1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giá trị nội dung và nghệ thuật truyện đồng thoại của tô hoài

66 7,8K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 318,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thường xuyên xuất hiện trong không gian gia đình và lớp học, truyện đồngthoại trở thành người bạn thân thiết của tuổi thơ, là nguồn dinh dưỡng tinh thầnkhông thể thi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -

TRẦN THỊ KẾ

GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI

(Khảo sát qua Tuyển tập Văn học thiếu nhi, Nxb Hà Nội, 2001)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, em đã nhận được sự hướng dẫnnhiệt tình của cô giáo – TS Nguyễn Thị Nhàn, các thầy cô giảng dạy bộ mônVăn học thiếu nhi, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học – TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2

Tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng nhất tới các thầy

cô, đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Nhàn – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉbảo tận tình để em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Kế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo – TS Nguyễn Thị Nhàn

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Kết quảnghiên cứu không trùng với kết quả của tác giả nào khác

Nếu sai, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Kế

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Cấu trúc luận văn 7

NỘI DUNG Chương 1 Tác giả Tô Hoài và truyện đồng thoại 8

1.1 Tác giả Tô Hoài 8

1.1.1 Tiểu sử 8

1.1.2 Sự nghiệp 9

1.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật 9

1.1.2.2 Phong cách nghệ thuật 10

1.1.2.3 Các tác phẩm chính 12

1.1.2.4 Quá trình sáng tác và thành tựu nổi bật 12

1.1.3 Sáng tác cho thiếu nhi của Tô Hoài 13

1.2 Truyện đồng thoại 15

1.2.1 Nguồn gốc khái niệm 15

1.2.2 Khái niệm truyện đồng thoại ở Việt Nam 16

1.2.3 Đặc điểm thể loại của đồng thoại 17

1.2.4 Truyện đồng thoại trong sáng tác của Tô Hoài 18

Chương 2 Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện nội dung 20

2.1 Tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước 20

Trang 5

2.2 Nội dung giáo dục về tình bạn 23

2.3 Mở rộng nhận thức, giáo dục cho trẻ những bài học về tình cảm, lối sống, đạo đức 26

Chương 3 Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện nghệ thuật 39

3.1 Nghệ thuật hư cấu, tưởng tượng 39

3.2 Nghệ thuật nhân cách hóa 43

3.3 Nghệ thuật kể chuyện, miêu tả 46

3.3.1 Nghệ thuật kể chuyện 46

3.3.2 Nghệ thuật miêu tả 49

3.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 51

KẾT LUẬN 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Tô Hoài là một nhà văn tài năng và là tấm gương sáng về lao động

nghệ thuật Ông là nhà văn hiện đại có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền vănhọc Việt Nam thế kỷ XX Ông sáng tác trên nhiều thể loại: Truyện ngắn,truyện dài, hồi ký, bút ký, tiểu thuyết, truyện viết cho thiếu nhi, truyện viếtcho người lớn Dường như ở thể loại nào, Tô Hoài cũng có đóng góp nổi bậtmang giá trị văn chương đích thực cả về nội dung lẫn hình thức cho nền vănxuôi cách mạng nước ta

Văn học thiếu nhi là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, quanhiều năm phát triển, trưởng thành đã đạt được thành tựu to lớn Tô Hoài làcây bút quen thuộc của bạn đọc nhỏ tuổi, được xem như người tiên phong chobộ phận văn học này với nhiều sáng tác cho thiếu nhi Ông viết nhiều thể loạinhưng đặc biệt nổi tiếng ở mảng truyện đồng thoại Nói đến các sáng tác của

Tô Hoài không thể không nhắc tới Tuyển tập Văn học thiếu nhi (Nxb Hà Nội,

2001) Tập truyện gồm nhiều truyện đồng thoại hấp dẫn

1.2 Truyện đồng thoại là một thể loại đã có quá trình phát triển lâu dài, đạt

được nhiều thành tựu, có một vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam hiệnđại Thường xuyên xuất hiện trong không gian gia đình và lớp học, truyện đồngthoại trở thành người bạn thân thiết của tuổi thơ, là nguồn dinh dưỡng tinh thầnkhông thể thiếu trong quá trình trưởng thành của mỗi con người.

Tô Hoài là nhà văn của các loài vật, nhà văn đầu tiên viết về truyện

đồng thoại ở Việt Nam, mà Dế Mèn phiêu lưu ký là một thành công rực rỡ.

Tuy nhiên, qua khảo sát có thể thấy, mảng truyện đồng thoại của Tô Hoàichưa được nghiên cứu thấu đáo và hoàn chỉnh Vấn đề này vẫn còn nhữngkhoảng trống có thể nghiên cứu, bổ sung đầy đủ hơn

Trang 7

Mặt khác, những truyện đồng thoại của Tô Hoài luôn luôn có mặt trongchương trình giáo dục mầm non Đặc biệt trong phân môn cho trẻ làm quenvới tác phẩm văn học Là một giáo viên mầm non tương lai, em muốn thôngqua kết quả nghiên cứu của đề tài này để có hướng giúp bản thân tích lũy vốntri thức đồng thời giúp trẻ tìm hiểu, cảm nhận được nhiều cái hay, cái đẹp,những bài học ý nghĩa đằng sau mỗi câu chuyện.

Xuất phát từ những lý do trên, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật truyện đồng thoại của Tô Hoài (khảo sát qua

Tuyển tập Văn học thiếu nhi, Nxb Hà Nội, 2001)” để góp phần khám phá,

khẳng định tài năng của nhà văn, đồng thời có được cách tiếp cận đúng đắnvới truyện đồng thoại của Tô Hoài

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Nhà văn Tô Hoài là người có nhiều sáng tác hay dành cho thiếu nhiđược cả người lớn yêu thích Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã quan tâmđến những sáng tác cho thiếu nhi của Tô Hoài, trong đó có mảng truyện đồngthoại

Truyện đồng thoại hiện đại xuất hiện cùng với quá trình hiện đại hóavăn học Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX và gây được tiếng vang với

tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài Dù vậy, trong giai đoạn từ 1930

đến 1945, giới lí luận phê bình đương thời chưa chú ý đến truyện đồng thoại,ngoài đoạn văn ghi nhận về “Mấy truyện nhi đồng có tiếng” của Tô Hoài

trong Nhà văn Việt Nam hiện đại của Vũ Ngọc Phan Từ năm 1945 đến nay,

truyện đồng thoại được đề cập tới trong một số chuyên luận, giáo trình, mộtsố tiểu luận, bài viết, lời bình Đặc biệt, từ đầu những năm 60, khi sáng táccủa Tô Hoài được đưa vào chương trình giảng dạy và học tập thì những côngtrình nghiên cứu về truyện của ông cũng xuất hiện nhiều hơn

- Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (quyển IV,

Trang 8

đặc biệt về lời văn, cách quan sát, về lối kết cấu, mà còn đặc biệt cả về nhữngđầu đề do ông lựa chọn nữa” “Truyện của ông có những tính chất nửa tâm lý,nửa triết lý, mà các vai lại là loài vật Mới nghe, tưởng như những truyện ngụngôn, nhưng thật không có tính cách ngụ ngôn chút nào: ông không phải mộtnhà luân lý, truyện của ông không để răn đời Nó là những truyện tả chân vềloài vật, về cuộc sống của loài vật, tuy bề ngoài có vẻ lặng lẽ, nhưng bêntrong có lắm cái “ồn ào”, vui cũng có mà buồn cũng có” [Theo Phong Lê -Vân Thanh, sđd, tr.59].

- Tác giả Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (Nxb

Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H 1975) nói về đặc điểm truyện đồng

thoại của Tô Hoài như sau: “Trong các truyện đồng thoại (Con mèo lười,

Chim chích lạc rừng, Cá đi ăn thề), Tô Hoài đã phát huy nhân tố tưởng tượng,

phần phong phú nhất trong tư duy các em nhỏ Truyện đồng thoại của TôHoài cũng là sự kết hợp giữa khả năng quan sát loài vật rất tinh tế với một bútpháp miêu tả giàu chất trữ tình và chất thơ Thiên nhiên ở đây màu sắc rực rỡ,

âm thanh náo nức và luôn chuyển động rộn ràng, tươi vui đúng như thị hiếuhàng ngày của tuổi thơ” [Theo Phong Lê - Vân Thanh, sđd, tr.94]

- Tác giả Trần Hữu Tá trong Văn học Việt Nam 1945-1975, tập 2 (Nxb

Giáo dục, 1990) đã dành cho Tô Hoài những lời khen ngợi: “Tô Hoài có khảnăng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động Người, vật, thiên nhiên,cảnh sinh hoạt, tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái thần củađối tượng và thường bàng bạc một chất thơ” [Theo Phong Lê - Vân Thanh,sđd, tr.158]

- Trần Đình Nam trong Tạp chí văn học (số 9 – 1995) khẳng định tài

năng thiên bẩm và khả năng quan sát tinh tế đã giúp cho “Tô Hoài có một

xê-ri sách viết về các con vật: dế, chuột, chim, mèo, cá, được gọi là truyện loàivật Truyện loài vật của Tô Hoài là một cống hiến độc đáo vào văn học hiện

Trang 9

đại nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng – ở nước ta chưa có ai viết vềloài vật được như ông” [Theo Phong Lê - Vân Thanh, sđd, tr.167].

- Nhà văn Hà Minh Đức trong Đi tìm chân lý nghệ thuật (Nxb Văn

học, 1998) cũng đã nhận xét: “Truyện loài vật của Tô Hoài cũng nhằm nóinhiều với thế giới con người, nhưng kín đáo và có hàm ý sâu xa ( ) Tô Hoàilà người biết tạo yếu tố truyện, phát hiện yếu tố truyện trong đời sống tựnhiên của loài vật ( ) Ngòi bút của Tô Hoài đã phát hiện cái ngộ nghĩnh, lốlăng, khoe mẽ, đa điệu của một số loài vật Tác gải không châm biếm đả kíchmột đối tượng nào trong các giống loài mà ông miêu tả Ông không ghét bỏmà cố tìm thấy ở mỗi loài những nét hay hay, ngộ nghĩnh và miêu tả với chấtdí dỏm Chất dí dỏm làm cho đối tượng được nói đến thêm sinh động và trongchiều sâu của cách viết này vẫn là lòng yêu mến các loài vật” [Theo Phong Lê

- Vân Thanh, sđd, tr 469-470]

- Trong bài viết “Vấn đề nhân vật và tư tưởng nhân vật là vấn đề tính

thời đại trong sáng tác” đăng trên Tạp chí văn học (số 6 – 1995), Tô Hoài

cũng đã từng phát biểu quan niệm về đồng thoại: “Tôi nghĩ rằng câu chuyệnsáng tạo nhân vật, phú cho nhân vật ấy một tính nết, một hoàn cảnh thậtkhông phải là việc ta chợt nghĩ và chỉ có chủ quan ta muốn làm thế Cả đốivới những loại sáng tác, loại tưởng tượng, dù khác thường đến như thế nào, vídụ sáng tác cho thiếu nhi, người viết tạo ra cái cây, đám khói, một con vật,một cái gì kỳ quái nhất, tất cả những sáng tạo phong phú đó, theo tôi nghĩ,cũng không phải là một tình cờ hay một sức óc chợt nghĩ” [Theo Vân Thanh,

Văn học thiếu nhi Việt Nam, tập 1, 2003, tr.289].

Có thể thấy, khi nghiên cứu truyện thiếu nhi, trong đó có mảng đồngthoại của nhà văn Tô Hoài, các tác giả đã đề cập tới những khía cạnh khácnhau, song vẫn còn những vấn đề khoa học cho khóa luận của chúng tôi

nghiên cứu Đặc biệt, việc tìm hiểu truyện đồng thoại của Tô Hoài qua Tuyển

Trang 10

rất hạn chế, tác giả khóa luận đã cố gắng tìm hiểu các tài liệu có liên quan, kếthừa những kết quả nghiên cứu trước đó để mở rộng và phát huy những vấnđề về giá trị nội dung và nghệ thuật trong truyện đồng thoại của Tô Hoài Hyvọng đây sẽ là đề tài có ý nghĩa với những ai quan tâm tới truyện đồng thoạinói chung và đồng thoại Tô Hoài nói riêng.

1 Tìm hiểu những giá trị nội dung và nghệ thuật trong truyện đồngthoại của Tô Hoài qua tài liệu khảo sát

2 Thông qua giá trị ấy thấy được tác dụng của truyện đồng thoại của

Tô Hoài đối với việc giáo dục nhân cách, giá trị thẩm mĩ cho trẻ

4.1 Về mặt tài liệu

Khóa luận khảo sát Tuyển tập Văn học thiếu nhi của Tô Hoài (Nxb Hà

Nội, 2001)

Tập truyện có 42 truyện và 1 truyện mở đầu gồm mấy mẩu chuyện nhỏ,trong đó có 25 truyện là đồng thoại gồm các truyện sau:

- Dế mèn, chim gáy, bồ nông (truyện mở đầu gồm 2 truyện nhỏ: Đàn

chim gáy, Chú bồ-nông ở Sa-mác-can)

- Cá đi ăn thề

- Ò ó o

- Ghi chép một ngày

- Cậu miu

- Núi xanh xanh

- Cây bằng lăng

- Cái kiện của lão Trê

- Cánh đồng yên vui

- Gấu ăn trăng

- Cành cạch chơi trăng

Trang 11

- Những chuyện xa lạ

- Bàn Quý và ngựa con

- Mùa xuân đã về đấy

- Tặng ai hay bắn chim, bẫy chim

- Mải vui quên hết

- Bướm Rồng Bướm Ma

- Chú cuội ngồi gốc cây đa

- Hươu về ở vườn

- Anh cua-rơ đeo số 15

- Người đi săn và con nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật truyện đồng thoạicủa Tô Hoài (khảo sát qua các truyện đã nói ở trên)

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Khóa luận tìm hiểu những khái niệm cơ bản có liên quan đến luậnvăn như: truyện đồng thoại, nhân hóa, ngôn ngữ, nhân vật,

- Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài

- Những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của truyện đồng thoại TôHoài

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thống kê

- Nghiên cứu tác phẩm theo thể loại

Trang 12

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận đượccấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Tác giả Tô Hoài và truyện đồng thoại

Chương 2: Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện

nội dung

Chương 3: Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

TÁC GIẢ TÔ HOÀI VÀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI

1.1 Tác giả Tô Hoài

1.1.1 Tiểu sử

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 Quênội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai (Hà Tây) nhưng tác giả lại lớn lên ởquê ngoại – làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức (Hà Đông), nay thuộc phườngNghĩa Đô, quận Cầu Giấy (Hà Nội)

Xuất thân trong một gia đình thợ thủ công nghèo, Tô Hoài chỉ được họchết tiểu học Ông đã phải trải qua rất nhiều nghề trước khi đến với sự nghiệpviết văn: bán hàng, dạy học, kế toán,

Tô Hoài viết dưới nhiều bút danh: Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, VũĐột Kích, Hồng Hoa, Trong đó, bút danh ông tâm đắc nhất và cũng quenthuộc nhất với độc giả là Tô Hoài – bút danh được lấy từ tên con sông TôLịch và mảnh đất Hoài Đức quê ông

Tô Hoài bắt đầu với nghề văn bằng một số bài thơ lãng mạn Song vănxuôi mới thực sự là “mảnh đất” để ông có thể thỏa sức “khai phá”, sáng tạo.Ở đây, ông đã phát huy được năng khiếu và sở trường của mình Các tác

phẩm đầu tay của ông gồm: Nước lên (1940), Giăng thề (1941), Dế Mèn

phiêu lưu ký (1941), O chuột (1942) Trong đó, Dế Mèn phiêu lưu ký là tác

phẩm xuất sắc được cả người lớn và trẻ nhỏ say mê

Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị, từng giữ nhiều chức vụ quantrọng Tuy nhiên, viết văn vẫn là sự nghiệp chính của ông Sáng tác của Tô

Trang 14

tài miền núi Tô Hoài cũng là một trong số ít những nhà văn dành nhiều sángtác cho thiếu nhi Những sáng tác cho trẻ của Tô Hoài được tuyển chọn in

trong Tuyển tập văn học thiếu nhi (1999) – 2 tập.

Hơn 90 năm tuổi đời và hơn 70 năm tuổi nghề, Tô Hoài đã có khốilượng tác phẩm đáng nể với hơn 170 đầu sách Nhiều tác phẩm của ông được

dịch ra nước ngoài, trong đó, Dế Mèn phiêu lưu ký được dịch ra hàng chục

thứ tiếng trên thế giới

Với sự lao động miệt mài không ngừng nghỉ, với những đóng góp cho nền văn học nước nhà, Tô Hoài đã được nhận nhiều giải thưởng cao quý và vinh dự được là một trong số 14 nhà văn được nhận giải thưởng Hồ Chí Minhvề văn hóa – nghệ thuật (đợt 1 – năm 1996)

1.1.2 Sự nghiệp

1.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật

Ngay từ những tác phẩm đầu tay, Tô Hoài đã hướng ngòi bút vào

những chuyện đời thường xung quanh mình “Viết về cuộc đời của chính

mình, của nhiều người quanh mình đã là một định hướng nghệ thuật của TôHoài” [12, tr.178] Ông luôn quan niệm phải tìm thấy trong chính cuộc sốngvà những con người bình dị chất liệu cho ngòi bút

Cuộc sống sinh hoạt đời thường đã trở thành nguồn chất liệu không baogiờ vơi cạn trong sáng tác của Tô Hoài Những sự việc, tình huống bình dị

trong đời sống đã đi vào các trang viết của ông: Đó là nạn tảo hôn (Vợ chồng

trẻ con), nạn ma chay, cưới xin (Quê người), tục đấu vật, bắn nỏ, thổi kèn, tục

cướp vợ, trình ma, phạt vạ, (Đảo hoang, Nỏ thần, Vợ chồng A Phủ, Cứu đất

cứu mường, Miền Tây, ).

Viết về cuộc đời của chính mình, của nhiều người quanh mình chính làmột định hướng nghệ thuật của Tô Hoài Việc phát hiện những sự việc trongđời sống và đưa vào trang văn là cái tài của Tô Hoài mà không phải nhà vănnào cũng làm được

Trang 15

1.1.2.2 Phong cách nghệ thuật

Không gian nghệ thuật và đối tượng khám phá được thể hiện tập trung

Các tác phẩm của Tô Hoài tập trung khai thác các đề tài về cuộc sốngngười lao động nghèo ở ngoại thành Hà Nội và vùng núi cao Tây Bắc Việcthâm nhập vào cuộc sống của người dân ở mỗi vùng miền giúp Tô Hoài amhiểu nhanh chóng và sâu sắc phong cách sinh hoạt, những phong tục của cácdân tộc, từ đó khai thác triệt để, đưa vào trang viết tạo nên dấu ấn riêng củamình Ông cũng là một trong số ít các nhà văn có sở trường viết truyện loàivật Thế giới loài vật phong phú, đa dạng, có khi chỉ là những con vật bé nhỏ,gần gũi với sinh hoạt của con người được nhân cách hóa xuất hiện trong các

tác phẩm của ông luôn thu hút người đọc Tiêu biểu có: Nhà nghèo, Truyện

Tây Bắc, Người ven thành, Nhớ Mai Châu, Đôi Gi đá, Võ sĩ Bọ Ngựa,

Lối viết đậm màu sắc dân tộc

Hệ thống thành ngữ, quán ngữ có tần số xuất hiện cao trong các sángtác của Tô Hoài: gà trống nuôi con, ngậm đắng nuốt cay, gọt gáy bôi vôi, mảtáng hàm rồng,

Cách kể chuyện, dẫn truyện của ông hấp dẫn người đọc Trong cácsáng tác của nhà văn, người kể chuyện khi đứng ngoài câu chuyện, khi lạitham gia vào câu chuyện để tự kể về chính mình Dù đứng ở vị trí nào, ngườikể chuyện cũng luôn giữ khoảng cách nhất định với đối tượng, vừa thể hiệnđược tâm lý nhân vật mà vẫn đảm bảo đượm tính khách quan cho câu chuyện

Tiêu biểu như: Dế Mèn phiêu lưu ký, Chuyện Nỏ thần,

Tô Hoài thường đi sâu vào khám phá và thể hiện những truyền thốngtốt đẹp, phẩm chất cao đẹp của con người Việt: lòng yêu nước, khí phách anhhùng dân tộc, thủy chung, đi sâu phản ánh cuộc sống sinh hoạt với những

Trang 16

phong tục, tập tục các vùng miền Tổ quốc Tiêu biểu có các truyện: Núi cứu

quốc, Nhà Chử, Đảo hoang, Chuyện ông Gióng, Vợ chồng A Phủ,

Đây là khả năng nổi trội của Tô Hoài trong quá trình sáng tác văn học,được thể hiện từ những truyện loài vật ông viết trước cách mạng và càng đượcphát huy ở các sáng tác sau này Mỗi trang viết của ông không chỉ mang lạicho người đọc hiểu biết về thiên nhiên, về đời sống phong tục tập quán, nétkhác biệt trong văn hóa các dân tộc mà còn lôi cuốn độc giả bởi những hìnhảnh, chi tiết đặc sắc có được từ sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế Đó là bức tranh thiênnhiên khi dữ dội, khắc nghiệt, khi thơ mộng Khi miêu tả ngoại hình và diễnbiến tâm lý các nhân vật, Tô Hoài đã lựa chọn những chi tiết độc đáo, giàusức gợi để tác động mạnh đến nhận thức và tình cảm của người đọc: Hình ảnh

kiêu căng của chú Dế Mèn, hình ảnh chim Bói Cá kệch cỡm, phô trương (Dế

Mèn phiêu lưu ký) Chính sự quan sát tinh tế đã giúp tác giả lột tả được đặc

điểm các nhân vật một cách sâu sắc, nổi bật

Đặc sắc trong sử dụng ngôn ngữ

Trong các sáng tác của mình, Tô Hoài luôn có ý thức sử dụng lời ăntiếng nói hằng ngày của quần chúng lao động Tuy nhiên, ông không mangnguyên văn những lời nói của nhân dân vào trang viết mà lựa chọn, trau chuốtngôn ngữ mỗi khi đặt bút Tô Hoài luôn tích cực trau dồi học hỏi ngôn ngữtrong cuộc sống đời thường của nhân dân các vùng miền để có cách sử dụngngôn ngữ thích hợp khi viết về mỗi vùng đất, mỗi đối tượng, mỗi loại nhânvật khác nhau Mặt khác, ông còn sử dụng thành công những từ ngữ giàu hìnhảnh, từ địa phương,

Hệ thống từ ngữ thông tục, thành ngữ, quán ngữ, được sử dụng khéoléo, giọng điệu suồng sã, dí dỏm, tự nhiên, Tất cả đã giúp sáng tác của TôHoài vừa gần gũi, mang hơi thở cuộc sống bình dị, vừa sinh động, kỳ thú

Trang 17

1.1.2.3 Các tác phẩm chính

Trước cách mạng:

Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện – 1941), Quê người (truyện dài – 1941), O chuột (tập truyện ngắn – 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn – 1942), Cỏ dại

(hồi kí – 1944)

Sau cách mạng:

Núi cứu quốc (tập truyện – 1948), Ngược sông Thao (phóng sự – 1949), Xuống làng (tập truyện – 1950), Truyện Tây Bắc (tập truyện – 1953), Khác trước (tập truyện – 1957), Mười năm (tiểu thuyết – 1958), Thành phố Lê-nin

(bút kí – 1964), Miền Tây (tiểu thuyết – 1967), Lên Sùng Đô (bút kí – 1969),

Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (tiểu thuyết – 1971), Người ven thành (tập truyện –

1972), Tự truyện (hồi kí – 1978), Quê nhà (tiểu thuyết – 1981), Những ngõ

phố, người đường phố (tiểu thuyết – 1982),

Sáng tác cho thiếu nhi:

Vừ A Dính (truyện - 1962), Kim Đồng (truyện - 1976), Đảo hoang (tiểu

thuyết – 1980), Chuyện Nỏ thần (tiểu thuyết – 1984), Nhà Chử (tiểu thuyết – 1985), Tuyển tập văn học thiếu nhi (truyện – 2 tập – 1999).

Lý luận, kinh nghiệm sáng tác:

Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn (1997),

1.1.2.4 Quá trình sáng tác và thành tựu nổi bật

Tô Hoài chính thức vào nghề năm 1940 với truyện ngắn Nước lên Đến

nay, ông đã có khối lượng sách đáng khâm phục với trên 170 đầu sách Hànhtrình sáng tác của ông có thể chia thành hai giai đoạn trước và sau cách mạng

Trước cách mạng

Tuy xuất hiện ở giai đoạn cuối của thời kì 1930 - 1945 nhưng Tô Hoàiđã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này

Trang 18

bằng một loạt tác phẩm độc đáo, đặc sắc như: Dế mèn phiêu lưu kí (1941),

Quê người (1941), O chuột (1942), Trăng thề (1943) Nhà nghèo (1944 ).

Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thể phân thành hai loạichính là: truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo

Qua những truyện về loài vật tiêu biểu như: O chuột, Gã chuột bạch,

Tuổi trẻ, Đôi gi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực , người đọc nhận thấy,

nhà văn thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bàytỏ mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, bình yên trong xã hội

Mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo cũng đã được nhà văn miêutả chân thật và sinh động Đó là cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những kiếpngười nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những ngườithợ thủ công bị phá sản, Tô Hoài đã bày tỏ khát vọng thoát khỏi cảnh bế tắcvà tin tưởng vào tương lai tốt đẹp

Sau cách mạng

Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác, thể hiệnrõ ở cả chủ đề và đề tài Ông đã hướng đến một không gian rộng lớn hơn, đếnvới cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất làmiền núi Tây Bắc

Bên cạnh những thành công ở các mảng truyện ngắn, tiểu thuyết,

ký, Tô Hoài còn tiếp tục viết khá nhiều tác phẩm cho thiếu nhi như : Con

mèo lười, Vừ A Dính, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử,… Ở mảng sáng

tác này, ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ Tô Hoài vẫn có được cách cảmnhận và thể hiện đời sống qua trang văn phù hợp với tâm hồn, nhận thức củatuổi thơ, để cùng các em đến với một thế giới biết bao kỳ thú

1.1.3 Sáng tác cho thiếu nhi của Tô Hoài

Tô Hoài là một trong số ít nhà văn dành sự ưu ái đặc biệt đến đọc giảthiếu nhi Ông viết nhiều loại truyện, nhiều đề tài, cho nhiều lứa tuổi Sáng táccho thiếu nhi của Tô Hoài trải dài theo sự nghiệp văn chương của ông Nhân

Trang 19

vật của tác phẩm chủ yếu xoay quanh ba đối tượng: Loài vật, những tấmgương thiếu nhi yêu nước và từ những câu chuyện trong truyền thuyết, dã sử.

Truyện loài vật của Tô Hoài dành cho thiếu nhi chủ yếu được viết dướihình thức đồng thoại, mang một sắc thái riêng, phù hợp với tâm lý, nhận thứccủa trẻ Những bài học tình cảm, nhận thức được các em đón nhận một cáchnhẹ nhàng

Trước cách mạng, truyện viết về loài vật của Tô Hoài thực chất là

truyện về xã hội loài người: Dế Mèn phiêu lưu ký, Đám cưới chuột, Dê và

Lợn, Trê và Cóc, Võ sĩ Bọ Ngựa, Có thể nói, những sáng tác đồng thoại đầu

tay của ông đã thu hút rất nhiều bạn đọc, không chỉ riêng trẻ thơ mà cả ngườilớn cũng đều say mê

Sau cách mạng, tiếp nối thành công đã có ở giai đoạn trước, một loạt

truyện đồng thoại ra đời: Con mèo lười, Cá đi ăn thề, Ò ó o, Đàn chim gáy,

Cậu Miu, đã tái hiện bức tranh sinh động về cuộc sống mới Viết về tấm

gương yêu nước nhỏ tuổi có Vừ A Dính, Kim Đồng,

Những năm 80 của thế kỷ XX, Tô Hoài cho ra mắt bộ ba tiểu thuyết

Đảo hoang (1980), Chuyện nỏ thần (1984), Nhà Chử (1985) Đây là những

truyện được sáng tạo dựa trên những truyền thuyết có sẵn, thể hiện sức mạnhcon người trong cuộc chiến chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm vàxây dựng cuộc sống, giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dântộc cho trẻ

Tô Hoài sáng tác nhiều cho thiếu nhi nhưng đáng chú ý nhất vẫn làmảng truyện đồng thoại Ở đó là những câu chuyện về thế giới loài vật nhưngsâu xa hơn chính là xã hội con người Mỗi câu chuyện mang lại một bài họcnhỏ mà thấm thía về tình cảm, đạo đức, lối sống được ẩn dưới những trangviết của tác giả Truyện đồng thoại của Tô Hoài không chỉ có nội dung sâusắc mà còn được xây dựng bởi bút pháp nghệ thuật tài hoa

Trang 20

1.2 Truyện đồng thoại

Truyện đồng thoại được coi là một thể loại đặc biệt của văn học thiếunhi, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố hiện thực và tưởng tượng.Nhân vật chính trong truyện thường là các loài vật, thực vật và các vật vô tri

vô giác được nhân cách hóa để tạo nên một thế giới vừa hư vừa thực Qua cáithế giới vừa hư vừa thực đó truyện đồng thoại nhằm biểu hiện cuộc sống sinhhoạt của con người Truyện đồng thoại thường gắn gọn, vui tươi, dí dỏm, cónhiều yếu tố bất ngờ, thú vị

1.2.1 Nguồn gốc khái niệm

Theo Hoàng Vân Sinh, “từ đồng thoại ở Trung văn được du nhập từ

Nhật Bản, xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh” [17, tr.1]

Ở Nhật, những truyện kể cho trẻ em được gọi là Dowa, dịch sang Hánngữ là “đồng thoại”

Ban đầu, đồng thoại được hiểu theo nghĩa rộng, gồm tất cả mọi tácphẩm có tính kể chuyện cho trẻ em Về sau, đồng thoại được hiểu “là văn họchuyễn tưởng có tính đặc thù, trở thành một thể loại độc lập” [Hoàng Vân

Sinh, 2001, Nhi đồng văn học khái luận, tr.1], có địa vị quan trọng trong văn

học nhi đồng

Theo lí thuyết Trung Hoa, đồng thoại nảy sinh từ trong dân gianvà được tiếp nối trong thời hiện đại Do vậy, kho tàng đồng thoại Trung Hoagồm có đồng thoại dân gian và đồng thoại hiện đại Đồng thoại dân gian lànhững sáng tác của quần chúng nhân dân, phản ánh những yêu cầu bức thiếtcủa nhân dân muốn thoát khỏi ách bóc lột, mong ước về tự do, hạnh phúc.Đồng thoại hiện đại là những sáng tác của các nhà văn dựa trên cơ sở củađồng thoại dân gian, hoặc là chất liệu, hoặc là nguyên tắc nghệ thuật

Có thể nhận thấy, trong cách hiểu của người Trung Hoa, đồng thoạithực chất là truyện cổ tích

Trang 21

1.2.2 Khái niệm truyện đồng thoại ở Việt Nam

Danh từ đồng thoại xuất hiện trong Việt ngữ được ghi nhận lần đầu

tiên bởi công trình Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh (Quan Hải tùng thư

xuất bản, 1932)

Theo kết quả khảo sát, hầu hết các bộ Từ điển Hán – Việt, Từ điển

Tiếng Việt đều có mục từ “đồng thoại”.

Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh và nhiều từ điển khác định nghĩa

đồng thoại là “truyện chép cho trẻ em”

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học lại xem đồng thoại là một

thể loại văn học: “Đồng thoại: thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và cácvật vô tri được nhân cách hóa, tạo nên một thế giới thần kì thích hợp với trí

tưởng tượng của các em” (Viện Ngôn ngữ học, 2001, Từ điển tiếng Việt,

tr.344)

Trong bài viết “Tìm hiểu đặc điểm của đồng thoại”, Vân Thanh đã đưa

ra định nghĩa như sau: “đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, có sựkết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và mơ tưởng Ở đây, các tác giả thườngdùng nhân vật chính là động vật, thực vật và những vật vô tri, lồng cho chúngnhững tình cảm của con người (Cũng có khi nhân vật là người) Qua thế giớikhông thực mà lại thực đó, tác giả lồng cho chúng những tình cảm và cuộcsống của con người Tính chất mơ tưởng hoặc khoa trương đó chính là nhữngyếu tố không thể thiếu được trong đồng thoại” [18, tr 282-283]

Nhà văn Trần Hoài Dương trong bức thư gửi Viện Văn học Việt Namngày 13/3/2007 có viết: “Từ đồng thoại vốn là mượn của Trung Quốc Theođúng nghĩa của họ là để chỉ “những truyện chép cho trẻ em”, nhất là với lứatuổi nhỏ, cho nhi đồng Nhưng lâu nay ở ta, đồng thoại được hiểu là loạitruyện viết mang tính nhân cách hóa loài vật, đồ vật, mang nhiều ẩn dụ, ngụngôn Tôi dùng truyện tưởng tượng là không muốn dùng một khái niệm

Trang 22

nước ngoài đã bị hiểu sai đi, mang một nghĩa khác nhiều với nguyên ý banđầu của nó”.

Như vậy, khái niệm truyện đồng thoại ở Việt Nam được sử dụng chủ

yếu theo nghĩa hẹp: Truyện đồng thoại là một thể loại hiện đại dành cho trẻ

em, sử dụng loài vật, đồ vật và các vật vô tri được nhân cách hóa làm nhân vật chính, có quan hệ gần gũi với nhiều thể loại, nhất là cổ tích và ngụ ngôn.

1.2.3 Đặc điểm thể loại của đồng thoại

Nói về đặc điểm của truyện đồng thoại không thể không nói tới các yếutố sau đây:

Thứ nhất, thế giới nhân vật của đồng thoại đa số được chọn lọc chủ yếutừ thế giới loài vật Nhìn lại kho tàng truyện đồng thoại, có thể dễ nhận thấytrong đó nhân vật cũng có khi là con người nhưng chủ yếu vẫn là các loài vật

quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống được gán tính cách con người: Dế Mèn

phiêu lưu ký, Đám cưới chuột, Dê và Lợn, Trê và Cóc, Võ sĩ Bọ Ngựa , (Tô

Hoài), Bài học tốt, Trong một hồ nước, Những chiếc áo ấm, (Võ Quảng),

Cô Bê 20 (Văn Biển), Chuyện chú trống choai (Hải Hồ),

Thứ hai, sự hư cấu, tưởng tượng bay bổng kỳ diệu là đặc trưng củađồng thoại Thế giới đồng thoại được dệt lên từ những tưởng tượng nhưngtuyệt không xa rời thực tế Chính những sự việc, tình huống có thực cuộcsống là cái nền, là cơ sở hình thành những liên tưởng thú vị, độc đáo

Thứ ba, nhân hóa là đặc điểm không thể thiếu của truyện đồng thoại.Loài vật trong truyện đồng thoại được gán cho tính cách như con người phùhợp đặc điểm thực của mỗi loài vật trong cuộc sống Qua tấm gương cácnhân vật đó mà trẻ cảm nhận và phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai, việcnên làm và không nên làm Nghệ thuật nhân hóa đã giúp truyện đồng thoạimang đậm ý nghĩa nhân sinh

Trang 23

1.2.4 Truyện đồng thoại trong sáng tác của Tô Hoài

Đồng thoại là mảng truyện vô cùng phong phú trong các sáng tác của

Tô Hoài

Dưới dạng trao đổi kinh nghiệm, Tô Hoài đã đôi lần phát biểu ý kiến vềtruyện đồng thoại Theo ông, truyện đồng thoại là một thể loại văn học dànhcho thiếu nhi, lấy loài vật làm nhân vật, lúc nào cũng thích hợp Nhân vậttrong truyện đồng thoại được nhân cách hóa trên cơ sở đảm bảo “không thoát

li sinh hoạt thật có của loài vật”, đồng thời “không xa rời cái nhìn theo thóiquen của các em” Hình thức nhân hóa loài vật này đem lại cho thể loại khảnăng diễn tả những vấn đề của đời sống một cách hình tượng, ý vị

Theo Tô Hoài, những yêu cầu mà một tác phẩm dành cho các em phảiđạt được, đó là: Nội dung giáo dục, nghệ thuật đẹp và vui, giàu tưởng tượng,giàu chất thơ Tô Hoài kết luận: “Như vậy, đồng thoại là loại truyện có cơ

hội tung hoành nhất về những mặt đó” (Tôi viết đồng thoại: Dế Mèn, Chim

Gáy, Bồ Nông).

Trong các bài viết của mình, Tô Hoài đã nêu quan điểm viết truyệnđồng thoại: Về nhân vật, đối tượng yêu thích nhất của Tô Hoài là các con vậtgần gũi trong cuộc sống thường ngày Về nội dung, ông muốn đem vào đồngthoại một nội dung xã hội Trước năm 1945, Tô Hoài sử dụng hình thức đồngthoại nhằm bóng gió gửi gắm những tư tưởng yêu nước, yêu tự do, Sau cáchmạng, hàng loạt truyện đồng thoại được Tô Hoài sáng tác đã bộc lộ cái nhìnngỡ ngàng với những đổi thay của cuộc sống và niềm tự hào, yêu mến quêhương đất nước

Tiểu kết chương 1

Vốn xuất thân từ tầng lớp lao động nghèo khổ, Tô Hoài có điều kiệnđược trải nghiệm, thấu hiểu cuộc sống của những con người bình dị Điều đóđã hình thành nên ở Tô Hoài quan niệm hết sức cao đẹp về sự nghiệp cầm

Trang 24

của mình Hơn nửa thế kỷ sống và cầm bút, dường như niềm say mê vănchương trong ông chưa bao giờ vơi cạn Ông đã sáng tác không ngừng nghỉ,để lại cho kho tàng văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm đồ sộ.

Tô Hoài là một trong những nhà văn tâm huyết với sáng tác văn họcnói chung và văn học thiếu nhi nói riêng; là người mở đầu cho sự hình thành,phát triển thể loại truyện đồng thoại ở Việt Nam Và cho đến nay, ông vẫnsáng tác bền bỉ, khó có nhà văn nào viết truyện đồng thoại thành công hơn TôHoài Với những cống hiến của mình, Tô Hoài xứng đáng nhận được lòng tinyêu, ngưỡng mộ của thế hệ hôm nay và mai sau

Trang 25

CHƯƠNG 2 TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Nếu ở giai đoạn trước cách mạng, Tô Hoài đã sáng tác Dế mèn phiêu

lưu ký khiến cả trẻ em và người lớn đều say mê thì từ sau Cách mạng Tháng

Tám 1945, trong dòng phát triển chung rất mạnh mẽ của văn học thiếu nhi nóichung và mảng truyện đồng thoại nói riêng, Tô Hoài tiếp nối thành tựu đã cóở giai đoạn trước, cho ra đời hàng loạt tác phẩm đồng thoại đa dạng về đề tài

Tô Hoài nói truyện loài vật nhưng “xét đến cùng lại vẫn là hình ảnh phản

chiếu thế giới loài người”

Có thể thấy, nổi bật trong tập truyện là những truyện đồng thoại nói về

tình cảm bạn bè, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, những truyện có nội dung giải thích các hiện tượng tự nhiên, mở rộng nhận thức, giáo dục trẻ những bài học về đạo đức, lối sống,

2.1 Tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước

Trước hết, đề tài này được thể hiện qua việc ca ngợi vẻ đẹp của quê

hương đất nước, vẻ đẹp con người trong thời kỳ đổi mới.

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, miền bắc Việt Nam bắt đầu côngcuộc khôi phục kinh tế và xây dựng cuộc sống mới Dưới ánh sáng của chế độmới, đất nước đã có những đổi thay kì diệu “Nông thôn ngày nay đã kháctrước, những công cuộc làm ăn đương thay đổi cả đồng ruộng và đời sống”

Tô Hoài khắc họa những thay đổi trong thời kỳ đầu hòa bình qua nhiều chitiết đời thường

Chim gáy trong Đàn chim gáy trước đây chỉ bay về đồng theo mùa gặt.

Xưa có hai vụ nên “tháng năm chim gáy đi ăn đôi, tháng mười chim gáy vềtheo đàn” Từ khi miền Bắc bước vào phát triển nền kinh tế hợp tác hóa nông

Trang 26

theo đàn ra ăn quanh năm” (Đàn chim gáy) Hình ảnh “con chim béo mượt,

những con chim no ấm của mùa gặt hái quanh năm” không chỉ đại diện chosự no đủ mà chính là hình ảnh con người đang vươn lên xây dựng cuộc sốngmới; là lời khẳng định tương lai tươi đẹp đang hình thành

Trong truyện Cá đi ăn thề, những chú Rô Ron đã bắt gặp điều rất kì lạ

khiến chúng cảm thấy tò mò: Những bác Cá Ngão to lớn, trắng nhoáng ngoàisông vốn “chỉ biết quanh quẩn ao nọ, hồ kia chứ chẳng đủ can đảm và sứckhỏe để giong ruổi đi chơi xuân đường xa” nay lại vào được trong đồngruộng Và điều kì lạ ấy được tác giả lý giải: “Máy điện trạm bơm Đan Hoàilấy nước sông Hồng vào nông giang đã đưa cả cá lên theo” Nhờ hệ thốngthủy lợi được xây dựng mà mỗi khi tháng ba mưa mới xuống, những đàn cángoài sông, đàn cá trong đồng lại được gặp nhau trong niềm hân hoan củangày hội Không khí vui tươi ấy chính là tiếng hát ngợi ca sự phát triển củangành nông nghiệp, cũng là sự phát triển của đất nước

Bước vào thời kỳ đổi mới, nông thôn đang “thay da đổi thịt” hàngngày, khiến “Mỗi lần được về quê, chúng tôi lại đem ra tỉnh vô khối cái mới

lạ, vô khối chuyện kể” (Ò ó o) Việc những chú gà trống bỗng dưng gáy

vào buổi tối được tác giả giải thích: Ánh sáng đèn điện của nhà máy đã làm gàtưởng trời sáng rồi nên thi nhau gáy báo sáng Và điều tác giả muốn nhấnmạnh ở đây là niềm vui của em nhỏ khi đứng ngắm nhìn ánh điện sáng rực cảngôi làng Rõ ràng, nông thôn miền bắc đang có sự chuyển mình đến ngỡngàng

Sự đổi thay ấy cũng diễn ra ở thành thị Tô Hoài đã dẫn bạn đọc nhỏ

tuổi tham gia vào chuyến đi chơi của chú mèo trong Cậu Miu để thấy thành

phố đang từng ngày, từng giờ phát triển Theo tầm quan sát của chú mèo con

“ở tầng gác mười hai, nhìn xuống một mảnh vườn Trước đây không lâu, cảvùng này còn là vườn cỏ Rồi cái vườn co dần lại, vì những tòa nhà nhiều tầngcứ mọc dần lên, bây giờ còn mọc Đứng đây trông sang, thấy trong dãy nhà

Trang 27

đương xây dựng loang loáng những tia chớp, nhằng nhằng, sang sáng, timtím” Tất cả những điều ấy làm chú thấy tò mò, khó hiểu Chuyến đi của “CậuMiu” khiến cậu khám phá được bao điều mới mẻ, kì thú: Chiếc ô che mưacho trẻ con chơi trong vườn trông như cây nấm, một cái ô tô vàng khè có thể

“veo veo chạy”, những cái ống xi măng, chiếc cần cẩu, ánh sáng hàn xì xanhxanh tim tím, những bác thợ xây, tòa nhà mười hai tầng, Tất cả những hìnhảnh, âm thanh ấy chính là sự đổi thay của thành phố được khám phá đầy mớilạ qua cái nhìn trẻ thơ

Không chỉ có sự phát triển ở nông thôn và thành thị, Tô Hoài còn chongười đọc thấy sự đổi thay diễn ra trên những vùng rừng núi “Dãy núi đằng

xa xanh xanh” (Núi xanh xanh) vốn là miền đất mà trẻ em trong làng vẫn mơ

ước được đặt chân đến để khám phá “Đứng xa, chỉ thấy có một màu xanh thếthôi, nhưng khi đến nơi mới thấy bóng núi đổi nhiều màu khác nhau lắm” TôHoài đã cho các em được thỏa mãn trí tò mò vốn có của mình mà “khối thứBé chưa biết”: Những cây dâu Việt Nam, Trung Quốc đã leo lên đồi, “lô xônhững bụi cây cốt khí ( ) mọc chen chân ven đồi để giữ đất màu”, những

“đệm cỏ dày bềnh bồng đến một thước” xanh mơn mởn, những đồi dứa Tây

Ban Nha “đỏ lựng như đồi hoa mào gà”, những chú gà trống Cuba, những chúbò Hà Lan, bò Thụy Sĩ, bò Ấn Độ, các chú bò Việt Nam, những chú bồ nông,những đàn le, đàn két, Tất cả cùng chung sống trong một vùng núi thanhbình Dưới sự dẫn dắt của tác giả, dãy núi xanh xanh xa mờ kia hiện lên thậtgần gũi, sinh động “Bây giờ, Bé đã biết không phải núi Ba Vì chỉ có một màu

xanh xanh như ta ở xa thấy thế đâu” (Núi xanh xanh).

Nói đến sự thay đổi nhanh chóng của quê hương, Tô Hoài cũng ngầm

bộc lộ lòng yêu mến cuộc sống mới, tự hào về con người mới, về đất nước

đang trên đà phát triển.

Nếu những câu chuyện trên bộc lộ cái nhìn ngỡ ngàng trước những sự

Trang 28

mác-can chính là tiếng nói trực tiếp thể hiện niềm tự hào, sự thiết tha gắn bó

với đất nước Việt Nam anh hùng Hãy nghe cuộc trò chuyện giữa tác giả vớichú Bồ nông:

“Tôi – Chú đã đến Việt Nam chưa?

Bồ nông – Rồi

Tôi – Thật đấy ư?

Bồ nông – Ai trên trái đất bây giờ mà không muốn đến đất nước ViệtNam anh hùng!

Tôi – Bồ nông đã tới quê tôi?

Bồ nông – Mùa đông vừa rồi tôi kiếm ăn ở cánh đồng bờ biển ThụyAnh Tôi đã thăm trường Thụy Dân

Tôi – Ôi chao!

Bồ nông – Tôi đã được thấy các cánh đồng, các triền núi, các thành phốViệt Nam đứng lên bắn máy bay Mỹ trả thù cho các cháu ở Thụy Dân

Tôi – Chú bồ nông!

Bồ nông – Tôi vừa mới trở về Sa-mác-can Tôi bay dọc bờ biển Đông,sang Ấn Độ Dương, tạt vào Trung Á lên đây Qua bao nhiêu nước, tôi khôngbiết Phong cảnh thì chẳng có biên giới Nước nào cũng sông, cũng rừng núi,cũng cánh đồng, thành phố và làng mạc Nhưng bay qua đâu cũng nghe người

ta nói một câu: “Mỹ thua Việt Nam đến nơi rồi” ”

Niềm tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng được bộc lộ rõ ràng qualời chú bồ nông Chú đã đến Việt Nam, đến nhiều nơi khác và nghe mọingười khẳng định “Mỹ thua Việt Nam đến nơi rồi”

Rất tự nhiên, Tô Hoài đã gieo vào trẻ em lòng tin yêu cuộc đời mới,chế độ mới, tin vào đất nước đang đi lên Chủ nghĩa xã hội

2.2 Nội dung giáo dục về tình bạn

Bạn bè luôn là một phần quan trọng trong cuộc sống của mỗi conngười Với trẻ nhỏ cũng vậy, những người bạn xung quanh trẻ ảnh hưởng rất

Trang 29

lớn đến các em, nhiều tính cách trẻ được hình thành bởi tình bạn mà trẻ cóđược trong suốt tuổi ấu thơ Bởi vậy, giáo dục về tình bạn là một nội dungquan trọng trong quá trình dạy trẻ.

Trong khá nhiều sáng tác của mình, Tô Hoài đã đề cập đến nội dung này,

gửi gắm qua mỗi trang viết là những bài học về tình bạn, về cách ứng xử trong

mối quan hệ bạn bè; ngợi ca tình bạn đẹp, biết giúp đỡ nhau khi gian khó.

Chú gà trống trong câu chuyện Ghi chép một ngày đã thấy rất nhiều

chuyện thú vị chỉ sau một ngày đường, “một đêm ngủ chuồng lạ” Đặc biệt,cậu hiểu thêm hành động yêu quý, lo lắng, biết giúp đỡ lẫn nhau giữa anh Tía,chị gà mái và vịt Đó là lòng tốt của anh Tía khi anh biết đuổi thằng Cáo, bảovệ ổ trứng chị Mái Hoa đang ấp; là chị Mái Hoa với hành động giúp đỡ vịt ấptrứng bởi “hồi này bên nhà Vịt nhiều trứng lắm”

Trong Bướm Rồng Bướm Ma, bài học về tình bạn hiện lên thật cụ thể,

sâu sắc Bướm Ma coi người như bạn của mình Dù người hờ hững, không đểý bao giờ, chúng vẫn luôn ở bên người, thương người mỏi mắt khi thấy ngườinăm nào cũng đợi Bướm Rồng Tình bạn sẽ đẹp hơn bao giờ hết khi nhữngngười bạn ở bên nhau những lúc khó khăn, cô đơn nhất Câu nói của Bướm

Ma đã thức tỉnh mọi người biết quý trọng những người xung quanh, đừng nêncó tính “xa thơm gần thối”, “bạn bè thì hờ hững mà lại đi đợi những ai ai”

Những chuyện xa lạ là câu chuyện về tình bạn giữa Sơn Dương và Dê

Bé Sơn Dương đi nhiều nên anh biết nhiều câu chuyện đường xa lý thú khiến

ai ai cũng đều yêu mến Dê Bé ngưỡng mộ vẻ đẹp và tài của Sơn Dương đãxin được theo anh Trong chuyến đi ấy, anh Sơn Dương đã thay đổi suy nghĩcủa Dê Bé, đặc biệt là bài học về việc cần yêu quý, quan tâm tới cuộc sốngxung quanh mình trước khi chạy theo những chuyện nơi xa Những lời củaSơn Dương khiến Dê Bé ngẫm làm phải, cậu nhận ra “những chuyện lý thúquanh mình mà bấy lâu không để ý không biết, phí hoài quá” Tình bạn là khi

Trang 30

Điều đó cũng được thể hiện rất cụ thể qua các truyện Suối Khỉ, Hươu

về ở vườn, Anh cua-rơ đeo số 15 Hươu về ở vườn là câu chuyện kể về tình

bạn giữa vị khách du lịch và người bạn khỉ anh gặp được trong hành trình củamình Dù là lần gặp đầu tiên hay những lần gặp lại sau đó, anh cũng đem đếncho chú khỉ kia những hiểu biết, suy nghĩ đúng đắn về hành động của mình.Lần đầu gặp anh, chú khỉ ấy chỉ lêu lổng, ăn cắp vặt Chú ta được ngườikhuyên bảo: “Chú thường ở trên cây, lúc nào trông xuống cũng thấy người ta

ai cũng làm việc, lại các bạn trâu, bò và cả bạn voi, trước kia các bạn ấy cũngở rừng lang thang như chú, bây giờ đã biết về ở làng và làm việc với người.Chú chỉ chơi mà không biết chán ư?” Lần thứ hai vị khách gặp lại chú khỉ ấylà lúc khỉ chầu chực thức ăn thừa trong quán ăn ven suối Chú khỉ còn ngỡmình đã biết đi kiếm ăn vội khoe với người: “Anh hãy mừng cho tôi đi Tôibiết kiếm ăn rồi Không lêu lổng trộm cắp như hồi đó nữa” Nhưng người dukhách đã giúp khỉ hiểu ra “thế chưa phải là anh đã đi làm Đấy là bạn bỏ ăntrộm ăn cắp rồi đi ăn xin, ăn mày Chứ chưa phải là biết làm, chưa phải là làm

để có cái ăn” (Suối Khỉ) Để rồi sau lần gặp ấy, chú khỉ đã “quyết đi tìm cuộc

sống tự lập”, “thà chịu đói, nhất định không đi ăn trộm, không đi ăn màynữa” Lần thứ ba gặp lại, chú khỉ hoàn toàn khác: “Chú khỉ đeo số 15 đạp xethi, lần nào cũng về nhất và bao giờ đến gần vạch đích thường buông hai tay

rồi cầm sáo thổi rất khéo” (Anh cua-rơ đeo số 15).

Vẻ đẹp của tình bạn còn thể hiện rõ trong truyện Cây bằng lăng – tình

bạn giữa chim vành khuyên và cây băng lăng Chim đã đến bên cây khi cây bịsâu bệnh tàn phá Chim trò chuyện, hát cho bằng lăng vui, bắt sâu giúp câykhỏi ghẻ để cây “chóng lớn, chóng có bóng lá, che cho chúng em bay xa cóchốn nghỉ chân, tránh nắng Ta giúp đỡ nhau đấy thôi”

Tình bạn còn là sự lo lắng của con suối, cây trám, của ánh trăng lấplánh dành cho người bạn nhỏ của mình là chú nai xinh đẹp vẫn hay về chơi

vào mùa trám rụng quả khi biết có người đi săn nai (Người đi săn và con nai).

Trang 31

Cũng với nội dung giáo dục về tình bạn, Tô Hoài còn viết: “ở quanh takhông phải chỉ có các ấy hàng xóm hay các ấy bạn cùng lớp Quả gấc trêngiàn đỏ lựng khi áp Tết, hoa bằng lăng tím khắp phố báo tin mùa hạ, con mèo

ngồi trầm ngâm đầu tường cũng là bạn chúng ta” (Tặng ai hay bắn chim,

bẫy chim) Và đưa đến bạn đọc một nhận thức: “muông thú và cây cỏ trong

rừng trên trái đất này đều là bạn ta, sao ta lại thèm ăn thịt bạn” (Người đi săn

và con nai).

Mở rộng ra, tác giả còn cho người đọc thấy tình bạn – tình hữu nghị tốt

đẹp giữa Việt Nam và bạn bè năm châu Tình cảm ấy được minh chứng qua

lịch sử và được kể qua lời chú bồ nông: “Mùa đông vừa rồi tôi kiếm ăn ở cánhđồng bờ biển Thụy Anh Tôi đã thăm trường Thụy Dân ( ) Tôi đã được thấycác cánh đồng, các triền núi, các thành phố Việt Nam đứng lên bắn máy bay

Mỹ trả thù cho các cháu ở Thụy Dân” (Chú bồ nông ở Sa-mac-can) Các nước

anh em cũng dành cho Việt Nam nhiều tình cảm tốt đẹp, sẵn sàng giúp đỡ để

Việt Nam phát triển Tình cảm ấy đã được ngợi ca trong Núi xanh xanh:

Giống cỏ Braxin xanh tươi quanh năm từ bên Nam Mỹ được đưa sang ViệtNam để giữ đất ven đồi, để là bạn quý của các chú bò Những quả dứa TâyBan Nha được lai tạo về Việt Nam Nhiều trung tâm giống vật nuôi được xâydựng có sự giúp đỡ của nước bạn như trung tâm trứng gà giống Việt Nam –

Cu Ba, trung tâm bò giống Môn-ca-đa (Cuba) Những chú bò được du nhập từnhiều đất nước khác nhau: Bò Thụy Sĩ, bò Hà Lan, Ấn Độ, Những loài chimtừ nhiều nơi về tránh rét, Tất cả đều cho thấy tình bạn bè gắn bó giữa ViệtNam và bạn bè thế giới cả trong thời bình và thời chiến

2.3 Mở rộng nhận thức, giáo dục cho trẻ những bài học về tư tưởng, lối sống, đạo đức

Có thể nói, đây là nội dung xuyên suốt các tác phẩm viết cho thiếu nhicủa Tô Hoài Ông đã tích cực tìm tòi, khám phá những khía cạnh khác nhau

Trang 32

nhìn, cách cảm nhận của trẻ thơ Qua đó, gửi gắm những bài học nhỏ nhưngcó giá trị giáo dục to lớn, sâu sắc với các em.

Trong truyện Cây bằng lăng, những hàng bằng lăng được trồng đã tô

điểm thêm cho vẻ đẹp của dãy phố “Những cây bằng lăng cao dần Rồi bằnglăng mọc cành ngang, từng cành sum suê, thâm thấp Đã ra dáng cây nhớnnhao rồi” Nhưng những trò đùa quái ác của lũ trẻ đã khiến cây đau đớn.Chúng “xúm nhau vít cây xuống, vít thật mạnh, bắt chỏm ngọn cây uốn dẻoxuống tận mặt đất, rồi buông cho cây vút lên, vù một cái, như cánh nỏ bật ( )chẳng mấy hôm mà những cây bằng lăng đều phờ phạc, lử khử Cây nào cũnglỏng gốc Cây lắc lư, lảo đảo Chóng mặt, héo cả lá” “Hàng cây trơ trụi nhưnhững chiếc que cắm xuống đất”

Rồi mùa xuân đến, “mưa bụi cho cây nảy mầm, nhưng mưa bụi cũng dễkhiến cây sinh bệnh” Những cây bằng lăng vốn ốm yếu, nay lại bị lũ sâu pháhoại Nhưng bằng lăng không buồn vì những người bạn nhỏ đáng mến đã xuấthiện – những chú chim vành khuyên như người thầy thuốc tận tình nhặt sâuchữa ghẻ lở cho cây “Những con chim ríu rít chuyền lên chuyền xuống”

“Tiếng chim lích rích, lích rích trên cành bằng lăng trơ trụi ( ) Vành khuyêntrò chuyện, vành khuyên reo mừng, vành khuyên thủ thỉ Vành khuyên hát chocây bằng lăng nghe” Chim đã mang lại niềm vui, động viên an ủi, bắt sâu cứuchữa cây Toát lên ở những người bạn ấy là tính cách đáng yêu: “Chúng em đinhé! Chúng em đi nhé! Các bạn bằng lăng chóng tươi lên, xanh tươi lên!”

Hành động của chú chim nhỏ đã tác động mạnh đến lũ trẻ Chúng biếtbảo nhau “đóng cọc, chăng dây thép quanh gốc cây” để bảo vệ cây “Đầu mùahạ năm ấy, cây bằng lăng trổ hoa Hoa bằng lăng tím ngan ngát, như từnglẵng hoa buông xuống” Câu chuyện chứa đựng bài học nho nhỏ: Hãy biếtyêu quý, bảo vệ từng cành cây, ngọn cỏ quanh mình! Những chùm hoa bằnglăng đầu mùa ấy cũng chính là món quà dành tặng những ai biết yêu quý, bảo

vệ cây xanh (Cây bằng lăng).

Trang 33

Những chú hải âu ở thành phố biển Latvia, đàn vịt trời ở sông Pre ngoại

ô phía tây thành phố Béc-lin và cả những chú chim ở Việt Nam đều thích đấtnước Việt Nam xinh đẹp Những người bạn ấy “Thích Việt Nam lắm nhưng

còn những cái sợ ( ) Các ấy hay bắn chim” (Tặng ai hay bắn chim bẫy

chim) Chim coi con người như những người bạn của mình nhưng hành động

bắn chim, bẫy chim của con người đã khiến đàn chim quá sợ, không dám bay

về Câu chuyện như chính nhan đề – Tặng ai hay bắn chim bẫy chim đưa ra

lời khuyên chân thành với người đọc: Hãy dừng hành động bắn chim, bẫychim! Hãy làm người bạn tốt của các loài chim!

“Đã ai thấy cây khóc bao giờ chưa?” Câu chuyện Cánh đồng yên vui

mở ra bằng câu hỏi đầy sức gợi Cây biết khóc thật sao? Vì sao cây khóc? Tácgiả đã lí giải cho bạn đọc: “Đương mùa xuân người và cây đều hớn hở, màsao những cây sanh, cây sung này trơ cành ra như những cái xương cá

Nhìn kỹ mới thấy sâu đã chén tiệt cả lá cây rồi Thành ra cái cây ghẻ.Thường mỗi khi cây trong vườn mắc bệnh ghẻ, chim chích, chim khuyên,chim bạc má đến làm hộ lý, y tá chữa chạy giúp đỡ, nhặt sâu Bây giờ mất hútcác bạn ấy

Ghẻ mà không gãi được tức đến phát khóc lên chứ Thương cây quá, tự

dưng trong tai tôi nghe thấy tiếng cây thút thít” (Cánh đồng yên vui).

Phải là người dành sự quan tâm, tình yêu thực sự cho thiên nhiên mớicó thể nghe được tiếng cây khóc như vậy Cây khóc không bởi cây và chim

không giúp đỡ nhau như chim khuyên đã từng giúp bằng lăng ( Cây bằng

lăng) Cây khóc bởi “người ta xấu tính với chim, với cây thì có” “Chỉ ngay

trước sân đã thấy cái rổ úp bẫy chim sẻ Trên cây, lồng bẫy chim khuyên,chim gáy Ở bờ ao, cái thòng lọng cò ke, bẫy chim chích chòe ( ) Người talùng bắn chim trên cây quanh nhà, quanh thành phố, quanh làng Chủ nhật,kéo nhau đi bắn chim cả ngày Chiều về, đeo hai vai hai xâu chim, nào dẽ

Ngày đăng: 05/04/2016, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1932), Hán – Việt từ điển, Hà Nội, Quan Hải tùng thư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán – Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1932
2. Vũ Ngọc Bình (1985), Đôi điêu tâm đắc, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điêu tâm đắc
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 1985
3. Hoàng Văn Cẩn (2005), Dạy học tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi – tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi
Tác giả: Hoàng Văn Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Kim Cận (1961), Sáng tác đồng thoại và những vấn đê khác, Hà Nội, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác đồng thoại và những vấn đê khác
Tác giả: Kim Cận
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 1961
5. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam, Hà Nội, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam
Tác giả: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đạihọc và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
6. Lê Bá Hán (chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
7. Tô Hoài (1977), Sổ tay viết văn, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay viết văn
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1977
8. Tô Hoài (1968), Tôi viết đồng thoại “Dế mèn, chim gáy, bồ nông”, Tạp chí Văn học số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi viết đồng thoại “Dế mèn, chim gáy, bồ nông”
Tác giả: Tô Hoài
Năm: 1968
9. Tô Hoài (2001), Tuyển tập Văn học thiếu nhi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Văn học thiếu nhi
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2001
10. Vương Kiến Huy – Dịch Học Kim (chủ biên) (2004), Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa tri thứcvăn hóa Trung Quốc
Tác giả: Vương Kiến Huy – Dịch Học Kim (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
11. Phong Lê (giới thiệu) – Vân Thanh (tuyển chọn) (2001), Tô Hoài - vê tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài - vê tácgia và tác phẩm
Tác giả: Phong Lê (giới thiệu) – Vân Thanh (tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
12. Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2008), Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại – tập 2, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam hiệnđại
Tác giả: Nguyễn Văn Long (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
13. Lã Thị Bắc Lý (2003), Văn học trẻ em, Hà Nội, Nxb ĐH sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trẻ em
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý
Nhà XB: Nxb ĐH sư phạm
Năm: 2003
14. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (1981), Tổng tập văn học Việt Nam – tập 30A, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1981
15. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
16. Võ Quảng (1982), Lại nói vê truyện đồng thoại cho thiếu nhi, Tạp chí Văn học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại nói vê truyện đồng thoại cho thiếu nhi
Tác giả: Võ Quảng
Năm: 1982
17. Hoàng Vân Sinh (2001), Nhi đồng văn học khái luận, Nxb Văn nghệ, Thượng Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhi đồng văn học khái luận
Tác giả: Hoàng Vân Sinh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w