Trong toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn,Cao lương đỏ được xem là tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm với chúng tôi và cũng tiêu biểu cho nghệ thuật trần thuật của nhà văn.. Riêng tá
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo Khoa khoa học xã hội trường Đại học Quảng Bình đã giảng dạy tôi trong suốt bốn năm học vừa qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn sát cánh, ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đồng Hới, tháng 05 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Thu Trang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nêu trong đề tài là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong một công trình nào khác
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc của đề tài 6
CHƯƠNG 1.HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MẠC NGÔN 7
1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Mạc Ngôn 7
1.1.1.Cuộc đời: 7
1.1.2.Sự nghiệp 9
1.2.Cao lương đỏ - bản giao hưởng ngợi ca về tình yêu, về sự giải phóng cá tính 13
CHƯƠNG 2.GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT 18
2.1 Giọng điệu trần thuật 18
2.1.1 Giọng điệu bỡn cợt 19
2.1.2 Giọng lạnh lùng 21
2.1.3.Giọng điệu tâm tình 24
2.2.Ngôn ngữ trần thuật 27
2.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 28
2.2.2 Độc thoại nội tâm 36
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT 39
3.1 Trần thuật ngôi thứ nhất - phương thức trần thuật độc tôn 39
3.2.Điểm nhìn trần thuật 42
3.2.1 Trần thuật đa điểm nhìn 46
3.2.2.Điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật 51
KẾT LUẬN 57
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bằng sức trẻ và đam mê, Mạc Ngôn được xem là tiểu thuyết gia của nền văn học
đương đại Trung Quốc và thế giới khi ông nhanh chóng trở thành “hiện tượng lạ”,đặc
biệt vào tháng 10 năm 2012 ông được viện Hàn Lâm Thụy Điển trao giải Nobel văn học Tuy có nhiều ý kiến trái chiều phán xét trên phương diện chính trị mà phủ nhận đi giá trị cốt lõi của văn chương, nhưng cần phải khẳng định rằng chỉ có giá trị thẩm mỹ mới là thước đo chính xác nhất đối với văn học Mạc Ngôn từng tuyên bố, một nhà văn phải bày tỏ sự phê phán và nổi giận cái mặt đen tối của xã hội và sự xấu xa của nhân tính, nhưng chúng ta không nên dùng cùng một cách bày tỏ giống nhau Một số nhà văn muốn hét toáng lên ở ngoài đường phố, nhưng chúng ta cũng phải dung thứ những nhà văn ẩn kín trong phòng và dùng văn chương để nói lên ý kiến của họ Là một nhà văn chân chính, luôn tìm kiếm những giá trị thiên lương, chiến đấu cho nhân cách đạo đức tồn tại trong con người mà Mạc Ngôn không ngại phơi bày những gốc khuất của
xã hội Tiếng nói ấy cất lênqua mỗi trang văn của ông Từ đó người ta có thể tìm thấy những trạng phức của tâm hồn đại chúng muốn phá bỏ đi những lề lối, hay những quy chuẩn xã hội cổ hủ, lạc hậu để đạt trạng thái được tự do cả về thể xác lẫn tâm hồn Tác
phẩm của ông chứa đựng những điều mới mẻ, người đọc được biết đến thế nào là“sự bùng nổ cảm giác” [2.tr.7] Chúng ta như chứng kiến tất thảy bằng mọi giác quan để
khám phá hương vị cuộc sống ẩn chứa trong mỗi trang văn Nhà văn đã góp thêm tiếng nói mới, phong cách mới trong việc tái hiện hiện thực cuộc sống và con người trong xã hội hiện đại qua nhiều góc nhìn quan sát khác nhau Mạc Ngôn không thi vị hóa mà dũng cảm phơi bày ra cái xấu, ca ngợi điều tốt Trong sáng tác của ông, ranh giới giữa thiện và ác cũng thật mong manh, đó còn là sự tranh đấu giữa cái cao quý và cái thấp hèn luôn tồn tại trong chính bản thân của mỗi con người
Mạc Ngôn từng thử sức qua thể loại như truyện ngắn đến truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết…Dù ở thể loại nào, nhà văn đều thể hiện rất tốt và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người Ông xứng đáng dành những giải thưởng danh giá trong và ngoài nước Nói đến tiểu thuyết Mạc Ngôn người ta đánh giá cao thành công của ông khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn học dân gian Trung Quốc với văn học hậu hiện đại phương Tây, cách tân đổi mới phải luôn song hành việc phát huy truyền thống Trong
Trang 6đó nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện tạo nên nét riêng biệt và sức hấp dẫn trong phong cách của Mạc Ngôn Những hiện thực đan xen nhau giữa quá khứ
và hiện tại, hiện thực và kỳ ảo khiến người đọc như đang lạc giữa ma trận nhân vật, mà nếu không chú ý liên hệ, xâu chuỗi các sự kiện thì khó có thể hiểu được toàn bộ nội dung, ý nghĩa tác phẩm mà nhà văn gửi gắm
Trong toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn,Cao lương đỏ được xem là tác
phẩm để lại ấn tượng sâu đậm với chúng tôi và cũng tiêu biểu cho nghệ thuật trần thuật của nhà văn Qua tác phẩm, ta thấy một Trung Quốc đang từng bước chuyển mình nhưng cũng đối diện nhiều thách thức khó khăn bởi những thói hư tật xấu hoành hành, những quan niệm cổ hủ, lạc hậu Một Trung Quốc đang gồng mình lên chống Nhật và vấn đề ý thức kháng Nhật của toàn dân được gói gọn trong không gian ở vùng Đông
Bắc Cao Mật Chúng tôi chọn đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Cao lương đỏ của Mạc Ngôn” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn khám phá thêm
những tài năng và cả tính sáng tạo của nhà văn Trên cơ sở đó khẳng định những đóng góp của Mạc Ngôn đối với văn học đương đại Trung Quốc
2 Lịch sử vấn đề
Theo đánh giá của giới chuyên môn thì bộ ba tác phẩm đã làm nên thương hiệu
Mạc Ngôn hay còn gọi là “Mạc Ngôn tam hồng” trên văn đàn bao gồm “Cao lương đỏ”, “châu chấu đỏ”, “Củ cải đỏ” Trong ba tác phẩm này, chúng ta thấy được phong
cách kể nặng nề, u ám với những câu chuyện thật đến trần trụi về bản chất con người, những dục vọng đố kỵ vượt ra xa sự kiểm soát của con người, của xã hội Trung Quốc đương thời
Ngay từ khi vừa xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc, tên tuổi tác phẩm Mạc Ngôn đã thu hút được sự chú ý của công chúng và giới nghiên cứu trong nước và quốc
tế, trong đó có Việt Nam Cái tên Mạc Ngôn và những cuốn tiểu thuyết của ông được
đón đọc nồng nhiệt như Báu vật cuộc đời, Đàn hương hình, Sống đọa thác đày, Tứ thập nhất pháo, Thập tam bộ, Châu chấu đỏ, Ếch,Cao lương đỏ Ở Mạc Ngôn người ta
thấy được dũng khí của một cây văn vừa mãnh liệt vừa tưng tửng, vừa cay đắng vừa hóm hỉnh, hài hước, đôi khi là đả kích, là xót xa Người đọc thấy được những tan nát,
bê bối, bi thảm của thời cuộc, của xã hội Nhà văn dám vạch trần những uẩn khúc tồn tại trong xã hội Trung Quốc Nói lên điều không ai dám nói đó là sự dũng cảm xuất
Trang 7phát từ cái tâm của người cầm bút Nhưng đằng sau đó cũng là nỗi xót xa, cay đắng, là tâm tình của ông
Hiện nay, Mạc Ngôn được xem là nhà văn có bút lực mạnh nhất Thật đúng khi nhận xét ông là người thẳng thừng và dấn thân, khai phá thế kỷ XXI Sự kiện Mạc Ngôn đạt giải Nobel văn học năm 2012 đã một lần nữa minh chứng cho tài năng của ông Từ những góc nhìn và đánh giá, chúng tôi tổng hợp các bài phỏng vấn, bài báo liên quan đến nội dung tác phẩm Khán giả Việt Nam được biết tới cái tên Mạc Ngôn
qua cuốn “Mạc Ngôn và những lời tự bạch” của dịch giả Nguyễn Thị Nại tập hợp
những bài phỏng vấn của ông Qua đó chúng ta được hiểu hơn về một nhà văn đại tài
đã trải qua trong tuổi thơ và hành trình đến ngày vinh quang hôm nay của ông
Trên báo Văn nghệ số 5 tháng 12 năm 2003 có đăng bài viết Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam của Hồ Sỹ Hiệp Có rất nhiều bài báo, bài phê bình của các độc giả nước ngoài cũng được dịch rộng rãi ở Việt Nam, trong đó phải kể đến bài
đăng trên báo Trung Hoa độc thư báo tháng 1 năm 2004 có tựa đề Chín nhà văn ấn tượng nhất năm 2000 do Trần Sơn dịch Bài viết tổng kết những bước sáng tạo của Mạc Ngôn từ những tiểu thuyết đầu tiên Tiếp đó, bài viết của Lê Huy Tiêu“Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã nên lên ba vấn đề chính: Cao Mật – Trung Quốc- Nhân loại: duy nhất và tất cả, kết hợp đặc trưng tự sự tuyền thống của Trung Quốc với tự sự hiện đại và hậu hiện đại phương Tây, tái sinh những sách lược
tự sự cổ xưa nhất của Trung Hoa”[16.52]
Sáng tác của Mạc Ngôn xuất hiện và gây được tiếng vang lớn trên văn đàn Trung Quốc trong nhiều năm gần đây Các công trình dịch thuật được quan tâm nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn rất hiếm hoi Qua tìm hiểu và khảo sát các công trình nghiên cứu cũng như các bài báo trên tạp chí văn học, khóa luận đại học đã được công bố, chúng ta nhận thấy rằng các tài liệu này chỉ tập trung tìm hiểu tiểu sử, cuộc
đời, sự nghiệp của nhà văn Riêng tác phẩm Caolương đỏ được nhắc đến trong bài nghiên cứu khoa học Điểm nhìn trần thuật của Mạc Ngôn do thạc sĩ Phan Thị Nga,
giảng viên trường đại học Vinh, năm 2009 và khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thu
Phương với đề tài Thế giới nghệ thuật trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn, năm 2010
thì không có công trình nào đi sâu nghiên cứu tìm hiểu một cách có hệ thống
Trang 8Ngày 12 tháng 8 năm 2006, “Hội nghiên cứu Mạc Ngôn Cao Mật” được thành
lập tại tỉnh Sơn Đông Hội là diễn đàn nghiên cứu và trao đổi khoa học chuyên về sáng tác của Mạc Ngôn
Đến đầu thế kỉ XXI,Việt Nam mới biết đến những tác phẩm của Mạc Ngôn do các dịch giả Trần Đình Hiến, Nguyễn Thi Thại, Trần Trung Hỉ Đây là các công trình đầu tư nghiên cứu chuyên sâu, là cơ sở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về Mạc Ngôn nói chung và tác phẩm này nói riêng
Ngoài ra, hiện nay tại Việt Nam còn có các công trình nghiên cứu khác như:
-Mạc Ngôn và những lời tự bạch (Nguyễn Thi Nại dịch, Nhà xuất bản văn học,
2004) tổng hợp nhiều bài nói chuyện, phỏng vấn trao đổi của nhà văn Mạc Ngôn
-Mạc Ngôn – chuyện văn, chuyện đời (Nguyễn Thị Thại dịch, Nhà xuất bản Lao
động, 2003) đã học người đọc thấy được những câu chuyện, những cái nhìn cụ thể, gần gũi hơn đối với con người và sự nghiệp văn chương của nhà văn Mạc Ngôn
-Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại (Hồ Sĩ Hiệp, Nhà xuất bản tác
phẩm TP.Hồ Chí Minh, 2001) đã điểm qua các sáng tác của Mạc Ngôn, có phân tích
nét đặc sắc trong tác phầm tuy nhiên còn chưa đi sâu phân tích cụ thể
Bên cạnh đó còn có các bài báo, tạp chí về nhà văn Mạc Ngôn như:
-Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Lê Huy Tiêu, Tạp chí Văn học
nước ngoài, số 4, 2003) cung cấp một cái nhìn tương đối hệ thống về nghệ thuật trần thuật qua các tác phẩm của Mạc Ngôn, từ đó định hướng cho người đọc trong quá trình tìm hiểu tác phẩm
-Thử phản biện Mạc Ngôn (Lê Huy Tiêu, Báo văn nghệ, số 46, 2008) Đưa ra các
quan niệm cá nhân trong cách đánh giá, nhìn nhận về tác giả Mạc Ngôn
-Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn (Nguyễn Thị
Cẩm Anh, Đại học sư phạm Thái Nguyên, 2008
- Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai tiểu thuyết Đàn hương hình và Báu vật cuộc đời, Nguyễn Khắc Phi, Tap chí song Hương, số 166,2001
-Những cách tân về nghệ thuật trong tiểu thuyết Đàn hương hình, Mai Đức Hán,
Tạp chí khoa học Đại học Vinh, tập 34, số 4B, 2004
Trang 9Và các bài viết xuất hiện trên trên mạng Internet đa phần đều nói về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Mạc Ngôn thông qua các dịch giả
Trong những năm qua, thực tế về tìm hiểu nghiên cứu Mạc Ngôn còn ít ỏi hay đa phần chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các tác phẩm từ đó người đọc tiếp cận để người đọc
có thể tiện trong quá trình tìm hiểu để biết thêm thông tin mới về Mạc Ngôn
Trong cuốn sách Mạc Ngôn – nghiên cứu và tư liệu, tác giả Dương Dương đã tổng hợp rất nhiều bài viết nghiên cứu về tác giả Mạc Ngôn được đăng tải trên các tờ
báo trong và ngoài nước uy tín Ở công trình này tác giả đã khẳng định“sinh mệnh, cảm giác, hình ảnh là ba trụ cột lớn của tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng chống đỡ mô thức tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Dương Dương, Mạc Ngôn nghiên cứu tư liệu).Những vấn đề liên quan đến người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu, không gian –
thời gian, ngôn ngữ với hàng loạt các thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo để lật
đổ thủ pháp tự sự truyền thống đã bước đầu nói tới
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả của ngiên cứu chúng tôi mạnh dạn
đề cập tới một cách tiếp nhận giá trị đích thực của tác phẩm Cao lương đỏ ở phương
diện nghệ thuật trần thuật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Cao lương đỏ của Mạc Ngôn
Đề tài tập trung nghiên cứu về các vấn đề như: giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật; phương thức trần thuật Về giọng điệu chúng tôi đi sâu tìm hiểu qua giọng điệu bỡn cợt, giọng lạnh lùng, giọng tâm tình; ngôn ngữ trần thuật bao gồm ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm Về phương thức trần thuật bao gồm giới thuyết về trần thuật và trần
thuật ở ngôi thứ nhất Chỉ ra điểm nhìn trần thuật tiêu biểu trong tác phẩm Cao lương
đỏ ứng với phong cách nhà văn
Đề tài nghiên cứu tiểu thuyết Cao lương đỏ dựa trên bản dịch của Lê Huy Tiêu
phát hành năm 2004 Ngoài ra chúng tôi còn khảo sáng một số tiểu thuyết khác để so sánh và đánh giá
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
Trang 10- Phương pháp xã hội học: Nghiên cứu sự tác động của xã hội đến tác phẩm
- Phương pháp phân tích văn bản từ góc độ lý thuyết Tự sự học, Thi pháp học, Phong cách học nhằm vận dụng những bình diện lý thuyết làm cơ sở tiền đề trong quá trình phân tích, so sánh, phát hiện thêm những đổi mới sáng tạo của Mạc Ngôn
- Phương pháp lịch sử: Để nghiên cứu quá trình vận động của nghệ thuật trần thuật trong cách tân và đổi mới qua mỗi tiểu thuyết
- Phương pháp Đồng đại lịch đại: nhằm đối chiếu giữa yếu tố cũ và mới với các nhà văn khác để nêu bật lên tính kế thừa, phát huy truyền thống và cách tân đổi mới trong phong cách của nhà văn
- Thủ pháp: So sánh – đối chiếu, phân tích, thủ pháp tổng hợp hệ thống nhằm làm
rõ hơn về nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn qua Cao lương đỏ
5 Đóng góp của đề tài
Về mặt nghiên cứu lý thuyết
Từ kết quả nghiên cứu về một số phương diện của tiểu thuyết Cao lương đỏ, đề
tài đưa ra một cách tiếp cận mới về nghệ thuật trần thuật, góp phần làm nổi bật vị trí và những đóng góp của nhà văn trong nền văn học đương đại Trung Quốc và nhân loại
Về mặt thực tiễn
Đề tài góp phần vào việc tiếp nhận,tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Cao lương đỏ
và nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phần nội dung của khóa
luận gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn
Chương 2: Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật
Chương 3: Phương thức trần thuật
Trang 11CHƯƠNG 1.HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MẠC NGÔN
1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Mạc Ngôn
thơ là những ngày chăn dê, thiếu giấy bút, thiếu chữ và bị cái đói hành hạ: “hồi nhỏ tôi
đi chăn trâu, lúc nào bụng cũng đói, mệt bèn nằm dài ra đất ngẩn ngơ nhìn mây trắng trên trời, bởi vì tôi cảm thấy đám mây trắng kia dường như sẽ lập tức biến thành cái bánh bao rơi vào mồm tôi Giờ nhìn thấy đường chân trời, tôi lại nhớ thời niên thiếu nghèo khó của mình…Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn dòng nước lớn lững lờ trôi mà cảm thấy vừa rợn ngợp vừa tráng lệ”[13] Một ấn tượng sâu đậm nữa chính là tiếng kêu của trăm ngàn con ếch, inh tai nhức óc:“có khi ngay trong đêm khuya, nghe như tiếng
ma quỷ Nước lũ và tiếng ếch là hai nỗi ám ảnh lớn nhất của tuổi thơ tôi”[13] Nhưng
cũng chính chuỗi ngày thơ bé đầy gian khổ ấy đã hun đúc nên tâm hồn yêu văn
chương và nguồn cảm hứng một “cái bao tải khổng lồ” trong tất cả sáng tác của Mạc
Ngôn Mạc Ngôn là đứa trẻ có tư chất tốt từ nhỏ, rất thích nói chuyện, tất thông minh, giỏi bắt chước và trí nhớ tốt, ham học và có khiếu văn chương Đi học lúc sáu tuổi và biết đọc, chín tuổi đã đọc nhiều quyển sách có được Trong thôn, trong làng nhà nào
có nhiều sách Mạc Ngôn đều mượn để đọc: Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Ông lão đánh cá và con cá vàng, Cô bé bán diêm của Andecxen, Quán nhà Lâm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá, Khuất Nguyên của Quách Mạc Nhược Ông miệt
mài gieo niềm đam mê vào sách Chính những quyển sách ấy đã ảnh hưởng ít nhiều đến sáng tác của ông sau này, bởi nội dung giàu giá trị nhân văn, phản ánh rõ về hiện
Trang 12thực xã hội Đồng thời, những cuối sách ấy chính là ấn tượng khó có thể phai mờ trong tâm trí của tác giả về những ngày thơ trẻ Những người lớn trong nhà là kho truyện kể,
cứ đêm đêm Mạc Ngôn và các anh chị thi nhau kể chuyện cho đến tận bây giờ nhà văn vẫn nhắc tới 300 câu chuyện Mỗi câu chuyện ấy sau này là mỗi tiểu thuyết Phải chăng gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn văn chương và nguồn cảm hứng
khổng lồ cho nhà văn sáng tác Mạc Ngôn từng nói rằng, mọi thứ ông có được “đều xuất phát từ chiếc bao gai Đông Bắc Cao Mật rách tả tơi”, “chiếc bao gai rách nát"
là cách nói rất hình tượng về vùng đất “vừa anh hùng vừa thổ phỉ” Đó cũng chính
mảnh đất Đông Bắc Cao Mật, là nơi đã sinh ra người con thiên tài Mạc Ngôn, là nơi tác giả sử dụng ngòi bút của mình để khai thác không biết mệt mỏi trong hành trình sáng tạo của mình, đó cũng là cái tình mà ông gửi trọn đến quê hương
Trong cuốn tự truyện “Biến” đầu tiên của Mạc Ngôn là kí ức nghèo khổ của nhà
văn Ở trong cuốn tự truyện này, câu chuyện cuộc đời của nhà văn hiện ra qua cách kể trực tiếp và giản dị Với ông, đó là kỉ niệm khó quên đầu tiên trong cuộc đời được
nhắc đến đầy xúc động “bị xóa tên khỏi học tịch, đá đít khỏi trường” Sự nghèo đói
mang đến những uẩn ức, bị đối xử bất công, đó cũng chính là lí do mà Mạc Ngôn đang học dở lớp năm đành nghỉ học, đi làm nhiều nghề mưu sinh kiếm sống
Khi cách mạng diễn ra, ông chọn cách đi bộ đội để thoát nghèo Những miếng ăn nhọc nhằn đã in hằn quá sâu trong kí ức của nhà văn Chiếc xe Gaz 51 Liên Xô cũ màu xanh lá mạ, những ước mơ của tuổi thơ ông cứ hiển hiện lên trong từng giai đoạn cuộc đời như sự ám ảnh chưa bao giờ dứt trong tâm trí Mạc Ngôn Để rồi những kí ức ấy được tái hiện qua các sáng tác của ông Năm 1976, Mạc Ngôn gia nhập quân đội Ông luôn ấp ủ trong mình giấc mơ Đại học để trở thành nhà văn Để làm được điều đó, Mạc ngôn đã dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu tìm hiểu sách về lí luận và chính trị rồi tập tành sáng tác Bằng sự nỗ lực và vươn lên, năm 1984, Mạc Ngôn đã trúng tuyển vào khoa Văn thuộc học viện nghệ thuật quân giải phóng Năm 1986 ông tốt nghiệp Năm 1988, Mạc Ngôn trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh khoa Lí luận sáng tác thuộc học viện văn học Lỗ Tấn, trường Đại học sư phạm Bắc Kinh, lấy bằng thạc sĩ năm
1991 Hiện nay ông đang là sáng tác viên của cục chính Trung Quốc Những hành trang về kiến thức mà ông đã có được ở trường học góp phần không nhỏ đến sự nghiệp sáng tác văn học để ông có được nền tảng vững chắc chắp cánh cho những trang văn trở nên thăng hoa hơn, cảm xúc hơn
Trang 13Chính sự thông minh, bản lĩnh cùng tuổi thơ từng trải, cực nhọc, nếm đủ đầy những thăng trầm mà cuộc đời, sự nghèo túng hay khốn khó lại trở thành mạch nguồn, mạch cảm xúc đang chảy trôi mạnh mẽ trong Mạc Ngôn, giúp ông hiểu một cách chân thực, sâu sắc về cuộc sống lam lũ, cùng khổ của người nông dân và nông thôn đặc biệt
là mảnh đất vùng quê Cao Mật quê hương
một nhà văn có bút lực mạnh nhất Trung Quốc hiện nay, là người thẳng thắn nhất, dám dấn thân nhất bằng sự miệt mài lao động không ngơi nghỉ Ông chính là nhân vật khai phá thế kỉ XXI ở Châu Á Đọc tác phẩm của ông ta hình dung khá rõ về quá trình vận động toàn diện cả về tư tưởng và tình cảm Ông trăn trở tìm tòi, tiếp cận và không ngừng đổi mới Ông từ bỏ những lý luận khô cứng,ông viết với một tấm lòng vì nhân dân Dùng ngòi bút của mình để sẻ chia với nỗi đau của đại chúng Không phải ngẫu
nhiên mà người đời mến tặng biệt danh “nhà văn chân chất – Mạc Ngôn” Hiện thực
nông thôn trong sáng tác của ông được phản ánh chân thực nhưng lạ hóa, mang đậm thú tính và nhân tính quyện hòa vào nhau đầy lôi cuốn, hấp dẫn Tác giả khéo léo dẫn dắt người đọc vào dòng chảy lịch sử để rồi bằng tất thảy những giác quan của mình như đang sờ đang ngửi đang nếm đang thấy và chứng kiến từng chút một bước chuyển mình của cánh đồng cao lương vùng Đông Bắc Trung Quốc Là nơi đã gắn bó với tuổi thơ của Mạc Ngôn, mảnh đất Cao Mật luôn xuyên suốt trong các tác phẩm của Mạc Ngôn Người đọc luôn thấy sự hấp dẫn bởi các yếu tố thực ảo, hiện tại, quá khứ, thật
giả… đầy “mê hoặc” Có được thành công ấy, ngoài đam mê, tìm tòi còn là sự trải
nghiệm, quan niệm của nhà văn về tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung
Đối với Mạc Ngôn, những gì tiểu thuyết phản ánh phải xuất phát từ cuộc sống thực tại, nó cũng thể hiện qua các định nghĩa mà ông từng đưa ra về tiểu thuyết tiểu thuyết là sự ghi chép những tưởng tượng ngông cuồng của nhà văn hay là sự kết hợp giữa cõi mộng và sự thật, cũng có lúc nó là cái thùng chứa đựng những tình cảm của
Trang 14nhân loại Tiểu thuyết là lát cắt có tính sinh lý đời sống tinh thần của nhà văn Trong
bài phát biểu Bài ca cây tỏi thiên đường,nhà văn từng viết:“Khi viết về cuốn tiểu thuyết sát sao với hiện thực xã hội, vấn đề lớn nhất mà tôi đối mặt thực ra không phải
là chuyện tôi dám hay không dám phê bình các hiện tượng đen tối trong xã hội mà là những chuyện cảm xúc và lòng căm giận bừng bừng ấy có thể làm cho chính trị áp đảo văn học, khiến cho bộ tiểu thuyết đó trở thành một phóng sự tường thuật sự kiện
xã hội… Có thể là do tôi từng trải qua cuộc sống gian khó lâu dài, điều đó khiến tôi có hiểu biết khá sâu sắc về tính người Tôi biết thế nào là dũng cảm thật sự, cũng hiểu được buồn thương là gì Tôi hiểu trong cõi lòng mỗi người đều có một vùng mờ ảo; cái vùng ấy khó có thể diễn tả thỏa đáng bằng một từ ngữ đơn giản là nó phải hay trái, thiện hay ác… Chỉ cần là một tác phẩm mô tả chuẩn xác, sinh động cái vùng mờ ảo đầy những mâu thuẫn ấy, thì cũng tất nhiên sẽ vượt qua chính trị và có được những phẩm chất văn học ưu tú”(Trích trong Diễn từ Noben, bản dịch của Nguyễn Hải
Hoành ngày 13 tháng 12 năm 2012)
Mạc Ngôn coi trọng trước hết là việc khai thác những yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm, cốt truyện Nó không chỉ đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài mà cần nhấn mạnh cảm thụ trực giác, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, kích thích sự tò mò của người đọc Các trạng thái cảm xúc mà tác phẩm của ông mang lại cho người đọc hoặc là thán phục ngưỡng mộ , hoặc là ghê tởm, sợ hãi hay xót xa, tiếc nuối, có khi là kinh hãi, là ngỡ ngàng,… đều được đẩy đến độ cực điểm Khi miêu tả về những mất mát đau thương điển hình là cái chết, người ta thường nói nhiều thì người kể chuyện ở đây lại
kể với cảm giác và truyền cảm ghê rợn cho người đọc chứ không đơn thuần là nỗi đau trước cái chết đơn thuần Chính những khát khao muốn sáng tạo và đổi mới trong văn chương, nhà văn đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện bản thân Với ông, sự sáng tạo không phải cứ chen nhau chạy theo mốt xu hướng mà là cách viết và những gì quen thuộc, với ngòi bút tả thực cùng trí tưởng tượng phong phú của nhà văn để cuối cùng
tạo ra một món ăn tinh thần mới , những “mùi vị” không tồn tại và những sự thực
không có thực làm cho tác phẩm có sự sống, có linh hồn
Mạc Ngôn hướng ngòi bút văn chương đến “lạ hóa” và “phá cách” Trong tác phẩm của ông, chỗ nào cũng thể hiện tư tưởng vừa kế thừa vừa phát huy truyền thống
Ý thức hệ Nho giáo ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa Trung Quốc về quan
niệm nhân - nghĩa- lễ- trí để “tề gia trị quốc bình thiên hạ” Ví như truyền thống
Trang 15“kính lão trọng già” thì các nhân vật lớn tuổi trong các tác phẩm của Mạc Ngôn lại rất phong tình, ân ái với nhau ngay ở trong ruộng cao lương (Cao lương đỏ) Các nhân vật
của Mạc Ngôn dường như không bị ràng buộc bởi những quan niệm về sự sống và cái chết, giữa linh hồn và thể xác, giữa bản năng và đạo đức Mỹ học truyền thống phương
Đông rất coi trọng sự “tao nhã”,“ trung hòa” rất kiêng kị đưa cảnh máu me tanh hôi,
hành động thú tính vào văn chương Nhưng Mạc Ngôn lại không né tránh, e dè mà mở
toang cửa để “cái ác” tràn vào Nào cảnh giết người theo kiểu Đàn hương hình, kiểu như Châu chấu đỏ, cảnh hãm hiếp phụ nữ, cảnh đại tiện ô uế, cảnh róc thịt lột da…
Tất cả cứ phơi bày trần trụi như những gì nó vốn có
Mạc Ngôn đã học tập, tiếp nhận văn học nước ngoài có chọn lọc và sáng tạo Đọc
tác phẩm của ông ta thấy dấu ấn Trăm năm cô đơn của Marquenz , Hóa thân của Kafka, Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner Dù là tiếp nhận tinh hoa văn hóa hiện đại
của Phương Tây, nhưng Mạc Ngôn vẫn luôn tôn trọng phương thức thẩm mỹ của văn học truyền thống Trung Quốc, hòa nhập chứ tuyệt nhiên không hòa tan Tác phẩm của ông vừa mang hơi hướng hiện đại nhưng cũng đậm đầy tính dân tộc
Tháng 10 năm 1987, Mạc Ngôn chuyển sang hoạt động lĩnh vực báo chí và viết văn chuyên nghiệp Năm 1981, ông bắt đầu công bố tác phẩm và đến nay ông đã cho
in 10 truyện dài, 20 truyện vừa, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tùy bút,…tổng cộng trên 200 tác phẩm Tác phẩm làm nên tên tuổi của Mạc
Ngôn là truyện Cao lương đỏ (nguyên tác Hồng cao lương gia tộc)(1988), đây là mốc son trên chặng đường văn học của ông Cao lương đỏ tái hiện lại bức tranh toàn cảnh
xã hội thập niên 1920- 1930 trên quê hương của chính tác giả - mảnh đất Cao Mật tỉnh Sơn Đông
Phong nhũ phi đồn (Báu vật cuộc đời, 1995) là tác phẩm tạo được tiếng vang lớn,
tái hiện những mảng sáng – tối, khuất – tỏ, là một bích họa miêu tả thời kỳ lịch sử dài với vô vàn số phận con người vùng đất Cao Mật – Đại La trong những biến cố Trung Quốc thế kỷ XX qua lăng kính cuộc sống của một gia đình Tác phẩm là đại diện tiêu biểu cho phong cách sáng tác dựa trên đề tài lịch sử, đã nhanh chóng trở thành hiện tượng và được trao giải cao nhất của Hội nhà văn Trung Quốc về truyện
Đàn hương hình (2004) gồm 3 phần, 18 chương, mỗi phần đều dùng phương
thức tự thuật Tác phẩm là câu chuyện kể về sự tàn bạo thuở đế chế phong kiến đang sụp đổ Sử dụng chất liệu văn học dân gian làm phông nền, tác giả đã thành công trong
Trang 16việc khắc họa một giai đoạn lịch sử đẫm máu ở Trung Quốc từ năm 1895-1915 Khi đó Trung Quốc trở thành chiếc bánh ga-tô ngon lành để các đế quốc chia nhau xâu xé Triều đình Mãn Thanh bạc nhược, thối nát, bất lực, quan lại đương thời hoặc tiếp tay
cho giặc hoặc ươn hèn, thối chí, đời sống nhân dân vô cùng rối loạn “Lãnh tụ” của
cuộc khởi nghĩa chống quân Đức ở huyện Cao Mật khi đó là một ông bầu gánh hát Tác phẩm đem về cho Mạc Ngôn giải Mao Thuẫn – giải thưởng văn học danh giá nhất
tại Trung Quốc thời bấy giờ Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng trong Đàn Hương hình là hý kịch Miêu Xoang, một loại nhạc dân gian phổ biến ở vùng Đông Bắc Cao Mật trên cái nền là sự kiện Cách mạng nóng hổi “Đàn hương hình” nghĩa là
hình phạt bằng gỗ đàn hương, ngoài việc giới thiệu về lịch sử của hý kịch Miêu Xoang còn cho người đọc biết về những ngón đòn tra tấn, tử hình, tội phạm, luyến ái…ở Trung Quốc
Tiểu thuyết Sống đọa thác đày (2006) sử dụng bút pháp trào phúng để mô tả cuộc
sống thường nhật và những chuyển biến dữ dội ở nước Cộng hòa nhân dân non trẻ lúc bấy giờ
Thập tam bộ (2007) được xem là cuốn tiểu thuyết để lại những ấn tượng sâu đậm
trong lòng bạn đọc Tác phẩm tái hiện phần đời sống đầy bi kịch của tầng lớp trí thức nói chung và nhà giáo nói riêng được đề cập tới qua nhân vật không xác định, cốt truyện không xác định bởi tất cả chỉ là hư vô, là những ẩn ức bị xáo trộn như chính sự phức hợp của đời sống phản ánh vào tư duy Tác phẩm là sự mơ hồ, đầy sự hoài nghi bởi sau cùng chúng ta cũng không xác định được ai là nhân vật ngồi trong chuồng sắt
kể về những câu chuyện đời chua chát của những thầy giáo dạy Vật lý
Ếch (2009) tác phẩm mới nhất của Mạc Ngôn phản ánh về tư tưởng trọng nam
khinh nữ đã hằn sâu vào văn hóa của người Trung Quốc, chính những định kiến sai lệnh dẫn tới việc nạo phá thai và bỏ mặc những bé gái kéo dài tới nay ở nhiều vùng
nông thôn Ếch là câu chuyện kể về một cô vợ lẽ ở nông thôn Trung Quốc bị buộc phải
phá thai và triệt sản, đồng thời tác phẩm cũng là tiếng nói của nhà văn về chính sách một con độc đoán gây ra những hệ lụy vô cùng nghiêm trọng
Để có được những thành công trên con đường đến với nghệ thuật không phải là
điều dễ dàng, không “thuận buồm xuôi gió” như nhiều người vẫn lầm tưởng mà đó là
cả một chặng đường trắc trở, quanh co Song nhờ vào ý chí, nghị lực, và sự kiên trì, ước mơ hoài bão của một nhà văn chân chính không ngừng ngơi nghỉ, không ngừng
Trang 17sáng tạo, Mạc Ngôn đã làm nên tên tuổi và sự nghiệp của mình trên văn đàn văn học Trung Quốc và thế giới Bằng cách viết về quá khứ, chọn phong cách thực hiện huyền
ảo, phương thức trần thuật độc đáo, khéo léo,ông đã tạo cho mình một phong cách riêng biệt với các nhà văn đương thời
Các loạt giải thưởng văn học Mạc Ngôn đã giành được:
Giải nhất hội nhà văn Trung Quốc cho tiểu thuyết Báu vật cuộc đời tháng 12
năm 1995
Giải Mao Thuẫn cho tiểu thuyết Đàn hương hình
Giải tiểu thuyết toàn quốc lần thứ tư 1987 cho Cao lương đỏ, Trương Nghệ Mưu dựng thành phim và đoạt giải Con gấu vàng ở liên hoan phim Berlin 1998
Giải văn học liên hiệp (Đài Loan)
Giải văn học nước ngoài Laure Batlin của Pháp
Giải thưởng lớn cho văn hóa Châu Á (Nhật)
Huân chương kỵ sĩ nghệ thuật văn hóa Pháp tháng 3 năm 2004
Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học công khai Hồng Công trao tặng tháng 12 năm 2005
Tiểu thuyết Ếch mới nhất đạt giải văn học Mao Thuẫn 2010
Giải Nobel văn học tháng 10 năm 2012
1.2 Cao lương đỏ - bản giao hưởng ngợi ca về tình yêu, về sự giải phóng cá tính
Mạc Ngôn luôn hướng ngòi bút của mình vào những chủ đề nóng bỏng nhất của lịch sử và thời đại Sở dĩ như thế vì ông sống trong thời kì xã hội đầy biến động, mang
tính bi kịch Đó là sự trói buộc về chính trị, là cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản”
và còn là vấn đề nhận thức lại cuộc sống Trong số các nhà văn ở Trung Quốc, bằng tình yêu quê hương và dùng những trang văn để viết về chính quê hương của mình thành công nhất phải kể đến Mạc Ngôn… Độc giả Việt Nam được biết đến với Mạc
Ngôn qua những tác phẩm như Đàn hương tình, cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ… Nhưng Cao lương đỏ luôn là tác phẩm để lại những dấu ấn khó phai bởi nó luôn chứa
đựng ý nghĩa ẩn sâu trong tác phẩm Đây là tiểu thuyết ấn tượng của nhà văn được dịch ra nhiều thứ tiếng như: tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Tây Ban Nha,
tiếng Hàn Quốc, tiếng Việt Cao lương đỏ như con tàu vượt thời gian đưa độc giả trở
Trang 18về thập niên 1920-1930, trên mảnh đất quê hương của Mạc Ngôn – mảnh đất Cao Mật tỉnh Sơn Đông
Cao lương đỏ viết về cuộc chiến đấu chống Nhật của nhân dân Trung Quốc vùng Đông Bắc Cao Mật Giống như tiểu thuyết truyền thống, Cao lương đỏ vẫn có cốt truyện nhưng cốt truyện Cao lương đỏ khác tiểu thuyết truyền thống ở chỗ không hoàn
chỉnh, không đầy đủ các thành phần chính như thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút mà chỉ là cái khung truyện Cái khung truyện ấy chứa đựng trong nó nhiều câu chuyện
nhỏ Cốt truyện Cao lương đỏ không có những sự kiện, tình tiết li kỳ, gay cấn và các
sự kiện, tình tiết được tái hiện cũng không theo trật tự thời gian mà có sự đan cài lồng ghép vào nhau trong chín chương được đánh số thứ tự từ một đến chín Diễn biến của cốt truyện không liên tục, liền mạch theo trật tự các chương, bản thân từng chương
cũng bao chứa trong nó một số câu chuyện Chủ đạo trong Cao lương đỏ là chuyện về
đội du kích gồm bốn mươi người do Từ Chiếm Ngao, thủ lĩnh thổ phỉ làm tư lệnh đi phục kích đoàn xe Nhật Trải qua một trận chiến không cân sức đã giành thắng lợi, câu chuyện được kể một cách không liền mạch mà có phần rời rạc, chắp nối, đan xen những sự kiện rải rác ở chương: 1,4,6,7,9
Mở đầu chương 1 bằng sự kiện “bố tôi” gia nhập đội du kích, Từ Chiếm Ngao
có vai trò làm chỉ huy đội du kích hành quân đi phục kích xe Nhật và tạm dừng tại đây Rồi câu chuyện được trở lại tiếp tục ở chương 4: Từ Chiếm Ngao bố trí du kích
mai phục xe Nhật ở bờ đê Chuyện dừng lại ở chi tiết tư lệnh Từ bảo với “bà tôi” mới lại được kể tiếp Chi tiết “bà tôi” trông thấy Tào Linh Tử (con gái nhà dân) điên dại đã
làm câu chuyện rẽ sang hướng khác, đồng thời mở ra câu chuyện mới về cái án tử hình của Từ Đại Nha ở phần sau của chương 6 Toàn bộ hành trình tiếp tế quân lương của
“bà tôi” được kể chi tiết ở chương 7 và diễn biến của trận đánh, tinh thần dũng cảm , quyết tử của đội du kích, và chiến thắng của họ ở chương 9 đã kết thúc câu chuyện chống Nhật
Vẫn lối kể như trên, câu chuyện về ông La Hán được kể trong 3 chương: 1,3,4 Chương một: giới thiệu về ông La Hán- người làm công cho “bà tôi” đã cùng “bố tôi” bắt cua những đêm thu năm trước Ở chương 3: La Hán bị quân Nhật bắt đi phu Cuộc hành hình đầy ám ảnh bởi sự man rợ của giặc Nhật và cái chết thương tâm của ông La Hán là một phần của chương 4
Trang 19Cũng được kể một cách đứt quãng, đan xen, rời rạc về câu chuyện tình yêu của
“ông tôi” và “bà tôi”; cuộc hôn nhân bất hạnh của “bà tôi” với Đơn Biển Lang; về
“bố tôi” (Đậu Quan), về Từ Đại Nha, đội trưởng Lãnh… Những câu chuyện này xuất
hiện bất chợt trong câu chuyện đánh Nhật, được kể từ ngôi thứ nhất, với nhân vật
chính là Cửu Nhi- bà nội của người kể chuyện Cao lương đỏ lấy bối cảnh miền núi
Sơn Đông, Cao Mật những năm 1930 của thế kỉ trước Cô gái đang căng tràn sức trẻ như Cửu Nhi (Đái Phượng Liên) xinh đẹp, tài năng, cá tính, đầy khát vọng yêu đương
đã bị tước bỏ đi giấc mơ bên người yêu là anh chàng thư sinh Trương Tuấn Kiệt Khi nghe tin người cha bán mẹ mình cho một người chủ đội gánh thuê, Cửu Nhi đã phải vay tạm tiền nhà họ Trương để chuộc mẹ Nhưng không ngờ khi có được tiền thì mẹ
cô đã treo cổ tự sát Cô vô cùng đau khổ Trương Tuấn Kiệt hẹn Cửu Nhi bỏ trốn khỏi
sự phản đối gay gắt từ gia đình ngay trong đêm Cha của Tuấn Kiệt báo cho Hoa Bột
Tử là tên thổ phỉ Để có tiền trả những khoản nợ nần, cha cô đem gả cho một người đàn ông con nhà giàu mắc bệnh phong là Đơn Biển Lang, con trai Đơn Đình Tú Ngày bước lên kiệu hoa, cô gái đầy chán chường ấy đã gặp và say mê một trong những người phu kiệu khỏe mạnh, mà sau này đã trở thành tư lệnh Từ Chiếm Ngao, người anh hùng phục kích đoàn xe Nhật Ngày hôm ấy cũng chính anh đã cứu cô thoát khỏi tay bọn cướp ở đầm Con Cóc Hai ngày sau ở nhà chồng, sức cùng lực kiệt cô thức trắng đêm với con dao trong tay Ngày thứ ba được trả về, người phu kiệu đã cải trang che mặt cướp Cửu Nhi chạy sâu vào cánh đồng cao lương Ba ngày hạnh phúc đã đem lại cho cô một đứa con trai là Đậu Quan - cha của người kể chuyện
Năm 14 tuổi, cậu con trai Đậu Quan gia nhập đoàn quân của Từ Chiếm Ngao, người mà ông vẫn coi là cha nuôi Người con gái (Đái Phượng Liên) giờ đây đã là người thiếu phụ, ngày ngày vẫn làm bánh đem ra chiến trường khao quân Trong một lần gánh bánh gần chiếc cầu bắc ngang Song Mặc Thủy gặp đúng lúc xe giặc đang đi qua, bà bị trúng đạn và hy sinh Trước khi chết,bà nói cho con trai biết về người cha thật sự, và ra đi nhẹ nhàng trên đệm cây cao lương, nơi đã chứng kiến tình yêu và hạnh phúc của bà
Theo tác giả Cao lương đỏ, “nó đã thể hiện được trạng thái tâm lý chung của người Trung Quốc lúc đó, sau một thời gian dài tự do cá nhân bị đè nén Cao lương
Trang 20đỏ đã đề xướng, phát huy tinh thần giải phóng cá tính, đó là dám nói, dám nghĩ, dám làm” [15.54]
Viết về đề tài lịch sử dân tộc, về chiến tranh chống xâm lược nhưng với tiểu
thuyết Cao lương đỏ, Mạc Ngôn đã đem làn gió mới, hơi thở mới, tiếng nói mới cho văn học đương đại Trung Quốc “Cao lương đỏ ngợi ca tinh thần phát huy cá tính và cũng mang cách viết khác cho tiểu thuyết chiến tranh” [15.43] Nhà văn không đi sâu miêu tả quá trình cuộc chiến tranh, không nhằm lột tả “sự bóp méo linh hồn con người của chiến tranh hoặc là sự biến dạng trong nhân tính của chiến tranh” mà nhìn chiến tranh như “phòng thí nghiệm linh hồn nhân loại” Cao lương đỏ mang trong mình đủ
đầy những thăng trầm, khốc liệt như một bản nhạc ngợi ca về tình yêu, sự tự do phóng khoáng của con người Để có được thành quả ấy, Mạc Ngôn đã thực sự tài tình trong việc kết hợp khéo léo yếu tố hiện thực và kỳ ảo lãng mạn, ngay cái chết cũng thật nhẹ tênh, phi thường
Với những đột phá trong sáng tạo nghệ thuật cả về phương diện nội dung lẫn
nghệ thuật, Cao lương đỏ là cuốn tiểu thuyết để lại dấu ấn đậm sâu trong lòng bạn đọc
và tạo được tên tuổi cho nhà văn, được nhận giải thưởng Mao thuẫn danh giá của văn
học Trung Quốc Không lâu sau, Cao lương đỏ được đạo diễn Trương Nghệ Mưu lựa chọn xây dựng thành phim cùng tên được xem là “một mốc son đối với Trương Nghệ Mưu và đối với điện ảnh trong thời kì mới” đạt giải thưởng Con gấu vàng – giải cao nhất của liên hoan phim Cáclôvivari Ông cũng đánh giá cao về tác phẩm “Đến bây giờ vẫn có rất nhiều người cho rằng Cao lương đỏ là tác phẩm hay nhất của tôi, điều này có lẽ thuộc về tiểu thuyết Tuy tôi có sửa nhiều tình tiết câu chuyện nhưng tinh thần và cái cảm giác của sức sống được giải phóng trong phim là hoàn toàn do tiểu thuyết mang lại Nói ra thì rất kỳ lạ nhưng từ khi quay xong Cao lương đỏ đến nay phim của tôi không bao giờ thể hiện được cái sức sống mãnh liệt như vậy nữa Tôi muốn lặp lại cũng không thể được.” [13.261] Bản thân Mạc Ngôn cũng tâm sự về tác phẩm:“Đây là tác phẩm gây tiếng vang lớn nhất của tôi ngay cả trước khi quay thành phim nó đã rất nổi tiếng, đến khi bộ phim được giải thưởng thì tiếng vang càng lớn hơn Cao lương đỏ rất nổi tiếng như vậy đương nhiên nó phải là một tác phẩm hay”
[13.302]
Trang 21Qua nghiên cứu tìm hiểu của giới chuyên môn và sự đón nhận từ độc giả, chúng
ta có thể khẳng định rằng Cao lương đỏ có một chỗ đứng vững chắc trong văn học
Trung Quốc đương đại nói chung hành trình sáng tạo nghệ thuật nói riêng của nhà văn tài ba Mạc Ngôn
Trang 22CHƯƠNG 2.GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
2.1 Giọng điệu trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trần thuật là một phương diện cơ bản của phương thức tự sự đồng thời là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định” [6.364]
Theo từ điển thuật ngữ văn học: “giọng điệu là thái độ,tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện thực được miêu tả, thể hiện trong lời văn, quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [tr134] Có thể nói, giọng điệu
chính là một phạm trù thẩm mỹ, là một trong những nét đặc trưng riêng của mỗi nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả Qua giọng điệu, nhà văn có thể phản ánh được nhu cầu thị hiếu, sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề đạo đức của chủ thể sáng tạo.Chính điều này đã làm nên những cá tính riêng biệt của mỗi nhà văn Tìm được giọng điệu trần thuật phù hợp, nhà văn như được tiếp thêm sức mạnh, nguồn cảm hứng
để thỏa sức sáng tạo, đó chính là lý tưởng thẩm mỹ
Một con người suốt đời hoạt động vị nghệ thuật như Mạc Ngôn luôn muốn thử
sức qua : “sắc thái giọng điệu đa dạng” bởi nhà văn cũng kì vọng sẽ thổi làn gió mới
cho sự đóng góp, cách tân về giọng điệu trần thuật của mình đối với văn học nước nhà
Chiếu theo lý thuyết về giọng điệu “đa thanh”, “hướng về người khác”, qua việc
nghiên cứu và tìm hiểu về giọng điệu cũng như mối tương quan với thể thống nhất của lời tự phát ngôn độc thoại Lời đối thoại của nhân vật, chúng tôi nhận thấy những nét đặc trưng riêng mang phong cách Mạc Ngôn Đó là sự phối cảnh của bè bỡn cợt, đôi khi là lạnh lùng, hay khoa trương, giễu nại, bi cảm, tâm tình Chúng hòa quyện vào nhau một cách bình đẳng, nhuần nhuyễn tạo nên sự phức điệu Nổi bật trong số những
sáng tác của Mạc Ngôn, phải kể đến tiểu thuyết Cao lương đỏ với giọng lạnh lùng, tâm
tình, qua đó tác giả như được tái dựng lại xã hội cuối thế kỷ XX Từ đó bày tỏ cảm xúc của bản thân đối với những bất bình trong đời sống
Trang 23Mạc Ngôn khi viết tiểu thuyết, đặc biệt trong tiểu thuyết Cao lương đỏ Tác giả sử
dụng giọng điệu bỡn cợt kết hợp với các giọng điệu để chế nhạo, phê phán, đả kích, phản kháng những cái tiêu cực, thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu còn tồn tại trong
xây dựng ở thế đối lập với nhân dân Đông Bắc Cao Mật là cách để nhà văn Mạc Ngôn
khai thác đề tài lịch sử, về chiến tranh hiệu quả nhất, nhà văn từng tâm sự rằng “Cao lương đỏ có nguồn gốc từ một câu chuyện có thật xảy ra ở bên cạnh làng tôi Lúc đó bọn quỷ Nhật đang chuẩn bị trả thù những người dân của một làng dám tấn công vào
Trang 24bọn chúng Trên đường chúng kéo quân đến chỉ vì một người nào đó chỉ nhầm phương hướng mà hơn một trăm người dân của làng đó bị thảm sát”[13.51] Bằng cách thể hiện cảnh ăn cơm của bọn dân phu Trung Quốc :“Bọn dân phu Trung Quốc béo phị thu dọn bát sứ Bọn dân phu liếm môi, mắt nhìn chằm chằm vào những hạt cơm còn dính ở trong thùng, nhưng không ai dám động đậy”[15.51] Nhà văn đã khéo tay phác
họa ra “Cửa sổ tâm hồn” của bọn dân phu béo phị trông sức vóc có vẻ khỏe mạnh thế kia lại yếu đuối thèm thuồng liếm môi chăm chăm nhìn hạt cơm còn vương vãi dính
thùng đến tội nghiệp Miêu tả chỗ ngủ của đám công nhân làm đường tác giả viết: “Ăn cơm xong, bọn dân phu đều bị lùa vào một cái lán làm bằng mấy cái cột gỗ Trên lợp bằng mảnh vải bạt Cái cột gỗ được nối với nhau bởi giây thép to bằng hạt đậu xanh Cửa lán là mấy thanh sắt uốn cong Bọn giặc lính ngụy phân ra ở trong hai lều, cách lán chừng mấy chục bước Con chó béc-giê buộc ở ở lều bọn giặc Nhật Trước cửa lán
có chôn một con sào cao cao, trên sào treo cây đèn bão bọn Nhật và bọn ngụy thay nhau đi tuần La và ngựa tập trung trên bãi đất hoang cạnh lán, ở đây có chôn mấy chục cái cột để buộc Mùi thối trong lán bốc lên, có người đang ngáy, có người đi đến thùng nước có đai sắt ở gốc lán đái, nước đái rơi vào cạnh thùng kêu long tong Ánh đèn bão mờ rọi vào trong lán Bóng dài của bọn lính tuần tra thấp thoáng trong ánh đèn”[15.43] Nhà văn đang bông lơn, giễu cợt cái nơi dành để ngủ của con người lại
nham nhở uế tạp đến thế, điều này làm người đọc cảm nhận đó thật sự chỉ giống như một cái chuồng chứa mà thôi
Ấn tượng của quan Nhật ám ảnh người đọc bởi thói man rợ vô nhân đạo, chúng coi mạng người như cỏ rác Bản chất tàn bạo ấy còn được nhắc đến qua việc chúng ép người dân phải ra làm đường cái Giao Bình ngay trên cánh đồng, làm cầu đá ngang sông Mặc Thủy Hơn bốn mươi vạn con người từ già tới trẻ đều bị điều động ra công trường, những hình ảnh sợ sệt của những tên dân phu đói không dám kêu, nhìn thấy cơm không dám đòi khiến người đọc liên tưởng đến một xã hội bị mất đi tiếng nói, mất quyền con người, nguy hiểm nhất là mất đi ý chí đấu tranh, bị kẻ thù dày xéo ngay trên chính quê hương của mình mà không biết phản kháng, khờ khạo cho rằng ta không làm gì chúng nó thì chúng nó cũng chẳng làm hại gì đến ta Đó cũng chính là thực trang chung của người Trung Quốc lúc bấy giờ Họ thực sự đang sống hay chỉ
đang tồn tại Bằng giọng điệu bỡn cợt với thái độ mỉa mai, châm biếm ở tác phẩm Cao
Trang 25lương đỏ không chỉ là tiếng cười mà đó còn là tiếng thở dài vì những giá trị của dân
tộc dần bị mất đi
Giọng điệu bỡn cợt trong tiểu thuyết đã tạo nên phong cách tự sự bốp chát, suồng
sã, bông lơn một cách thản nhiên Nó phá vỡ vẻ mực thước, trang trọng quen thuộc của văn xuôi khiến người đọc nhận ra một phong cách đầy táo bạo của nhà văn Mạc Ngôn
Dù là bỡn cợt nhưng những gì được phản ánh lại sâu sắc vô cùng Đằng sau tiếng cười
đó hiện lên một xã hội ung nhọt, xấu xa của xã hội Trung Quốc cuối thế kỉ XX
đau khổ, ai oán, bi thương, về sự mất mát: “sống là kiếp chó, chết là kiếp người” Với
Mạc Ngôn, nhà văn quan niệm cái chết không phải là kết thúc, chết đi chỉ như một sự giải thoát cho con người Đó thực sự là một đặc ân cho những kiếp sống sầu khổ, đáng thương Chính vì vậy mà khi viết về cái xấu, cái chết Mạc Ngôn thường sử dụng bút pháp miêu tả mang sắc thái chủ quan Đó là yếu tố cơ sở cho sự hình thành của giọng điệu lạnh lùng
Chiến trường trong truyện Cao lương đỏ ngổn ngang xác năm mươi đội viên
Người thì chết ngồi, người thì chết đứng, người bay đầu, người lòi ruột, mùi máu me
tanh tưởi ám đặc không gian cánh đồng Cao lương:“dưới ánh trăng bị xé rách, Cha tôi ngửi thấy mùi tanh ghê gớm hơn cả bây giờ, Tư lệnh Từ dắt tay cha tôi đi trong cánh đồng cao lương, hơn ba trăm xác đồng bào nằm ngổn ngang, người mất tay, kẻ cụt chân, máu chảy thấm cả một dải cao lương rộng lớn, biến đất đen dưới gốc cao lương mắt trừng nhìn bố và Tư lệnh Từ Tư lệnh Từ rút súng lục ra vẩy một cái, hai mắt chó biến mất, vẩy một phát nửa diệt luôn con nữa Đàn chó rống lên chạy toán loạn Chúng ngồi xa xa, gầm gừ thèm thuồng nhìn đống xác chết Mùi tanh mỗi lúc một dữ dội, Tư lệnh từ hét lên một tiếng: “Đồ chó Nhật Đồ chó chết Nhật Bản!”, ông chĩa
Trang 26súng vào đám chó bán hết cả đạn, đàn chó chạy biệt tăm….”[15.12] Nói về cái chết
nhà văn khắc họa đến tường tận tỉ mỉ từng chi tiết,không gian nơi chiến trường hiện lên gợi cảm giác rợn ngợp, đáng sợ của xác người nằm la liệt trải dài trên cánh đồng
để rồi người đọc phải thốt lên phải chăng cao lương màu đỏ hay máu người đang nhuộm đỏ cả cánh đồng cao lương Cảnh người chết trở nên lạnh lẽo hơn khi có nòng
súng.“ Nòng súng của ai đó va phải súng của người khác Không biết chân của ai đã giẫm đạp lên xác người chết”[15.13]
Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, không chỉ có cái chết của con người mà còn có cái chết lớn hơn, đó là cái chết của lý tưởng, của niềm tin nối tiếp nhau diễn ra và cuối cùng làm nên những cái kết không có hậu cho tất cả các tác phẩm Những cái chết ấy cũng được miêu tả lạnh lùng một cách nhất quán như cái chết của Từ Đại Nha - hạt giống của Đông Bắc Cao Mật Ông phạm tội lớn, chết đi cũng chưa hết tội, thế mà trước khi chết ông lại tỏ ra khí khái anh hùng Câu chuyện được kể lại vào khoảnh khắc bất chợt cha của người kể chuyện nhìn thấy mảnh chậu vỡ sực liên tưởng đến cái
sọ của Từ Đại Nha Súng giương lên, “trán của Từ Đại Nha vỡ ra như viên ngói vụn liền với tiếng súng chói tai Anh câm cúi đầu, một luồng khói trắng từ họng súng bốc
ra Chỉ trong nháy mắt thân Từ Đại Nha bất động như một khúc gỗ lăn nhanh xuống đầm”[15.116] Mạc Ngôn miêu tả cận nét từng chi tiết Từ Đại Nha sau khi bị hành hình “ từ trên cao nhìn xuống mặt Từ Đại Nha nằm ngửa ở dưới đầm Mặt ông ta chỉ còn cái mồm lành lặn, mảng sọ đầu bay mất, óc chảy xuống hai tai, một con ngươi bật
ra ngoài như quả nho treo lủng lẳng bên tai Khi thân ông đổ xuống, bùn loãng bị đè bắn tứ tung, bông hoa sen trắng gầy gò bị đứt cuống, vẫn còn mấy sợi tơ vương vấn trên tay ông ta Bố ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng của bông sen”[15.116] Cảnh
tượng cái chết diễn ra có sự đan xen các yếu tố: Sen,bùn loãng, sợi tơ được kể lại một cách tỉ mỉ, cách so sánh hình ảnh con ngươi bật ra ngoài như quả nho treo lủng lẳng và dùng động từ mạnh như: bay, đổ xuống, đè bắn tứ tung, đứt… táo bạo, tác động mạnh
mẽ tới giác quan của người đọc Cảnh chôn cất xác của Từ Đại Nha “Cha không rơi một giọt lệ nào, ông chỉ lạnh lùng nhìn đám người đến đưa ma Những người đưa ma đứng vòng tròn vây quanh dưới gốc cây liễu Mười sáu chàng trai lực lưỡng cầm tám sợi dây dòng chiếc quan tài nặng kia xuống huyệt khá sâu Tư lệnh Từ bốc một nắm đất lạnh lùng ném lên chiếc quan tài, gây tiếng động làm mọi người rùng mình”[15.117] khiến người đọc cảm thấy ghê rợn Người đọc hẳn cũng không thể
Trang 27quên được cái chết đầy đau đớn của La Hán - một người làm công nhân hậu, có lòng
tự tôn dân tộc, quyết không cúi đầu chịu nhục trước bọn cướp nước đang dày xéo quê hương Ông căm phẫn, đau lòng khi nhìn những cánh đồng cao lương bị tàn phá để làm đường Hành động chống đối của La Hán là sự phản kháng của những người con chân chính yêu quê hương, nhìn từng tấc đất, từng ngọn cây cao lương dần mất đi khiến những con người có lương tri và tự tôn dân tộc không bao giờ chấp nhận cúi đầu
đầy đớn hèn, để rồi người hùng quê hương bị “sẻ thịt rốc da” “Hai tên lính ngụy lôi ông La Hán đầy máu me đi đến cột chuồng ngựa Cha vẫn chưa nhận ra ông La Hán
Bố chỉ thấy đó là con quái vật hình người bị đánh đập nhừ từ! Đầu ông vẹo sang bên trái, lúc vẹo sang bên phải, máu trên đầu vẫn ri rỉ chảy xuống đất như bùn bóng loan
ở ven sông, bị mặt trời làm khô nứt nẻ như chân chim Hai chân ông khua khoắng trên mặt đất, vẽ lên chân những vạch vòng vèo gãy khúc Mọi người lặng lẽ co rúm lại bố cảm thấy bàn tay bà ấn mạnh xuống vai mình Tất cả mọi người đều trở thành thấp bé, người thì mặt lấm đất vàng, người thì mặt lấm bùn đen Có một lúc tiếng chim bỗng im bặt, nghe rõ tiếng thở phì phò của con chó, và tiếng rắm của viên sĩ quan Nhật dắt chó.Cha nhìn thấy tên lính ngụy lôi con quái vật hình người đến trước một cái cộc buộc ngựa khá cao, hắn thả tay, con quái vật như một đống thịt róc hết xương đổ sụp xuống đất…Ở dưới cột, ông La Hán từ từ động đậy, trước tiên ông chỏng mông lên Mặt ông lão sưng mọng, đôi mắt như hai kẽ hở nhỏ, hai tia sáng xanh sẫm phát ra từ trong hai kẽ mắt ấy” [15.70] Cảnh tượng viên sĩ quan dắt chó quát tháo mọi người,
tên sĩ quan trói ông La Hán vào cột, người róc da ông La Hán là người mổ lợn nổi tiếng vùng Đông Bắc Cao Mật – Tôn Ngũ Mệnh lệnh mất nhân tính từ Viên sĩ quan
được thông ngôn “Quan lớn bảo, róc cho khéo, róc không khéo sẽ cho con chó béc - giê cắn mày”[15.72], Tôn Ngũ sợ phải làm theo:“ Tôn Ngũ vâng vâng dạ dạ, mí mắt chớp lia lịa Hắn ngậm con dao vào miệng, nhấc thùng nước dội lên đầu ông La Hán
Bị dội nước lạnh, ông La Hán bỗng ngẩng đầu lên, máu chảy xuống mặt, xuống cổ, chảy xuống chân bẩn ngầu Một tên đốc/ công xách một thùng nước từ sông lên, Tôn Ngũ lấp miếng giẻ rách nhúng vào nước, lau sạch sẽ người ông La Hán”[15.72] “Cha nhìn thấy con dao của Tôn Ngũ thiến vào tai ông già như cưa cây gỗ vậy Ông La Hán kêu gào rống lên không ngớt, một dòng nước đái vàng khè vọt ra từ hai đùi ông Chân cha run lên cập cập Một tên lính Nhật bưng đĩa xứ trắng đi đến, đứng cạnh Tôn Ngũ Tôn Ngũ đặt chiếc tai dày của ông La Hán vào chiếc đĩa sứ Tôn Ngũ lại cắt nốt ti kia
Trang 28đặt vào đĩa Bố thấy hai chiếc tai ở trong đĩa vẫn còn run rẩy và đập mạnh vào đĩa phát ra tiếng pình pình.Tên lính Nhật bê chiếc đĩa sứ đi chầm chậm qua mặt bọn dân phu và già trẻ gái trai Bố thấy đôi tai đẹp của ông vẫn còn tai nhợt, nhưng vẫn nhảy nhảy trong đĩa”[15.74] Cảnh Tôn Ngũ đưa dao cắt bộ phận sinh dục của ông La Hán
rồi đặt vào chiếc đĩa sứ tên lính Nhật đang cầm, cảnh lột da ám ảnh trong kí ức người
cha, dã tâm độc ác mất nhân tính man rợ của giặc Nhật: “Tôn ngũ lại cầm lấy dao, tiếp tục lột da đầu từ vết thương trên đầu lột xuống, tiếng dao kêu soàn soạt Hắn lột rất tỉ
mỉ Da đầu ông La Hán tụt xuống Lộ ra đôi mắt tím xanh Lộ ra từng mảng thịt”[15.75] Nỗi đau thể xác của La Hán phải chịu đựng bao nhiêu thì tội ác của quân
Nhật càng lớn bấy nhiêu Cái chết của La Hán là sự giải thoát cho những giới hạn chịu đựng của con người Với ông chết như là đặc ân trời ban, chẳng thà được chết dứt khoát còn hơn bị hành hạ chết dần chết mòn…Tất cả được miêu tả với giọng điệu lạnh lùng không có chút cảm xúc hay sự buồn thương, ghê sợ của người kể chuyện khiến người đọc bị tác động mạnh đến trạng thái tâm lí xót xa, thương cảm vì bút pháp miêu
tả điêu luyện của nhà văn Mạc Ngôn
R.Barther đã từng nói: “ không có gì phản phúc hơn một lối viết vô sắc” bởi vì xã
hội sẽ biến đổi lối viết vô sắc ấy trở thành một phong cách và đẩy anh ta lại thành tù binh cho chính lối viết của mình Tuy nhiên điều đó dường như không xảy ra với một nhà văn tài ba như Mạc Ngôn Có chăng chính giọng điệu lạnh lùng với lối viết vô sắc
và bút pháp miêu tả đầy nghiệt ngã chỉ là một trong những giọng điệu của nhà văn đa tài này đã góp phần tạo nên giá trị điển hình trong bút pháp nghệ thuật của Mạc Ngôn
2.1.3.Giọng điệu tâm tình
Theo từ điển Tiếng Việt, tâm tình là tình cảm riêng tư thầm kín của mỗi con người Giọng tâm tình mang trong mình những cảm xúc ưu tư, trĩu nặng trải dài là cảm
xúc chủ đạo – nỗi nhớ Trong tiểu thuyết Cao lương đỏ người cháu trong lúc lập bia
dựng gia phả gia đình đã hồi tưởng lại câu chuyện đầy bi tráng của tổ tiên những năm
tháng xưa cũ Nhân vật tôi kể lại chính câu chuyện của “ông tôi”, bà tôi”, “cha tôi”
đầy sự ngưỡng mộ và thành kính
Tâm tình gắn với lời tâm sự tức là gắn bó với người kể chuyện khi trần thuật lại cùng người nghe trực tiếp câu chuyện của họ
Trang 29Giọng điệu tâm tình ở Cao lương đỏ song hành với tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương Cao Mật: “Tôi từng yêu Cao Mật đến cực điểm Sau này lớn lên cố gắng học tập chủ nghĩa Mác Tôi mới hiểu được rằng: Quê hương Đông Bắc Cao Mật, không còn nghi ngờ gì nữa, là nơi đẹp đẽ nhất, xấu xa nhất, anh hùng hảo hán nhất, đểu giả mất dạy nhất, giỏi uống rượu nhất, biết yêu đương nhất ở trên trái đất này” [15.11]
Mảnh đất Cao Mật chứng kiến những người con sinh ra, khi lớn lên, và tất thảy biến
cố trong cuộc đời, quê hương Đông Bắc Cao Mật còn mang những mảng màu đa sắc, những âm thanh đa điệu cuộc sống
Trong truyện Cao lương đỏ, giọng tâm tình như một dòng chảy xuyên suốt tác
phẩm bởi đây là câu chuyện của người cháu kể lại lịch sử hào hùng của gia tộc đầy sự thành kính, ngưỡng mộ Tuy nhiên giọng tâm tình được sử dụng nhiều nhất khi kể về
“bà tôi” của những ngày buồn khổ thời son trẻ, bị gả cho con nhà giàu nhưng bị phong hủi: “ Lòng bà vừa buồn vừa khổ, hình bóng ông chồng được mô tả nho nhã, phong lưu như các nhân vật trong kịch đã bị làm mờ đi và mất hẳn Bà sợ hãi tưởng tượng ra bộ mặt hủi ghê tởm của Biển Lang nhà họ Đơn, lòng tê tái Bà nghĩ: Lá ngọc cành vàng, mặt hoa da phấn phong lưu dịu dàng lẽ nào lại để cho một tên bị hủi chiếm đoạt hưởng thụ Nếu đúng như vậy thì thà chết còn hơn”[15.80] Qua giọng điệu của
người kể, chúng ta thấy được sự xót thương cho số phân của người phụ nữ trong xã
hội cũ: “Bà khóc róng lên, con đường nhỏ trong cao lương rung động Bọn phu thôi không lắc kiệu nữa, bọn thợ kèn theo đóm ăn tàn cũng thôi không thổi nữa Chỉ còn lại
có tiếng nấc của bà, rồi tiếng sáo bi thảm nức nở theo tiếng khóc của người con gái
Bà thôi khóc để lắng nghe tiếng sáo, như nghe âm nhạc từ thiên quốc vọng tới Mặt bà son phấn phôi pha, nước mắt lã chã trong tiếng nhạc bi ai, bà nghe thấy tiếng của sự chết, ngửi thấy mùi của sự chết, nhìn thấy môi đỏ thẫm như cao lương của thần chết
và nụ cười vàng như ngô của thần chết Phu kiệu im không nói, bước chân nặng nề Tiếng nấc nghẹn của người bất hạnh trong kiệu, và tiếng sáo phía sau kiệu làm cho họ lòng dạ rối bời, bồn chồn, lo ngai Đi trên con đường nhỏ trong ruộng cao lương này, không còn đoàn rước dâu nữa mà giống như một cuộc đi đám”[15.81], Tiếng nấc
nghẹn của người con gái trong ngày đưa dâu, ngày lẽ ra hạnh phúc nhất mang đến mảng màu u tối, đượm buồn, nhân vật đau chính nỗi đau của mình, nhà văn đau nỗi đau của người cầm bút phản ánh hiện thực xã hội và người đọc cũng đồng cảm với hoàn cảnh éo le ấy Người kể như đang sẻ chia với chính thân phận của người phụ nữ
Trang 30bé mọn trong xã hội phải gánh chịu khổ đau của người bị oan ức tiền đồ đen tối, suốt đời không thoát khỏi bể khổ vì cha tham tiền, mẹ nhẫn tâm, cha mẹ hủy diệt đời con hay giọng tâm tình tiêu biểu của “bà tôi” với ông Trời
Sự u ám thê thương còn được nhắc đến qua tiếng khóc văng vẳng thảm thiết
trong ruộng cao lương: “Lá Cao lương quệt vào kiệu kêu sột soạt Từ trong đám ruộng cao lương xa xa Bỗng văng vẳng lại tiếng khóc thảm thiết, làm mất đi vẻ đơn điệu dọc đường đi Tiếng khóc và tiếng kèn của bọn thợ kèn sao mà hòa nhịp thế Bà liền nghĩ tiếng nhạc thê lương này nhất đinh là đám thợ kèn cố ý thổi đây Bà lấy chân hất tấm rèm cửa, nhìn thấy tấm lưng trần đẫm mồ hôi của một phu kiệu, bà lại thấy rõ hơn đôi chân mình đi hài thê hoa to màu đỏ Đôi chân vừa nhọn vừa gầy trong rất thảm thương Ánh sáng từ bên ngoài chiếu lên đôi chân, trong chúng như hai cánh hoa sen”
[15.86] Trong ngày vui mà sao đưa dâu cũng buồn thê lương đến lạ, người buồn cảnh
cũng chẳng vui bao giờ: “Lòng bà vừa buồn vừa khổ”[15.87] Cuộc đời “bà tôi” cứ
trôi qua như thế, rồi đến những giây phút cuối đời ngã xuống trên cánh đồng cao
lương, “bà tôi” ôn lại chính câu chuyện cuộc đời mình qua những dòng hồi ức miên
man nửa mê nửa tỉnh lại chất chứa tình cảm chân thật của người con sắp rời xa chính mảnh đất thân thương này mãi mãi Bà cứ đối thoại với đất với trời, rồi lại đối thoại với chính mình để hồi nhớ lại thanh xuân bà đã gắn bó nơi này Đến đây bà đã thực sự
làm chủ ngòi bút tác giả: “Trời cho tôi người tình, trời cho tôi đứa con, trời cho tôi của cải, trời cho tôi cuộc sống… Trời, người đã cho tôi thì đừng có lấy đi lại Hãy tha thứ cho tôi, hãy buông tôi ra!”[15.148] Đối diện với đấng thiêng liêng trong giây phút
thiêng liêng của đời người, người phụ nữ vốn cá tính, trải đầy giông gió và phóng túng của làng Cao Mật bỗng trở nên mềm yếu lạ thường Từ chính giọng điệu tâm tình đầy tha thiết của người sắp rời xa cõi đời, và tác giả đã giúp nhân vật hồi tưởng lại những tháng ngày đã đi qua, bà đã sống một cuộc đời nhiều thăng trầm mà nghĩa tình vẹn trọn như thế!
Với giọng điệu tâm tình ngọt ngào, nhà văn Mạc Ngôn đã có thể thỏa sức thể hiện những tâm tư, tình cảm của mình vào trong từng câu chữ, từng nhân vật, từng dòng suy nghĩ một cách tự nhiên nhất
Mạc Ngôn từng nói rằng: “Nhà văn cần phải có giọng điệu của riêng mình và phải nói lên tiếng nói đặc trưng của mình”[13.17] Dù cho viết ở đề tài nào đi nữa, thì
Trang 31khuynh hướng sáng tác của Mạc Ngôn đã thể hiện xuất sắc nét riêng Cao Mật qua ngôn ngữ, qua giọng điệu Đó là sự khinh bạc, kiêu ngạo nhưng đầy suy tư, trăn trở Từng lời văn từ tục tĩu nhất cho đến trang nhã nhất, hài hướng nhất, trầm uất nhất, đểu cáng nhất đều mang đến những âm hưởng ngân vang cho bản nhạc ngôn từ
Từ ngôn ngữ, giọng điệu để chúng ta thêm yêu hơn những trang văn của nhà văn
đa tài, đa thanh, đa phong cách
2.2.Ngôn ngữ trần thuật
Tác phẩm văn học công trình nghệ thuật của ngôn từ Đại văn hào Nga M.Gorky
cũng nhận định :‘‘ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học’’ Có thể nói ngôn ngữ
chính là công cụ, là chất liệu để nhà văn dệt nên bức thông điệp cuộc sống với muôn hình vạn vẻ của thế giới tự nhiên, của tâm hồn con người
Theo từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ người trần thuật là phần lời văn độc thoại mà nhà văn thể hiện quan điểm cá nhân hay đôi khi là quan điểm người kể chuyện đối với nội dung miêu tả Cần phải đảm bảo thống nhất những nguyên tắc trong việc lựa chọn, sử dụng phương tiện tạo hình hay biểu hiện ngôn ngữ Ngôn ngữ người trần thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong phương thức trần thuật, đồng thời
là yếu tố cơ bản tạo nên phong cách nhà văn Đó là chiếc cầu nối cho mỗi nhà văn thể hiện cái nhìn, giọng điệu và thể hiện cá tính Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể
là đối thoại hay độc thoại Đối thoại gắn với việc trao đổi thông tin qua lại, hướng vào nhau và tác động vào nhau Khác với đối thoại, độc thoại không nhằm hướng vào người khác mà chỉ gói gọn trong lời nói hay nội tâm cá nhân, không tác động giữa người với người Chức năng của ngôn ngữ trần thuật có nhiều chức năng khác nhau như: chức năng phản ánh hiện thực, chức năng tự bộc lộ của nhân vật, chức năng là đối tượng miêu tả của tác giả hoặc chức năng thể hiện nội tâm Thông qua trần thuật nhân vật có thể kể lại cuộc đời mình, thỏa sức bộc lộ tư tưởng, tình cảm, những điều
đã xảy ra để từ đó kể về những chiêm nghiệm từ cuộc đời, lẽ sống Người đọc tiếp nhận và lĩnh hội tư tưởng cũng như quan niệm của nhà văn Trần thuật tác giả và trần thuật nhân vật là sợi dây kết nối góp phần hoàn thiện và làm phong phú hơn cho tác phẩm Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ trần thuật của mình, làm phân hóa ngôn ngữ tiểu thuyết Nói cách khác thì nhân vật trở nên sống động có linh hồn khi góp phần tạo nên
sự đa thanh, đa giọng điệu
Trang 32Tuy nhiên, việc phân tách hay tuyệt đối hóa việc phân chia giọng điệu trần thuật của tác giả với trần thuật nhân vật là không thể khi chuyển điểm nhìn từ phía người trần thuật sang điểm nhìn của nhân vật, từ điểm nhìn khách quan đến điểm nhìn chủ quan bên trong nhân vật Cách dịch chuyển điểm nhìn giúp nhà văn có cái nhìn đa chiều, đa diện Phải là cách nhìn và đánh giá từ nhiều phía thì tác phẩm mới có thể khai thác hết chiều sâu của tác phẩm
Chính vai trò quan trọng của ngôn ngữ trần thuật trong hệ thống phương thức tự
sự hình thành nên tư tưởng, tình cảm của nhà văn cũng như giọng điệu, điểm nhìn và
cấu trúc trần thuật Khảo sát ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Cao lương đỏ của
Mạc Ngôn, chúng tôi có mong muốn cái nhìn toàn diện về quá trình sáng tạo của nhà văn
Người kể chuyện trong tiểu thuyết Cao lương đỏ của Mạc Ngôn được thuật lại bởi cái tôi nhưng mang nét khác biệt với tiểu thuyết Châu chấu đỏ hay Thập tam bộ(mang chức năng kép, vừa là kể chuyện vừa là nhân vật) Trong Cao lương đỏ, lời
tự thuật của người cháu kể lại câu chuyện của gia tộc, vừa là góc nhìn của nhân xưng thứ nhất vừa là góc nhìn chung của “ ông tôi”, “bà tôi” Đó cũng chính là thủ pháp đa chủ thể trần thuật
2.2.1 Ngôn ngữ đối thoại
Đối thoại là một trong những hình thức tiêu biểu đối với tác phẩm tự sự để triển khai cốt truyện Ngôn ngữ đối thoại triển khai trong tác phẩm thường tạo ra những tình huống bất ngờ, từ đó mang đến cho người đọc sự mới lạ, mang đến cảm giác thực cho người đọc được nhà văn tái hiện lại qua lăng kính chủ quan của mình Ngôn ngữ đối thoại có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và khắc họa tính cách nhân vật một cách tự nhiên nhất Nhân vật tự bộc lộ và người đọc tự nhận thấy những nét tính cách thông qua lời nói Nhà văn không còn đứng ở vị trí toàn tri, lấn lướt nhân vật mà hòa nhập, tham gia vào cuộc đối thoại của những ý thức hay cái tôi cá nhân độc lập qua hệ
thống hình tượng M.Bakhtin cũng nhấn mạnh: “Chính sự định hướng của lời nói con người giữa những lời nói của người khác (với tất cả mọi mức độ tính chất xa lạ) tạo cho ngôn ngữ những khả năng nghệ thuật mới và cốt yếu, tạo nên nghệ thuật văn xuôi đặc thù mà biểu hiện đầy đủ nhất và sâu sắc nhất là ở trong tiểu thuyết”[3]