Theo đường lối chung và đường lối giáo dục mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra với các tiêu chí sự chuẩn hóa, sự hiện đại hóa, sự xã hội hóa đối với các ngành khoa học, bậc học, c
Trang 1Quản lý giáo dục ở một số cấp – đặc biệt là ở cấp Bộ - trong tình trạng
“nắm quá chặt một số việc cần phải buông – thả nổi – một số việc quan trọng cần phải nắm”
Sự thi cư đang diễn ra quá nặng nề và gây lãng phí lớn thì Bộ nắm quá chặt trong lúc đó các chính sách giáo dục – đặc biệt là các chính sách giáo dục cụ thể hóa được luật giáo dục về chuẩn kinh tế sư phạm cho các trường, các loại hình trường, về quy chế hoạt động vừa tự chủ vừa chịu trách nhiệm của nhà trường về quỹ lương, về nhân sự, về tài chính nhà trường lại chậm ban hành
Sự hiện thực hóa được các trường chuẩn vào đời sống thực tiễn (trừ bậc tiểu học) còn diễn ra quá chậm chạp Nhiều điển hình tiên tiến trong giáo dục sớm nở tối tàn và chưa có nguyên lý tỏa rộng cho các nơi ngay địa phương hoặc trong toàn quốc
Giáo dục nước ta có góp phần có hiệu quả và tạo ra những động lực mạnh
để đất nước thoát ra khỏi tình trạng còn lạc hậu và phát triển chậm hay không thì trước hết bản thân nó phải vượt ra khỏi sự lạc hậu về quan điểm và cách làm Việc nhận thức được quan điểm mới và đề xuất cách làm hay là một quá trình trải qua nhiều vòng, nhiều đợt
Theo đường lối chung và đường lối giáo dục mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra với các tiêu chí sự chuẩn hóa, sự hiện đại hóa, sự xã hội hóa đối với các ngành khoa học, bậc học, các nhà trường; chúng tôi nghĩ sự cộng tác chặt chẽ của các nhà sư phạm học, các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học cùng với các khoa học và hoạt động thực tiễn hữu quan sẽ tìm ra được các đột phá làm cho giáo dục thoát khỏi sự trì trệ, có được các hiệu ứng mới cho phát triển kinh tế xã hội
DỤC NƯỚC TA HIỆN NAY DƯỚI ÁNH SÁNG QUAN ĐIỂM DỰ BÁO GIÁO DỤC
Cũng như nhiều ngành trong hệ thống chính trị kinh tế, ngành giáo dục đào tạo nước ta đã xây dựng chiến lược giáo dục đến năm 2010 đồng thời có tầm nhìn hành động đến năm 2020
Xét cho cùng bất cứ một chiến lược giáo dục đều gắn với ý đồ của việc
biến đổi (Transform), canh tân (Innovation), cải cách (Reform) đối với giáo dục
Công việc này là sự bình thường của mọi nền giáo dục nếu muốn cho nền giáo dục phục vụ đắc lực cuộc sống Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn
dặn: “Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân”
Trang 2chính là Người yêu cầu không bao giờ được bằng lòng thỏa mãn với các thành tựu giáo dục đã giành được
Sự biến đổi nền giáo dục là nhằm vào các cải tiến để nó thích nghi với động thái kinh tế xã hội
Sự canh tân nền giáo dục là quá trình loại bỏ đi cái cũ, tạo ra cái mới thúc đẩy bước tiến của kinh tế xã hội
Sự cải cách là nhằm vào sự cải biến các nhân tố của quá trình giáo dục để
nó đón đầu các bước tiến của kinh tế xã hội
Chiến lược giáo dục của nền giáo dục Việt Nam dù được biểu hiện như thế nào, theo khung thời gian nào đều không thể bỏ trống một trong ba yêu cầu trên đây
(i) Yêu cầu làm cho nền giáo dục thích nghi với kinh tế - xã hội
(ii) Yêu cầu làm cho nền giáo dục thúc đẩy tiến bộ của kinh tế - xã hội (iii) Yêu cầu làm cho nền giáo dục đón đầu xu thế phát triển kinh tế - xã
hội
Nhằm đạt cả ba yêu cầu nêu trên và trong bối cảnh tiến đến năm 2010 chiến lược giáo dục đào tạo ở nước ta phải nhằm vào những vấn đề chủ yêu sau đây
1/ Xây dựng được nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân coi giáo dục đào tạo
là động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giáo dục cũng thông qua việc nâng cao dân trí là điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ, bảo
vệ quyền con người, tăng cường pháp chế, giữ vững kỷ luật kỷ cương
2/ Thực hiện được sự đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp, hệ thống quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
3/ Phát triển giáo dục mầm non làm tiền đề vững cho việc nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách ở giáo dục phổ thông Củng cố thành tựu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập giáo dục trung học phổ thông
4/ Đẩy mạnh phong trào học tập, khuyến khích tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề bằng những hình thức giáo dục chính qui và không thể chính qui, giáo dục không theo thủ tục chính tắc
Trang 3Có qui hoạch nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học trên mạng, học trong đời sống thực tiễn (vừa lao động, vừa học tập)
5/ Hiện đại hóa cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, tạo các điều kiện tăng giờ học, giáo dục tại trường (trường học hai buổi mỗi ngày), các trường học được thụ hưởng thành quả của tiến bộ công nghệ thông tin, được nối mạng internet 6/ Tạo cho quá trình đào tạo ở mọi cấp học, trình độ học, phương thức học
có một sự kết hợp chặt chẽ giữa dạy và học lý thuyết với thực hành, gắn công tác dạy học với công tác nghiên cứu khoa học và sản xuất Nhà trường và cơ sở đào tạo phối hợp với các tổ chức khoa học và cán bộ kỹ thuật truyền bá tri thức sản xuất, chuyển giao công nghệ mới cho dân
7/ Thực hiện tốt việc hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương
8/ Mở rộng qui mô đào tạo trung học chuyên nghiệp và dạy nghề nhanh chóng hiện đại hóa một số trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội khuyến khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề dân lập và tư thục trang bị cho thanh niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu trong công nghệ mới để tự tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân lập nghiệp 9/ Phát triển giáo dục đại học một cách hợp lý Từng bước đưa nền giáo dục đại học tinh hoa sang giáo dục đại học đại chúng tạo ra các tiền đề để một tương lai không xa phát triển nhanh giáo dục đại học Đầu tư vào hai trường đại học quốc gia thành những trung tâm đào tạo chất lượng cao, thực hiện tốt việc bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, xây dựng hệ thống trường sư phạm vững mạnh, đầu tư cho các trường đại học sư phạm trọng điểm để có được đội ngũ giáo viên giỏi cho hệ thống trường lớp ở bậc phổ thông, cũng như bậc đại học 10/ Huy động sức mạnh toàn dân vào việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo mang lại cho người dân cơ hội học tập và đóng góp nhân lực vật lực cho giáo dục Phát triển các trường bán công, dân lập, tư thục theo phương châm xã hội hóa giáo dục và đảm bảo sự quản lý của nhà nước Phát triển mạnh hội khuyến học, quỹ khuyến khích tài năng và các tổ chức bảo trợ, hỗ trợ giáo dục
11/ Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội học tập Mở rộng và hoàn thiện các trường dân tộc nội trú cho con em dân tộc thiểu số, chú trọng đặc biệt đến quyền lợi học tập của con em cư
Trang 4dân ở những nơi nghèo và có nhiều khó khăn, có các biện pháp hữu hiệu chấm dứt các tiêu cực đang diễn ra: dạy thêm học thêm theo khuynh hướng thương mại hóa, bằng cấp giả, học giả, bạo lực trường học, ma túy và các tệ nạn khác 12/ Tăng đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo, có các biện pháp tăng được tổng thu nhập quốc dân cho giáo dục đào tạo Xây dựng cơ chế quản
lý giáo dục đào tạo đảm bảo được sự quản lý của nhà nước nhưng tăng cường tính chủ động của ngành trên cả năm lĩnh vực: quản lý chuyên môn, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý bộ máy, quản lý cơ sở vật chất
Từ hệ thống các quan điểm kinh tế giáo dục chúng tôi xin nêu ra năm gợi ý sau đây
Thứ nhất cần quán triệt việc giáo đáp ứng cho yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, vì vậy phải tổ chức cho nền giáo dục này có hạt nhân của quá trình đào và quá trình phát triển phục vụ việc phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của thị trường sức lao động
Thứ hai cần ý thức được luận điểm “Sản phảm của giáo dục không chỉ cho
hiện tầim chủ yếu cho tương lai” (ý của Kant), việc quản lý nền giáo dục phải hành động trên tư duy dự báo, tư duy quy hoạch tổng thể
Thứ ba cần mở rộng tầm nhìn đối với các vấn đề của giáo dục trong xu thế
toàn cầu hóa về kinh tế Phải tổ chức nền giáo dục của nước như một “Hệ mở”,
“Mở” ngay trong quá trình đào tạo giữa các trường ở trong nước và “mở” đối
với sự giao lưu cạnh tranh khu vực và quốc tế
Thứ tư cần quản lý và tổ chức cho nền giáo dục này trước hết là cho quá
trình đào tạo thích ứng với nền kinh tế công nghiệp, kinh tế thị trường nhưng
phải đón đầu được nền kinh tế tri thức (Knowledge)
Thứ năm là phải luôn luôn tỉnh táo nhận thức được giáo dục chịu đựng các
tương phản của kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa, đặc biệt trong hoàn cảnh của nước ta khi mặt bằng phát triển kinh tế khá thấp chấp nhận kinh tế thị trưòng nhưng nhân dân lại có tinh thần hiếu học rất cao, đất nước có nền chính trị ưu việt và văn hóa với bề dày sâu sắc Việc đào tạo được các nhà kinh tế học giáo
dục am hiểu các vấn đề kinh tế thực chứng, tính được quan hệ “Chi phí – Lợi ích”, tính được “Giá thành” giáo dục cho mỗi cấp học, mỗi loại hình trường,
tính được hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài của giáo dục; đồng thời nắm
vững quan điểm kinh tế chuẩn tắc đối với các vấn đề giáo dục: “Pháp luật chỉ thống trị được một thời gian, chỉ có giáo dục mới chinh phục được con người mãi mãi” (Khang Hy), “Các khoản tiền bỏ vào giáo dục sẽ thừa sức được thanh toán với việc xuất hiện Niutơn, Mô ja, Bettoven” (Alfred Marshall)
Trang 5IX DỰ BÁO MÔ HÌNH PHÁT TRIẾN GIÁO DỤC VIỆT NAM TỚI
2020
Mục tiêu và mô hình là hai trong số những vấn đề lí luận và thực tiễn cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục Bài viết chỉ trình bày quan niệm, cơ sở lí luận nhằm góp phần tạo ra sự định hướng cho việc thực hiện trong quá trình hoạch định chiến lược chung
1 Mục tiêu giáo dục
Các mục tiêu giáo dục là những định hướng chuẩn mực và kết quả phải đạt tới hay trình độ phát triển nhân cách của học sinh Trên mọi lĩnh vực khoa học, việc xác định chính xác, đầy đủ các mục tiêu là một vấn đề nan giải bậc nhất Không có những mục tiêu đó thì cũng không thể có giáo dục
Hiện nay mục tiêu giáo dục được xem xét từ hai giác độ liên quan chặt chẽ với nhau: a/ giáo dục vì lợi ích của xã hội; và b/ giáo dục vì lợi ích của mỗi người Chiến lược phát triển giáo dục cần chú ý tới sự kết hợp đó khi xem xét và thể hiện những nội dung cơ bản
1.1 Khái niệm và sự phân chia cấp độ mục tiêu
Nói chung mục tiêu thường được quan niệm như cái đích cần đạt tới để thực hiện nhiệm vụ Do đó, mục tiêu giáo dục cũng chính là mục tiêu giáo dục của nhà trường Khái niệm này được dùng để chỉ những gì cần phấn đầu hay phải đạt tới thông qua giáo dục và dạy học, tập trung chủ yếu vào mô hình nhân cách phù hợp với kiến thức trong giai đoạn phát triển xã hội – lịch sử nhất định Mục tiêu có nhiều cấp độ khác nhau:
a/ Mục tiêu chung của giáo dục – đào tạo;
b/ Mục tiêu của bậc học;
c/ Mục tiêu của cấp học; và
d/ Mục tiêu của môn học;
1.2 Mục tiêu giáo dục đến năm 2020
Từ nay đến năm 2020, ngành giáo dục phấn đấu đạt các mục tiêu sau đây:
“Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi, dạy trẻ cho các gia đình
Nâng cao chất lượng toàn diện bậc tiểu học Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 và trung học phổ thông vào năm 2020 Phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và các cùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ
Trang 6Phát triển đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp, đẩy mạnh đào tạo công nhân lành nghề, đảm bảo có được nhiều nhân tài cho đất nước trong thế kỉ
1.3 Phân tích và thao tác hóa mục tiêu (2)
Khi nghiên cứu những thành quả trong và ngoài nước, chúng ta có thể thấy nhiều quan niệm và cách thức phân tích mục tiêu khác nhau Mục tiêu càng được xác định rõ, cụ thể hóa bao nhiêu thì càng có những khả năng thao tác hóa thuận lợi, chính xác bấy nhiêu Các công trình nghiên cứu về phân tích và thao tác hóa mục tiêu đã đưa ra một số kết luận định hướng sau đây:
a/ Phải tiến hành đồng thời các bước lựa chọn, mô tả, phân loại và thao tác hóa mục tiêu Đây là điều kiện tiên quyết, vì có như vậy, việc định hướng thực hiện mới rõ ràng, bao quát, dẫn đến những hành động có hiệu quả thực tế, có thể nhận xét, đánh giá hay đo được
b/ Nhìn chung, quá trình đó bao gồm 3 giai đoạn hay 3 pha liên quan tới nhau:
có thể đánh giá hay đo được.
Trang 7và quản lí, hình thành một số cơ sở GD-ĐT có uy tín trong khu vực và trên thế giới, từng bước áp dụng công nghệ thông tin trong GD-ĐT
Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha với lí tưởng độc lập dân tộc
và CNXH, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, có tư duy sáng tạo, tính độc lập và tính tích cực cá nhân, có năng lực thực hành giỏi, yêu nghề nghiệp, làm chủ khoa học kĩ thuật hiện đại, có ý thức tổ chức kỉ luật, tác phong công nghiệp, ý thức cộng đồng và tinh thần hợp tác, có ý thức bảo vệ môi trường, có nếp sống lành mạnh và sức khỏe tốt”(3)
Dựa trên mục tiêu chung đã nêu, Dự thảo chiến lược phát triển GD-ĐT đến năm 2010 đã xác định các mục tiêu cụ thể cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục không chính quy Bên cạnh những nội dung cụ thể, hợp lí, chúng ta có thể thấy cần phải giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu khá cáo, mang tính lí tưởng của mục tiêu chung và một bên là những điều kiện, khả năng có giới hạn, chưa toàn diện của các mục tiêu riêng trong những phần trình bày ở dưới
Trong chiến lược và mô hình phát triển giáo dục, mục tiêu tổng quát cần được cụ thể hóa theo các cấp độ đã nêu ở phần trên Đặc biệt, phải xác định được mô hình nhân cách có phân hóa theo từng bậc học, cấp học với một cấu trúc phản ánh các mặt phát triển toàn diện của con người trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm đầu của thế kỉ 21
1.4 Những mục tiêu của việc chuyển đổi các hệ thống giáo dục
Chúng ta thường nói đến các loại mục tiêu cũng như những mục tiêu gắn với từng mục giáo dục (trí, đức, thể, mĩ) hay môn học (văn, sử, địa, toán, lí, hóa…) Tuy nhiên, bất cứ một mô hình giáo dục nào cũng phải có những mục
tiêu cao hơn về chất Đó cũng chính là những mục tiêu của sự chuyển đổi (Transformation) các hệ thống giáo dục trong những năm đầu của thế kỉ 21
1/ Giáo dục phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp phải thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong khoa học và kĩ thuật, trong thế giới nghề
và cuộc sống thường ngày
2/ Phấn đấu đạt tới trình độ có khả năng hợp tác bình đẳng và cạnh tranh trong phạm vi khu vực và toàn cầu tự bậc học thấp nhất trở lên Muốn vậy, các mục tiêu đào tạo quốc gia phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế ở những lĩnh vực cơ bản nhất
Trang 8
3/ Trong đào tạo, ngoài việc hình thành và phát triển các năng lực nhận thức, những kĩ năng vận dụng, nhà trường sẽ coi trọng hơn các xu hướng động
cơ, thái độ của cá nhân, hành vi đạo đức và những định hướng giá trị chi phối hành động
1.5 Học vấn và mục tiêu hóa giáo dục
Học vấn là một khái niệm có nội hàm biến động theo sự phát triển văn hóa,
xã hội… Đó không phải là kết quả của sự tiếp thu, sở hữu những điều hiểu biết
bất kì, mà là sự hiểu biết cá nhân với chất lượng cao Cho đến nay, khi điểm lại
các công trình nghiên cứu từ những năm 70, ví dụ F Copei, H Schiefele, J.H Flavell, R.S Siegler, D.D Richards hay E.E Weinert, ta có thể rút ra bốn đặc điểm sau đây:
1/ Học vấn là kết quả của sự tiếp thu những điều hiểu biết phong phú về nội dung vấn đề, mang tính phân hóa và có cơ sở, trái với quan niệm về đào tạo hình thức
2/ Học vấn là kết quả của sự tiếp thu những điều hiểu biết tạo động cơ cho hoạt động học tập và bản thân sự tiếp thu đó
3/ Học vấn là kết quả của sự tiếp thu những điều hiểu biết tạo động cơ cho hoạt động học tập và bản thân sự tiếp thu đó
4/ Học vấn là kết quả của sự tiếp thu những điều hiểu biết tạo động cơ cho hoạt động học tập và bản thân sự tiếp thu đó
Về lí luận, học vấn là một phạm trù quan trọng song không thể bị đồng nhất
với mục tiêu giáo dục, một khái niệm bao trùm, đa diện hơn Tuy nhiên, việc
thực hiện mục tiêu phải dẫn đến sự hình thành và phát triển vốn học vấn theo tính thần quan niệm trên đây
1.6 Các nguyên tắc xác định mục tiêu giáo dục
Mục tiêu phải xuất phát từ vị trí, chức năng và nhiệm vụ ngành giáo dục, bậc học, cấp học
Việc xác định mục tiêu phải mang tính đồng bộ, nghĩa là cần đồng thời chú
ý tới:
a/ Mối liên hệ giữa mục tiêu và nội dung, phương pháp;
b/ Các loại hình giáo dục (công lập, bán công, dân lập, tư thục);
c/ Quan điểm và mô hình phát triển toàn diện nhân cách; và
d/ Yêu cầu của các môn học
Mục tiêu cần phản ánh được những yêu cầu của cuộc sống thực tế, nhất là của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương
Trang 9Đảm bảo tính khả thi trên cơ sở xem xét đầy đủ những điều kiện cần thiết (như hiệu quả giáo dục tiểu học, quy mô đào tạo, mạng lưới, đội ngũ giáo viên,
cơ sở vật chất…)
Hệ thống mục tiêu phải được xây dựng trên cơ sở truyền thống văn hóa dân tộc, những tiến bộ của khoa học giáo dục đương đại và phù hợp với xu hướng phát triển nói chung trong vùng và trên thế giới
Đảm bảo nguyên tắc “mở” (Open objectives) trong khi xác định mục tiêu, theo nghĩa không biến mục tiêu thành những quy định quá cứng nhắc, máy móc, thoát li những điều kiện phong phú, đa dạng, biến động trong xã hội và giáo dục
1.7 Tính hiệu quả và khả thi của hệ thống mục tiêu giáo dục biểu hiện
trước hết ở những điểm sau đây:
1/ Mục tiêu giảng dạy phải trở thành mục tiêu học tập Nói khác đi, nhà trường là nơi được học hơn là được dạy
2/ Mọi biểu hiện trong quá trình tiếp nhận phải dẫn đến sự hình thành ở người học những thái độ, giá trị và kỹ năng phù hợp với chất lượng nhân cách trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa và điều kiện mới
3/ Giáo dục thực sự góp phần chủ yếu tạo ra một xã hội có hiểu biết và văn hóa, một xã hội học tập
4/ Giáo dục phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cho sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa ở địa phương cũng như trong toàn quốc
2 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẾN NĂM 2020
2.1.2 Mô hình giáo dục
Mô hình giáo dục ở đây là mô hình mang tính dự báo theo một chiến lược phát triển giáo dục quốc gia Nó đưa ra những quan điểm, nội dung định hướng
về những vấn đề, sự kiện được quan sát trong tương lai và do đó, còn được gọi
là mô hình tiên nghiệm (a priori)
Trang 10
2.2 Sự cần thiết của việc xây dựng mô hình phát triển giáo dục mới
Khi nhìn lại các cuộc cải cách khác nhau trong thế kỉ 20, nhiều chuyên gia
đã thấy cần phải tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mới, phải thay đổi các hệ thống giáo dục Nói khác đi, những năm đầu thế kỉ 21 đòi hỏi phải tìm kiếm một
mô hình giáo dục vì những lí do sau đây:
a/ Sự phát triển khoa học - kỹ thuật đã tạo ra những thay đổi trong hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống thường ngày Thế hệ trẻ phải có trình độ cao hơn so với những gì họ được các trường phổ thông, các trường nghề và các trường đại học truyền thụ từ trước đến nay
b/ Học vấn là quyền lực quốc gia quan trọng nhất trong cuộc cạnh tranh kinh tế và văn hóa toàn cầu Học vấn ở nhà trường phải được lựa chọn trong bản thân nền văn hóa của mỗi dân tộc và từ những thành quả phát triển khoa học của nhân loại Nhiều chương trình, tài liệu, sách giao khoa hiện nay chưa mang tính
cơ bản, hiện đại và chưa được thành cái vốn riêng, trí lực của từng người học c/ Sự lớn mạnh của mỗi quốc gia trong sự phụ thuộc chung về kinh tế, chính trị, văn hóa vào các nước trong khối ASEAN và nhiều nước khác trên thế giới đòi hỏi các hệ thống giáo dục phải có sự tiếp cận và nâng cao trình độ đồng đều hơn
d/ Sức sản xuất và tính hiệu quả của các hệ thống giáo dục ở nhiều nước, trong đó có nước ta còn thấp Không ít học sinh ra trường chưa thực sự có “tay nghề”, chưa có đủ năng lực đáp ứng những yêu cầu của công việc được giao Như trên đã nói, mô hình dự báo phát tiển giáo dục đến năm 2020 phải hàm chứa những đặc điểm, những bộ phận hợp thành và quan hệ của nó Vì thế, những nội dung tiếp theo sẽ đề cập tới từng vấn đề cơ bản này
2.3 Vấn đề quy mô phát triển giáo dục
Mọi chiến lược giáo dục đều phải đề cập tới quy mô phát triển Đây là vấn
đề liên quan mật thiết tới mục tiêu, hệ thống giáo dục quốc dân và việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
2.3.1 Chúng ta đang phấn đấu phổ cập giáo dục tiểu học và xóa nạn mù
chữ trong toàn quốc đến năm 2000 Như vậy, trong vòng 20 năm đầu thế kỉ 21, nhiệm vụ của ngành giáo dục nước ta là tiến tới phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 và phổ cập trung học (với những loại hình và tỉ lệ khác nhau như trung học phổ thông chiếm đa số, trung học chuyên nghiệp, bổ túc văn hóa…) 2.3.2 Tính chất mở của hệ thống giáo dục, thị trường lao động, công tác xã hội hóa đòi hỏi phải có những thay đổi về quy mô giáo dục có liên quan đến các mặt sau đây:
Trang 11a/ Xác định lại tỉ lệ cơ cấu của các loại trường, công lập, bán công, dân
lập, tư thục theo hướng tạo thêm điều kiện và khả năng học tập, đảm bảo số lượng và chất lượng, đảm bảo giá trị pháp lí của các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp;
b/ Coi trọng việc đào tạo đội ngũ lao động có hàm lượng trí tuệ ngày càng cao (như công nhân toàn năng hay công nhân lành nghề diện rộng, kĩ thuật viên
cao cấp hay kĩ thuật viên công nghệ)
2.3.3 Sự phát triển quy mô giáo dục thực hiện đào tạo nhân lực diễn ra theo kế hoạch và cơ chế thị trường Cụ thể, đó là việc hướng giáo dục vào thị trường lao động sau này của những người tốt nghiệp Điều đó đòi hỏi phải có sự hợp tác trước hết của:
- Giới kinh tế;
- Các trường đại học;
- Các nhà sản xuất tài liệu, thiết bị dạy học;
- Các cơ sở phát thành và vô tuyến truyền hình
2.4 Hệ thống giáo dục quốc dân
Trong lịch sử, những cơ sở dạy học và giáo dục chuyên biệt, khác với cuộc sống thường ngày trong mọi nền văn hóa phát triển đã xuất hiện từ lâu, ví dụ ở
Hy Lạp cổ đại là vào khoảng cách đây hơn 3000 năm Từ đó đến nay, hệ thống giáo dục đã trải qua nhiều cuộc “cách mạng” (Talecott Parsons)
Hệ thống giáo dục quốc dân là khái niệm dùng để chỉ sự xây dựng và phân chia tất cả các cơ sở giáo dục của một quốc gia Hệ thống này được hình thành
xuất phát từ bốn căn cứ sau đây:
1/ Triết lí quốc gia về tính chất, vị trí và vai trò của giáo dục;
2/ Thực trạng và khả năng phát triển của một nước;
3/ Nhu cầu đào tạo của nhân dân;
4/ Những xu hướng cơ cấu tiến bộ và hợp lí trong nền giáo dục ở các xã hội
mở (Open Societies)
Việc xây dựng một hệ thống giáo dục mở diễn ra theo những nguyên tắc
nhất định, phản ánh sự phát triển tư duy giáo dục ở trong và ngoài nước cho đến bây giờ Đó là:
1/ Bảo đảm giáo dục cho mọi người và học tập thường xuyên, học tập suốt đời
2/ Xây dựng hệ thống hoàn chỉnh theo nghĩa có đủ các bậc học và cấp học trong sự liên thông với nhau và phân luồng đào tạo
Trang 123/ Đa dạng hóa các hình thức học tập và tổ chức trường lớp;
4/ Hợp tác đào tạo và bồi dưỡng với các cơ sở giáo dục phù hợp ở nước ngoài
2.5 Nhà trường
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhà trường là một đơn vị cấu trúc cơ sở
hay một tiểu hệ thống Đây là nơi chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của giáo dục, thể hiện vai trò chủ đạo so với các hình thức tổ chức giáo dục khác
Về cấu trúc bên ngoài, nhà trường được tổ chức đa dạng, tùy thuộc vào: a/
Hình thức quản lí của Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc tư nhân; b/ Trình độ học vấn theo các cấp, bậc học từ thấp đến cao; c/ Sự phân luồng đào tạo; và d/ Mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong hợp thành hệ thống
Về cấu trúc bên trong, hệ thống nhà trường và từng loại trường được thiết
lập và phân định theo các mặt sau:
1/ Các quyền hạn và nghĩa vụ học tập của trẻ em và thanh niên trong tuổi học đường;
2/ Hình thức và mức độ quản lí bên trong và bên ngoài của nhà trường 3/ Các nguyên tắc thành lập các nhóm học sinh;
4/ Trình độ, vai trò của các giáo viên và sự bố trí, sử dụng họ;
5/ Nội dung, phương pháp của các quá trình dạy học theo thời gian và không gian;
6/ Cách thức, nội dung và chuẩn mực đánh giá, thi, tuyển
Hiện nay, khái niệm nhà trường đã được mở rộng Thông qua các phương
tiện thông tin và truyền hình hiện đại, những sự đổi mới kĩ thuật đã và đang mở rộng phạm vi và yêu cầu hoạt động của nhà trường Nhà trường phải trở thành
một bộ phận của xã hội thông tin
Nói đến giáo dục cho ngày mai, giáo dục hiện đại là đặt ra yêu cầu phải chuyển nhà trường học tập sang một loại của nhà trường của cuộc sống thực tế, sôi nổi và biến động Trước đây 100 năm, nhà sư phạm ý Maria Montessori đã nói đến mô hình giáo dục và giờ học theo tinh thần ấy, một giả thuyết đã được thực tiễn xã hội và những thành quả trong giáo dục trẻ em chứng minh là đúng đắn Không những thế, luận điểm cơ bản nêu trên còn là một định hướng khoa học kéo theo sự cải cách nội dung, phương pháp đánh giá ở nhà trường và trong
xã hội, và mọi khi việc học tập vượt khỏi phạm vi bốn bức tường chật hẹp và
nhịp điệu 45 phút thì nhà trường phải có quyền tự quyết định nhiều hơn những
vấn đề riêng của mình
Trang 132.6 Cải cách giáo dục là xét lại chương trình giáo dục (Curriculum)
Phát biểu nói trên của Saul B Robinson năm 1967 nhấn mạnh tầm quan trọng của chương trình giáo dục Tuy nhiên, việc đổi mới chương trình giáo dục
thường gặp nhiều khó khăn, dẫn đến hai loại giải pháp tình thế: a/ Chỉ chú ý tới
môn học và lí luận dạy học bộ môn; và b/ Xây dựng loại chương trình giáo dục thực dụng, trung hạn, ít có những thay đổi c ơ bản và thiếu tính đồng bộ
Sơ đồ khung của một chương trình giáo dục áp dụng cho những năm đầu
của thế kỉ 21 cần được xây dựng theo các nguyên tắc sau đây:
1/ Phản ánh những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đối với giáo dục; 2/ Xác định các mục tiêu giảng dạy và học tập dựa trên những chuẩn mực khoa học và điều kiện thực tế;
3/ Đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp đánh giá; 4/ Xây dựng chương trình giáo dục tập trung vào người học (“Subject – centered – Curriculum”)
Dưới đây là một trong nhiều hình thức trình bày trình tự và những mối quan hệ chung nhất chi phối toàn bộ chương trình giáo dục:
Triết lí giáo dục và các nguyên tắc chung Các lĩnh vực học tập cơ bản (*)
Kĩ năng thông tin;
Kĩ năng giao tiếp;
Kĩ năng giải quyết vấn đề;
Kĩ năng hợp tác;
Kĩ năng tự quản;
Kĩ năng làm việc và nghiên cứu;
Kĩ năng bảo vệ sức khỏe và phát triển thể lực;
Kĩ năng các thái độ và giá trị
Trang 142.7 Những quan niệm mới về dạy học
1/ Trên cơ sở định hướng XHCN, mọi quá trình dạy học cần thể hiện được
3 nguyên tắc phổ quát là:
(1) Dân chủ;
(2) Khoa học;
(3) Tiến bộ và nhân văn
Nói khác đi, một trong những mục tiêu cơ bản hàng đầu của chiến lược
phát triển giáo dục trong giai đoạn tới là phải cụ thể hóa và thực hiện các
nguyên tắc đó trong mọi quá trình dạy học
2/ Giờ học tốt là một khái niệm có nhiều cách định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, những tiêu chuẩn chung, cuối cùng là phải đạt được chất lượng, hiệu quả học tập Giờ học phải tập trung vào người học Trong giờ học hay một quá trình dạy học, người học phải tích cực, chủ động:
(1) Tiếp thu được tri thức thông minh;
(2) Tiếp thu được những chiến lược sử dụng tri thức theo tình huống, điều kiện thực tế;
(3) Tiếp thu được những năng lực siêu nhận thức (metacognition);
(4) Tiếp thu được những định hướng hành động và giá trị phát triển nhân cách theo mục tiêu giáo dục
3/ Những điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả dạy học
3.1 Hình thành ở người học thứ văn hóa học tập tiêu biểu cho thời đại mới
(8) để đạt được chất lượng, hiệu quả đã nói ở trên
3.2 Năng lực, trình độ giáo viên là một yếu tố, điều kiện quan trọng trong
dạy học và giáo dục Về điểm này, mô hình phát triển giáo dục rất chú ý đến những vấn đề tiên quyết sau đây:
1/ Chuyển phong cách giảng dạy chỉ hướng vào thành tích, khoa cử sang phong cách giảng dạy hướng vào học tập, vào sự phát triển toàn diện nhân cách học sinh
2/ Đảm bảo giờ học, trong đó học nhiều hơn là dạy
3/ Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tập trung vào việc hình thành và phát triển:
a/ Các năng lực chuyên môn;
b/ Các năng lực lí luận dạy học;
c/ Các năng lực chẩn đoán, và
Trang 15d/ Các năng lực quản lí lớp
3.3 Xu thế toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội thuận lợi song cũng làm nảy
sinh những thách thức do hội nhập và cạnh tranh Do đó, mô hình phát triển giáo dục cần đặc biệt coi trọng các nhiệm vụ sau đây:
- Nâng cao trình độ học vấn đạt các chuẩn mực của giáo dục hiện đại;
- Giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc và bản sắc văn hóa;
- Hình thành và không ngừng phát triển năng lực liên văn hóa (intercultural)
2.8 Đánh giá chất lượng và hiệu quả giáo dục
Đối với mọi nền giáo dục, chất lượng và hiệu quả giáo dục bao giờ cũng là thước đo và điều kiện của sự phát triển liên tục và ngày một cao hơn
Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và của sự phát triển toàn diện của
xã hội
Chất lượng và số lượng liên quan chặt chẽ với nhau Số lượng (Lat.quantitas, trong các ngôn ngữ khác: quantité, quantity, quantitat) là khái niệm dùng chỉ mức độ nhiều ít, có thể xác định được bằng con số cụ thể, Tuy phân biệt với “chất lượng”, song số lượng luôn được hiểu là số lượng của một chất lượng nào đó Chính theo tinh thần này, G.Hegel đã từng phát biểu rằng những biến đổi của sự chuyển hóa từ chất sang lượng chứ không phải ngược lại
Do vậy, số lượng trong phạm vi giáo dục biểu hiện ở quy mô, mức độ, giai đoạn
phát triển của một nền giáo dục
Hiệu quả giáo dục là sự phát huy tác dụng của kết quả chất lượng giáo dục được xem xét căn cứ vào mối quan hệ giữa sự đầu tư về mọi mặt và ảnh hưởng thực tế So với hiệu quả trong được đánh giá trong phạm vi ngành giáo dục, hiệu quả ngoài có ý nghĩa quan trọng hơn
Chất lượng giáo dục được đánh giá chủ yếu về hai mặt học lực và hạnh kiểm Có 4 tiêu chí về học lực là: kiến thức, trí nhớ, năng lực vận dụng (trong các phạm vi và mức độ khác nhau) về thái độ Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân Qua nghiên cứu kinh nghiệm và thực nghiệm, người ta cũng nêu lên 4 tiêu chí như sau:
(1) Sự hiểu biết về các chuẩn mực hiện hành;
(2) Năng lực nhận dạng và hành vi;
(3) Các hành động cá nhân;
Trang 16(4) Sự thể hiện thái độ, tình cảm (hài lòng, ân hận, đấu tranh…)
Hiệu quả giáo dục được đánh giá từ các giác độ khác nhau: cá nhân, nhà trường, ngành giáo dục, xã hội
Tuy nhiên, việc đánh giá, thi và tuyển đã và đang là khâu yếu kém rõ rệt trong giáo dục Những giải pháp trong một chiến lược phát triển giáo dục sẽ phải được đề xuất cụ thể theo các nguyên tắc chủ yếu sau đây:
1 Giáo dục toàn diện thì cũng phải đánh giá toàn diện theo các mục tiêu đã
X DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC CHUNG CỦA THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
1.1 Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế lần thứ hai về Giáo dục, tổ chức tại Washington D.C từ 25 đến 29/12/1998
• Tại Hội nghị này các nhận định cơ bản được tập trung vào các vấn đề sau; + Nền kinh tế thế giới đang ở trong quá trình toàn cầu hóa Quá trình này làm cho trách nhiệm đầu tư của Chính phủ và các thành phần nhà nước đối với các dịch vụ xã hội giảm đi và nhà nước không còn chịu hầu hết các trách nhiệm đảm bảo quyền lợi của người làm việc và gia đình họ
+ Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc cơ bản nhằm làm giảm bớt đến mức tối đa vai trò của Chính phủ và các thành phần nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục và y tế Điều này làm tăng cường các cơ hội cạnh tranh của các cá nhân
+ Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang làm thay đổi một cách cơ bản nội dung và phương thức tuyển mộ lao động Việc sử dụng các công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi các nội dung và phương thức đào tạo tiến bộ lực lượng lao động nếu muốn họ thực sự có thể tham gia vào các thị trường lao động một cách thuận lợi
• Hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ hai đã xem xét các vấn đề sau:
Trang 17+ Giáo dục đào tạo và phát triển kinh tế ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau Các nền kinh tế đòi hỏi cần được sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, với sự đào tạo có thể đáp ứng quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế, ngược lại Giáo dục lại cần đến các nguồn tài chính cung cấp bởi các nền kinh tế ngày càng phát triển
+ Giáo dục đã và sẽ tiếp tục đảm nhận vai trò quan trọng trong việc đào tạo nên các công dân có đủ khả năng tham dự vào các hoạt động trong các xã hội đang ngày càng trở nên phức tạp hơn đa văn hóa với tư tưởng dân chủ, công bằng xã hội, đoàn kết và hòa bình Bởi vậy, Giáo dục hoàn toàn không chỉ phục
vụ mục đích lợi nhuận kinh tế
• Dựa trên những nhận định cơ bản như vậy, hội nghị Quốc tế lần thứ hai về Giáo dục đã nêu lên các khuyến nghị với các Chính phủ và các tổ chức trên thế giới về những tư tưởng chiến lược cơ bản của giáo dục đào tạo trong những thập
kỉ tới Các khuyến nghị tập trung vào các ý tưởng cơ bản sau:
1 Các Chính phủ và các tổ chức quốc tế cần lưu ý tới xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế và ảnh hưởng của nó tới việc đào tạo và sử dụng các nguồn nhân lực Mối quan hệ giữa xu hướng phát triển kinh tế và giáo dục đã dẫn tới những thay đổi về bản chất và nội dung giáo dục đào tạo thế hệ trẻ
2 Các thảo luận cần thiết để xây dựng các kiến thức và sự hiểu biết, vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạt động của giáo viên, phải là những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu của các tổ chức và công đoàn giáo dục
3 Các Chính phủ và các tổ chức quôc tế cần có các hoạt động tích cực để đảm bảo phổ cập và miễn phí giáo dục phổ thông cơ sở, đó là quyền lợi của người lao động
4 Các Chính phủ và các tổ chức quốc tế cần phối hợp trong việc thiết lập các cơ quan hoặc cá nhân ở mỗi nước để tạo nên một mạng lưới nhằm cùng nhau thảo luận và xây dựng các điều kiện cần thiết cho giáo dục và lao động
5 Cải cách giáo dục với những thay đổi cơ bản về nội dung và phương thức giáo dục đào tạo phải được đặt ra ở các quốc gia để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và xã hội trong những thay đổi lớn lao của thời đại
6 Các Chính phủ cần xem xét tới các điều kiện cụ thể của mỗi nước xác lập các điều chỉnh cần thiết về các chính sách về thuế nhằm mục tiêu có thể tăng mức đầu tư cho giáo dục ít nhất là 6% tổng thu nhập quốc nội (GNP)
1.2 Diễn đàn về Giáo dục quốc tế của các nước thuộc khối APEC
Tại diễn đàn về các vấn đề toàn cầu hóa với chủ đề “Quyền của trẻ em đối với giáo dục phổ thông phổ cập và miễn phí” năm 1998, các khuyến nghị cơ bản
Trang 18đã được nêu ra đối với các Chính phủ thuộc các nước APEC (Asia Pacific Economic Cooperation):
- Ở thế kỉ 21 vấn đề kiến thức phải được đặt ra như là ưu tiên hàng đầu trong các chiến lược phát triển của mọi quốc gia Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là giáo dục, phải là trọng điểm ưu tiên của các chính sách phát triển quốc gia nhằm tạo điều kiện cho mọi cá nhân được tiếp nhận các đào tạo cần thiết chuẩn bị cho việc tham gia vào cuộc sống
- Giáo dục phổ thông là công cụ chủ chốt cho tự do, hòa bình, tiến bộ và công lý
- Mỗi trẻ em cần được học và thành tích học tập của trẻ em phải là quyền lợi và sự đóng góp của mỗi con người chứ không phải do những khó khăn do cuộc khủng hoảng về kinh tế trong khu vực gây ra Diễn đàn khuyến nghị các Chính phủ nên noi gươbg một số Chính phủ, trong đó có Malayxia, mặc dù chịu những tổn hại nặng nề do khủng hoảng kinh tế gây ra, vẫn cam kết một cách mạnh mẽ dùy trì các phân bổ tài chính cần thiết cho giáo dục, và có nghĩa là cho tương lai của các quốc gia đó
Diễn đàn APEC nêu lên một số khuyến nghị cơ bản sau đối với các Chính phủ của các nước thuộc khối:
- Tăng cường đầu tư cho giáo dục mặc cho các quốc gia đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do khủng khoảng kinh tế gây ra
- Tăng cường các hoạt động hợp tác chặt chẽ với các tổ chức giáo viên để xây dựng các chính sách phù hợp với xu thế toàn cầu hóa
- Xây dựng các chiến lược cụ thể đảm bảo công nghệ thông tin có thể được tiếp cận và phổ cập với tất cả mọi trẻ em trong khi vẫn tiếp tục đảm bảo duy trì các truyền thống văn hóa và công nghệ của thời kì quá độ
- Xây dựng và ban hành các điều luật cụ thể chống lại việc lạm dụng lao động trẻ em, chống lại việc một số các nhân và tổ chức đã bóc lột sức lao động của trẻ em và ngăn cản quyền lợi học tập của trẻ em
- Thực hiện các cam kết mang tính chiến lược sâu để đảm bảo giáo dục cho tất cả mọi người và chấm dứt tình trạng lạm dụng lao động của trẻ em:
+ Phản đối các chính sách kinh tế, xã hội nhằm tạo ra việc lạm dụng lao động của trẻ em
+ Xây dựng và ban hành các văn bản luật cần thiết và có hiệu quả
+ Xây dựng các chính sách giáo dục cụ thể của Chính phủ và tạo ra các nguồn lực nhằm cung cấp giáo dục tiểu học có chất lượng, phổ cập và miễn phí,
Trang 19giáo dục trung học, tăng cường các dịch vụ đặc biệt của giáo dục, cũng như giáo dục nghề và giáo dục sau PTTH
+ Tăng cường đào tạo, huấn luyện, cải thiện điều kiện làm việc của đôi ngũ giáo viên
+ Tìm kiếm điều kiện tăng thu nhập và các cơ hội làm việc của cha mẹ
- Các Chính phủ cần nghiên cứu lại các điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, đặc biệt xem lại các chính sách cụ thể về thuế để có thể tìm được cơ hội đầu tư cho giáo dục ít nhất 6% GNP Đồng thời các quốc gia cần cùng nhau bàn bạc, thỏa thuân về thuế đối với các giao dịch tài chính quốc tế nhằm giúp các nước nghèo đạt được chỉ tiêu này
- Tập trung vào các hoạt động nghiên cứu trong giáo dục và tăng cường chia xẻ các kết quả nghiên cứu giữa các quốc gia vì lợi ích của quá trình giáo dục, của giáo viên và của học sinh
Diễn đàn APEC khẳng định mỗi mặt giáo dục mang tính địa phương và dân tộc nhưng mặt khác các nhà lãnh đạo chính phủ cần nhận thức được các thách thức đặt ra cho giáo dục chính là thách thức đặt ra cho nền văn minh nhân loại
mà các quốc gia cần phối hợp hoạt động để thực hiện những chính sách chung, đồng thời hỗ trợ các nước láng giềng đạt được các chuẩn mực mong muốn về giáo dục
2 Các môn học ở thế kỉ 21
Những thay đổi nhanh chóng ngày nay khiến các nhà giáo dục phải thừa nhận một thực tế là các kiến thức văn hóa cổ kim đông tây có lẽ ít nhiều đã lỗi thời Những kiến thức cổ phải dùng đến hàng chồng sách để chú thích, những đề toán số học hắc búa, mà sau khi ra trường lại suốt đời không cần dùng đến, đang làm hao tổn một cách vô ích tinh lực và nhiệt tình của lớp học sinh trẻ tuổi Đứng trước sức ép của tương lai, các học sinh được quyền có những kỹ năng và quan niệm sinh tồn trong sự biến đổi của lịch sử, và được quyền có nhu cầu tìm hiểu những bức tranh chân thực của xã hội tương lai Việc thiết lập những môn học mới mẻ, có đầy đủ những quan niệm về tương lai, và những thực tiễn giảng dạy tương quan phải được ứng dụng vào cuộc sống, giúp học sinh thích ứng với
xã hội thực tại và hướng về tương lai
Các môn học “thế kỉ 21” đã được đưa ra Khôpmen đã dự đoán trong quyển
“Tương lai của ngành giáo dục” sáu nội dung chính của các môn học ở thế kỉ 21:
1 Tiếp cận và sử dụng tin học
Trang 202 Bồi dưỡng tư duy mạch lạc: bao gồm phân biệt được ngữ nghĩa học,
logic học, số học, soạn thảo trên máy tính, phương pháp dự đoán, tính sáng tạo
tư duy v.v…
3 Bồi dưỡng những kỹ năng thông đạt hiệu quả: bao gồm diễn thuyết trước
đông người, ngữ pháp, tu từ, hội họa, nhiếp ảnh, quay phim, vẽ đồ án v.v…
4 Tìm hiểu con người và xã hội: gồm luật tiến hóa của nhân loại, sinh lý
học, ngôn ngữ học, văn hóa nhân loại học, tâm lý học xã hội, chủng tộc học, pháp luật, hình thái biến đổi ngành nghề, vấn đề tồn tại và tiếp diễn của loài người v.v…
6 Năng lực cá nhân: gồm sự cân bằng sinh lý, huấn luyện mưu sinh và tự
vệ, an toàn, dinh dưỡng, vệ sinh, giới tính, tiêu dùng và tài sản của cá nhân, phương thức học tập tối ưu và sách lược, nghệ thuật nhớ, động cơ tự thân và nhận thức tự thân v.v…
Bảng liệt kê môn học của Khôpmen tuy rất rộng, nhưng lại là nội dung giáo dục hoàn chỉnh Không còn nghi ngờ gì nữa, việc bố trí các môn học này là nhằm chú trọng hơn đến vai trò và địa vị của con người trong xã hội; và năng lực thích ứng với tương lai
Các môn học “Thế kỉ 21” được bắt đầu mở ra ở toàn nước Mỹ, được sự hoan nghênh mạnh mẽ của quảng đại thày trò Trường tiểu học Miep, Alintơn ở Bang Viêcginia thiết kế môn “Kế hoạch tương lai”, làm cho học sinh làm quen với các khả năng phát triển của tương lai và dự kiến sự lựa chọn ngành nghề Giáo sư địa lý học Aplô của trường đại học quan tâm
Có thể khái quát một số nguyên tắc của các môn học thế kỷ 21:
1 iúp cho học sinh thích nghi với xã hội
2 Giúpcho học sinh tự lý giải
3 Giúpcho học sinh vị thành niên lý giải sự đầu tư của mình đối với tương lai
4 Giúpcho học sinh tìm hiểu phương hướng có tính biến đổi của xã hội và định vai trò của mình trong quá trình biến đổi đó
5 Giúpcho học sinh mang những điều học tập ở nhà trường, chuyển hóa thành trách nhiệm tương lai
Môn học “Thế kỉ 21” không mang nội dung giáo dục truyền thống Thầy giáo và các nhà nghiên cứu dự đoán và đánh giá thành tích cũng như năng lực của học sinh dựa trên chất lượng tham gia học tập và công tác của học sinh chứ không phải ở trí nhớ của họ, bởi lẽ, những trí nhớ vô dụng không phải là sự hiểu biết của họ
Trang 21Các môn học “Thế kỉ 21” dẫn dắt học sinh tìm ra lĩnh vực rộng lớn mà nền giáo dục truyền thống rất ít đề cập đến, ví như lý thuyết trò chơi, chọn quyết định trong điều kiện không xác định, phân tích giá trị, phân tích nội dung, điều khiển học v.v… Tuy hình thức biểu hiện chủ đề của môn học “Thế kỉ 21” có sự khác nhau trong cải cách giáo dục của các nước, nhưng về bản chất, lại đều có tính chất chung của nó Nói chung, các học giả về tương lai đều thích phương pháp “học tập trong thao tác thực tế” Nội dung của môn học không còn là hệ thống kiến thức ổn định và bất biến, tuyệt đối khách quan nữa; mục tiêu của môn học cũng không còn hoàn toàn như dự định trước, mà đã trở thành quá trình thày trò cùng tìm tòi kiến thức mới
Có thể thấy trước, việc cải cách giáo dục của các nước được triển khai với chủ đề các môn học “Thế kỉ 21” sẽ phá vỡ những tập tục cũ của nền giáo dục truyền thống, làm cho lớp học được mở rộng; các thày giáo từ chỗ giảng dạy, hành nghề theo truyền thống, trở thành người hợp tác để làm cho học sinh tiến vào xã hội tương lai, cuối cùng sẽ chuẩn bị học sinh đóng trọn vai trò của mình đối với tương lai, tích cực hướng vào mục tiêu lớn ngày một lành mạnh - nỗ lực xây dựng một tương lai tươi đẹp và hợp lý
3 Kỹ thuật giảng dạy đa phương tiện mới mẻ
Kỹ thuật đa phương tiện (Multimedia) là loại kỹ thuật đang được chú ý nhất, nó là cơ sở quản lý và xử lý theo kiểu tin học thể kỉ 21 Trước đây, máy tính chỉ có thể xử lý đơn cực là văn tự và chữ số, cùng lắm là hình họa, gây cảm giác đơn điệu, cứng nhắc, khô khan, dễ nhàm chán Kỹ thuật đa phương tiện là
xử lý tổng hợp kiểu trao đổi trên máy vi tính cả về chữ viết, hình họa, hình ảnh,
âm thanh v.v…, chúng thiết lập mối liên kết logic, tập hợp thành một hệ thống Lợi dụng kỹ thuật đa phương tiện để giở “thư mục” điện tử, dùng ngón tay chỉ vào bất cứ vị trí nào trên màn hình đều có thể tìm ra những tình tiết lý thú; sờ tay vào bầu trời; vào tầng mây sẽ chui ra một chiếc máy bay; chạm tay vào vòm cây, một con chim nhỏ sẽ rẽ lá bay ra Xem kịch truyền hình, nếu không thích thú, ta có thể thay đổi tình huống kịch, để các diễn viên biểu diễn theo ý muốn của ta Học phát âm một từ tiếng Anh, nếu phát âm đúng, máy tính sẽ khích lệ
ta, nếu đọc sai, máy tính sẽ nhắc nhở ta và bảo ta phải sửa âm
Theo đà phát triển của kỹ thuật đa phương tiện, một hình thức giảng dạy mới được hình thành - sự xuất hiện của hệ thống giảng dạy máy tính đa phương tiện Nó là mạng máy tính mà thày giáo giảng qua máy chủ và các học sinh nghe giảng qua mạng máy tính Thày giáo nói với học sinh qua một máy chủ điều khiển đến từng máy trong mạng, học sinh ngồi nghe thầy giáo giảng trước màn