1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục đại học công lập của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

155 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nước và quốc tế chi phối đến hoạt động của NSNN đã có nhiều biến đổi; đặcbiệt là đầu tư từ NSNN cho giáo dục nói chung và giáo dục ĐHCL nói riêng.2 Joseph Stiglitz 1995, cuốn sách “Kinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

CỦA NƯỚC CHDCND LÀO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

CỦA NƯỚC CHDCND LÀO

Chuyên ngành: Tài chính - ngân hàng

Mã số: 62 34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Bùi Tiến Hanh

2 PGS.,TS Nhữ Trọng Bách

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu độc lập do

tôi thực hiện và hoàn thành Các số liệu, tài liệu tham khảo và trích dẫn được

sử dụng trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng và tác giả đã ghi trong danh

mục tài liệu tham khảo.

Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên đây.

Hà Nội, ngày tháng …… năm 2017

Nghiên cứu sinh

Khamseng BUALAPHANH

Trang 4

ĐHQG : Đại học quốc gia

GDĐT : Giáo dục và đào tạo

Nghiên cứu khoa học NCL :

Ngoài công lập NDCM : Nhân

Trang 5

1 11

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI

1.1.2 GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc gia 20

1.2 Huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL 29 1.2.1 Khái niệm tài chính và NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL 29 1.2.2 Huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL 31 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động các NTC cho phát triển

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về huy động các NTC cho phát triển giáo

1.3.1 Kinh nghiệm huy động các NTC cho phát triển giáo dục

1.3.2 Một số bài học huy động các NTC phát triển giáo dục ĐHCL

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH CHO

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở NƯỚC CHDCND

Trang 6

2.1 Tổng quan thực trạng giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào

2.2 Thực trạng huy động NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở

2.3 Đánh giá thực trạng huy động NTC cho phát triển giáo dục

2.3.1 Những kết quả đạt được của thực trạng huy động các

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân của thực trạng huy động các

2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của thực trạng huy động các

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG CÁC

NGUỒN TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

3.1 Quan điểm và định hướng huy động các NTC cho phát triển

3.1.1 Quan điểm và định hướng phát triển giáo dục ĐHCL đến năm

3.1.2 Quan điểm và định hướng huy động các NTC cho phát triển

giáo dục ĐHCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 110

3.2 Giải pháp huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở

Trang 7

3.2.1 Nhóm giải pháp huy động NTC từ NSNN đầu tư cho giáo dục

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Số trường ĐHCĐ của nước CHDCND Lào 2010 - 2015 592.2 Số trường đại học theo loại hình sở hữu 602.3 Số giảng viên các trường ĐHCĐ giai đoạn 2010 - 2015 622.4 Chi NSNN cho giáo dục ở nước CHDCND Lào 712.5 Chi thường xuyên NSNN của GDĐH giai đoạn 2010 - 2015 742.6 Kết quả huy động nguồn ODA cho giáo dục ở CHDCND

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

2.1 Chi NSNN cho GDĐH so với GDP và tổng chi NSNN cho

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định đến sự phát triểnKTXH của một quốc gia Trong thời đại toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và sựphát triển nhanh chóng của KHCN, nhất là công nghệ thông tin như hiệnnay, thì giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng được coi là một trong nhữngtiêu chí quan trọng đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy,việc hoạch định và thực thi chính sách phát triển giáo dục một cách đúngđắn, thích hợp với đặc điểm văn hóa, trình độ KTXH và nhu cầu của thịtrường sức lao động, hội nhập thành công vào quá trình toàn cầu hóa đượccoi là ưu tiên hàng đầu trong hệ thống chính sách công của tất cả các quốcgia Khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển KTXH củađất nước, Nghị quyết về phát triển giáo dục của nước CHDCND Lào đã chỉ

rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của

toàn dân… đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước các chương trình, kế hoạch phát triển KTXH [47].

Trong bối cảnh hiện nay, có nhiều vấn đề đã trở nên hết sức cấp báchcần nghiên cứu tìm kiếm giải pháp để tháo gỡ đối với GDĐH của nướcCHDCND Lào NSNN tính trên đầu sinh viên giảm xuống rất nhanh; mộtmặt, tạo ra nguy cơ giảm sút chất lượng đào tạo; mặt khác, buộc phải tăng họcphí làm giảm khả năng tiếp cận GDĐH của người dân, làm trầm trọng thêmvấn đề công bằng trong GDĐH Quy mô và sự đa dạng GDĐH sẽ vượt quákhả năng quản lý và tầm kiểm soát của Nhà nước nếu không đổi mới mạnh

mẽ cách thức quản lý Nhiều vấn đề rất cơ bản của GDĐH vẫn chưa đượcnghiên cứu thấu đáo như chiến lược hội nhập toàn cầu hóa về GDĐH; chínhsách du học; tổ chức phân tầng GDĐH; hiệu quả và hiệu suất trong GDĐH;chính sách chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, người học và cộng đồng; chính

Trang 11

sách học bổng, học phí, đảm bảo công bằng xã hội trong GDĐH; chính sáchtài chính đối với các trường ĐHCL…

Có thể nói rằng, việc huy động các NTC cho phát triển GDĐH nóiriêng và nghiên cứu, thiết kế các chính sách công về GDĐH nói chung đãthực sự trở thành một nhu cầu hết sức cấp bách Với xu thế phát triển mạnh

mẽ nền kinh tế tri thức trên thế giới, tiến trình xã hội hóa giáo dục ngày càngđược đẩy mạnh, sự cạnh tranh giữa các cơ sở GDĐH khác, buộc các trườngĐHCL ở nước CHDCND Lào phải nghiên cứu, đổi mới hoạt động GDĐTmột cách hiệu quả để thực hiện sứ mệnh được giao Để thực hiện được nhữngnhiệm vụ đó, NTC phục vụ cho các hoạt động giáo dục của các trường ĐHCLtrở nên quan trọng Trong điều kiện khả năng của NSNN còn hạn chế, bêncạnh việc tăng cường tính tự chủ của các trường ĐHCL thì cần thiết phải xâydựng một cơ chế, một hành lang pháp lý cho các trường huy động được cácNTC nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH và phục vụ phát triển cáchoạt động của trường Chính vì vậy, huy động các NTC cho phát triển giáodục ĐHCL là vấn đề thời sự cấp thiết nhằm thực hiện mục tiêu phát triểnGDĐH ở nước CHDCND Lào

Xuất phát từ lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Huy

động NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào” làm chủ

đề nghiên cứu của luận án tiến sĩ.

2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

2.1 Các nghiên cứu trong nước

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, đổi mới quản

lý NSNN ở nước CHDCND Lào đã được Đảng NDCM và Chính phủCHDCND Lào đặc biệt quan tâm Chính yếu tố này đã thúc đẩy các nhàquản lý, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế nói chung và tài chínhcông nói riêng đầu tư nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp thích hợp nhằm

Trang 12

huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào.

2.1.1 Các bài bào, tạp chí

Có nhiều bài báo được đăng tải trên tạp chí của ngành Tài chính Làoxuất bản hàng tháng bàn luận về vấn đề phân cấp NSNN và quản lý chi

NSNN cho giáo dục nói chung, tiêu biểu như: “Đổi mới phân cấp quản lý

ngân sách địa phương ở tỉnh Luangnamtha” của tác giả Khamkeo

Chanthavong đăng trên Tạp chí Tài chính tháng 4/2010; “Tăng cường quản lý

chi ngân sách Thành phố Viêng chăn” của tác giả Khamtanh Phommaseng

đăng trên Tạp chí Tài chính tháng 2/2009; “Đổi mới cách thức phân bổ kinh

phí NSNN cho giáo dục phổ thông ở CHDCND Lào” của tác giả Sisouphan

đăng trên Tạp chí Tài chính tháng 5/2011…[21] Điểm chung nhất của các bàibáo là chủ yếu đề xuất những ý kiến mang tính tác nghiệp gắn liền với vị trí

mà các tác giả đang phải thực thi trách nhiệm trong quản lý NSNN ở mộtngành, hay ở một địa phương cụ thể Do vậy, những thông tin từ quản lýNSNN trên một giác độ nào đó của thực tiễn ở mỗi địa phương hay mỗingành đã được trình bày có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chínhsách về quản lý NSNN ở Bộ Tài chính CHDCND Lào, hay các quan chứctrong bộ máy Chính phủ có trách nhiệm trong quản lý kinh tế của đất nước.Mặt khác, đây cũng là diễn đàn thể hiện tính dân chủ trong luận bàn, đánh giá

và tham vấn chính sách về quản lý NSNN một cách rộng rãi, thể hiện quanđiểm phát huy dân chủ của Chính phủ trong quản lý kinh tế nói chung vàNSNN nói riêng Tuy nhiên, hàm lượng nghiên cứu mang tính lý luận vànhững đòi hỏi trình bày phải có tính lôgic cho các đề xuất, kiến nghị hoặc cácluận giải về hiện tượng đã và đang diễn ra trong thực tiễn gắn với huy độngcác NTC cho phát triển GDĐH vẫn là một khoảng trống chưa được nghiêncứu cụ thể và chuyên sâu; đặc biệt là nghiên cứu về đầu tư từ NSNN cho giáodục ĐHCL

2.1.2 Các luận án và luận văn thạc sĩ

Trang 13

(1) Khamphuvieng Nanthavong (2011), luận văn thạc sĩ kinh tế với đề

tài ‘‘Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phát triển GDĐH ở Lào’’,

Học viện Tài chính [12] Tác giả cho rằng đầu tư cho GDĐT là đầu tư cho

con người, là động lực trực tiếp của sự phát triển KTXH Nhưng đầu tư choGDĐT là rất tốn kém, là một gánh nặng đối với các nước đang phát triểntrong đó có Lào, mà hiệu quả nó mang lại không thể thấy ngay được Vì vậy,việc khai thác sử dụng các NTC cho GDĐT có ý nghĩa rất quan trọng nhằmphát triển GDĐH ở Lào trong giai đoạn hiện nay Thông qua những vấn đề về

lý luận và thực trạng huy động NTC cho GDĐH Lào, luận văn đã giải quyếtđược những vấn đề sau:

- Hệ thống các lý luận cần nghiên cứu về huy động NTC phải theonguyên tắc của nền kinh tế thị trường, giảm dần tình trạng bao cấp, tăngcường huy động NTC ngoài NSNN

- Phân tích thực trạng huy động NTC cho GDĐH ở Lào và đưa ra kếtluận NTC cho GDĐH chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô sinhviên và các điều kiện đảm bảo chất lượng GDĐH; nguyên nhân chủ yếu củatình trạng này là do chúng ta chưa xác lập được một cách đầy đủ cơ chế,chính sách phù hợp để huy động NTC cho phát triển GDĐH

- Đề xuất 5 nhóm giải pháp lớn nhằm tăng cường huy động các NTC đểphát triển GDĐH ở Lào Những giải pháp đưa ra được giải quyết đồng bộ trênnhiều phương diện

Tuy vậy, huy động các NTC cho phát triển GDĐH ở nước CHDCNDLào là vấn đề rộng lớn và phức tạp, vì vậy khoảng trống cần tiếp tục nghiêncứu là nghiên cứu sâu thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về GDĐH vàhuy động các NTC cho phát triển GDĐH nói chung và giáo dục ĐHCL nóiriêng ở nước CHDCND Lào

(2) Pangthong Luangvanxay (2011), luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài

“Phân cấp quản lý NSNN ở CHDCND Lào - Thực trạng và giải pháp”, Học

Trang 14

viện Tài chính [16] Tác giả luận án chọn cách tiếp cận đổi mới quản lýNSNN ở nước CHDCND Lào theo hướng gắn kết với đổi mới về thể chế.Những thành công nổi bật của luận án là:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân cấp quản lý NSNN vàthống nhất nhận thức phân cấp quản lý NSNN nhất thiết phải gắn kết chặt vớimục tiêu và các yêu cầu của phân cấp quản lý về KTXH

- Phân tích và làm sáng tỏ được mô hình phân cấp quản lý NSNN ởnước CHDCND Lào 1986 - 2009 qua 4 giai đoạn gắn liền với những thay đổi

về cơ chế phân cấp quản lý về KTXH qua mỗi giai đoạn đó

- Đề xuất 06 nhóm giải pháp nhằm tăng cường phân cấp quản lý NSNN

ở nước CHDCND Lào giai đoạn 2010 - 2015

Thành công của luận án là không thể phủ nhận, nhưng những vấn đề

lý luận và thực tiễn mới chỉ được nhìn nhận trên giác độ phân cấp về quản

lý nguồn thu, nhiệm vụ chi gắn với cơ quan công quyền các cấp ở nướcCHDCND Lào; trong đó có phân cấp nhiệm vụ chi NSNN cho giáo dục vàGDĐH Khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu thêm là trách nhiệmcủa chính các cơ quan công quyền các cấp đó trong việc sử dụng công cụNSNN để thúc đẩy sự phát triển KTXH đã được phân cấp quản lý; đặc biệt

là quản lý NSNN đầu tư cho giáo dục và giáo dục ĐHCL

(3) Phanxay Thammasith (2011), luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Giải pháp thực hiện cân đối NSNN ở CHDCND Lào giai đoạn 2011 - 2015”, Học

viện Tài chính [17] Tác giả luận án có cách tiếp cận nghiên cứu về NSNN ởCHDCND trên giác độ cân đối với những thành công đáng ghi nhận:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cân đối NSNN trên các giác độ cânđối giữa thu và chi bằng tiền, cân đối ở tầm vĩ mô theo cơ cấu ngành kinh tế

- Phân tích thực trạng cân đối thu và chi NSNN, khả năng gây ra các tácđộng của nó tới sự phát triển KTXH ở nước CHDCND Lào những năm 1999

- 2010

Trang 15

- Đề xuất hệ thống các giải pháp gồm 03 nhóm theo cách tiếp cận từ hoànthiện chính sách quản lý thu và chi, hoàn thiện về nguyên tắc và phương phápcân đối, hoàn thiện về tổ chức các biện pháp mang tính nghiệp vụ để cân đốithu và chi NSNN giai đoạn 2011 - 2015.

Do quá quan tâm đến các số liệu về cân đối thu, chi nên mối quan

hệ ràng buộc tất yếu giữa cân đối thu, chi NSNN với các cân đối lớn tron gnền kinh tế lại chưa được tác giả của bản luận án khai thác và làm sáng tỏ;đặc biệt là cân đối NSNN phân bổ đầu tư cho phát triển giáo dục ĐHCL

(4) Souvankham Soumphonphakdy (2014), luận án tiến sĩ kinh tế “Đổi

mới cơ cấu chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển KTXH ở CHDCND Lào”,

Học viện Tài chính [22] Tác giả luận án đã tập trung đề cập các vấn đề lý luận

về chi NSNN và tác động của cơ cấu chi NSNN đối với sự phát triển KTXH.Thực tiễn cơ cấu chi NSNN và sự tác động tới việc phát triển KTXH tạiCHDCND Lào giai đoạn 2001 - 2012 cũng đã được luận án làm rõ; từ đó, đềxuất các giải pháp về đổi mới cơ cấu chi NSNN trong giai đoạn tới Khoảngtrống là trong cơ cấu chi NSNN thì ưu tiên chi cho phát triển giáo dục nóichung và giáo dục ĐHCL cần được nghiên cứu làm rõ thêm cả về lý luận

và thực tiễn

2.2 Các nghiên cứu ngoài nước

2.2.1 Giáo trình, sách tham khảo và chuyên khảo

(1) Paul A Samuelson (1989), cuốn sách “Kinh tế học”, Nxb Quan hệ

quốc tế [15], đề cập một số nội dung về chi NSNN; song nhiều nội dung cóliên quan đến quản lý chi NSNN chưa được cuốn sách này đề cập và làm rõ,chẳng hạn qui trình quản lý chi NSNN, tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN,nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN Hơn nữa, tác giả chủ yếu đề cậpđến vấn đề quản lý chi NSNN tại Mỹ từ những năm 1970, nên các vấn đề lýluận rút ra từ cuốn sách này chỉ có ý nghĩa tham khảo nhất định về lý luận và

ít có khả năng vận dụng trong điều kiện hiện nay bởi bối cảnh kinh tế trong

Trang 16

nước và quốc tế chi phối đến hoạt động của NSNN đã có nhiều biến đổi; đặcbiệt là đầu tư từ NSNN cho giáo dục nói chung và giáo dục ĐHCL nói riêng.

(2) Joseph Stiglitz (1995), cuốn sách “Kinh tế học công cộng”, Nxb

Khoa học và Kỹ thuật [11], đề cập về các chương trình chi tiêu và quản lýNSNN; trong đó có vấn đề về chi tiêu cho GDĐH và các hình thức căn thiệpcủa Chính phủ Tuy vậy, khoảng trống là phân bổ NSNN đầu tư cho phát triểngiáo dục ĐHCL như thế nào thì cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và cụthể hơn

(3) Trần Đình Ty (2002), cuốn sách “Quản lý Nhà nước về tài chính tiền tệ”, Nxb Lao động - Xã hội [20], đã đề cập tương đối có hệ thống vấn đề

-quản lý Nhà nước về tài chính - tiền tệ nói chung; trong đó có đề cập đếnquản lý chi NSNN cho giáo dục Tuy vậy, các vấn đề về quản lý chi NSNNnhìn chung mang tính chất nguyên lý, nhiều nội dung có liên quan chẳng hạn

cơ cấu chi NSNN, các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN và quản lý chiNSNN; nhưng quản lý chi NSNN đầu tư cho giáo dục ĐHCL… chưa được đềcập và làm rõ

(4) Vũ Thị Nhài (2007), cuốn sách “Quản lý tài chính công ở Việt Nam”, Nxb Tài chính [14], tác giả đã dành trọn chương 4 để đề cập phân tích

vấn đề có tính chất lý thuyết về quản lý chi NSNN Tuy vậy, một số nội dung

có liên quan đến quản lý chi NSNN chưa được cuốn sách này đề cập, chẳnghạn như cơ cấu chi NSNN, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN, đặcbiệt vấn đề quản lý chi NSNN cho phát triển giáo dục và giáo dục ĐHCL

2.2.2 Các luận án tiến sĩ

(1) Nguyễn Kim Dung (2002), luận án tiến sĩ với đề tài “Thu hút và sử

dụng vốn đầu tư cho GDĐH nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn

2001 - 2010”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân [3] Tác giả tập trung đề cập

các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến thu hút các nguồn vốn đầu tưphát triển GDĐH của Việt Nam; trong đó, thu hút và sử dụng vốn đầu tư từ

Trang 17

NSNN là một nguồn thu quan trọng Luận án là một tài liệu tham khảo hữuích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu viết luận án của mình, có nhiều nộidung lý luận về huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL, đặc biệt làgiáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào cần thiết phải được nghiên cứu sâuthêm và vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của CHDCND Lào.

(2) Đặng Văn Du (2004), luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam”,

Học viện Tài chính [2] Luận án hệ thống hóa và phân tích làm rõ các vấn đề

lý luận và thực tiễn có liên quan đến hiệu quả đầu tư tài chính đối với đào tạođại học; trong đó đầu tư từ NSNN là một thành tố quan trọng Hơn nữa, các tưliệu phân tích được khảo sát trong giai đoạn trước năm 2003 nên giá trị thamkhảo từ các kết luận rút ra của luận án này chỉ có ý nghĩa tương đối Khoảngtrống luận án chưa luận bàn là phân bổ NSNN đầu tư cho phát triển GDĐHnói chung và giáo dục ĐHCL nói riêng - là nhiệm vụ nghiên cứu mà luận áncủa NCS phải làm rõ thêm

(3) Bùi Tiến Hanh (2007), luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài “Hoàn thiện

cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam”, Học viện Tài

chính [5] Luận án tập trung phân tích nguồn lực xã hội hóa và cơ chế tài chính

xã hội hóa cho giáo dục nói chung và cho GDĐH nói riêng Tác giả đã phântích và đánh giá khá chi tiết các nội dung của cơ chế quản lý tài chính xã hộihóa giáo dục với những nhận định về những ưu điểm cũng như những hạnchế, bất cập của cơ chế quản lý tài chính chi NSNN cho giáo dục, cơ chếquản lý thu và sử dụng học phí, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục cônglập… Những đóng góp mới của tác giả còn được thể hiện ở việc đưa racác quan điểm định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đối với xãhội hóa giáo dục phù hợp với bối cảnh của nước CHXHCN Việt Nam đếnnăm 2020 Tuy vậy, khoảng trống mà luận án của NCS tiếp tục nghiên cứu vàphát triển là huy động các NTC, bao gồm NSNN và ngoài NSNN đầu tư chophát triển giáo

Trang 18

dục ĐHCL nói chung và giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào nói riêng.

(4) Nguyễn Ngọc Hải (2008), luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế chi

NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng ở Việt Nam”, Học viện Tài

chính [6] Tác giả luận án đã hệ thống hóa và phân tích làm sáng tỏ một sốvấn đề lý luận có liên quan đến hàng hóa công, khẳng định vai trò của Nhànước trong cung ứng hàng hóa công cộng Thực trạng quản lý chi NSNN ởViệt Nam đã được luận án phân tích khá chi tiết, là tư liệu tham khảo tốt chotác giả để triển khai luận án của mình Tuy vậy, do Luận án chủ yếu đề cậpcác vấn đề lý luận và thực tiễn về chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóacông cộng, nên phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, bao trùm nhiều lĩnhvực khác nhau có liên quan đến cung cấp các hàng hóa công cộng của nềnkinh tế Vì vậy, phân bổ NSNN đầu tư cho giáo dục nói chung và giáo dụcĐHCL nói riêng vẫn là khoảng trống mà luận án của NCS cần tiếp tục nghiêncứu làm rõ

(5) Bùi Phụ Anh (2015), luận án tiến sĩ với đề tài “Điều chỉnh cơ cấu

tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam”, Học viện Tài

chính [1] Tác giả hệ thống hóa, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản vềkhái niệm, phân loại và vai trò của GDĐH; tài chính, cơ cấu tài chính đầu tưcho giáo dục ĐHCL, tác động của cơ cấu tài chính đầu tư đến giáo dục ĐHCL

và các chỉ số đánh giá hiệu quả phối kết hợp các nguồn tài chính đầu tư choGDĐH Đồng thời, tác giả tổng hợp, phân tích thực trạng cơ chế tài chính và

cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục ĐHCL, tác động của cơ cấu tài chính đến

sự phát trển của giáo dục ĐHCL ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2012; rút ranhững kết luận về kết quả, hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở đó, tác giả đềxuất 3 quan điểm, 10 giải pháp với 2 kịch bản và điều kiện thực hiện các giảipháp điều chỉnh cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục ĐHCL ở Việt Nam đếnnăm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Tuy vậy, luận án chưa đi sâu nghiêncứu về huy động các NTC để đầu tư cho giáo dục ĐHCL

Trang 19

2.2.3 Các đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo

(1) Lê Xuân Trường (2010), công trình NCKH cấp bộ với đề tài “Hoàn

thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp GDĐT đại học và

cao đẳng công lập”, Bộ Tài chính [18] Tác giả đã tập trung nghiên cứu các

vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ GDĐH và cơchế quản lý tài chính đối với loại hình giáo dục này; trong đó, tập trung chủ

yếu về quản lý chi NSNN cho GDĐH Khoảng trống mà luận án của NCS cần

tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm là huy động các NTC, bao gồm NSNN và

ngoài NSNN đầu tư cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào.

(2) Nguyễn Trường Giang (2011), công trình NCKH cấp Bộ với đề tài

“Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở GDĐH ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2015 và định hướng 2020” [4] Về lý luận tác giả đã nghiên cứu

các nội dung liên quan đến tự chủ đại học và tự chủ tài chính đối với các cơ

sở đại học, đặc biệt là các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tựchủ tài chính đối với các cơ sở GDĐH Về thực tiễn, tác giả nghiên cứu cácnội dung cơ chế tự chủ tài chính và đánh giá mức độ hoàn thiện cơ chế tự chủtài chính đối với cơ sở giáo dục ĐHCL ở Việt Nam trên các tiêu chí: tính hiệulực, hiệu quả, công bằng, linh hoạt, sự thừa nhận của cộng đồng Về giảipháp, tác giả đề xuất hệ thống các quan điểm, định hướng và các giải phápmới, có giá trị thực tiễn nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính của các trườngĐHCL ở Việt Nam, đặc biệt là các giải pháp: (i) Từng bước tính đủ chi phíđào tạo cần thiết trong học phí; (ii) Đa dạng hóa các NTC, nâng cao chấtlượng đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu và chuyển giao KHCN,tăng cường gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp; (iii) Đổi mới cơ chếphân bổ nguồn lực từ NSNN… Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích choNCS nghiên cứu về các NTC và huy động các NTC cho phát triển giáo dụcĐHCL của CHDCND Lào

(3) Bùi Đức Nam (2014), với đề tài “Tài chính đối với cơ sở giáo dục

Trang 20

ĐHCL: Những vấn đề cần tháo gỡ” [13], nghiên cứu về các NTC đầu tư cho

GDĐH ở các nước trên thế giới như nguồn kinh phí NSNN, học phí, thu từhợp đồng NCKH, hợp đồng đào tạo… các nguồn thu khác Giữa các quốc giakhác nhau thì cơ cấu NTC có sự thay đổi, các nước phát triển phân bổ NSNNdành tới 90% cho giảng dạy, học phí và các nguồn khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏnhưng cơ bản là nguồn từ NSNN và học phí dành cho GDĐH ở các nước này.Trong khi đó, ở nước CHDCND Lào đầu tư cho giáo dục ĐHCL cũng từ 3nguồn; NSNN là chủ đạo, tiếp đến là nguồn học phí, nguồn thu khác còn hạnchế Đặc biệt là thực hiện các chính sách tài chính ưu tiên cho GDĐH nhưthực hiện thí điểm kế hoạch chi tiêu trung hạn trong lĩnh vực GDĐH đối vớimột số cơ sở giáo dục ĐHCL trong thời kỳ ổn định 3 năm để các trường chủđộng trong kế hoạch phân bổ, sử dụng ngân sách theo các mục tiêu ưu tiên.Chính sách học phí từng bước được xây dựng trên cơ sở chia sẻ chi phí đàotạo giữa Nhà nước và người học, căn cứ theo ngành nghề đào tạo, đối tượngđào tạo, hình thức đào tạo… Bên cạnh mặt tích cực, tác giả đã chỉ ra một sốhạn chế như việc phân bổ NSNN chưa gắn với nhu cầu kinh phí cần thiết chođảm bảo yêu cầu chất lượng, định mức phân bổ còn mang tính bình quân,chưa gắn với tiêu chí chất lượng và kết quả đầu ra, tiêu chí kiểm định chấtlượng đào tạo chậm được xây dựng để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụgắn với NSNN được giao làm hạn chế động lực cạnh tranh giữa các cơ sởgiáo dục ĐHCL Nhìn chung các cơ sở giáo dục ĐHCL còn gặp khó khăn vềhạn chế nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng và nâng cao chất lượngđào tạo và tái đầu tư phát triển… làm hạn chế đến việc đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao cho đất nước Từ đó tác giả đã đề xuất việc cần thiết phải

có cơ chế tài chính hợp lý, hiệu quả; đẩy mạnh mở rộng quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm về tài chính trong cung cấp dịch vụ của các cơ sở giáo dục ĐHCLgắn với nhu cầu xã hội như được quyết định giá dịch vụ trên cơ sở quy địnhkhung giá tính đủ chi phí cần thiết cho đào tạo, được Nhà nước giao vốn bảo

Trang 21

toàn và phát triển vốn, được huy đông vốn và góp vốn liên doanh liên kết mởrộng cung cấp dịch vụ theo nhu cầu xã hội… Công trình là tài liệu tham khảohữu ích cho NCS nghiên cứu về các NTC và huy động các NTC cho pháttriển giáo dục ĐHCL của CHDCND Lào.

2.3 Đánh giá chung và kết luận

2.3.1 Đánh giá chung các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Nhìn chung, các nghiên cứu đã hệ thống hóa, phân tích, minh chứng,khái quát và khẳng định GDĐH là một dịch vụ hay sản phẩm hàng hóa côngcộng không thuần túy, phải mất chi phí đầu tư hay còn gọi là chi phí đào tạo

trong hiện tại để có được thu nhập trong tương lai Tuy nhiên, phần nhiều các

nghiên cứu tập trung vào nội dung tài chính cho giáo dục nói chung, cácnghiên cứu về tài chính cho GDĐH chủ yếu là những nghiên cứu phân tíchtổng quan và chủ yếu là quản lý chi NSNN hoặc có nghiên cứu về huy độngcác NTC cho GDĐH thì có phạm vi không gian và thời gian không trùng với

luận án của NCS.

Trong bối cảnh, xu hướng phát triển KTXH, hội nhập quốc tế mạnh mẽbuộc GDĐH phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh, đặc biệt đối với các

cơ sở giáo dục ĐHCL để tồn tại và phát triển bền vững Nghiên cứu cơ chế,

chính sách huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nướcCHDCND Lào nhằm mục đích hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướngphân định rõ vai trò của Nhà nước và hộ gia đình hoặc người học, tự chủ và tựchịu tránh nhiệm của các trường ĐHCL, đáp ứng nhu cầu xã hội, phù hợp vớibối cảnh phát triển KTXH, đảm bảo sức cạnh tranh và phát triển bền vững

cho các trường ĐHCL và hệ thống giáo dục ĐHCL nói chung.

Hoạt động trong môi trường cạnh tranh, buộc các cơ sở GDĐH luônphải nỗ lực không ngừng để vừa có thể thu hút được nhiều NTC từ phía Nhànước, gia đình, xã hội và sử dụng hiệu quả các NTC có giới hạn đó để tồn tại

và phát triển Chính vì thế, nghiên cứu đề tài: “Huy động NTC cho phát triển

Trang 22

giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào”, có giá trị lý luận và thực tiễn, đóng

góp quan trọng cho việc hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động hiệu quảNTC đầu tư phát triển GDĐH nói chung và giáo dục ĐHCL nói riêng ở nướcCHDCND Lào; đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng GDĐH, đáp ứngnhu cầu xã hội và thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KTXH trong

giai đoạn tới của nước CHDCND Lào.

2.3.2 Kết luận về khoảng trống nghiên cứu đề tài luận án

Có thể nói, dưới nhiều góc độ khác nhau, các nghiên cứu có liên quanđến đề tài luận án đã phân tích khá toàn diện cơ chế quản lý tài chính, chínhsách tài chính đối với GDĐH và tình hình tài chính của các cơ sở GDĐH,trong đó có giáo dục ĐHCL Số lượng các nghiên cứu khá đồ sộ, tập trungnghiên cứu ở nhiều khía cạnh về quản lý tài chính, quản lý chi NSNN, huyđộng NTC ngoài NSNN… đầu tư cho phát triển giáo dục, GDĐH và giáo dụcĐHCL Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu về huy độngcác NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào

Bảo đảm tài chính cho hoạt động của các cơ sở giáo dục ĐHCL ở nướcCHDCND Lào trong điều kiện NSNN rất hạn hẹp và đòi hỏi nâng cao chấtlượng đào tạo mang tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay Đây chính làkhoảng trống trong nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài luận án màNCS tập trung giải quyết

Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp cả về lý luận và thựctiễn liên quan đến huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL nhằm gópphần đạt được mục tiêu, nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH ở các cơ

sở giáo dục ĐHCL của nước CHDCND Lào trong những năm tới

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án

Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là xác lập các quan điểm,phương hướng và giải pháp có luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn nhằmhuy động các NTC đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục ĐHCL cả về quy mô,

Trang 23

cơ cấu và chất lượng ở nước CHDCND Lào.

Bám sát mục tiêu nghiên cứu đề tài, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thểcủa luận án bao gồm:

- Hệ thống, phân tích góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận

về giáo dục ĐHCL vàhuy động các NTCcho phát triển giáo dục ĐHCL;

- Tổng kết kinh nghiệm và rút ra các bài học kinh nghiệm về huy độngcác NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL của một số nước trên thế giới có thểnghiên cứu áp dụng cho nước CHDCND Lào;

- Tổng hợp, phân tích, đánh giá chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế

và nguyên nhân của thực trạng huy động các NTC cho phát triển giáo dụcĐHCL ở nước CHNCND Lào;

- Đề xuất quan điểm, phương hướng, các giải pháp nhằm tăng cườnghuy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào đếnnăm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là những vấn đề lý luận và

thực tiễn về giáo dục ĐHCL và huy động các NTC cho phát triển giáo dụcĐHCL

Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án:

Về nội dung: Các NTC có thể huy động đầu tư cho phát triển giáo dụcĐHCL rất đa dạng Với cách tiếp cận về chủ thể của các NTC, luận án tậptrung nghiên cứu huy động NTC từ NSNN và các NTC ngoài NSNN cho pháttriển giáo dục ĐHCL

Về không gian và thời gian: Huy động các NTC cho phát triển giáo dụcĐHCL ở nước CHDCND Lào, luận án nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn

2011 - 2015; quan điểm, phương hướng, giải pháp nghiên cứu áp dụng đếnnăm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Kinh nghiệm quốc tế về huy động các

Trang 24

NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL, luận án nghiên cứu một số nước tiêubiểu như Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam trong khoảng

20 năm gần đây

5 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận NCKH được sử dụng là phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề theo mục tiêu nghiên cứucủa đề tài đặt ra đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, tính thực tiễn và logic

Các phương pháp NCKH cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu luận án

là các phương pháp NCKH trong lĩnh vực kinh tế như phương pháp thống kê,phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, diễngiải, so sánh…

6 Ý nghĩa khoa học về lý luận và thực tiễn của đề tài luận án

Về lý luận, luận án hệ thống hóa, phân tích góp phần làm sáng tỏ và

phong phú thêm những vấn đề lý luận về giáo dục ĐHCL và huy động cácNTC cho phát triển giáo dục ĐHCL

Về thực tiễn, luận án tổng kết kinh nghiệm và rút ra các bài học kinh

nghiệm về huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL của một số nướctrên thế giới có thể nghiên cứu áp dụng cho nước CHDCND Lào; tổng hợp,phân tích, đánh giá chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân củathực trạng huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ở nướcCHNCND Lào giai đoạn 2011 - 2015; đề xuất quan điểm, định hướng, các giảipháp nhằm tăng cường huy động các NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL ởnước CHDCND Lào đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng, danh mục sơ đồ, kếtluận và phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Giáo dục ĐHCL và huy động NTC cho phát triển giáo dục

Trang 25

Chương 2: Thực trạng huy động các NTC cho phát triển giáo dục

ĐHCL ở nước CHDCND Lào;

Chương 3: Quan điểm và giải pháp huy động các NTC cho phát triển

giáo dục ĐHCL ở nước CHDCND Lào

Trang 26

CHƯƠNG 1 GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH

CHO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1.1 Khái niệm giáo dục đại học

Xuất phát từ khái niệm dịch vụ công cộng là hoạt động phục vụ lợi íchchung cần thiết của cả cộng đồng, nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu vàquyền cơ bản của người dân trong việc hướng thụ các giá trị của cải vật chất

và tinh thần của xã hội Cung cấp dịch vụ công cộng có thể do Nhà nước trựctiếp đám nhận hay cho các tổ chức, cá nhân thực hiện nhằm đảm bảo việc đápứng các lợi ích công cộng của người dân Xét trên giác độ kinh tế học, dịch vụcông cộng là các hoạt động cung ứng cho xã hội những hàng hóa công cộng,bao gồm hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuầntúy

Hàng hóa công cộng thuần túy là lại hàng hóa mà khi được tạo ra thìkhó có thể lại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó và việc tiêu dùng của mỗi ngườikhông làm giảm lượng tiêu dùng của người khác (quốc phòng, an ninh, trật tự

an toàn xã hội, chiếu sáng công cộng, phòng bệnh )

Hàng hóa công cộng không thuần túy bao gồm khám chữa bệnh, giáodục và đào tạo, dạy nghề, cung cấp cơ sở hạ tầng, kinh doanh truyền tải thôngtin Các sản phẩm dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học còn mangtính chất hàng hóa cá nhân thể hiện ở chỗ các sản phẩm dịch vụ này sẽ bịmất đi khi có một cá nhân sử dụng và khi có một cá nhân sử dụng các dịch

vụ này sẽ ngăn chặn người khác sử dụng các dịch vụ đó Chính tính chất nàyđòi hỏi người sử dụng hàng hóa công cộng không thuần túy phải trả phí sửdụng dịch vụ để bù đắp chi phí, tái sản xuất, tái cung cấp sản phẩm dịch vụ Nhưng do đây là những hàng hóa đặc biệt nên Nhà nước phải tham gia vào

Trang 27

việc định hướng thị trường và kiểm soát giá cả các sản phẩ m dịch vụ này,tránh việc tư nhân đặt giá quá cao so với chi phí làm hạn chế khả năng sửdụng của người dân Cung cấp dịch vụ GDĐT, khám chữa bệnh là nhữnglĩnh vực thể hiện rõ nhất các tính chất của một loại hàng hóa vừa mang tínhchất công cộng, vừa màng tính chất cá nhân hay là hàng hóa công cộngkhông thuần túy.

Giáo dục là hoạt động để củng cố sự phát triển và rèn luyện con người

về tri thức, kỹ năng và phẩm chất để con người có thể phát triển nhân cáchmột cách toàn diện và trở thành những công dân có ích cho xã hội Để đạtđược mục tiêu đó, hệ thống giáo dục quốc dân ở mỗi quốc gia luôn phải đượcthiết lập phù hợp với lứa tuổi và nhận thức của người học theo thứ tự từ thấpđến cao

GDĐH là giáo dục sau khi tốt nghiệp phổ thông, nghề nghiệp cấp caođẳng hoặc tương đương với chương trình học trung cấp; bắt đầu từ cao đẳngđến tiến sĩ để khuyến khích giáo dục học suốt đời; có mục tiêu đào tạo cán bộ

chuyên nghiệp, nghề nghiệp, nhà nghiên cứu và nhà khoa học

Ở nước CHDCND Lào hiện nay, theo nghị định số 177/CP, ngày05/06/2015 về GDĐH, GDĐH đào tạo các trình độ: trình độ cao đẳng, trình

độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ và được thực hiện ở một số trongloại hình cơ sở giáo dục là trường cao đẳng, trường đại học

- Trường cao đẳng là nơi đào tạo trình độ cao đẳng; được thành lập do

sự đòi hỏi của việc phát triển chuyên môn hoặc chuyên ngành ở trung ương,địa phương và cộng đồng, có nghiệp vụ chính trong tổ chức thực hiện học tập

- giảng dạy chương trình cao đẳng theo sự phê duyệt của Bộ GDTT

- Trường đại học là nơi đào tạo trình độ đại học được thành lập theo sựcần thiết của các chuyên ngành, tương đương hoặc cao hơn cao đẳng và có thểđào tạo chương trình cao đẳng, đại học liên thông theo sự phê duyệt của BộGDTT Đồng thời, là nơi bỗi dưỡng ngắn hạn, NCKH, quản lý thông tin và

Trang 28

dịch vụ chuyên ngành nào đó hoặc nhiều chuyên ngành theo quyết định của

Bộ GDTT

GDĐH phải tuân theo những quy luật và đặc điểm chung của giáo dục.Tuy nhiên sản phẩm của GDĐH là hình thành nên đội ngũ nguồn nhân lực cótrình độ cao cho phát triển KTXH, nên cần có những cơ chế, chính sách riêngphù hợp với GDĐH cũng như mục tiêu phát triên nguồn nhân lực của quốcgia

Sản phẩm của GDĐH là tạo ra nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn

kỹ thuật, có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp, thúcđẩy sự phát triển của KHCN, góp phần xây dựng nền kinh tế tri thức của đấtnước, phục vụ cho mục tiêu phát triển KTXH của quốc gia

GDĐH phải được tổ chức một cách có mục đích, kế hoạch cụ thể đểlàm cho quá trình truyền đạt, lĩnh hội các kiến thức và kinh nghiệm xã hộigiữa nhà cung cấp và người học được diễn ra theo đúng các định hướng đãđịnh của mỗi quốc gia

Xét về khía cạnh cung cấp dịch vụ, GDĐH chính là dịch vụ công cộngvới tính chất vừa là hàng hóa công cộng và vừa là hàng hóa cá nhân hay làhàng hóa công cộng không thuần túy GDĐH chính là hoạt động nhằm nângcao trình độ hiểu biết cho con người, đào tạo kỹ năng và nâng cao phẩm chấtnghề nghiệp chuyên môn cho đội ngũ người lao động - nguồn nhân lực đónggóp phát triển KTXH Đội ngũ người lao động được đào tạo thông quaGDĐH khi tham gia vào quá trình lao động sản xuất sẽ tạo ra giá trị tăng thêmcho xã hội và đồng thời tạo ra thu nhập cho chính bản thân họ Do đó, ở khíacạnh cung ứng thì các nhà cung cấp dịch vụ GDĐH phải đầu tư cho việc mởrộng phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo Ở khía cạnh nhu cầu, người sửdụng dịch vụ phải trả phí sử dụng dịch vụ để bù đắp chi phí, tái sản xuất, táicung cấp sản phẩm dịch vụ

Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra kết luận: GDĐH là các hoạt

động học tập, đào tạo do các cơ sở GDĐH tổ chức thực hiện, nhằm cung cấp

Trang 29

cho người học những tri thức, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp tương ứng với trình độ theo đúng chương trình, thời gian do Nhà nước quy định.

1.1.2 Giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc gia

Lịch sử phát triển xã hội cho thấy giáo dục đã xuyên suốt quá trình pháttriển của xã hội; từ chế độ công xã nguyên thuỷ, trải qua chế độ nô lệ, chế độphong kiến đến chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ XHCN ngày nay Thời kỳcông xã nguyên thuỷ con người sống thành cộng đồng, đã biết tích luỹ, truyền

bá nhau những hiểu biết và kinh nghiệm về tự nhiên và xã hội, để dần làm chủ

tự nhiên và thiết lập những quy ước xã hội trong cuộc sống cộng đồng Nhữnghiểu biết và kinh nghiệm của con người chính là tri thức Sự truyền bá chonhau những hiểu biết và kinh nghiệm đó của con người chính là giáo dục Chế

độ công xã nguyên thuỷ tan dã và xã hội phát triển sang thời kỳ chế độ nô lệ,chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ XHCN; theo đó giáodục có trường lớp cũng xuất hiện và ngày càng phát triển để thực hiện việcdạy và học nhằm phổ biến, truyền bá tri thức cho người học Giáo dục cótrường lớp có tính tổ chức cao, tri thức truyền bá cho người học có tính hệthống và nhằm đạt được những mục đích đã được định trước

Cùng với sự phát triển của xã hội, thông qua cuộc sống lao động sángtạo và khám phá tự nhiên - xã hội, kho tàng tri thức của nhân loại ngày càngphát triển và tích luỹ thành một khối lượng khổng lồ; điều đó khẳng định sựtồn tại và phát triển tất yếu của giáo dục trong đời sống KTXH Như vậy

“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục nảy

sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội” [5].

Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu là sự truyền bá và lĩnh hội tri thức

để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của con người Theo nghĩa hẹp

Trang 30

gắn với hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục là quá trình đào tạo con ngườimột cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua tổ chức việc truyền thụ vàlĩnh hội có hệ thống tri thức của xã hội loài người; nhằm giúp cho con ngườiphát triển toàn diện, có lý tưởng, đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, nghềnghiệp và hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân.

Hai khái niệm nêu trên về giáo dục cho thấy rõ bản chất hoạt động và

mục tiêu của giáo dục Bản chất hoạt động của giáo dục là truyền đạt và lĩnh

hội tri thức Sự truyền đạt và lĩnh hội đó có tác động qua lại với nhau để

người học chủ động lựa chọn, lĩnh hội, sáng tạo và phát triển tri thức mới

đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại Mục tiêu của giáo dục là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực hay “giá trị” của con người nhằm

phục vụ yêu cầu phát triển KTXH Phẩm chất của con người là phẩm chất đạođức, niềm tin, lập trường, tư tưởng và thái độ… của họ trong cuộc sống xãhội Năng lực của con người là kiến thức, chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo màmỗi con người tích luỹ được và khả năng vận dụng chúng vào thực tiễn cuộcsống KTXH Giáo dục phẩm chất và năng lực của con người là hai mặt cóquan hệ biện chứng với nhau tạo nên giá trị của mỗi con người trong mốiquan hệ tổng hoà với xã hội, làm cho con người phát triển toàn diện, từ đó cónhững đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội Mục tiêu giáo dục củamỗi quốc gia tuỳ thuộc vào chế độ chính trị và quan điểm phát triển giáo dục

của quốc gia đó, bởi vì “Giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của

xã hội, theo chế độ chính trị - kinh tế của xã hội” [5] Mục tiêu của giáo dục ở

nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay là đào tạo con người phát triểntoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trungthành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồidưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Luật Giáo dục của nước CHDCND quy định rõ các bậc học và trình độ

Trang 31

giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc gia bao gồm: (i) Giáo dục mầm non;(ii) Giáo dục phổ thông; (iii) Giáo dục nghề nghiệp; (iv) GDĐH Như vậy,GDĐH là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc gia GDĐH bao gồmđào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ

1.1.3 Đặc điểm của giáo dục đại học

Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN tạo ra sự thay đổi lớn trong cấu trúcngành nghề, công việc Công nghệ thông tin cho phép các công ty tái cơ cấulại quy trình sản xuất theo hướng sử dụng công nghệ phức tạp hơn, cần ít laođộng hơn với năng suất lao động cao hơn Mặc dù, trong một số ít lĩnh vực,

do máy móc đã đảm nhiệm phần lớn các nhiệm vụ phức tạp nên chỉ cần một

số lao động ít kỹ năng hơn; nhưng ở phần lớn các lĩnh vực, để quản lý và vậnhành công nghệ mới, nhu cầu về lao động có kỹ năng cao lại tăng lên Thêmvào đó, toàn cầu hóa làm cho cạnh tranh giữa các công ty trở nên khốc liệthơn Sự thay đổi trong cấu trúc công việc cộng với áp lực cạnh tranh khiếncho GDĐH được cho là nơi cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độchuyên môn cao ngày càng tăng lên

GDĐH không trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất cho xã hội Tuy nhiên,GDĐH sản sinh ra lực lượng lao động có trình độ, kỹ năng cao góp phần tăngnăng suất lao động, cải thiện cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội

GDĐH là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạtchuẩn Theo quan điểm này, GDĐH là một quá trình trong đó người học đượcquan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Nhưvậy, GDĐH trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng kinh tế

GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu Theo cách tiếp cận này,GDĐH là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứuthực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới, tạo

ra các công bố khoa học

Trang 32

GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Rất nhiềungười cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở GDĐH Do vậy,các cơ sở GDĐH thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt độngdạy và học, bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kếtthúc khóa học của sinh viên.

GDĐH tạo điều kiện mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học.Theo cách tiếp cận này, GDĐH được xem như một cơ hội để người học đượctham gia vào quá trình phát triển bản thân

Những phân tích nêu trên cho phép rút ra kết luận về các đặc điểm củaGDĐH trong thời đại ngày nay như sau:

Một là, GDĐH vừa là hàng hóa công cộng và vừa là hàng hóa cá nhân,

mang tính đại chúng, không còn giới hạn ở giáo dục tinh hoa như GDĐHtruyền thống

Hai là, GDĐH luôn gắn với giáo dục dạy nghề Mỗi cơ sở GDĐH

đều đào tạo những ngành nghề cụ thể nhất định Danh mục ngành nghềđào tạo không cố định, khép kín mà luôn thay đổi, mở theo yêu cầu của xãhội

Ba là, GDĐH luôn song hành cùng NCKH Không NCKH nghiêm túc

không phải và không còn là GDĐH

Bốn là, GDĐH vừa mang tính dân tộc và vừa mang tính quốc tế; đỉnh

cao của tri thức quốc gia; cửa ngõ để văn hoá, khoa học kỹ thuật quốc gia đếnvới thế giới và thế giới đến với quốc gia

Năm là, GDĐH là một ngành sản xuất dịch vụ có thể thu hồi được chi

phí

Với những đặc điểm nêu trên cho thấy muốn phát triển GDĐH nóichung và giáo dục ĐHCL nói riêng đòi hỏi phải có đầu tư tài chính tươngxứng; đồng thời, cần có cơ chế phù hợp để huy động tối đa các NTC của Nhànước, của người học và của xã hội để đầu tư cho phát triển giáo dục ĐHCL

Trang 33

1.1.4 Vai trò của giáo dục đại học công lập

1.1.4.1 Vai trò của giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc gia

Giáo dục ĐHCL là GDĐH do các cơ sở giáo dục ĐHCL tổ chức vàthực hiện Các cơ sở giáo dục ĐHCL do Nhà nước thành lập, quy định vềchức năng và nhiệm vụ, bảo đảm một phần hoặc toàn bộ NTC hoạt động

Sự ra đời và hoạt động của các cơ sở giáo dục ĐHCL thể hiện vai tròcủa Nhà nước đối với GDĐH Nhà nước thông qua các hoạt động của cơ sởgiáo dục ĐHCL để điều tiết các nguồn lực xã hội sao cho có hiệu quả nhất; từ

đó điều tiết cơ cấu đào tạo nhân lực hợp lý, duy trì và phát triển GDĐH nóiriêng và hệ thống giáo dục quốc gia nói chung Thông qua cơ sở giáo dụcĐHCL, Nhà nước thực hiện vai trò đảm bảo lợi ích công về GDĐH Lợi íchnày lan tỏa ra toàn xã hội, đảm bảo tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳngtiếp cận với GDĐH

Các cơ sở giáo dục ĐHCL là nơi triển khai các chính sách đầu tư pháttriển GDĐH của mỗi quốc gia Các cơ sở giáo dục ĐHCL thuộc sở hữu Nhànước, được Chính phủ hoặc chính quyền địa phương cung cấp tài chính triểnkhai các chính sách phát triển GDĐH của chính quyền các cấp Ở nướcCHDCND Lào, các cơ sở giáo dục ĐHCL được Nhà nước giao kinh phí, tàisản, cơ sở vật chất để thực hiện các mục tiêu và có chính sách ưu tiên đầu tưcho GDĐH của quốc gia

Giáo dục ĐHCL giữ vai trò định hướng cho hoạt động và sự phát triểncủa hệ thống GDĐH của quốc gia Giáo dục ĐHCL định hướng cho phát triểncác chương trình đào tạo bằng cách bổ sung, hoàn thiện các chương trình đã

có sẵn, xây dựng các chương trình đào tạo mới phù hợp với xu thế phát triểncủa xã hội; định hướng cho NCKH thông qua việc xây dựng các nhóm nghiêncứu, duy trì các hướng nghiên cứu cơ bản, triển khai các hướng nghiên cứumới

Trang 34

Giáo dục ĐHCL có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chấtlượng cao, NCKH và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển củađất nước Trong hệ thống GDĐH, các cơ sở giáo dục ĐHCL có lợi thế hơncác cơ sở GDĐH NCL về điều kiện đảm bảo chất lượng như đội ngũ cán bộ,giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu, thư viện

1.1.4.2 Vai trò của giáo dục đại học công lập với phát triển kinh tế

Thứ nhất, GDĐH góp phần trực tiếp tạo nguồn nhân lực có trình độ và

chuyên môn cho phát triển kinh tế GDĐH góp phần trực tiếp tạo nguồn nhânlực có trình độ và chuyên môn kỹ thuật - yếu tố quyết định tăng trường kinh tế

và phát triển bền vững Hay nói cách khác, GDĐH góp phần quan trọng nângcao chỉ số phát triển con người (HDI) và không ngừng làm giá tăng giá trị,đóng góp có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế củamỗi quốc gia Các học thuyết kinh tế đều nhất quán cho rằng để phát triểnkinh tế cần có ba nguồn lực cơ bản là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên vàNTC Trong nền kinh tế nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò cơbản, quyết định sản lượng tạo ra Trong nền kinh tế công nghiệp, vị trí hàngđầu thuộc về NTC Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của KHCN, toàncầu hóa sâu rộng và sự xuất hiện của kinh tế tri thức, thì vai trò quyết địnhthuộc về tri thức của nguồn nhân lực sẽ quyết định năng lực cạnh tranh, tăngtrưởng kinh tế và phát triển bền vững Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực quaGDĐH luôn được coi là vấn đề ưu tiên trong chiến lược phát triển KTXH củamỗi quốc gia

Thứ hai, GDĐH góp phần nâng cao năng suất lao động, lợi ích cá nhân

và lợi ích xã hội Với việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng

Trang 35

kinh tế Mức độ ảnh hưởng của GDĐH đối với năng suất lao động được tínhbằng cách so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm ra trongcùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó trải qua một quá trìnhGDĐH với chi phí của quá trình GDĐH đó Kết quả so sánh này gọi là tỷ suấtlợi nhuận xã hội đầu tư vào GDĐH Vào những thập niên cuối của thế kỷtrước, ở nước CHDCND Lào ước tính suất thu lợi bình quân đầu tư GDĐHkhoảng 15% - 20% về mặt cá nhân và 10% - 15% về mặt xã hội; riêng về suấtthu lợi cá nhân từ GDĐH ở các nước mới nổi rất cao, như Hồng Kông là25.7% (1976), Malaysia là 34.5% (1978), Singapore là 25.4% (1966), Brazil

là 28.2% (1989) Đối với giáo dục nói chung, theo tính toán của các nhà kinh

tế học, tỷ suất lợi nhuận xã hội đạt từ 8% - 10%, cao hơn so với tỷ suất lợinhuận trung bình của xã hội đầu tư cho các lĩnh vực khác trong dài hạn TheoNgân hàng Thế giới (2008), suất thu lợi của GDĐH là khá cao đối với cácnước có thu nhập trung bình và thấp

Bảng 1.1: Suất thu lợi của GDĐH

đầu người năm

Thu nhập bìnhquân đầu ngườinăm

Suất thulợi xãhội (%)

Suất thulợi cánhân (%)

2 Trung bình (từ 755 - 9625

Nguồn: Ngân hàng thế giới năm 2008

Thứ ba, GDĐH góp phần truyền bá, sáng tạo những tri thức mới thúc

Trang 36

đẩy sự thịnh vượng và phát triển xã hội Thông qua nghiên cứu, ứng dụng vàđào tạo ở trình độ cao về khoa học nghiên cứu, GDĐH góp phần sáng tạo ranhững tri thức mới và truyền bá, chuyển giáo những tri thức mới cho nhânloại Do đó, GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phồn thịnh củanền kinh tế tri thức, sự thịnh vượng của nhân loại ở hiện tại và trong tươnglai John Maynard Keynes (1936) trong cuốn sách “Lý thuyết chung về việclàm, lãi suất và tiền tệ” đã cho rằng “Muốn thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế,cần phải giải quyết việc làm cho đại đa số nhân dân Muốn vậy, cần phải đầu

tư chiều sâu, phát triển kỹ thuật, phát triển giáo dục”

Manual Castell (1991) cho rằng GDĐH góp phần quan trọng vào việcbảo tồn các nền văn hóa và tri thức nhân loại, tái tạo hoặc phản biện ý thức hệchi phối của quốc gia; lựa chọn những người ưu tú giới thiệu cho đất nước;sáng tạo ra kho tàng trị thức mới Không chỉ cải thiện sự lựa chọn cá nhân sẵn

có cho tất cả mọi người, GDĐH còn tạo ra lực lượng lao động có năng lựcsáng tạo, biết chắt lọc và áp dụng các tri thức thu được từ kết quả của cáccông trình NCKH vào sản xuất, đời sống; góp phần tăng năng suất lao động,nâng cao mức sống cho mọi người và xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo thôngqua việc trang bị cho người học những tri thức, kỹ năng cần thiết để kiếmsống Liên Hợp quốc xác định giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng làquyền con người và là phương tiện phát triển riêng của mỗi cá nhân; phươngtiện để xây dựng nền văn hóa, chia sẻ truyền thống, cung cấp sức mạnh cho cánhân và toàn xã hội

GDĐH đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy hòa hợp dân tộc; cungcấp các diễn đàn thảo luận rộng rãi mang tính phản biện và tư vấn về pháttriển KTXH cho các cấp chính quyền, các nhà doanh nghiệp Ngoài ra,GDĐH còn có vai trò thăm dò và phê phán, dự báo, tiên đoán, cảnh báo vàngăn chặn; sử dụng năng lực trí tuệ và uy tín đạo đức của nhà trường để bảo

vệ, truyền bá tích cực những giá trị được phổ biến thừa nhận; thực hiện đầy

Trang 37

đủ sự tự do hàn lâm, học thuật và bảo vệ sự tự quản trong khi phải có tráchnhiệm công khai với xã hội; góp phần xác định và xử lý những vấn đề có hạicho phúc lợi của cộng đồng, quốc gia và toàn cầu.

Bằng việc trang bị và phát triển kỹ năng, kiến thức, quan điểm nhậnthức xã hội đúng đắn, giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng chính là nhân

tố quyết định việc nâng cao khả năng tham gia thị trường lao động của lựclượng lao động, góp phần tạo lập công bằng xã hội trong lao động Công bằnghưởng thụ giáo dục và GDĐH góp phần công bằng trong tham gia thị trườnglao động và đem lại công bằng trong phân phối thu nhập

Thứ tư, GDĐH đóng vai trò trung tâm của phát triển con người, xã

hội, nhân loại Đối mặt với thách thức của toàn cầu hóa trong thời đại ngàynay, giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng phải đứng ở trung tâm của sựphát triển con người, xã hội và nhân loại GDĐH có sứ mạng giúp cho mọingười phát huy tất cả mọi tiềm năng sáng tạo Muốn vậy, hệ thống GDĐHphải linh hoạt hơn, tạo ra đa dạng về các ngành học và những kênh liênthông giữa các loại hình GDĐH khác nhau hoặc giữa những kinh nghiệmnghề nghiệp và việc liên tục được giáo dục Sự linh hoạt đó có thể góp phầnlàm giảm bớt sự thất bại trong giáo dục truyền thống, đang gây ra sự lãngphí to lớn về nguồn nhân lực Với những cải tiến đáp ứng những nhu cầu vềphát triển trí tuệ, sự thực thi một mô hình phát triển bền vững và phù hợpvới những đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, hệ thống GDĐH có thể gópphần làm bớt đi sự trầm trọng của nạn thất nghiệp hoặc những bất bình đẳngtrong phát triển xã hội

GDĐH phải phục vụ tất cả mọi người và đang dần tiến tới “đại chúng”,

“phổ cập” GDĐH có vai trò xây dựng mối liên kết trong và ngoài cộng đồng,bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc, là đỉnh cao của tri thứcquốc gia, là cửa ngõ để văn hóa và khoa học kỹ thuật, công nghệ của quốc giađến với thế giới và ngược lại Do đó, hội nhập quốc tế về GDĐH đang là một

Trang 38

xu thế ngày càng mạnh mẽ giữa các nước trong một khu vực, châu lục và toànthế giới GDĐH hiện hội nhập giữa các quốc gia thông qua hợp tác phát triển,trao đổi tri thức của nhân loại.

1.2 HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.2.1 Khái niệm tài chính và nguồn tài chính cho phát triển giáo dục đại học công lập

Tài chính thuộc phạm trù phân phối của cải xã hội dưới hình thức giátrị Trong thực tiễn, tài chính biểu hiện ra là các hoạt động thu, chi bằng tiền -

sự vận động của các NTC - gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền

tệ trong xã hội Nội dung KTXH của tài chính là các quan hệ KTXH phát sinhtrong quá trình phân phối các NTC, của cải xã hội dưới hình thức giá trị.Trong nền kinh tế hàng hóa, tài chính phát sinh và phát triển trong mọi lĩnhvực hoạt động KTXH và được sử dụng để tạo lập, phân phối, sử dụng cácNTC đáp ứng sự phát triển của các lĩnh vực hoạt động KTXH Đồng thời, sựphát sinh và phát triển của tài chính luôn gắn liền với sự phát triển của cáclĩnh vực hoạt động KTXH, trong đó có lĩnh vực giáo dục nói chung và giáodục ĐHCL nói riêng

Như vậy có thể hiểu tài chính thuộc phạm trù phân phối của cải xã hộidưới hình thức giá trị hay các NTC gắn liền với việc tạo lập và sử dụng cácquỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội

NTC là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác,

sử dụng nhằm thực hiện những mục đích nhất định NTC có thể tồn tại dướidạng tiền, tài sản vật chất hoặc phi vật chất Sự vận động của các NTC phảnánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị.NTC luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định Kết quả của quá trìnhphân phối các NTC là sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định củacác chủ thể trong xã hội

Trang 39

Các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội cũng là NTC và là bộ phậnNTC có khả năng chuyển hóa cao thành vốn đầu tư vào các lĩnh vực KTXHnói chung và giáo dục ĐHCL nói riêng.

NTC có thể biểu hiện bằng nhiều thuật ngữ cụ thể khác nhau như vốntiền tệ, vốn bằng tiền, tiền vốn hay vốn NSNN, vốn ngoài NSNN, vốn doanhnghiệp, vốn tín dụng, vốn trong dân, vốn trong nước, vốn ngoài nước… NTCkhông chỉ là các quỹ tiền tệ mà còn những tài sản có khả năng chuyển hóathành tiền tệ Những tài sản này khi cần thiết và trong những điều kiện nhấtđịnh có thể chuyển hóa thành tiền NTC bao gồm cả các giá trị hiện tại và cảnhững giá trị có khả năng nhận được trong tương lai

Những phân tích nêu trên có thể rút ra kết luận:

Tài chính cho phát triển giáo dục ĐHCL là phạm trù phân phối của cải

xã hội dưới hình thức giá trị hay các NTC gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục ĐHCL.

NTC cho phát triển giáo dục ĐHCL là khả năng tài chính của các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng vào đầu tư phát triển giáo dục ĐHCL theo mục tiêu đã định của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Đối với giáo dục ĐHCL, tài chính có vai trò quan trọng tác động đếnmục tiêu, quy mô và chất lượng của giáo dục ĐHCL Để duy trì hoạt động vàphát triển các cơ sở giáo dục ĐHCL phải có NTC đầu tư trang thiết bị phục

vụ cho quá trình đào tạo như trường, lớp, thư viện, phòng thí nghiệm ; xâydựng chương trình đào tạo cùng với hệ thống tài liệu học tập, giáo trình; trảlương cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và các nhà quản lý giáo dục.NTC ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến sự phát triển hệ thống giáo dụcĐHCL Những quốc gia có cơ chế, chính sách huy động được NTC đầu tưthảo đáng cho giáo dục ĐHCL thì hệ thống giáo dục ĐHCL của quốc gia đóphát triển, sản phẩm giáo dục có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu ngày càngcao của thị trường lao động Nếu các cơ sở giáo dục ĐHCL không đủ NTC thì

Trang 40

không thể phát triển về quy mô và chất lượng đào tạo, NCKH và các dịch vụkhác của GDĐH.

Chính vì vậy, ngày nay hầu hết Chính phủ của các quốc gia đều cónhững ưu tiên nhất định NTC từ NSNN; đồng thời, xây dựng các chính sách,

cơ chế thỏa đáng để huy động các NTC của xã hội đầu tư cho phát triển giáodục ĐHCL

1.2.2 Huy động các nguồn tài chính cho phát triển giáo dục đại học công lập

Có nhiều cách tiếp cận về các NTC có thể huy động vào đầu tư pháttriển giáo dục ĐHCL Căn cứ vào chủ thể các NTC, NTC có thể huy động chođầu tư phát triển giáo dục ĐHCL bao gồm nguồn NSNN và các NTC ngoàiNSNN NTC ngoài NSNN là các NTC của nhiều chủ thể, rất đa dạng và phứctạp; trong đó có thể quy tụ thành ba nguồn chính là nguồn ODA huy động đầu

tư cho phát triển giáo dục ĐHCL, NTC từ thu học phí hay giá dịch vụ, NTC

từ thu các hoạt động dịch vụ của các cơ sở giáo dục ĐHCL

1.2.2.1 Huy động nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước

Huy động NTC từ NSNN cho đầu tư phát triển giáo dục ĐHCL đượcthực hiện thông qua quá trình phân bổ và sử dụng một phần vốn tiền tệ từNSNN để duy trì và phát triển giáo dục ĐHCL theo nguyên tắc không hoàntrả trực tiếp

Phần lớn các quốc gia đang phát triển và các nước có thu nhập trungbình, NTC của Chính phủ hay NSNN chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổngNTC của xã hội đầu tư giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng Các quốcgia sử dụng NSNN đầu tư cho phát triển giáo dục ĐHCL xuất phát từ những

lý do sau:

Thứ nhất, cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo nói chung và đầu tư tài

chính cho giáo dục ĐHCL nói riêng thuộc về trách nhiệm của Chính phủnhằm bảo đảm công bằng và hiệu quả Thất bại thị trường trong cung cấp dịch

Ngày đăng: 29/04/2018, 22:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Phụ Anh (2015), Điều chỉnh cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh cơ cấu tài chính đầu tư cho giáo dục đạihọc công lập ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Phụ Anh
Năm: 2015
2. Đặng Văn Du (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chínhcho đào tạo đại học ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Du
Năm: 2004
3. Nguyễn Kim Dung (2002), Thu hút và sử dụng vốn đầu tư cho GDĐH nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút và sử dụng vốn đầu tư cho GDĐHnhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Nguyễn Kim Dung
Năm: 2002
4. Nguyễn Trường Giang (2011), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2015 và định hướng 2020, Đề tài NCKH, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cáccơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2015 và định hướng2020
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Năm: 2011
5. Bùi Tiến Hanh (2007), Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xãhội hóa giáo dục Việt Nam
Tác giả: Bùi Tiến Hanh
Năm: 2007
6. Nguyễn Ngọc Hải (2008), Hoàn thiện cơ chế chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế chi NSNN cho việc cung ứnghàng hóa công cộng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hải
Năm: 2008
7. Học viện Tài chính (2014), Lý thuyết tài chính tiền tệ, Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính tiền tệ
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2014
8. Học viện Tài chính (2016), Giáo trình Lý thuyết quản lý tài chính công , Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết quản lý tài chính công
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2016
9. Học viện Tài chính (2016), Giáo trình Quản lý tài chính công, Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý tài chính công
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tàichính
Năm: 2016
11. Joseph Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học công cộng
Tác giả: Joseph Stiglitz
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
12. Khamphuvieng Nanthavong (2011), Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phát triển GDĐH ở Lào, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp huy động nguồn lực tàichính cho phát triển GDĐH ở Lào
Tác giả: Khamphuvieng Nanthavong
Năm: 2011
14. Vũ Thị Nhài (2007), Quản lý tài chính công ở Việt Nam, Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính công ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Nhài
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2007
15. Paul A. Samuelson (1989), Kinh tế học, Nxb Quan hệ quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: Paul A. Samuelson
Nhà XB: Nxb Quan hệ quốc tế
Năm: 1989
16. Pangthong Luangvanxay (2011), Phân cấp quản lý NSNN ở CHDCND Lào - Thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp quản lý NSNN ở CHDCNDLào - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Pangthong Luangvanxay
Năm: 2011
17. Phanxay Thammasith (2011), Giải pháp thực hiện cân đối NSNN ở CHDCND Lào giai đoạn 2011 - 2015, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thực hiện cân đối NSNN ởCHDCND Lào giai đoạn 2011 - 2015
Tác giả: Phanxay Thammasith
Năm: 2011
18. Lê Xuân Trường (2010) Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp GDĐT đại học và cao đẳng công lập, Đề tài NCKH, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với cácđơn vị sự nghiệp GDĐT đại học và cao đẳng công lập
20. Trần Đình Ty (2002), Quản lý Nhà nước về tài chính - tiền tệ, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về tài chính - tiền tệ
Tác giả: Trần Đình Ty
Nhà XB: Nxb Laođộng - Xã hội
Năm: 2002
21. Sisouphan (2011), Đổi mới cách thức phân bổ kinh phí NSNN cho giáo dục phổ thông ở CHDCND Lào, Tạp chí Tài chính tháng 5/201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cách thức phân bổ kinh phí NSNN cho giáodục phổ thông ở CHDCND Lào
Tác giả: Sisouphan
Năm: 2011
22. Souvankham Soumphonphakdy (2014), Đổi mới cơ cấu chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển KTXH ở CHDCND Lào, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ cấu chi NSNN nhằmthúc đẩy phát triển KTXH ở CHDCND Lào
Tác giả: Souvankham Soumphonphakdy
Năm: 2014
10. Học viện Tài chính (2012), Giáo trình thuật ngữ chuyên ngành tài chính Việt - Lào Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w