học mới với bài học cũ và đặt ra các tình huống cho học sinh suy nghĩ, tư duy

Qua bài tập trên tôi nhận thấy kết quả không được khả quan cho lắm,

Trang 10

nên tôi đưa ra thêm một bài tập nữa có liên quan đến các yếu tố hình

học để khảo sát

Bài tập 5:

Em hãy ghi chữ Đ vào ô trước câu trả lời em

cho là đúng và ghi chữ S vào trước ý trả lời

em cho là sai

- AH là đường cao của tam giác ABC

- AB là đường cao của tam giác ABC

Bài tập nàytôi đưa ra nhằm mục đích tìm hiểu khả năng hiểu bài của học sinh về hình học, đặc biệt là hình tam giác như thế nào ?

Kết quả thu được như sau:

- Có 16 em trả lời đúng: "AB là đường cao của tam giác ABC" chiếm 80%

- Có 4 em trả lời sai: "AH là đường cao của tam giác ABC: chiếm 20% Nhìn vào kết quả thu được ta thấy mức độ nắm tri thức về hình của học sinh ở mức khá Các em đã nắm được dấu hiệu chung của đường cao một hình tam giác Đường cao của tam giác là đoạn thẳng vuông góc hạ từ đỉnh của tam giác xuống cạnh đáy Tuy vậy vẫn có một số em không nắm được bản chất của đường cao hình tam giác nên làm sai Như vậy người giáo viên cần phải chú ý hơn nữa tới các em có học lực yếu, kém quan tâm, giúp đỡ, đôn đốc có chương trình phụ đạo cho các em

Tóm lại, qua các câu hỏi điều tra và bài tập thực nghiệm tôi nhận thấy mức

độ tư duy khái quát trong việc học toán của học sinh lớp 4 nói chung và học sinh lớp 4A trường Tiểu học Cao Xá nói riêng đã phát triển ở mức độ trung bình khá Tuy nhiên vẫn còn những em học sinh không chịu đầu tư suy nghĩ để nắm bắt kiến thức khoa học và làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo

dục và dạy học

Đối với mỗi người giáo viên đang trực tiếp giảng dạy cần phải chú ý tới vấn đề hứng thú học tập của học sinh từ đó nâng cao khả năng tư duy khái quát hoá Đưa các em vào những hoạt động cần có sự tích cực, năng động trong suy

H

Ngày đăng: 23/09/2016, 09:01

Xem thêm

w