Sau khi đọc tác phẩm Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, chúng tôi rất khâm phục tài năng sáng tạo nghệ thuật của ông và nảy ra ý định muốn tìm hiểu sâu hơn về tác phẩm Cao lương đỏ và tác giả M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ DIỄM HƯƠNG
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CAO LƯƠNG ĐỎ
CỦA MẠC NGÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ DIỄM HƯƠNG
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CAO LƯƠNG ĐỎ
CỦA MẠC NGÔN
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Hà Thị Hải
SƠN LA, NĂM 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận hoàn thành dựa trên sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, ThS
Hà Thị Hải Nhân dịp khóa luận được công bố em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Hà Thị Hải - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, khích lệ động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn tới phòng Đào tạo, các thầy cô trong Khoa Ngữ văn, thầy cô trong Trung tâm Thư viện đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong việc sưu tầm tài liệu suốt thời gian qua
Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, quan tâm, chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Lê Thị Diễm Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
3.3 Mục đích nghiên cứu 7
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê 7
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, bình giảng 8
4.3 Phương pháp so sánh 8
5 Đóng góp của khóa luận 8
6 Cấu trúc của khóa luận 8
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CAO LƯƠNG ĐỎ 9
1.1 Nội dung của tác phẩm văn học 9
1.2 Những nội dung cơ bản trong Cao lương đỏ 11
1.2.1 Phản ánh cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc 11
1.2.1.1 Tội ác của quân Nhật 12
1.2.1.2 Cuộc đấu tranh chống Nhật 19
1.2.2 Phản ánh khát vọng tự do trong tình yêu 24
1.2.3 Phản ánh những tập tục của nông thôn Trung Quốc đương thời 27
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT CAO LƯƠNG ĐỎ 33
2.1 Khái niệm hình thức tác phẩm văn học 33
2.2 Những yếu tố nghệ thuật tiêu biểu trong Cao lương đỏ 34
2.2.1 Kết cấu 34
2.2.1.1 Kết cấu đảo ngược dòng thời gian 34
2.2.1.2 Kết cấu dán ghép điện ảnh 37
2.2.2 Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật 40
Trang 52.2.2.1 Qua hành động của nhân vật 41
2.2.2.2 Qua ngôn ngữ của nhân vật 43
a Qua đối thoại 43
b Qua độc thoại nội tâm 44
2.2.2.3 Qua ngoại hình của nhân vật 45
2.2.3 Ngôn ngữ 47
2.2.3.1 Ngôn ngữ kết hợp giữa thanh và tục 47
2.2.3.2 Ngôn ngữ kết hợp giữa thành ngữ và câu hát 50
2.2.4 Một số biện pháp nghệ thuật khác 52
2.2.4.1 So sánh 52
2.2.4.2 Nhân hóa 55
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nền văn học Trung Hoa nổi tiếng với bề dày lịch sử, văn hóa - văn
học, đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực và thể tài sáng tác, song một trong những thể loại phát triển rực rỡ hơn cả phải nói đến tiểu thuyết Bốn bộ
tiểu thuyết nổi tiếng được đánh giá là “tứ đại kì thư”: Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du kí, Hồng lâu mộng Kế thừa và phát triển truyền thống, Mạc
Ngôn - “Nhân vật khai phá của thế kỉ XXI” cùng một số cây bút tên tuổi của nền văn học đương đại như: Vương Mông, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Phùng Ký Tài, Thiết Ngưng, Cao Hiểu Thanh,… đã làm nổi danh tiểu thuyết, đổi mới và đưa thể loại này lên đỉnh cao, tiến thêm một bước mới, trở thành
trung tâm của việc sáng tác và phê bình, đánh giá Cao lương đỏ là một tác phẩm nổi tiếng của Mạc Ngôn Qua Cao lương đỏ, người đọc trở về với bối
cảnh Trung Quốc năm 1938 - 1939 những năm kháng Nhật cứu nước Từ Chiếm Ngao, một thủ lĩnh lãnh đạo 40 tên thổ phỉ, lại có lòng yêu nước, quyết chí đánh đuổi quân xâm lược cùng với Phượng Liên là những nhân vật ngang tàng, khí phách phóng túng và tự do, dám phá bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến Cuộc kháng chiến chống Nhật đã giúp họ lột xác trở thành anh hùng đáng khâm
phục của quê hương Viết Cao lương đỏ Mạc Ngôn đã thể hiện tâm lý chung của
người Trung Quốc lúc bấy giờ sau một thời gian dài tự do cá nhân bị đè nén Tác phẩm đã đề xướng, phát huy tinh thần giải phóng cá tính, đó là dám nghĩ,
dám nói, dám làm Tìm hiểu Cao lương đỏ sẽ giúp tôi hiểu biết sâu sắc hơn về
nội dung và nghệ thuật tác phẩm, hiểu rõ hơn tài năng sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Mạc Ngôn
1.2 Bản thân là một người yêu thích văn học, Cao lương đỏ của Mạc
Ngôn được đánh giá cao về nghệ thuật với cốt truyện hấp dẫn, kết cấu dán ghép
điện ảnh độc đáo, ngôn ngữ sinh động Sau khi đọc tác phẩm Cao lương đỏ của
Mạc Ngôn, chúng tôi rất khâm phục tài năng sáng tạo nghệ thuật của ông và nảy
ra ý định muốn tìm hiểu sâu hơn về tác phẩm Cao lương đỏ và tác giả Mạc
Ngôn - người giành giải Nobel Văn học (2012), người đã đưa văn học Trung
Trang 7Hoa sánh ngang với các nền văn chương nổi tiếng Nga, Pháp, Đức, Mĩ Cao lương đỏ của Mạc Ngôn làm cho người đọc đắm say với chất lãng mạn, bay bổng của khung cảnh cao lương “cao lương huy hoàng”, cao lương rực rỡ
Không gian trong tác phẩm cũng gần gũi quen thuộc: con đường đất ngoài làng, cây cầu, bờ sông, con đê, ánh trăng đêm hè nơi đồng quê dân dã đưa ta về với hồi ức tuổi thơ nhất là cảnh Đậu Quan bắt cua với ông La Hán vui tươi, hồn nhiên ngộ nghĩnh Cái hấp dẫn của truyện còn ở yếu tố kết cấu đảo ngược thời gian - không gian không theo trình tự, diễn biến một chiều, trước sau mà như một bộ phim điện ảnh Đặc biệt, tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu đậm trong tôi
về giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, lôi cuốn từ đời sống người dân, phong tục tập quán: bó chân, rước kiệu, cùng tình yêu của hai nhân vật chính đến ngôn ngữ, nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật và các thủ pháp nghệ thuật khác
Chọn đề tài nghiên cứu về Cao lương đỏ càng làm tăng thêm tình yêu trong tôi
đối với tác phẩm của Mạc Ngôn nói riêng, tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc nói chung
1.3 Mạc Ngôn là một tác giả khá mới với công chúng Việt Nam và văn
đàn thế giới Đây cũng không phải là tác giả được giảng dạy ở nhà trường Phổ thông nhưng lại là nhà văn sáng tác theo khuynh hướng mới “hậu hiện đại”, mang đến “cảm giác mới” cho người đọc Người viết thiết nghĩ cùng với sự vận động của thời gian, quy luật đào thải nghiệt ngã của văn học, sự đổi mới căn bản toàn diện trong giáo dục, tương lai một số tác phẩm sáng tác theo xu hướng hậu hiện đại sẽ được chọn lọc đưa vào chương trình giảng dạy Vậy nên việc nghiên
cứu tác phẩm Cao lương đỏ của Mạc Ngôn sẽ là một trong những tài liệu tham
khảo cho các thầy cô ở một vài khía cạnh nhỏ, giúp các em học sinh có thêm kiến thức về văn học Trung Quốc hiện đại Hơn nữa, văn học luôn là sự kế thừa
và phát triển, từ việc tìm hiểu tác phẩm Cao lương đỏ của Mạc Ngôn thầy cô so sánh, liên hệ khi giảng dạy tác phẩm Cố hương, Thuốc của tác giả Lỗ Tấn để các
em thấy được những đổi thay về quan niệm trong sáng tác, đề tài sáng tác có gì giống và khác nhau giữa họ, thấy được sự chuyển lưu dòng ý thức trong văn học một cách khái quát nhất
Trang 8Xuất phát từ sự đam mê tác phẩm Cao lương đỏ cộng với ý thức nghiêm
túc nghiên cứu khoa học, tôi mong muốn tìm hiểu tác phẩm một cách đầy đủ
hơn, hi vọng khóa luận sẽ giúp những ai yêu thích Cao lương đỏ hiểu thêm giá
trị của tác phẩm
Là sinh viên Khoa Ngữ văn người học tự nhận thấy việc tìm hiểu, nghiên cứu các tác giả hậu hiện đại sẽ trang bị kiến thức, phục vụ cho công tác giảng
dạy sau này Vì những lí do trên người viết mạnh dạn chọn tác phẩm Cao lương
đỏ của tác giả Mạc Ngôn làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Tác phẩm của Mạc Ngôn được bạn đọc Việt Nam rất yêu thích Tuy nhiên
đến nay, công trình nghiên cứu về Cao lương đỏ của Mạc Ngôn không nhiều:
Tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy, Đại học Khoa học Huế với công trình Kết cấu dán ghép điện ảnh trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn đã xem xét tác phẩm
từ góc độ điện ảnh ở hai phương thức chính: dán ghép biến cố, sự kiện và dán ghép không gian - thời gian Tác giả đã viết một cách khái quát về nghệ thuật của tác phẩm, chú ý vào nghệ thuật xây dựng các sự kiện, tình tiết của truyện:
“Tất cả các sự kiện trong tác phẩm đều không được trình bày theo diễn biến một chiều, trước sau, nhân - quả mà được phá tan ra từng mảnh rồi ném vào mỗi chương một vài mảnh” [29; 188] Đánh giá về cốt truyện - kết cấu tác phẩm người viết cho rằng: “Giữa cốt truyện và kết cấu tác phẩm có độ lệch pha Cao lương đỏ là hồi ức của người kể chuyện xưng tôi về cuộc đời oai hùng của ông
bà nội mình Hồi ức ấy đầy xáo trộn, tạo nên sự lệch pha giữa thời gian cốt truyện và thời gian kết cấu Trật tự của các chương (kết cấu) không trùng khít với trật tự của các sự kiện (cốt truyện) Về phương diện dán ghép không gian - thời gian Nguyễn Thị Tịnh Thy chỉ ra: “Không gian bất biến của cao lương lại trở lên đa biến khi được can thiệp bằng thủ pháp dán ghép điện ảnh Khi dòng hồi ức của nhân vật trỗi dậy, cao lương của ngày xưa, của hôm qua và hôm nay cùng hiện hữu, rách rời, chắp vá, chồng chéo vào nhau Cánh đồng, bờ sông, khoảng sân, công trường, chiến trường, từng mảnh vỡ của chúng được vãi tung tóe một cách cố ý trong tác phẩm” [29; 191] Cứ như thế càng lúc càng khắc sâu
Trang 9trong độc giả vẻ đẹp của hình tượng không gian, quả là không sai khi nói rằng không gian cũng là “một tín chỉ thẩm mĩ” Cùng với không gian đa biến thì sự hiện diện của thời gian nghệ thuật cũng không đơn giản là bị trôi ngược từ hiện
tại trở về quá khứ, từ quá khứ đến tương lai mà “Bị bẻ gãy, xáo trộn bởi dòng hồi ức của người kể chuyện và nhân vật Vì vậy, quá khứ xa, quá khứ gần, hiện tại, tương lai, cứ ngược xuôi đan dệt vào nhau, khiến thời gian nghệ thuật của tác phẩm không còn là dòng thời gian nữa mà là mạng thời gian” [29; 188] Cuối cùng người viết đi đến kết luận: “Cao lương đỏ được kết cấu theo kĩ thuật dán ghép điện ảnh thông qua ba dòng hồi ức của ba thế hệ, tác giả đã tạo nên một chuỗi hình tượng phức hợp về nhân vật, sự kiện, điểm nhìn, giọng điệu, không gian và thời gian” [29; 188] Từ những nghiên cứu ở góc độ kết cấu theo
phương thức dán ghép điện ảnh, biến cố - sự kiện cho chúng ta cái nhìn khá toàn diện về phương diện nghệ thuật của tác phẩm
Tác giả Ngô Bồi trong bài viết Carnaval kiểu Trung Quốc - luận về đặc trưng phong cách tiểu thuyết trường thiên của Mạc Ngôn đã chỉ ra điểm nhìn trần thuật, người kể chuyện trong tác phẩm: “Gia tộc cao lương đỏ là tác phẩm
kết thúc kiểu tự sự của văn học Trung Quốc thập niên 80 Sự ra đời của tác
phẩm này về cơ bản đã thay đổi cách viết tiểu thuyết, sự thay đổi đó lại bắt đầu bằng điểm nhìn tự sự kiểu Mạc Ngôn - điểm nhìn trẻ thơ” [30; 75] Điều này hoàn toàn đúng, đối với một tác phẩm nổi tiếng như Cao lương đỏ Nếu như đọc
tác phẩm thì ngay từ đầu, người kể chuyện là một người đàn ông trung niên, để dựng gia phả cho dòng họ, anh ta đã về tận quê hương Đông Bắc Cao Mật để
điều tra trận chiến đấu nổi tiếng mà bố mình từng tham gia Vậy mà “Trong quá trình kể chuyện, người đàn ông trung niên của “cái tôi kể chuyện” đã bị “cái tôi được kể” (bố tôi - Đậu Quan) chi phối hoàn toàn bằng điểm nhìn trẻ thơ Điểm nhìn ấy đã làm trẻ hóa người kể chuyện, tạo cho người đọc cảm giác người kể chuyện là một cậu bé Vì vậy, bên cạnh những trường đoạn thấm đẫm đau thương, chồng chất căng thẳng lại có những tình tiết dí dỏm mà chỉ có đôi mắt hồn nhiên của trẻ thơ mới nhìn thấy được” [30; 76] Chính điểm nhìn trẻ thơ tạo
ra sự linh hoạt trong việc kể chuyện, trần thuật Chọn điểm nhìn trẻ thơ là một
Trang 10sự sáng tạo, nhãn quan tinh tường của người sáng tác Tác giả mới chỉ dừng lại ở nhận định ban đầu về cách viết tiểu thuyết, điểm nhìn của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự nhưng đây là những gợi ý cần thiết giúp người viết khi đi sâu vào thực hiện công trình nghiên cứu của mình về điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, giọng điệu
Dịch giả Lê Huy Tiêu trong lời giới thiệu về Cao lương đỏ - Mạc Ngôn đã nhận định: “Nhân vật Từ Chiếm Ngao trong Cao lương đỏ xuất thân từ một tên thổ phỉ vô cùng ngang tàng vẫn chỉ huy được dân binh chống lại quân Nhật
[31; 8] Đánh giá của tác giả mới chỉ nhìn nhận ở góc độ nhân vật nam chính,
nhân vật ấy đã có ý thức trong việc bảo vệ quê hương, một “tên thổ phỉ” lại dám
chỉ huy dân binh chống Nhật mà chưa được sự cho phép của chính quyền Người viết cũng chỉ ra được nét mới trong các nhân vật khi xem xét từ góc độ chính trị, địa vị xã hội Những con người nhỏ bé - người nông dân lại làm nên kì
tích, luôn muốn báo thù: “Xưa nay người ta quen từ góc độ chính trị, giai cấp
để quy định diện mạo, tính cách của người nông dân, nhưng Mạc Ngôn đã nhìn
họ ở trạng thái bản năng, tả họ là những người vô tổ chức, mang ý thức dân tộc
tự phát, thậm chí mù quáng, lúc nào cũng chỉ muốn báo thù Trong nhân tính của họ có sự kết hợp kì diệu của cái đẹp và cái xấu” [31; 8] Đấy cũng chính là
sự hạn chế của họ bởi ý thức chưa cao, tổ chức còn chưa chặt chẽ, nhân tài thiếu, tầm nhìn hạn hẹp Nhận xét này của Lê Huy Tiêu cho chúng ta cái nhìn khởi đầu
về nhân vật trong tác phẩm
Trong bài viết Tự sự trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, tác giả Phan Thị
Nga đã nhận xét về nghệ thuật của tác phẩm Hình thức kết cấu của nó không
giống với cốt truyện truyền thống vốn có: “Vẫn có cốt truyện nhưng cốt truyện Cao lương đỏ khác tiểu thuyết truyền thống ở chỗ không hoàn chỉnh, không đầy
đủ các thành phần chính như: thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút mà chỉ là cái khung truyện Cái khung truyện ấy lại chứa đựng trong nó nhiều câu chuyện nhỏ Cốt truyện Cao lương đỏ không có những sự kiện, tình tiết li kì, gây cấn và các sự kiện, tình tiết được tái hiện cũng không theo trật tự thời gian mà có sự đan cài, lồng ghép vào nhau trong chín chương được đánh số từ 1 đến 9 Diễn
Trang 11biến của cốt truyện không liên tục, liền mạch theo trật tự các chương, bản thân từng chương cũng bao chứa trong nó một số câu chuyện” [17; 2] Tác giả cũng
đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật: “Cao lương đỏ như một bức tranh có nhiều chân dung nhân vật, mỗi nhân vật là một mảnh đời riêng, có mối dây liên quan nhất định với nhau cùng tạo nên bức tranh hiện thực sinh động về câu chuyện của nhiều con người, của nhiều cuộc đời, trọng tâm là “ông tôi”, “bà tôi”, bố tôi, Lưu La Hán, Từ Đại Nha, Phó chỉ huy Nhiệm Tác giả không tái hiện nhiều tình tiết, sự kiện mà chỉ tập trung vào một số tình tiết, biến cố có tính chất nhất định trong cuộc đời nhân vật để qua đó làm rõ các tính cách cũng như xung đột xã hội” [17; 3] Không dừng lại ở nhận định về cốt truyện, nhân vật mà ngôn ngữ trong Cao lương đỏ cũng được tác giả nhắc tới, đó là ngôn ngữ: “thiên biến vạn hóa, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giản dị và mộc mạc, gần gũi với người nông dân” [17; 4]
Tác giả Mạc Ngôn trong Vì sao tôi viết Cao lương đỏ đã tâm sự: “Điều tôi cảm thấy hài lòng với Cao lương đỏ vẫn là thủ pháp thuật chuyện Trong các bộ tiểu thuyết trước đây có ngôi xưng hô thứ nhất, ngôi xưng hô thứ hai và ngôi xưng hô thứ ba, nhưng trong tiểu thuyết Cao lương đỏ ngay từ chương mở đầu
đã là nhân vật “bà nội tôi”, “ông nội tôi” vừa có ngôi xưng hô thứ nhất, lại vừa
có góc độ toàn diện Khi viết đến đại từ “tôi” là ngôi xưng hô thứ nhất và khi viết đến “bà nội tôi” thì lại từ góc độ “bà nội tôi”, nội tâm của bà có thể bày tỏ một cách rất trực tiếp, khi thuật chuyện hết sức tiện lợi Như vậy, sẽ phong phú hơn rất nhiều, rộng thoáng hơn rất nhiều so với góc độ ngôi xưng thứ nhất một cách đơn giản của nhân vật” [21; 5] Lời tâm sự trên đã cho ta thấy được thủ
pháp thuật chuyện, quan điểm của tác giả về chính ngôi kể Việc chọn điểm nhìn người kể chuyện phù hợp đã bao quát toàn bộ được diễn biến câu chuyện, tạo ra
sự linh hoạt cho ngôi kể Bằng cách kể như vậy, người đọc cũng thấy được sự hợp lí khi theo dõi mọi sự kiện của truyện
Qua việc khảo sát những công trình nghiên cứu đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy rằng những công trình ấy chủ yếu đưa ra những nhận định có tính chất khái quát Các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một vài phương diện tiêu biểu
Trang 12về nghệ thuật của tác phẩm mà chưa chú trọng nhiều về nội dung tác phẩm Trong những tài liệu mà tôi bao quát được, hiện chưa có một công trình nào đi
sâu tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật Cao lương đỏ một cách đầy đủ, cụ thể,
chi tiết Mặc dù vậy, những công trình trên vẫn là những ý kiến, nhận định hết sức đáng quý, đáng trân trọng, sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện khóa luận Chắc chắn đó sẽ là những điểm tựa vững chắc, tạo cơ sở, định hướng cho những nghiên cứu của tôi
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tác phẩm Cao lương đỏ của Mạc
Ngôn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận người viết tiến hành nghiên cứu một
số nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm Cao lương đỏ Văn bản khảo sát là Cao lương đỏ và những truyện khác - Tuyển tập truyện vừa, truyện ngắn
Trung Quốc, Lê Huy Tiêu dịch và giới thiệu - NXB Văn học, Hà Nội năm 2003
3.3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu, người viết mong muốn chỉ ra được những nội dung
cũng như nghệ thuật chủ yếu của tác phẩm Cao lương đỏ, nhằm tăng cường hiểu
biết cho chính mình và giúp cho sinh viên Khoa Ngữ văn có cái nhìn đúng hơn,
đầy đủ hơn khi tìm hiểu tác phẩm Cao lương đỏ của tác giả Mạc Ngôn
3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận có nhiệm vụ phát hiện và phân tích một số nét cơ bản về nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm Cao lương đỏ Từ đó, thấy được những thành
công cũng như khẳng định tài năng nghệ thuật của Mạc Ngôn
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê
Đây là phương pháp cần thiết được người viết tiến hành trong quá trình thực hiện khóa luận nhằm minh chứng cho những nhận định, đánh giá về tác phẩm Phương pháp này cho phép chúng tôi tập hợp, phân loại được hệ thống
Trang 13dẫn chứng, những chi tiết có giá trị nghệ thuật cao, các hình ảnh, nhân vật cụ
thể, qua đó, làm sáng tỏ nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Cao lương đỏ
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, bình giảng
Phương pháp này được xem là chủ đạo và mang tính chất quyết định trong quá trình nghiên cứu Nó được tích cực sử dụng nhằm làm sáng rõ những vấn đề
mà người viết quan tâm Phương pháp này giúp phân biệt một cách rạch ròi và làm sáng tỏ các luận điểm lớn, nhỏ rồi từ đó đi sâu vào từng chi tiết cụ thể, từng yếu tố nội dung và nghệ thuật tác phẩm, cho chúng ta thấy được tài năng sáng tạo nghệ thuật và mục đích sáng tác của tác giả
4.3 Phương pháp so sánh
So sánh sự tương đồng, khác biệt, so sánh đồng đại - lịch đại, đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ đối chiếu nhau để bổ sung, hỗ trợ làm nổi bật các khía cạnh mà người viết muốn nhấn mạnh Đồng thời so sánh để thấy được sự khác biệt, thấy được bước tiến so với các tác giả đương thời hay với hệ thống cùng đề tài sáng tác của nhà văn
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đã chỉ ra một cách chi tiết, cụ thể một số nét tiêu biểu trong nội
dung và nghệ thuật Cao lương đỏ Chúng tôi hi vọng khóa luận sẽ giúp bạn đọc
có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về tác phẩm này Khóa luận sẽ là một trong
những tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai yêu thích Cao lương đỏ của tác
giả Mạc Ngôn
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Nội dung Cao lương đỏ
Chương 2: Nghệ thuật Cao lương đỏ
Trang 14CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CAO LƯƠNG ĐỎ
Cao lương đỏ được hoàn thành vào năm 1998 và ngay năm ấy được trao
giải nhất của hội nhà văn Trung Quốc Trong tác phẩm nổi tiếng này, Mạc Ngôn nhà văn trở về và vượt qua truyền thống đã không ngần ngại khi đưa mọi sự vui, buồn, những điều tốt đẹp nhất và cả những cái xấu xa nhất lên trang văn của mình Trong chương này, sau khi nêu khái niệm nội dung tác phẩm văn học,
chúng tôi sẽ đề cập đến những nội dung cơ bản nhất trong Cao lương đỏ của
Mạc Ngôn: Phản ánh cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, phản ánh khát vọng tự do trong tình yêu và những tập tục của nông thôn Trung Quốc đương thời
1.1 Khái niệm nội dung tác phẩm văn học
Nội dung của tác phẩm văn học bắt nguồn từ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực Đó là một mối quan hệ nhất định của con người đối với hiện tượng đời sống đã được phản ánh, đó vừa là cuộc sống được ý thức vừa là sự ý thức cảm xúc - đánh giá đối với cuộc sống đó
Theo nhà dân chủ cách mạng Nga Sécnưsepxki, có ba khía cạnh nội dung của văn học là:
a Tái hiện các hiện tượng thực mà con người quan tâm
b Giải thích cuộc sống làm sao cho nó tốt hơn
c Đề xuất phán xét đối với các hiện tượng được mô tả
Lý tưởng văn học Trung Hoa từ thời cổ cũng đã rất coi trọng nội dung
khách quan của văn học Lưu Hiệp viết trong thiên Vật sắc của Văn tâm điêu long: “Nhà thơ cảm xúc trước sự vật, liên tưởng đến các loại khôn cùng Trong các cảnh bao la muôn vàn hình tượng, nhà thơ trầm ngâm, nghe, ngắm, tả lại khí chất, vẽ lại dung mạo của chúng Nhà thơ theo sự vật mà gửi tâm trí, lại còn thêm sắc thái, gợi âm thanh, tâm trạng cũng vì thế mà bồi hồi” [13; 250] Nguyễn Dưỡng Hào đề tựa Phong trúc tập của Ngô Thế Lân cũng viết: “Trúc không có ý với gió, nhưng gió đến thì trúc động mà sinh ra tiếng, lòng người ta không chứa cảnh vật, nhưng tiếp xúc với cảnh vật, lòng người cảm xúc mà thành
Trang 15thơ Trong các sự vật như chim bay, cá nhảy đều có thể trở thành cái chốt của cảm xúc lòng người” [13; 250]
Theo GS Phương Lựu cho rằng: “Nội dung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa khách quan và chủ quan, trong đó có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phần bắt nguồn từ cảm xúc, huyết mạch, lý tưởng của tác giả” [13; 249]
Quả đúng như vậy, trong cuộc sống có bao nhiêu vấn đề được nói tới sẽ
có bấy nhiêu sự việc được phản ánh trong văn học Văn học chính là tấm gương phản chiếu cuộc sống, bắt nguồn từ cuộc sống hay mối quan hệ giữa văn học và hiện thực Là nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại Nguyễn Minh Châu được coi là “người mở đường tinh anh và tài năng” trong sự nghiệp, đổi
mới văn chương nước nhà Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa chính là tấm gương
lớn của cuộc sống Đưa hình ảnh “chiếc thuyền” và câu chuyện về một gia đình làng chài ven biển để độc giả đọc và cùng suy ngẫm với nhân vật của mình, thông điệp mà ông nhắn nhủ hãy nhìn cuộc sống bằng con mắt đa chiều, đa diện
- đa thanh, đa phức chứ không phải phiến diện một chiều Con thuyền vừa ẩn dụ cho con thuyền nghệ thuật trên đại dương cuộc sống, vừa ẩn dụ cho kiếp người nheo nhóc, lênh đênh trên đại dương cuộc đời Hóa ra, cái đẹp của nghệ thuật cũng không hề trùng khít với cái đẹp của cuộc đời Đối lập với “cảnh đắt” trời cho bức tranh sương sớm là bức tranh cuộc đời chua xót, bất hạnh Do đó, khi đánh giá sự vật phải nhìn sâu vào bản chất cốt lõi bên trong của hiện tượng chứ đừng đánh giá cái nhìn chủ quan, bề ngoài sẽ không thấy hết được đối tượng
Nội dung tác phẩm văn học là cái quan hệ chủ quan - khách quan sống động được đánh thức dậy trong lòng khi tiếp nhận tác phẩm Maiacốpxki nói:
“Phải làm sao cho người đọc không phát phiền với các tư tưởng trên sân khấu,
mà là mang theo được những tư tưởng khi rời khỏi nhà hát” [13; 251]
Nội dung đích thực của tác phẩm văn học là cuộc sống được lý giải, đánh giá, ước mơ, là nhận thức và lý tưởng, nỗi niềm đã hóa thành máu thịt hiển hiện chứ không phải là khái niệm về hiện thực hay khái niệm về lý tưởng và tình cảm Nhà thơ Mai Thánh Du đời Tống (Trung Quốc) đã nói nội dung thơ là cái
Trang 16mà “tác giả cảm thụ trong lòng, người xem hiểu ngầm bằng ý, cơ hồ rất khó nói
ra bằng lời” [13; 251] Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao đã lên án chế độ
phong kiến thối nát, một xã hội “quần ngư tranh thực”, chính xã hội như vậy đã đẩy con người vào “bước đường cùng” mất hết nhân hình và nhân tính, bi kịch của một kiếp người sinh ra là người mà không được “làm người” Đồng thời thể hiện sự cảm thông xót xa của tác giả đối với người nhân dân và sự phê phán, tố cáo tầng lớp thống trị phong kiến Việt Nam giai đoạn trước cách mạng
Những yếu tố cơ bản của nội dung tác phẩm văn học là: đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm
Như vậy, nội dung của tác phẩm văn học chính là sự nhuần nhuyễn giữa nhận thức và tình cảm với tư tưởng, là sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan
1.2 Những nội dung cơ bản trong Cao lương đỏ
1.2.1 Phản ánh cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản đứng đầu là thủ tướng Nhật Bản Tanaca (Điền Trung) đã tấu lên Nhật hoàng kế hoạch chiến lược bốn bước như: đánh chiếm Đông Bắc Trung Quốc, độc chiếm Trung Hoa, làm chủ Châu Á, bá chủ toàn cầu Với âm mưu như vậy, đội quân Quan Đông của Nhật đã xâm lược Trung Quốc, tấn công bất ngờ vào Lư Cầu Kiều,
mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc trên quy mô cả nước Chiếm giữ vùng Đông Bắc Trung Hoa, không đầy một tháng sau biến Lư Cầu Kiều, Bắc Kinh, Thiên Tân, Vũ Hán, Quảng Châu, đều rơi vào tay Nhật
Quân Nhật dốc toàn lực càn quét những vùng chiếm đóng, chúng đi đến đâu, tội ác gieo rắc đến đó Gây nên bao cảnh khốn khổ, khiến đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, loạn lạc liên miên, đất nước chia cắt Trước tình hình
đó, nhân dân Trung Quốc đã vùng lên đấu tranh chống lại quân xâm lược Nhật,
sự hợp tác của Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản tạo thành mặt trận thống nhất dân tộc chống đế quốc Văn học luôn có nhiệm vụ phục vụ cuộc sống, cổ vũ chiến đấu, phản ánh hiện thực đang diễn ra Nhiều tác phẩm văn học Trung Quốc đã phản ánh cụ thể, chân thực hiện thực xã hội Trung Quốc giai đoạn
Trang 17kháng Nhật gây được tiếng vang lớn như: Vở kịch bảo vệ Lư Câu Kiều, Trận huyết chiến Đài Nhi Trang, Đài Nhi Trang bị hủy diệt, Trận tuyến giao thông ban đêm, Cao lương đỏ, Cao lương đỏ của Mạc Ngôn đã phản ánh tội ác quân
Nhật và cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc thời kì bấy giờ
1.2.1.1 Tội ác của quân Nhật
Sau khi chiếm được Lư Cầu Kiều, Nhật tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa Trong những năm bị Nhật chiếm đóng đời sống nhân dân Trung Quốc hết sức khó khăn Quân Nhật khi tràn vào Trung Quốc, gây nên bao cảnh trái ngang, chúng thi hành chính sách bắt phu, tàn sát người vô tội, hủy hoại môi trường sống, cướp vật nuôi, phá hoại hoa
màu, Tội ác của chúng vô cùng lớn, không thể dung tha Trong Cao lương đỏ,
Mạc Ngôn đã phản ánh tội ác tày trời của quân Nhật ở một số phương diện sau: Tội ác đầu tiên của quân xâm lược Nhật được phản ánh trong Cao lương
đỏ là chúng thi hành chính sách bắt phu Tác giả miêu tả số lượng người bị bắt
đi phu rất lớn Chỉ riêng ở các làng Cao Mật, Bình Độ, huyện Giao đã bắt tổng
cộng “bốn mươi vạn lượt người, đắp một con đường cái Giao Bình” [19; 31]
Chúng dùng các xe lớn, xe nhỏ, chở toàn đá và cát vàng đến bờ sông phía Nam
Để thực hiện mục đích xâm lược, quân Nhật xây dựng một chiếc cầu đá lớn và
bọn chúng đã bắt phu làm công việc hết sức nặng nề, “người phu phải đến công trường chuyển đá từ bờ Nam sang bờ Bắc đi qua một cái cầu gỗ lắc la lắc lư, tựa hồ có thể đổ bất cứ lúc nào” [19; 35] Công việc cực nhọc, rất vất vả, khó
khăn cho người phu bị bắt, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng
Người phu bị bắt làm việc vất vả, nặng nề như vậy còn bị bọn Nhật bắt phải cống nạp vật phẩm nếu không có là chúng hành hạ Cảnh bọn đốc công
đánh đập dân phu diễn ra liên tục: “Đứng ở bên bờ Nam, chừng là đốc công, dùng chiếc roi mây màu đỏ sẫm chọc vào đầu ông La Hán, máu trên đầu chảy xuống làm ướt cả lông mày, Trên đầu máu vẫn chảy, ông La Hán ngồi thụp xuống, bốc nắm đất đen, dịt vào vết thương, cơn đau nặng nề ở trên đầu nhức xuống tận mười đầu ngón chân, ông thấy đầu mình như bửa làm đôi, Tên đốc công cầm roi đứng nguyên chỗ cũ, ông La Hán khuân đá, sợ sệt đi qua trước
Trang 18mặt hắn Đốc công quất một roi vào cổ ông La Hán Ông chúi người về phía trước, ôm lấy hòn đá, ngã khuỵu xuống đất Hòn đá đập nát tay ông, cằm va vào
đá máu lại tóe ra” [19; 37] Bọn đốc công hách dịch, thị oai, nếu không có gì
cống nạp cho chúng liền bị đánh đập dã man Chính ông La Hán là nạn nhân, chỉ
vì mới đến công trường để chuyển đá từ bờ Nam sang bờ Bắc không đút cho hắn vài đồng, chẳng có gì biếu xén nên bị đánh tới tấp không cần lí do Ban đầu, đốc
công dùng roi mây màu đỏ sẫm chọc vào đầu ông La Hán khiến “máu trên đầu chảy xuống làm ướt cả lông mày, ông vác hòn đá vừa vừa, từ bờ Nam đi sang bờ Bắc” [19; 36] Đây chỉ là tín hiệu ám chỉ để cho ông cống nạp nhưng khốn nỗi là
người mới đến, không hiểu được ý ngầm cho nên ông La Hán vẫn cứ thản nhiên
làm khiến hắn “cầm roi mây như hồn ma lượn đi lượn lại trên công trường Đám dân phu thấy ông La Hán đi trên công trường đầu chảy máu dấp dính họ kinh ngạc đến nỗi con ngươi mắt họ cứ đảo lên đảo xuống Ông La Hán vừa vác
đá đi được mấy bước, bỗng thấy sau lưng có ngọn đá vút qua rồi thấy ran rát ở lưng Ông ném hòn đá xuống, nhìn tên đốc công đang cười mình Ông La Hán nói: Bẩm quan lớn, có chuyện gì thì cứ nói, sao lại giơ tay đánh người? Tên đốc công mỉm cười không đáp, lại giơ roi mây, quất vào lưng ông Ông La Hán cảm thấy chiếc roi mây như cắt mình thành hai đoạn, nước mắt nóng cay từ trong hốc mắt trào ra Máu bốc lên đỉnh đầu, miếng đất đắp trên đầu như rung lên tựa
hồ như muốn vỡ toác ra Ông La Hán quát:
- Bẩm quan!
Tên đốc công lại quất một roi nữa Ông La Hán nói:
- Bẩm quan, đánh tôi vì tội gì?
Tên đốc công rung chiếc roi mây trong tay, cười sằng sặc:
- Cho mày mở mắt ra đồ chó chết” [19; 37]
Đoạn trích trên đã cho thấy tội ác của đốc công Nhật đối với dân phu Người phu phải làm cực nhọc, bị thực dân bóc lột về sức khỏe lại bị hành hạ dã man khiến con người rơi vào cảnh thật đáng thương Ông La Hán chỉ là một nạn nhân tiêu biểu nhất trong số nhiều nạn nhân bọn xâm lược
Trang 19Chúng bắt người dân lao động khổ sai, cực nhọc ấy vậy mà miếng cơm cũng không được ăn no, gạo để nấu thì mốc xanh mốc đỏ khiến cái dạ dày quen
ăn cao lương của ông La Hán cứ “muốn đẩy ra” Hình ảnh miếng ăn càng đau
đớn vô cùng khi người tạp dịch, bọn dân phu mệt nhoài, uể oải đi đến đứng
quanh chiếc xe đưa cơm xúm xít ăn một cách ngấu nghiến “ăn như hổ đói”, nếu
“chẳng có đũa thì nhất loạt dùng tay bốc” [19; 40] Họ ăn vẫn chưa no và khi chiếc xe chuẩn bị lăn bánh “bọn dân phu liếm môi, mắt nhìn chằm chằm vào những hạt cơm còn dính ở trong thùng” [19; 40], ánh mắt hiện lên niềm tiếc nuối “nhưng không ai dám động đậy” [19; 40]
Khi mọi việc đã hoàn tất, cơm chiều đã ăn xong thì dân phu bị lùa vào
một cái lán “to như chuồng ngựa” làm bằng mấy cái cột gỗ, trên lợp bằng mảnh
vải bạt, trước cửa lán đều có lính đi tuần tra và chó béc - giê Mùi hôi thối bốc lên, mùi nước đái của la ngựa cạnh lán đưa tới Quân giặc đối xử tàn bạo với người dân phu từ việc làm, miếng ăn đến giấc ngủ Chúng coi những người dân phu chẳng khác loài vật, chúng canh phòng cẩn mật, nghiêm ngặt sợ họ bỏ trốn
Vùng quê Cao Mật của Mạc Ngôn rất nghèo khổ Trong Cao lương đỏ
cuộc sống sinh hoạt của người dân không hiện lên một cách trực diện nhưng chỉ qua lời của người kể chuyện người đọc có thể hình dung con người nơi đây có cuộc sống thế nào Người dân hay lam, hay làm, chịu thương, chịu khó nhưng lại phải sống trong cảnh đói nghèo, vất vả Cả cuộc đời họ gắn liền với mảnh ruộng mà quanh năm vẫn không đủ ăn, thức ăn đơn sơ đạm bạc không có gì khác ngoài “cây cao lương” - một loại giống như kê trồng ở vùng Đông Bắc Trung Quốc có thể nấu ăn, có thể nấu rượu Đời sống người dân vốn cực khổ nay càng điêu đứng hơn khi quân Nhật tràn vào Chúng áp bức người dân, phá hoại nền kinh tế, cướp đất đai, cướp gia súc, vật nuôi, hủy hoại vô số hoa màu
Khi làm con đường cái Giao Bình, khắp cánh đồng cao lương “trải dài bảy mươi dặm, rộng sáu mươi dặm mêng mông như sóng xanh chỉ mới cao đến thắt lưng người, biết bao công sức của dân, mồ hôi nhỏ ròng ròng xuống đất mới được những ruộng cao lương đẹp đẽ, tràn đầy sức sống đã bị những chiếc xe chở đá xéo nát hai vạt cao lương bên đường La, ngựa đều có người dắt, đi đi lại lại
Trang 20trên ruộng cao lương Dưới móng sắt, cao lương bị gẫy nát, nằm rạt, lại bị trục
đá lăn đi lăn lại đè dí xuống, các con lăn đều biến thành màu xanh, nhựa cao lương thấm ướt cả con lăn” [19; 35] Con đường được dân chúng đắp nên “dưới làn roi và lưỡi lê của bọn Nhật và tay sai” [19; 24] Lúc giao tranh với Nhật,
dưới trận mưa đạn bắn xối xả, cao lương trên đầu anh Câm, Đậu Quan bị đứt rụng rào rào, những cây cao lương thân bị bắn tơi bời tung lên trời, tứ phía
Không chỉ hành hạ dân phu, cướp đất đai, phá hoại cây lương thực, bọn Nhật còn dẫn quân ngụy đến thôn, xóm, bắt lừa, la, ngựa của dân Nhà Đậu
Quan bị “hai tên Nhật mặc áo vàng tay lăm lăm cầm súng sắp sẵn lưỡi lê đứng giữa sân Hai người Trung Quốc mặc áo đen cũng có súng, định cởi chạc hai con la đen buộc ở gốc cây thu Ông La Hán nhiều lần lao đến tên lính ngụy nhỏ
bé đang cởi chạc la, nhưng lần nào cũng bị tên lính ngụy to lớn dùng nòng súng cản lại” [19; 32] Ông La Hán can ngăn đều bị chửi “cút đi, còn la hét tao sẽ giết cái mạng mày” [19; 33] cởi không được, con la không chịu đi, chúng lại chĩa nòng súng vào ông quát: “Lão già khốn khiếp, mày phải tự dắt ra công trường”
[19; 33] Bọn chúng buộc la, ngựa vào mấy chục cây cọc cách lán công trường không xa
Như vậy, với người dân nơi đây đất đai bị giặc Nhật lấy mất, cây cối lương thực bị hủy hoại, vật nuôi vốn là thực phẩm - phương tiện đi lại, chuyên
chở cũng bị chúng tước đoạt Trong lòng người dân “biết bao đau khổ khi nghe tin quân Nhật Bản sắp làm đường trên cánh đồng, mọi người trong làng đều lo lắng không yên, sốt ruột sốt gan chờ đợi tai họa giáng xuống” [19; 32] Còn gì
khổ bằng khi phải tự đem những vật mà mình bỏ công sức làm ra, rất thân thiết, yêu quý để cống nạp chúng Người dân mất hết mọi thứ, rơi vào cảnh cùng đường mạt vận, đói khát, không việc làm Đây chính là một nguyên nhân sâu xa của những cuộc đấu tranh chống lại quân Nhật của nhân dân Trung Quốc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp tới hồi kết thúc, Nhật tăng cường quân vào các nước Đông Dương Quân Nhật khi vào Việt Nam, đời sống nhân dân ta vốn khổ cực khi bị thực dân Pháp chèn ép nay lại bị Nhật bóc lột, đất nước chịu cảnh “một cổ hai tròng”, nhân dân ta “đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ
Trang 21cho Nhật” Chúng thi hành chính sách phá hoại kinh tế “nhổ lúa trồng đay”, bắt nhân dân ta phải tự tay nhổ hết lúa rồi trồng cây cao su, xây cảng, nhà máy, để
phục vụ chúng Chúng còn “cưỡng bức người sản xuất bán thực phẩm, trước hết
là lúa gạo với giá rẻ mạt, một phần để tích trữ chuẩn bị chiến tranh, phần khác
để cung đốn cho Nhật Từ năm 1940 - 1945, Pháp đã cung cấp cho Nhật trên 3 triệu 50 vạn tấn gạo, 20 vạn tấn ngô Trong khi nhân dân ta thiếu ăn, thì chúng dùng gạo để nấu rượu cồn thay xăng, đốt thóc thay than, chạy máy ở miền Nam”
[7; 161], khiến đất nước điêu đứng, đời sống người dân khốn khổ, đẩy dân tộc Việt Nam vào nạn đói khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử nước nhà, hơn hai
triệu đồng bào ta chết đói Vợ nhặt - Kim Lân miêu tả bóng những người đói
“dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma” [12; 24], chết chóc hiện diện ở khắp mọi thôn cùng ngõ hẻm Những con người “đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên, xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường, không khí bao quanh vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” [12; 24]
Đói tới mức người ta có thể “nhặt” được vợ như nhặt cái rơm, cái rác nơi đầu đường xó chợ mà không cần cưới xin theo phong tục Người con gái dám bỏ qua
cả danh dự, nhân phẩm để theo không một người đàn ông mới chỉ gặp có hai lần Chỉ vài ba câu bông đùa ỡm ờ mà anh cu Tràng có được vợ Tất cả cũng chỉ
vì “đói”, chính quân xâm lược đã gây tội ác, biến giá trị của con người, thân phận con người trở nên rẻ rúng không bằng đồ vật
Bọn Nhật không chỉ phá hoại kinh tế, cướp của, mà chúng còn thẳng tay giết người Trung Quốc Tác giả không dành nhiều trang viết cho cảnh đầu rơi máu chảy, cảnh chết chóc diễn ra như thế nào, nhưng chỉ qua vài dòng ngắn ngủi người đọc vẫn hình dung, như đang tận mắt nhìn thấy cuộc tàn sát đẫm máu mà người dân Cao Mật phải trải qua khi quân xâm lược kéo đến Chúng thẳng tay chém giết đồng loại một cách không thương tiếc Khi tư lệnh Từ dắt
tay “bố tôi” đi trong cánh đồng cao lương, “hơn ba trăm xác đồng bào nằm ngổn ngang, người mất tay kẻ cụt chân, máu chảy thấm cả một dải cao lương
Trang 22rộng lớn, biến đất đen dưới gốc cao lương thành một lớp bùn nhày nhụa, khiến
họ phải thụt chân không dám bước nữa” [19; 16] Cảnh người chết như ngả rạ,
trôi nổi, ngổn ngang cho thấy sự độc ác, thú tính của bọn Nhật Chưa hết, chúng còn mượn tay giết người càng cho thấy thủ đoạn thâm độc, coi mạng sống con người như cỏ rác, không bằng con vật Chúng bức chủ hàng bán thịt chó dùng
dao lột da cụ La Hán đe dọa mọi người Chủ cửa hàng ấy là Tôn Ngũ, “người thấp bé, mình nung núc những thịt, bụng như cái trống, đầu trọc long lóc, mặt mũi đỏ lừ Khoảng cách giữa hai con mắt ti hí rất ngắn, mắt chìm sâu ở hai bên mũi Tay trái hắn cầm con dao bầu, tay phải xách thùng nước lã, lẩm bẩm đi tới trước mặt ông già La Hán” [19; 66] Anh ta chững lại không làm gì liền bị tên thông ngôn dọa nạt: “Róc cho khéo, róc không khéo sẽ cho chó béc - giê cắn mày” [19; 67] Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan Tôn Ngũ tiến hành công việc
xẻ thịt ông già Hành động trên được Mạc Ngôn miêu tả chi tiết: “Tôn Ngũ cầm lấy dao, tiếp tục lột da bắt đầu từ vết thương trên đầu ông lột xuống, tiếng dao kêu soàn soạt, hắn lột rất tỉ mỉ Da đầu ông La Hán tụt xuống Lộ ra từng tảng thịt” [19; 70]
Đọc những trang sách của Mạc Ngôn, người đọc không khỏi rùng mình trước tội ác của quân Nhật Chiến tranh, bom đạn Nhật không bỏ qua một ai, cả người lớn - trẻ nhỏ Gia đình Vương Văn Nghĩa có ba đứa con Ba đứa con nuôi bằng cao lương lớn như thổi, đầu to, tai cũng to Một hôm, hai vợ chồng đi làm
đồng, “ba đứa con ở nhà chơi trong sân, một chiếc máy bay Nhật kêu ù ù, bay qua xóm Máy bay “đẻ trứng” rơi trúng sân nhà xé tan ba đứa con ra thành từng mảnh, mỗi đứa bay về một phía, đứa bị quẳng lên xà nhà, đứa treo lên ngọn cây đứa còn lại dính chặt vào tường nhà ” [19; 117]
Đội quân của Từ tư lệnh chiến đấu quả cảm nhưng cũng bị Nhật giết hại:
“Trên bờ đê hai bên đường, trong ruộng cao lương, xác người và binh lính nằm ngổn ngang Lưu Đại Hiệu vẫn thổi kèn liên tục, máu đỏ chảy ra từ mép, từ lỗ mũi của anh” [19; 141] Anh Câm, người dũng cảm nhất, đạt thành tích giết được hai tên Nhật đã bị ngã “đít bệt xuống mui xe, trên ngực có mấy tia máu phun ra”, rồi hai anh em nhà họ Phương, Phương Lục trong lúc cúi xuống châm
Trang 23dây dẫn hỏa khẩu súng cối “bụng bị trúng đạn, một mẩu ruột xanh từ từ lòi ra ngoài”, mặt anh cũng bị “trúng đạn, sống mũi bị bắn dập nát, máu bắn cả vào mặt bố” [19; 133] Lưu Đại Hiệu chân bị thương lết những bước khó nhọc Giết được mười mấy tên giặc thì thi thể các đội viên cũng “nằm la liệt trên đê, dưới đê”, đội viên “bị thương nằm rên rỉ trong ruộng cao lương” [19; 134]
Nhân vật nữ Phượng Liên anh dũng chống Nhật cùng vợ Vương Văn
Nghĩa gánh bánh khao quân đã hi sinh nơi chiến trường: “Nhật bắn xuống một làn đạn dày đặc, ba khẩu súng máy của bọn chúng bắn trên mui xe Bố nhìn thấy ngực bà tôi thủng mấy lỗ Bà kêu lên một tiếng, đầu gục xuống, đòn gánh rơi đè lên người bà [19; 113] “Chẳng mấy chốc máu ở ngực bà đã làm ướt cả đầu, cả cổ bố Chiếc ngực trắng trẻo của bà bị nhuộm xanh, rồi lại nhuộm đỏ bởi chính máu của mình [19; 119] Sau khi Phượng Liên ngã xuống “thì đầu vợ Vương Văn Nghĩa cũng chảy ra một thứ nước vừa vàng vừa đỏ, nước bắn rõ thật xa, bắn cả xuống cao lương dưới chân đê Bố nhìn thấy người đàn bà nhỏ nhắn ấy bị trúng đạn, lùi một bước, ngã xuống bờ Nam đê, rồi lăn xuống lòng sông Gánh canh đậu xanh của chị, thùng thứ nhất đổ, thùng thứ hai cũng đổ, nước canh lênh láng như máu người anh hùng” [19; 114] Đi trên đê, Vương
Văn Nghĩa tay cầm cây súng bắn chim, mắt trừng, miệng há, đau khổ vô cùng,
cất tiếng gọi vợ, vừa dứt lời “mấy chục viên đạn xuyên vào bụng làm thủng một mảng lớn Những viên đạn có dính ruột bay vun vút qua đầu tư lệnh Từ Vương Văn Nghĩa chúc đầu xuống mặt đê, rồi cùng lăn xuống lòng sông, chỗ cách vợ anh một cái cầu” [19; 116]
Lịch sử đã sang trang, song những nỗi đau mà quân phát xít gây ra đối với loài người vẫn còn đó Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, tội ác của quân
phát xít Đức với người Nga cũng rất tàn bạo, mất nhân tính Tác phẩm Khoa học căm thù đã viết về tội ác của quân Đức như sau: “Những xóm làng bị đốt trụi, hàng trăm đàn bà, trẻ em, người già bị bắn chết” [25; 234] Rồi cảnh: “Trên những cành cây mọc ở bờ khe, treo lủng lẳng những thân hình đẫm máu không chân không tay bị lột gần hết da ở dưới đáy khe có tám người bị giết chất thành một đống, một đống thịt lớn bị chặt vụn” [25; 235]
Trang 24Về bản chất tội ác của quân xâm lược là giống nhau Sự thú tính, giết chết đồng loại một cách dã man làm dấy lên nỗi đau xót, nhức nhối mãi trong lòng người đọc
Như vậy, Cao lương đỏ của Mạc Ngôn đã miêu tả tội ác tày trời của quân
Nhật đối với nhân dân Trung Quốc Miêu tả tội ác của Nhật, tác giả đã thể hiện thái độ lên án chiến tranh Chỉ vì mục đích mở mang bờ cõi, đem tài nguyên của các nước về làm giàu cho chính quốc mà bọn phát xít Nhật đã gây ra bao cảnh trái ngang, đau khổ, chết chóc Chiến tranh đã lùi xa nhưng tội ác mà quân phát xít Nhật, Đức và đồng bọn của chúng gây ra cho người dân Trung Quốc, người Nga và cho toàn nhân loại là không thể tha thứ Tội ác của chúng khiến trời
không dung, đất không tha Nhà văn A Tônxtôi đã từng viết: “Máu đã chảy vì
vẻ đẹp của thế giới Vẻ đẹp ấy không phải là trò vui chơi, không phải là cái mà
ta vui thích và không phải là bộ áo ngày hội Vẻ đẹp đó là sự tái tạo và xây dựng lại thiên nhiên hoang dã với bàn tay và tài năng của con người Vì cái đó mà ta đáng sống và đấu tranh” [5; 742] Vì thế, với tinh thần yêu nước và lòng căm
thù giặc sâu sắc nhân dân Trung Quốc đã vùng lên, đoàn kết một lòng đấu tranh chống lại quân xâm lược
1.2.1.2 Cuộc đấu tranh chống Nhật
Trước tội ác cùng hành động tàn bạo của Nhật, người dân nơi đây không
thể nhắm mắt cho qua, “con giun xéo lắm cũng quằn”, họ đã đứng dậy chống lại quân xâm lược Cao lương đỏ của Mạc Ngôn đã phản ánh quá trình đấu tranh
chống quân Nhật của nhân dân Trung Quốc thời bấy giờ Nhân dân Cao Mật
Đông Bắc đã nhất tề đứng lên đập tan âm mưu của địch làm nên cuộc “đại cách mạng” đưa họ lưu danh muôn đời Từ những người bình thường thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, chiến tranh xảy ra họ bỗng chốc trở thành anh hùng “tận trung báo quốc” Cuộc chiến đấu chống lại quân địch rất khó khăn, gian khổ bởi
họ chỉ là người nông dân quen việc đồng ruộng, chưa được tập luyện công phu, nhưng với lòng yêu nước và ý chí quyết đánh đuổi quân xâm lược, họ đã bảo vệ được tấc đất của quê hương
Trang 25Tinh thần yêu nước của người dân được thể hiện ở mọi tầng lớp, mọi lứa
tuổi không kể người già, em nhỏ, nông dân, binh lính, đội viên, “đoàn quân của
tư lệnh Từ, kể cả người điếc, người câm, người què chỉ có bốn mươi người, nhưng họ đóng lại ở trong làng làm náo động gà bay, chó nhảy, tựa hồ cả làng đều là lính” [19; 28] Tinh thần ấy thấm sâu vào máu thịt của mọi người, ngay
cả người bị thương tật, dị dạng, ốm đau Đội quân của Từ Chiếm Ngao là những con người như thế: Bạn cũ của tư lệnh Từ là một người câm - một chân ông bị thọt ngay từ khi lọt lòng mẹ, đi lại lắc la lắc lư, có cả người điếc, người què Vợ chồng Vương Văn Nghĩa có ba đứa con bị máy bay Nhật thả bom giết chết Mang trong mình nỗi đau, hai vợ chồng đã xin Từ Chiếm Ngao được gia nhập
đội quân chống Nhật Đậu Quan - cha “tôi” gia nhập đội quân khi còn ở độ tuổi
thiếu niên Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nhưng họ gia nhập đội quân với mục đích chung là chiến đấu chống lại quân Nhật
Người dân Trung Quốc chiến đấu chống lại quân thù bằng vũ khí thô sơ,
đơn giản: Súng, cái ngắn, cái dài, cả “súng bắn chim”, “kiếm”, có “súng cối” bắn được viên đạn to bằng quả cân và cả những nông cụ như “răng bừa bằng sắt”, “cuốc”, “đao”, Vũ khí mộc mạc thô sơ có gì dùng nấy bởi người dân còn
nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế chưa phát triển, đời sống khó khăn Loại vũ khí được xem là mạnh nhất, mới nhất và hiện đại nhất là khẩu súng lục Brô - ninh của Từ
tư lệnh thì “đã cũ, nước thép tôi đã hết” [19; 52] Trái lại, đối thủ của họ được
trang bị toàn những vũ khí tối tân, hiện đại: máy bay thả bom, ô tô gắn súng máy
“đạn bắn ra thành chiếc quạt lửa khổng lồ” [19; 115], lúc hướng về phía Đông con đường, lúc hướng về phía Tây con đường, những tia đạn bắn vun vút “đạn xuyên vào đê, từng vòng bụi vang bốc lên, kêu bục cục” [19; 116] Súng bắn hiện đại, xe còn hiện đại hơn, Đậu Quan phát hiện những chiếc ô tô “lao vun vút như sao sa Phía sau xe là cái đuôi màu vàng dài, trên đầu xe phát ra tia sáng trắng lia quét lối đi” [19; 110], tiếng động cơ phành phạch nghe như tiếng gió
trước khi trời đổ mưa Như vậy, so sánh về phương tiện chiến đấu, tương quan
lực lượng đã có sự không cân sức, đội quân của Từ Chiếm Ngao quá ít ỏi “bốn mươi người”, có người vốn làm ở xưởng rượu cao lương, ngoài ra còn có dân
Trang 26chúng và thổ phỉ Đối lập với họ là đội vệ binh khí thế ngùn ngụt với những súng lớn - súng nhỏ, xe lớn, xe nhỏ Ấy vậy mà họ vẫn làm nên lịch sử để lại tên tuổi lưu danh muôn đời với hậu thế, họ đã đánh đuổi quân xâm lược với chiến thắng giòn rã
Thuận lợi về phương tiện chiến đấu, quân Nhật tấn công vào Cao Mật bằng con đường Giao Bình, qua sông Mặc Thủy Chúng dùng những vũ khí tối tân, hiện đại nhất Những chiếc xe tiến vào nơi Từ Chiếm Ngao cho quân mai phục
“đang lao vun vút như sao sa Hai chiếc xe giữa, chất đầy một đống bao trắng cao như núi Chiếc xe sau cùng, cũng như chiếc xe đầu, chở hai mươi tên lính Nhật đội mũ sắt Xe của bọn giặc dừng lại ở đầu cầu, tiếng máy nổ lúc to, lúc nhỏ” [19; 115] Với sức mạnh của những vũ khí hiện đại, quân giặc liên tục xả những làn đạn như mưa xuống mảnh đất Cao Mật: “Lại một trận mưa đạn bắn xối xả, cao lương trên đầu họ bị đứt rụng rào rào Chúng bắn tới tấp, không ngừng” [19; 116]
Trước sự tấn công dồn dập bằng đạn, quân du kích đã kiên cường chiến
đấu, chống trả quyết liệt Khi tư lệnh Từ hô: “Hỡi các anh em, đánh đi!” tất cả đội du kích nhất tề xông lên, “Từ Chiếm Ngao bắn ba phát, hai tên lính Nhật nằm trên mũi xe, máu đen chảy lênh loáng trên đầu xe Khẩu súng cối của anh
em nhà họ Phương cũng gầm lên, phun ra một lưỡi lửa to rộng quét lên mặt sông, trông đến là sợ, những viên bi thép, những quả trứng thép lao tất cả vào những chiếc bao trắng ở chiếc xe thứ hai” [19; 131] Thế rồi những chiếc răng bừa của đội du kích giờ mới phát huy công dụng của nó, “chiếc xe thứ nhất của bọn giặc tăng tốc lao lên đầu cầu, bánh trước đè lên răng bừa chổng ngược Lốp xe nổ xì xì ra hết hơi Chiếc xe rú lên ghê sợ, những chiếc bừa nối liên hoàn đều bị đẩy về phía sau kêu răng rắc” [19; 132] Sự tấn công của quân Nhật đã bị đội du kích chặn lại, “xe giặc như những con rắn lớn nuốt phải con nhím, cổ quằn quại đau đớn” [19; 132] Khi tất cả bọn giặc trên chiếc xe thứ nhất nhảy ùa xuống thì chỉ huy Từ lại càng hăng hái Ông hét “xung phong!” và vung súng
nhảy lên, không cần ngắm nhưng từng thằng giặc một đều khom người xoay lưng lại trước họng súng của ông cho thấy tài năng bắn súng tuyệt vời của người
Trang 27anh hùng Các đội viên của ông tuy mỗi người một khiếm khuyết, không lành lặn nhưng họ cũng không thua kém chủ tướng, họ lao đến trước xe, vây lấy bọn giặc, bọn giặc sau xe sợ hãi đều phải bắn chỉ thiên Dũng cảm nhất là anh Câm
“tung mình bay lên xe, hai tên lính xỉa lưỡi lê ra đón, anh Câm dùng mã tấu quật mạnh gạt được lưỡi lê ra, mã tấu thuận đà lia một cái, đầu một thằng giặc còn nguyên cả mũ sắt, bay trong không trung” [19; 132] Lúc bấy giờ, bọn giặc
ở hai chiếc xe sau liền hạ thấp súng xuống, bắn như mưa, đội viên đội du kích
đổ đè lên xác tên giặc
Trận chiến đang diễn ra ác liệt, vào giai đoạn nước rút, tư lệnh Từ Chiếm Ngao càng đốc thúc mọi người khẩn trương tiêu diệt quân giặc, không để cho chúng chạy thoát mặc dù đội viên lúc này cũng bị thương không ít Ông hét anh
em Phương Lục “nổ pháo giết chết lũ chó khốn nạn đi!” [19; 133] Được lệnh,
anh em nhà họ Phương kéo khẩu súng cối đã nhồi thuốc sẵn lên đê, Phương Lục cúi xuống châm dây dẫn hỏa thì bị trúng đạn, Phương Thất cầm lấy bùi nhùi lửa run lập cập đi vào dây dẫn hỏa, nhưng không làm sao cháy được Xe giặc sắp rút
khỏi cầu tư lệnh Từ Chiếm Ngao “bèn lao đến giật lấy bùi nhùi lửa, đưa lên miệng thổi, bùi nhùi đỏ lên dây dẫn hỏa nổ lẹp bẹp” [19; 133] Cuộc chiến đấu
diễn ra ác liệt, không khí căng thẳng, dù cho đội quân có hi sinh nhưng tinh thần yêu nước vẫn được phát huy tới phút cuối cùng
Kết thúc truyện Cao lương đỏ, tác giả miêu tả quân giặc thua trận nhưng
đội du kích cũng chịu tổn thất lớn lao Giết được giặc, thi thể các đội viên cũng
“nằm la liệt trên đê, dưới đê, đội viên bị thương nằm rên rỉ trong ruộng cao lương” [19; 134] Ngay cả vị chỉ huy tài ba Từ tư lệnh cũng bị thương “cánh tay phải của ông bị trúng đạn, súng lục rơi xuống” [19; 135]
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cuộc chiến đấu không cân sức, mà sâu
xa hơn tác giả còn phản ánh điều gì? Sách giáo khoa từ trước đến giờ viết rằng: Nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đứng lên vũ trang chống lại
quân thù, nhưng tư lệnh Từ Chiếm Ngao trong Cao lương đỏ lại xuất thân từ
một tên thổ phỉ, vô cùng ngang tàng vẫn chỉ huy được dân binh chống lại quân Nhật Xưa nay người ta quen nhìn từ góc độ chính trị, giai cấp để quy định diện
Trang 28mạo, tính cách của người nông dân, nhưng Mạc Ngôn không như vậy, ông nhìn
họ ở trạng thái bản năng, mang ý thức dân tộc tự phát, lúc nào cũng chỉ muốn báo thù Ý chí báo thù ngùn ngụt như ngọn lửa thiêu đốt trong lòng người dân, chỉ cần có một tác động nhỏ là bùng lên mạnh mẽ Nhưng sự bùng lên ấy phải được hỗ trợ từ mọi phía mới làm nên thành công, còn không chỉ là sự hi sinh vô ích, không phải một mà lớp lớp người Từ Chiếm Ngao cùng các đội viên của
mình nếu được Đội trưởng Lãnh và binh lính Quốc dân Đảng của hắn “không đến chậm một bước” mà kết hợp lại, giúp đỡ ngay từ phút đầu tiên, thì những
ngày đầu đánh đuổi Nhật sẽ không có chuyện bị tổn thất, bi kịch như nó đã diễn
ra, để người chỉ huy phải thốt ra tiếng chửi “thằng rỗ Lãnh kia, mày hãy mở mắt chó ra mà nhìn đàn em của tao” [19; 141] Tiếng chửi vừa là niềm căm phẫn của
vị tư lệnh đối với chính quyền Quốc dân Đảng, đồng thời còn là niềm thương xót, nuối tiếc khôn cùng cho những người đã kề vai sát cánh cùng ông chiến đấu
để giờ, người bị thương, người bị bắn chết “trên bờ đê hai bên đường, trong ruộng cao lương, xác người và binh lính nằm ngổn ngang” [19; 134] Chỉ tới
phút cuối, khi xe Nhật rút gần hết mới thấy những người Quốc dân Đảng xuất
hiện “hơn một trăm người mặc quần áo lính màu tro, bắn chết, đâm chết được mấy chục tên lính Nhật chạy lên bờ đê” [19; 140]
Qua đó, tác giả phản ánh sự thiếu hợp tác của chính quyền Quốc dân Đảng với những người dân yêu nước chống Nhật Chính vì vậy mà dẫn tới sự hi sinh oan uổng không đáng có của các chiến sĩ trên mặt trận giai đoạn bấy giờ Đây cũng là một thực tế diễn ra ở Trung Quốc những năm kháng Nhật Sự thiếu hợp tác, thiếu tinh thần đoàn kết của quân Quốc dân Đảng với Đảng Cộng Sản dẫn tới thất bại, hi sinh to lớn của những người yêu nước Tác giả đã phản ánh chân thực hiện thực xã hội Trung Quốc, đồng thời ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm của nhân dân trong công cuộc kháng Nhật cứu nước Có thể nói, cuộc đấu tranh chống Nhật là sự kết hợp giữa lòng căm thù giặc sâu sắc và tình yêu quê hương tha thiết của người dân Trung Quốc So sánh về tương quan lực lượng, vũ khí chiến đấu, đội quân của Từ tư lệnh đều thua kém kẻ thù nhưng trước sự tấn công của quân Nhật, đội du kích đã chống trả quyết liệt Mỗi người dân đã chiến
Trang 29đấu quên mình vì vận mệnh đất nước, tự do cho nhân dân Tinh thần dũng cảm
ấy vẫn được phát huy cho tới phút cuối cùng
1.2.2 Phản ánh khát vọng tự do trong tình yêu
Cao lương đỏ viết về cuộc chiến đấu chống Nhật của nhân dân vùng
Đông Bắc Cao Mật nhưng đã lồng ghép vào đó câu chuyện tình yêu Câu chuyện chống Nhật hòa quyện với câu chuyện tình yêu tạo nên một thiên tình sử
bi tráng, hào hùng, thấm đẫm chất lãng mạn Đó là mối tình giữa Phượng Liên - Chiếm Ngao Phượng Liên năm mười sáu tuổi, mặt hoa, da phấn lại bị gả cho
một tên hủi “đầu bẹt và dài, mi mắt dưới loét đỏ, đôi bàn tay nhọn như móng chân gà, mặt mũi thì co rúm” [19; 120], luôn trong một tư thế “ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu dưới giường” [19; 120] Người con gái bị gả bán chỉ vì ông bố
tham tiền, nhẫn tâm Tưởng chừng như cuộc đời cô phải chung sống với người chồng bệnh tật thì một biến cố lớn đã xảy ra với nhân vật, cô được người phu kiệu giải thoát Tình yêu của Từ Chiếm Ngao và Phượng Liên không phải sinh
ra là của nhau, không được định đoạt qua hôn lễ từ trước mà chỉ là sự tình cờ của một mối nhân duyên Hai người biết nhau khi Phượng Liên lên kiệu hoa về nhà chồng còn Từ Chiếm Ngao là một trong những phu kiệu ngày đó Ngay giây phút người anh hùng khẽ khàng, nhẹ nhàng nắm lấy bàn chân bị lòi ra ngoài
kiệu của Phượng Liên “nhè nhẹ đẩy vào trong kiệu như cầm con chim nhỏ chưa
đủ lông cánh” [19; 83], cử chỉ dịu dàng, lịch thiệp ấy đã khiến cho người con gái ngồi trong kiệu xúc động và rất “muốn vén màn che, nhìn xem người thanh niên dịu dàng kia là người như thế nào” [19; 83]
Trên đường đưa cô dâu về nhà chồng, đoàn kiệu gặp tên cướp ở đầm Con Cóc Bị tên cướp bắt đi vào ruộng cao lương, Phượng Liên nhìn phu kiệu Từ với ánh mắt khảng khái, khích lệ và cổ vũ Bởi trong những người phu kiệu chỉ có
Từ Chiếm Ngao là không hề sợ hãi trước sự uy hiếp của tên cướp: “Ông bình tĩnh tiến về phía tên cướp, ông tiến một bước, tên kia lùi một bước Mặt tên cướp bỗng hoa lên, từng dòng mồ hôi sáng trong trắng bệch từ trên bộ mặt kinh hoàng chảy xuống Khi Từ Chiếm Ngao còn cách hắn ba bước, hắn xấu hổ kêu lên một tiếng, quay người chạy Từ Chiếm Ngao bay người, nhằm trúng mông
Trang 30hắn, đá một cú rất nhanh Người tên cướp nằm bẹp dí trên ngọn cỏ, lướt đi trên hoa cúc thỉ xa, chân tay lảo đảo trên không như đứa bé thơ dại” [19; 88]
Hành động cứu Phượng Liên thoát khỏi tên cướp của Từ Chiếm Ngao đã tạo nên một niềm tin tưởng mãnh liệt, một thiện cảm tuyệt đối trong lòng Phượng Liên đối với ông Cuộc sống luôn có những hiểm nguy, Từ Chiếm Ngao
có thể là chỗ dựa vững chắc cho cô, sẽ bảo vệ, che chở cho cô
Sau khi thoát khỏi tên cướp, Từ Chiếm Ngao “đỡ bà lên kiệu”, hành động
này một lần nữa lại làm cho Phượng Liên cảm kích, rung động, người con gái đã
“xé tấm màn che kiệu, nhét vào một góc kiệu, bà hít thở không khí tự do, ngắm nhìn vai rộng, lưng eo của Từ Chiếm Ngao” [19; 89] Cô thật sự có thiện cảm,
lòng yêu mến, một tình yêu chớm nở với phu kiệu Từ
Giây phút Từ Chiếm Ngao đặt bàn chân của cô vào trong kiệu như đặt
“một con chim non”, cứu Phượng Liên ở đầm Con Cóc thoát khỏi bàn tay tên cướp, trong lòng cô đã trào dâng một cảm xúc mãnh liệt, rung động nơi con tim
Về tới nhà họ Đơn “da đầu của Từ Chiếm Ngao được nước mưa rửa sạch bóng loáng, trong con mắt của bà trông như một vành trăng tròn” [19; 91] Có thể,
Phượng Liên đã cảm nhận được người phu kiệu trong tương lai sẽ làm nên điều
vĩ đại Từ Chiếm Ngao như một vầng dương sáng, làm thay đổi cuộc sống đem tới niềm vui, sự yên bình, là chỗ dựa bảo vệ cho cô cũng như người dân Đúng như vậy, Từ Chiếm Ngao đã làm thay đổi cuộc đời của mình và của Phượng Liên sau này
Ba đêm ở nhà họ Đơn thức trắng với con dao trong tay Phượng Liên đã nghĩ đến cái chết Sáng sớm ngày thứ hai cô chạy trốn nhưng không thành, bị lão già Đơn Đình Tú phát hiện, đêm thứ hai vẫn con dao trong tay cô ngồi tới sáng Theo phong tục của quê hương vùng Đông Bắc Cao Mật, ba ngày sau khi cưới, con gái trở lại chào bố mẹ đẻ, Phượng Liên được cha đẻ của mình đến đón
về, “cưỡi con lừa rậm lông, trên lưng lừa rải ra một chiếc khăn mỏng, lắc lư đi
ra khỏi thôn” [19; 121] Phượng Liên nói cho cha biết Đơn Biển Lang mắc bệnh
hủi nhưng ông bố tham tiền vẫn khuyên cô ở lại Phượng Liên một mực không
nghe: “Bố ơi con không trở về nhà nó nữa đâu Thà chết con cũng không đến
Trang 31nhà nó nữa Bà khóc: bố ơi, nó bị hủi” [19; 122] Căm giận người cha ham tiền,
người mẹ nhẫn tâm, gả cô cho một tên hủi, tước đoạt hạnh phúc tuổi xuân Phượng Liên bị rơi vào trạng thái tuyệt vọng, phẫn uất Cô càng khao khát tình yêu tuổi trẻ
Đi qua quãng đầm Con Cóc gặp đoạn cua, “thân bà bỗng ngả về phía sau, rời khỏi lưng lừa, một cánh tay lực lưỡng quắp lấy bà, chạy vào trong đám ruộng cao lương” [19; 123] Có thể coi đầm Con Cóc chính là nơi tác thành cho
cuộc gặp gỡ định mệnh của đôi tình nhân, ruộng cao lương là nơi chứng kiến cuộc tình đẹp cũng là nơi Phượng Liên tạm biệt thế gian Trái tim Phượng Liên thật sự đã rung động trước anh phu kiệu Từ Chiếm Ngao Cuộc sống mới vừa đúng ba ngày như một giấc mộng bị tan vỡ trong lòng Phượng Liên, có người trong phút chốc bỗng trở thành lãnh tụ vĩ đại, còn cô trong ba ngày đã nếm trải
đủ mùi cay đắng của cuộc đời Điều đó đã đưa Phượng Liên đến một quyết định hết sức táo bạo, để mặc cho người đàn ông bế mình đi Người con gái bị một người lạ mặt bắt như vậy lại không có phản ứng gì, không còn đủ sức để mà
phản kháng mà cũng “không muốn giãy giụa, thậm chí bà còn quàng một cánh tay ôm chặt lấy cổ người đó, để cho cánh tay anh ta nới rộng ra một chút” [19; 123] Người ấy đặt Phượng Liên xuống đất “xé tung mảnh vải đen che mặt”,
nhận ra chàng trai hôm nào có cử chỉ thanh nhã lại đã cứu cô khỏi bàn tay tên
cướp, “một xung động mãnh liệt tựa như hạnh phúc ập tới khiến bà nước mắt đầm đìa, nóng hổi” [19; 124] Người con gái sung sướng, đúng là anh ta! Đúng
là người đã có những cử chỉ dịu dàng, hành động dũng cảm khiến cô rung động
Trước một người đàn ông ngực trần vạm vỡ, thân thể cường tráng, đối lập với tên hủi chảy mủ vàng kia người con gái càng xót xa cho thân phận mình,
cùng lúc đó “trái tim bà rung động, một tình yêu tiềm ẩn mười sáu năm trời bỗng nhiên trỗi dậy” [19; 75] Mười sáu tuổi, “độ tuổi thanh xuân rạo rực nên
bà cảm thấy buồn da diết và cô đơn lạnh lẽo Bà ao ước được nằm trong lòng người đàn ông ấm áp để cho tiêu tan nỗi buồn và cô quạnh” [19; 76] Cuối cùng
mong ước ấy cũng được đáp lại với một nỗi đau đớn và niềm hạnh phúc sắc
nhọn chà xát thần kinh bà, họ “yêu mến nhau trong ruộng cao lương đang sinh
Trang 32sôi nảy nở Hai trái tim bất kham, coi thường cả luật lệ còn kết dính hơn cả hai xác thịt khoái lạc của họ Chuyện mây mưa của họ trong ruộng cao lương đã vạch một trang đỏ trong trang sử phong phú màu sắc của quê hương Đông Bắc Cao Mật chúng tôi Có thể nói, bố tôi là kết quả dưỡng dục của tinh hoa trời đất, là kết tinh của đau khổ và cuồng loạn” [19; 125] Hai con người này có thể
được xem là nổi loạn, dám chống lại luật tục của lễ giáo phong kiến Họ vượt mọi rào cản để đến với nhau, được bên nhau Hành động dám phá bỏ ràng buộc
của lễ giáo, phong tục chính là sự “giải phóng cá tính” trong con người họ
Miêu tả nhân vật của mình dám phá bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo, tác giả
đã để cho nhân vật Phượng Liên đưa ra một loạt câu hỏi tự vấn lòng mình trước
khi vĩnh biệt cuộc sống như: “Trời hỡi, thế nào là trinh tiết? Thế nào là chính đạo? Thế nào là lương thiện? Thế nào là tà ác? Người chưa hề bảo cho tôi, tôi chỉ làm theo cách nghĩ của tôi, tôi yêu hạnh phúc, tôi yêu sức mạnh, tôi yêu cái đẹp, thân tôi là của tôi, tôi phải làm chủ cuộc đời tôi, tôi không sợ tội lỗi, không
sợ trừng phạt, tôi không sợ bị đẩy xuống địa ngục mười sáu tầng của người” [19; 127] Nhân vật đưa ra câu hỏi rồi lại tự trả lời: “Tôi đã làm cái điều tôi nên làm, tôi đã muốn cái điều tôi muốn, tôi không sợ gì cả” [19; 127] Phượng Liên
không muốn chết, cô muốn sống để được nhìn cái thế gian này nhiều hơn nữa, nhìn thấy đứa con trai - kết quả của cuộc tình nổi loạn đã đơm hoa kết trái, nhìn thấy người tình đang chiến đấu với quân Nhật từng phút, từng giây nơi chiến trường ác liệt của bom đạn - thuốc súng
Mạc Ngôn thông qua hình tượng nhân vật nữ Phượng Liên đã phản ánh khát vọng hạnh phúc của con người và đưa ra quan niệm sống mới mẻ, một triết
lí nhân sinh sâu sắc về con người cần sống theo cách riêng của mình và làm
những điều mình muốn: Hãy “làm cái điều tôi nên làm”, đừng làm những gì
mình không thích
1.2.3 Phản ánh những tập tục của nông thôn Trung Quốc đương thời
Bên cạnh câu chuyện chống Nhật hòa quyện với câu chuyện tình yêu, Mạc Ngôn còn đem tới cho người đọc thấy những phong tục đất nước Trung Hoa thời bấy giờ
Trang 33Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống, soi rọi vào những khuất lấp của đời sống con người Qua văn học hiện thực được miêu tả một cách đầy đủ
và sinh động Trong Cao lương đỏ tác giả đã miêu tả tỉ mỉ, đậm nét tập tục của
người dân vùng Đông Bắc nói riêng và cả xã hội Trung Hoa thời bấy giờ
Đầu tiên là tục cưới hỏi, gả bán hay tục “hôn lễ” Trong Cao lương đỏ tục
cưới hỏi, gả bán có sự sắp đặt từ trước của cha mẹ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” người con gái không có quyền lựa chọn tình yêu của mình Người con gái đẹp Cửu Nhi (Phượng Liên) mười sáu tuổi, bị ông bố tham tiền gả cho một
người cô không hề biết mặt Đơn Biển Lang “người đàn ông mặt mũi co rúm, ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu dưới giường, đầu bẹt và dài, mi mắt dưới loét đỏ Anh ta đứng lên giơ bàn tay nhọn như móng chân gà” [19; 120] Anh chàng bị
bệnh hủi này là con duy nhất của một tài chủ nổi tiếng nghề nấu rượu Đơn Đình
Tú Cô gái xinh đẹp như hoa lại phải lấy người chồng mắc bệnh hủi, khi nàng lên kiệu về nhà chồng đã gợi nên sự tiếc thương của mọi người Họ, bọn phu
kiệu “kẻ thì rủa cụ ông tôi là tiểu nhân, thấy tiền thì sáng mắt ra, kẻ thì nói chẳng khác gì hoa thơm cắm bãi cứt trâu, kẻ thì bảo Đơn Biển Lang là thằng hủi chảy mủ vàng, đứng ở ngoài sân cũng có thể ngửi thấy mùi thối của thịt rữa, trong sân nhà họ Đơn nhặng xanh bay thành đàn” [19; 81]
Câu chuyện của nhân vật Phượng Liên gợi cho ta về mối tình của Kim
Cúc và Cao Mã trong Cây tỏi nổi giận: Hai người yêu nhau đắm say nhưng vì
tục gả bán đã tạo nên một hôn lễ tay ba: Lưu Thắng Lợi - Phương Kim Cúc,
Phương Nhất Quân - Tào Văn Linh, Tào Văn Đính - Lưu Lan Lan, “mãi mãi kết duyên tần tấn, dù cho sông cạn biển vơi cũng không bội ước” [18; 50] Bố mẹ
Kim Cúc cùng ông nội Lưu Thắng Lợi, bố mẹ Tào Văn Linh kí kết bản giao ước
tay ba “cột ba nam nữ lại với nhau thành ba cặp như cột châu chấu, gả bán theo kiểu đánh đổi” [18; 38] Lưu Thắng Lợi bốn mươi lăm tuổi, bị suyễn, xách
thùng nước không nổi lấy Kim Cúc xinh đẹp, chịu khó; Phương Nhất Quân
ngoài ba mươi tuổi, bị thọt lấy Tào văn Linh mới “mười bảy tuổi”, xinh đẹp
Những cặp trai gái kết hợp với nhau chẳng khác gì đôi đũa lệch Vì anh trai xấu
xí mà Kim Cúc phải trở thành vật gán, chỉ có vậy anh trai cô mới có được vợ
Trang 34Cao Mã lại nghèo không có tiền làm sính lễ để có thể cưới người con gái mình yêu Cũng chính vì nghèo khổ, vì tục gả bán mà hai người phải chia lìa vĩnh viễn; người thì chết, kẻ vào tù, tình cảnh thật thương tâm Câu chuyện tuy khép lại nhưng gợi nên nỗi vương vấn, xót thương trong lòng người đọc
Theo phong tục truyền thống của người xưa không chỉ ở Trung Hoa mà nhiều nước Châu Á, cả Việt Nam, lễ rước dâu thường dùng kiệu khiêng gọi là
“kiệu hoa” Cô dâu từ khi rời nhà bố mẹ đẻ về nhà chồng được ngồi trong kiệu
có rèm che chắn cẩn thận, trên đầu luôn có một mảnh vải trùm kín “mảnh vải đỏ trùm đầu che mát mắt bà tôi, mảnh vải hoa bốc ra mùi mốc rất khó chịu Bà giơ tay vén tấm vải hoa đỏ ra - Cụ bà tôi dặn đi dặn lại, cấm bà không được vén tấm vải đỏ trùm đầu” [19; 75] Cô dâu không được tự ý hạ mà phải đợi người chồng,
nếu tự ý hạ sẽ gặp điềm gở, hôn nhân không hạnh phúc
Theo tục xuất giá, trời rất nóng, người bà của nhân vật “tôi” vẫn phải mặc
áo bông, quần bông mới Cô dâu lấy chồng đáng lẽ trang phục phải đẹp lung linh, lộng lẫy, lụa là sặc sỡ, gấm nhung nhiều màu, trang phục phải tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu, thì người bà ở đây như đang bị bó buộc, bức bối trong những
đồ bằng bông khiến con người ta nghẹt thở như không thoát ra nổi sự tù túng, chật hẹp Ngày cưới, trên đường về nhà chồng lại gặp cảnh thê lương, tiếng khóc
than nỉ non của người vợ khóc chồng, kiệu hoa chẳng khác “quan tài”, quần áo
“ấm” áp quá mức, tất cả như ngầm dự báo trước một tương lai không mấy tốt
đẹp Chỉ vài nét phác họa tác giả cho người đọc thấy tục xuất giá thật kì quặc, dị thường
Ngày cưới, Phượng Liên lên một chiếc kiệu lớn bốn người khiêng, kèn lớn, kèn nhỏ thổi nghe thê thảm ở trước và sau kiệu Khi kiệu được khiêng đi, lửng lơ như cưỡi mây cưỡi gió, thợ kèn lười biếng vừa ra khỏi làng không xa đã ngừng thổi, bước chân của phu kiệu bỗng trở lên nhanh hơn Đến cánh đồng Bình Xuyên, thì các phu kiệu đi chệch choạc để trêu cô dâu, có người bị kiệu lắc mạnh nôn ọe bừa bãi làm bẩn cả hài thêu, áo hoa, phu kiệu thấy vậy lấy làm khoái trá