1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NỘI DUNG của GIAO DỊCH về cầm đồ

65 193 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chủ thể sửdụng hình thức cầm đồ như một hoạt động dịch vụ, theo đó người bán có quyền chuộc lại vật đã bán trong một khoảng thời gian xác định .Hết thời hạn chuộc lại như đã thoả thu

Trang 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG TRONG

QUÁ TRÌNH GIAO DỊCH VỀ CẦM ĐỒ

1.1 Một số khái niệm cơ bản.

1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự

Trong thực tế đời sống hiện nay , giao dịch dân sự chiếm phầnlớn đời sống hàng ngày của con người Nhận thức được vai trò to lớn

đó , nên trong bộ luật dân sự 1995 ( BLDS1995) được Quốc hội nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX – kỳ họp thứ 8 thôngqua ngày 28 tháng 10 năm 2005 đã dành hẳn một chương để quy định

về “giao dịch dân sự ” ( Chương V phần chung ) Đây cũng là lần đầutiên giao dịch dân sự được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật

về dân sự và khá đầy đủ chặt chẽ Đến Bộ luật dân sự 2005( BLDS2005 ) được Quốc Hội khoá XI – kỳ họp thứ 7 thông qua ngày

14 tháng 6 năm 2005 tiếp tục kế thừa và hoàn thiện chế định về giaodịch dân sự trong BLDS 1995 tại chương VI Vậy như thế nào là giaodịch dân sự ?

Để hiểu được khái niệm về giao dịch dân sự việc trước tiênchúng ta phải đi tìm hiểu khái niệm “giao dịch ”.Giao dịch theo từđiển Tiếng Việt được hiểu là : “ Có quan hệ gặp gỡ , tiếp xúc nhau”.[ 5, trang 392] Theo khái niệm này giao dịch chính là có quan hệ gặp

gỡ , tiếp xúc , sự gặp gỡ này có thể với một người hoặc nhiều người ,trong quan hệ gặp gỡ có thể là xuất phát từ mong muốn của hai bênchủ thể hoặc cũng có thể chỉ là mong muốn từ một phía Từ kháiniệm này chúng ta có thể hiểu một cách sơ lược về giao dịch dân sự “

Trang 2

là các bên chủ thể có quan hệ gặp gỡ , tiếp xúc với nhau trong lĩnh vựcdân sự ” Trong BLDS 1995 lần đầu tiên khái niệm pháp lí về giaodịch dân sự được đưa ra : “ Giao dịch dân sự là hành vi pháp lí đơnphương hoặc hợp đồng của cá nhân , pháp nhân và của chủ thể khácnhằm làm phát sinh , thay đổi hoặc chấm dứt quyền , nghĩa vụ dân sự

” [7, Đ 130] Đến BLDS 2005 giao dịch dân sự một lần nữa lại đượcđịnh nghĩa tại điều 121 : “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vipháp lí đơn phương làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa

vụ dân sự ” So sánh hai khái niệm về giao dịch dân sự tại điều 130( BLDS 1995 )và điều 121 (BLDS 2005) ta thấy trong BLDS 2005 cóchút thay đổi so với BLDS 1995 , đó là việc các nhà làm luật đã bỏ đicụm từ quy định về chủ thể “ của cá nhân , pháp nhân và các chủ thểkhác”

Đây là điểm tiến bộ của BLDS 2005 so với BLDS 1995, bởi việcliệt kê các chủ thể trong khái niệm giao dịch dân sự là không cần thiết

mà lại không chính xác , trong mối quan hệ giao dịch dân sự , tuỳ vàotừng loại quan hệ thì có yêu cầu về điều kiện chủ thể riêng phù hợpvới tính chất của quan hệ đó Tại điều 121 (BLDS 2005 )còn có sựthay đổi về vị trí của hai cụm từ “hợp đồng ” và “hành vi pháp lý đơnphương ” : “ là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương ” Theo tôiđây chỉ là sự hoán đổi vị trí đơn thuần chứ không mang lại ý nghĩa gìmới trong khái niệm giao dịch dân sự Mặc dù có sự thay đổi ít nhiềugiữa hai bộ luật , nhưng nhìn chung vẫn có sự thống nhất trong việcđịnh nghĩa về giao dịch dân sự Cả hai đều xem giao dịch dân sự làhợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương , và “ hậu quả của việc xác

Trang 3

lập giao dịch dân sự là làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền ,nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự ” [ 1, trang137] Như vậy giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí ( hành vi pháp

lí đơn phương hoặc đa phương –một bên hoặc nhiều bên ) làm phátsinh hậu quả pháp lí Nó (giao dịch dân sự ) là hành vi có ý thức củachủ thể nhằm đạt được những mục đích nhất định, nên giao dịch dân

sự luôn là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch vớinhững mục đích và động cơ nhất định

Giao dịch dân sự là hợp đồng Theo điều 388 BLDS 2005 : “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập , thay đổi hoặcchấm dứt quyền , nghĩa vụ dân sự ” Như vậy hợp đồng dân sự chính

là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên nhằm làmphát sinh , thay đổi hoặc chấm dứt quyền ,nghĩa vụ dân sự Hợp đồngdân sự được coi là loại giao dịch phổ biến nhất trong đời sống hàngngày , bởi hầu hết các quan hệ mang tính chất dân sự như vay, mượn,mua , bán, trao đổi , tặng cho …đều được xác lập trên cơ sở hợpđồng

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lí đơn phương “ Hành vipháp lí đơn phương là loại giao dịch trong đó thể hiện ý chí của mộtbên nhằm làm phát sinh , thay đổi , chấm dứt quyền ,nghĩa vụ dân sự ”[ 1, trang 141] Khác với hợp đồng dân sự là sự thể hiện ý chí của haihay nhiều bên , hành vi pháp lí đơn phương chỉ là sự thể hiện ý chícủa một bên chủ thể Một bên chủ thể này có thể là một chủ thể duynhất , hoặc cũng có thể là nhiều chủ cùng thể hiện ý chí So với hợp

Trang 4

đồng thì hành vi pháp lí đơn phương là loại giao dịch dân sự ít gặphơn trong cuộc sống hàng ngày

Giao dịch dân sự chỉ có thể là hợp đồng hoặc có thể là hành vipháp lí đơn phương chứ không thể đồng thời là cả hai Nó được coi làcăn cứ phổ biến thông dụng nhất trong số các căn cứ làm phát sinhthay đổi , hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ dân sự , là phương tiện pháp

lí quan trọng nhất trong giao lưu dân sự Tuy nhiên không phẩi tất cảcác giao dịch dân sự đều được pháp luật thừa nhận , giao dịch chỉđược coi là hợp pháp khi nó dưới hình thức hợp đồng hoặc hành vipháp lí đơn phương của chủ thể thoả mãn được tất cả những quy địnhcủa pháp luật để một giao dịch dân sự có hiệu lực

Tại điều 122 BLDS 2005 qui định :

‘‘ Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây :

• Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự ;

• Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấmcủa pháp luật , không trái với đạo đức xã hội ;

• Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện ’’

1.1.2 Khái niệm giao dịch về cầm đồ

Để hiểu rõ khái niệm giao dịch về cầm đồ trước hết ta phải hiểuđược như thế nào là giao dịch ? như thế nào là cầm đồ ? Giao dịch như

đã nêu ở phần trên là : “có quan hệ gặp gỡ , tiếp xúc với nhau ” Dùcho ở bất cứ thời đại nào, con người muốn phát triển được phải có sụgiao lưu , gặp gỡ , tiếp xúc với nhau Giao dịch chính là cầu nối đểmọi người xích lại gần nhau hơn , có cơ hội thể hiện ý chí mong muốncủa mình để rồi từ đó thoả mãn cho mình một cách tốt nhất những lợi

Trang 5

ích về vật chất cũng như về tinh thần Giao dịch đó có thể được thểhiện

Cầm đồ theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “ cầm đồ đạc đểvay tiền ” Theo khái niệm này đối tượng của cầm đồ chính là “ đồđạc ” và nghĩa vụ chính được bảo đảm là nghĩa vụ trả tiền vay trongquan hệ vay tài sản ( cụ thể là vay tiền ) Một quan điểm nữa về cầm

đồ : được định nghĩa như sau : “ Là một hình thức cầm cố để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng cho vay Các chủ thể sửdụng hình thức cầm đồ như một hoạt động dịch vụ, theo đó người bán

có quyền chuộc lại vật đã bán trong một khoảng thời gian xác định Hết thời hạn chuộc lại như đã thoả thuận , mà bên cầm đồ không trảtiền để nhận lại tài sản thì chủ hiệu cầm đồ đương nhiên trở thành chủ

sở hữu của vật đó Giá chuộc lại do các bên thoả thuận khi bán vàtăng theo tỉ lệ với thời gian chuộc lại kể từ thời điểm bán Trong thờihạn chuộc lại tài sản thuộc sở hữu của người bán , người mua khôngđược dịch chuyển và sử dụng tài sản đó ”[ 3,tr ] Theo như khái niệmnày thì vật đem ra để cầm cố đảm bảo thực hiện nghĩa vụ được coi là

đã bán cho bên nhận cầm đồ , và người cầm đồ được giữ lại cho mìnhquyền ưu tiên mua lại tài sản đó theo giá thoả thuận Khi hết thời hạn

mà hai bên đã giao kèo Tài sản đã được bán đi có nghĩa là bên bánkhông còn quyền sở hữu đối với vật , thế nhưng ở giai đoạn cuối kháiniệm lại khẳng định : Trong thời hạn chuộc lại tài sản thuộc sở hữucủa bên bán Đây là một điểm bất hợp lý , tài sản khi đã bán đi phảithuộc quyền sở hữu của bên mua , điều kiện ưu tiên mua lại trong mộtkhoảng thời gian xác định chỉ làm hạn chế quyền sở hữu của người

Trang 6

mua mà thôi Những biểu hiện bên của cầm đồ giống như là bán tàisản có kèm theo điều kiện chuộc lại , nhưng thực chất không phải nhưvậy , việc cầm đồ ở đây là việc khách đem hàng hoá , tài sản thuộc sởhữu của mình cầm cố cho bên nhận cầm đồ để bảo đảm cho nghĩa vụtrả nợ tiền vay của mình Vì vậy khái niệm trên xem cầm đồ như mộtquan hệ mua bán là chưa hợp lý , điều đó trái với bản chất của cầm

đồ Trong thông tư số 13/1999/TT-BTM của Bộ Thương Mại hướngdẫn về kinh doanh dịch vụ cầm đồ cũng đã đưa ra khái niệm : “ Kinhdoanh dịch vụ cầm đồ là việc thương nhân cho khách hàng vay tiền vànhận giữ hàng hoá , tài sản của khách hàng để đảm bảo cho việc thựchiện các nghĩa vụ trong hợp đồng cầm đồ” ở khái niệm này cầm đồđược nhìn nhận là một loại hình kinh doanh , các Thương nhân đứng

ra làm dịch vụ cho vay có bảo đảm bằng hàng hoá , tài sản của kháchhàng ( người đi vay ) Quan hệ về cầm đồ được các bên xác lập dướihình thức hợp đồng Hiện nay , cầm đồ đang được hiểu theo kháiniệm này

Hai khái niệm “giao dịch ” và “ cầm đồ ” khi đứng độc lập sẽđược hiểu như phân tích ở trên, vậy khi ghép chúng lại với nhau “ giaodịch về cầm đồ ” sẽ được hiểu như thế nào ? Giao dịch là sự gặp gỡ ,tiếp xúc giữa các chủ thể với nhau , còn cầm đồ là việc Thương nhâncho khách hàng vay tiền có đảm bảo bằng tài sản , hàng hoá thuộc sởhữu của họ ( khách hàng ) Từ đó dẫn tới ta có thể hiểu giao dịch vềcầm đồ là sự gặp gỡ giữa các chủ thể , và kết quả của cuộc gặp gỡ làmột hợp đồng được thiết lập , theo đó bên nhận cầm đồ sẽ cho kháchhàng vay một khoản tiền và khách hàng sẽ chuyển giao cho bên nhận

Trang 7

cầm đồ hàng hoá hoặc tài sản thuộc sở hữu của mình , để đảm bảo sẽhoàn trả số tiền vay và thực hiện một số nghĩa vụ khác đã thoả thuậntrong hợp đồng đối với bên nhận cầm đồ Qua phân tích trên tôi xinđưa ra một khái niệm khái quát về “ giao dịch về cầm đồ ” như sau : “Giao dịch về cầm đồ là hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấmdứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm đồ ”.

Giao dịch về cầm đồ là một loại giao dịch dân sự mà hình thứcbiểu hiện của nó là hợp đồng , vì vậy để được pháp luật thừa nhângiao dịch về cầm đồ cũng phải đám ứng được những điều kiện có hiệulực của giao dịch dân sự nói chung

1.2 Mối quan hệ giữa vay , cầm cố và cầm đồ

1.2.1 Mối quan hệ giữa cầm đồ với cầm cố

Cầm cố là biện pháp bảo đảm được quy định khá sớm trong lịch

sử pháp luật Việt Nam Ngay trong văn bản pháp luật thành văn đầutiên “ Hình Thư ” dưới thời vua Lý Thánh Tông biện pháp cầm cố đãđược đề cập tới Cầm cố theo nghĩa thông thường được hiểu là : “giao bất động sản cho người khác giữ làm tin để vay tiền ” [ 5, trang121] Như vậy theo cách hiểu của khái niệm này thì đối tượng củacầm cố gồm các tài sản là bất động sản , còn nghĩa vụ mà nó bảo đảm

là nghĩa vụ trả nợ tiền vay Cầm cố theo BLDS2005 được hiểu là : “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là cầm cố ) giao tài sảnthuộc sở hữu của mình cho bên kia ( sau đây gọi là bên nhận cầm đồ )

để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự ” [8, Điều 326] Đây là kháiniệm được nhìn nhận dưới góc độ là một quan hệ pháp lí , so với kháiniệm trên nội hàm của khái niệm này mở rộng hơn rất nhiều , đối

Trang 8

tượng của nó không chỉ là bất động sản mà còn bao gồm cả động sản ,

về nghĩa vụ là nghĩa vụ trong quan hệ dân sự nói chung (bao gồm cảnghĩa vụ trả nợ tiền vay ) Hiện nay khái niệm này được coi là đầy đủ ,tiến bộ nhất về cầm đồ

Giữa cầm cố và cầm đồ có mối quan hệ rất chặt chẽ Cầm đồmột hình thức đặc biệt của cầm cố Cơ sở pháp lý của mối quan hệđược thể hiện tại điều 341 BLDS2005 : “Việc cầm cố tài sản tại cửahàng cầm đồ được thực hiện theo quy định tại các điều từ 326 đếnđiều 340 của bộ luật này và các văn bản pháp luật khác về hoạt độngcủa cửa hàng cầm đồ ” Các quy định từ điều 326 đến điều 340 màđiều luật nói tới là quy định của pháp luật về cầm cố tài sản Ngoài ratrong khái niệm về cầm đồ được đề cập trong cuốn sách ‘ Những vấn

đề cơ bản và thuật ngữ của bộ luật dân sự’do Nguyễn Thùy Dươngbiên soạn cũng khẳng định : “ Cầm đồ là một hình thức cầm cố để bảođảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng cho vay Các chủ thể

sử dụng hình thức cầm đồ như một hoạt động dịch vụ…" Qua kháiniệm này cùng quy định tại điều 341, ta có thể khẳng định cầm đồ làmột hình thức của cầm cố Việc khách hàng đem tài sản thuộc sở hữucủa mình cầm cố tại khác cửa hàng cầm đồ để vay tiền thì được gọidưới một tên khác là cầm đồ mà thôi Do cầm đồ chỉ là một hình thứccủa cầm cố nói chung nên nội hàm của cầm đồ hẹp hơn cầm cố rấtnhiều Đối tượng của cầm đồ chỉ bao gồm những hàng hóa tài sản làbất động sản có giá trị mua bán trao đổi, nghĩa vụ mà nó bảo đảm chỉ

là nghĩa vụ trả tiền vay trong quan hệ vay tài sản (vay tiền) Khônggian diễn ra giao dịch về cầm đồ cũng rất đặc thù chỉ có cầm cố tài sản

Trang 9

tại các cửa hiệu cầm đồ đảm bảo cho nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồngvay mới được xem là cầm đồ Cầm đồ còn được nhìn nhận là một loạihình kinh doanh dịch vụ nên các chủ thể khi tham gia vào quan hệ nàycũng phải chịu những điều kiện chặt chẽ hơn Chính những nét đặc thùriêng vừa phân tích trên nên giao dịch về cầm đồ không chỉ được điềuchỉnh bởi quy định của pháp luật về cầm cố nói chung mà còn chịu sựđiều chỉnh của các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Mối quan hệ giữa cầm cố với cầm đồ, cũng như những nét đặcthù riêng của nó sẽ được phân tích làm rõ hơn trong quá trình tìm hiểu

về nội dung của giao dịch về cầm đồ ở phần chương 2 của khoá luận

1.2.2 Mối quan hệ giữa vay với cầm đồ.

Để làm rõ được mối quan hệ giữa vay và cầm đồ, trước tiên taphải hiểu được như thế nào là vay? vay theo nghĩa thông thường đượchiểu là: "Nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽtrả lãi bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tươngđương" [5.tr 1099] Vay là một quan hệ quan trọng, phổ biến tronglĩnh vực dân sự Nó giúp bên vay giải quyết được những khó khăn vềkinh tế trước mắt cũng như lâu dài Để quan hệ này (vay) diễn ra mộtcách hợp pháp, bảo vệ tốt lợi ích của các bên (bên cho vay và bên vay)BLDS 2005 đã dành riêng một mục (mục 4) trong phần hợp đồng dân

sự thông dụng để quy định về hợp đồng vay tài sản Tạo hành langpháp lý an toàn cho các chủ thể trong quan hệ này Vay là một loạigiao dịch dân sự được biểu hiện dưới hình thức "Hợp đồng vay tàisản" "Hợp đồng vay tài sản là một sự thoả thuận giữa các bên, theo đóbên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn, bên vay phải hoàn

Trang 10

trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng chất lượng vàchỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định" Hiệnnay người đi vay có thể thiết lập quan hệ này ở rất nhiều nơi, có thểtheo quan hệ vay truyền thống là vay của nhau giữa những người dân(ít không phổ biến ) hoặc có thể vay ở các tổ chức tín dụng Vay vốntại các tổ chức tín dụng hiện đang chiếm ưu thế rất lớn, nhưng do yêucầu về mặt thủ tục rất phức tạp, thời gian kéo dài nên chỉ phù hợp vớiviệc vay những khối lượng tài sản lớn, còn những với khoản vay nhỏ,yêu cầu về vốn gấp rút sẽ rất khó khăn Để giải quyết sự hạn chế củahai loại quan hệ vay trên Nhà nước đã cho phát triển một loại hìnhdịch vụ mới, dịch vụ cho vay có bảo đảm tại các cửa hiệu cầm đồ vàđược gọi tắt là "cầm đồ" Cầm đồ: là việc thương nhân cho kháchhàng vay tiền và nhận giữ hàng hóa hoặc tài sản của khách hàng đểđảm bảo thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng cầm đồ [15 khoản 1mục I] Vay tại các cửa hiệu cầm đồ hiện nay đang rất phát triển bởithủ tục nhanh gọn, đáp ứng được nhu cầu cấp bách về vốn Thủ tụcvay có thể khái quát thành 4 bước như sau: bước 1 khách hàng đem tàisản đến hiệu cầm đồ xin vay; bước 2 hai bên xem xét tài sản và cácgiấy tờ kèm theo; bước 3 thoả thuận quyết định mức vay; bước cuốicùng là làm giấy vay (hợp đồng) theo mẫu riêng của hiệu cầm đồ.Tổng thời gian kéo dài khoảng 30 phút là có thể lập xong một hợpđồng cầm đồ và khách hàng sẽ có được khoản vay của mình Qua kháiniệm trên ta thấy trong quan hệ giao dịch về cầm đồ ẩn chứa hai loạiquan hệ là quan hệ vay tài sản (vay tiền) và quan hệ bảo đảm (cầm cốtài sản) Hai quan hệ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, quan hệ

Trang 11

bảo đảm (giao hàng hóa tài sản cho bên cho vay) là điều kiện tiênquyết để quan hệ vay được diễn ra, ngược lại quan hệ có được xác lậpthì quan hệ bảo đảm cũng mới được xác lập Sở dĩ có mối quan hệ bềnchặt này vì khi cho vay bên cho vay sẽ nhận về mình quyền đòi nợtrong tương lai, còn người vay sẽ có nghĩa vụ trả nợ Việc quyền lợicủa chủ nợ có được bảo đảm hay không phụ thuộc rất lớn vào hànhđộng của con nợ Chính điều này đã đẩy chủ nợ từ thế chủ động (củangười có quyền) thành thế bị động Quyền lợi của chủ nợ sẽ trở nênrất mong manh và có thể sẽ không được đáp ứng nếu con nợ cố tìnhkhông trả Để bảo vệ lợi ích của mình chủ nợ có thể khởi kiện ra toànhưng việc làm này rất tồn thời gian và vật chất nhiều lúc còn khôngđem lại hiệu quả (đó là trường hợp con nợ không còn gì để trả) Chính

vì lẽ đó việc thiết lập quan hệ bảo đảm song song với quan hệ vay làmột biện pháp bảo đảm an toàn nhất để bảo đảm quyền lợi của chủ nợ.Đồng thời biện pháp bảo đảm cũng mở ra cơ họi rất lớn cho nhữngngười có nhu cầu vay tiền có thể được vay một khoản tiền rất nhanhchóng giải quyết được những nhu cầu cần thiết trước mắt

Tóm lại cầm đồ chính là một hình thức cho vay có bảo đảm bằnghàng hoá, tài sản của bên vay để đảm bảo cho việc thực hiện các nghĩa

vụ trong hợp đồng cầm đồ (chủ yếu là nghĩa vụ trả nợ tiền vay và lãisuất cầm đồ) Mối quan hệ giữa vay và cầm đồ sẽ tiếp tục được phântích và làm rõ trong những phần sau

1.3 Khái lược một số nét về quá trình phát triển của giao dịch về cầm đồ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

1.3.1 Pháp luật thời kỳ phong kiến

Trang 12

Cầm đồ là một hình thức đặc biệt của cầm cố Vậy muốn tìmhiểu về lịch sử của cầm đồ thì chúng ta phải lần theo những bước pháttriển của chế định cầm cố Cầm cố lần đầu tiên được nhắc đến vàothời Lý, năm 1042 vua Lý Thái Tông đã ban hành bộ luật thành vănđầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam đó là bộ luật với tên gọi

"Hình thư" và trong bộ luật này đã đề cập tới cầm cố Tuy là bộ luậthình nhưng "Hình thư" đã đưa ra quan điểm về sở hữu và đây là lầnđầu tiên nhà Lý công khai thừa nhận quyền sở hữu của người dântrong đó quyền sở hữu ruộng đất là cơ bản nhất bởi vào thời kỳ nàyruộng đất là tài sản có giá trị rất lớn và con người sống chủ yếu dựavào sản phẩm làm ra từ đất Quyền sở hữu ruộng đất được thừa nhậnkhi pháp luật quy định ruộng đất có thể được đem ra mua bán, ruộngđất cũng có thể được cầm cố Như vậy đối tượng của cầm cố trongthời kỳ này chỉ là ruộng đất (bất động sản) Hết thời Lý đến đời Trần,

Lê các quy định về cầm cố vẫn không có gì thay đổi Nhưng đến thờiNguyễn với sự ra đời của bộ luật Gia Long, quy định về cầm cố cónhiều điểm tiến bộ, đối tượng đem cầm cố được mở rộng không chỉ cóđất đai mà còn bao gồm mà còn bao gồm cả những tài sản thôngthường Sự phát triển về các quy định cầm cố trong thời kỳ này cũng

là một điều dễ hiểu bởi đời sống kinh tế của người dân khá phát triển,giao lưu dân sự được mở rộng do vậy hình thành nhu cầu cầm cố cảnhững tài sản khác ngoài ruộng đất để vay tiền Quy định này đã tạođiều kiện cho những người có nhu cầu vay vốn để sản xuất có thể vayvốn mà vẫn còn lại ruộng đất của mình để cày cấy đảm bảo nguồnsống và thu nhập Với việc quy định mở rộng đối tượng của cầm cố

Trang 13

trong bộ luật Gia Long đã làm xuất hiện hình ảnh cầm đồ trong cầm

cố, bởi cầm đồ theo cách hiểu thông thường nhất là việc "cầm đồ đạc

để vay tiền" (5, tr128)

1.3.2 Pháp luật thời kỳ cận đại

Bước vào thời kỳ cận đại, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng rấtnhiều bởi tư tưởng pháp luật của Pháp Đây là hậu quả của một thờigian dài bị thực dân Pháp đô hộ, nhưng cũng nhờ đó mà dân luật nước

ta mới có điều kiện phát triển bởi dân luật Pháp nổi tiếng là tiến bộ vàmang tính dự liệu cao Sản phẩm luật pháp của thời kỳ này chính làhai bộ dân luật đầu tiên khá đồ sộ bộ luật dân sự Trung kỳ và bộ luậtdân sự Bắc kỳ

Trong thời kỳ này hai chữ cầm đồ lần đầu tiên được nhắc đếntrong lịch sử pháp luật Việt Nam Bộ luật dân xự Trung kỳ hay còngọi là Hoàng Việt Hộ Luật có đề cập đến biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự nhưng chưa có sự cách biệt rõ ràng giữa cầm cố vàthế chấp mà coi việc thế chấp là có hai cách Cách thứ nhất là cầm đồ,cách hai là thế chấp bất động sản Chương XII tiết II mục 1 của HoàngViệt Hộ Luật quy định về biện pháp cầm đồ được coi là tương tự môhình của cầm cố tài sản hiện nay Điều 1512 đưa ra khái niệm: "Cầmđộng sản là một khế ước thuộc về vật quyền do người mắc nợ hoặcmột người đệ tam nào đó giao một vật động

sản cho người chủ nợ hoặc một người đệ tam nào khác mà hai bênchọn để đảm bảo món nợ Khế ước đó làm cho chủ nợ không đượcquyền bán vật ấy để trừ nợ mà được quyền ưu tiên đối với các chủ nợkhác" Bộ luật dân sự Trung kỳ còn quy định cụ thể thời điểm có hiệu

Trang 14

lực của khế ước cầm đồ, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên là

"khi nào vật cần đã giao cho người chủ nợ giữ lấy hay giao cho người

đệ tam mà hai bên đã chọn thời khế ước mới thành và mới cho chủ nợquyền ưu tiên [Hoàng Việt Hộ Luật, điều 1513] Điều này chứng tỏcác nhà làm luật đã coi hợp đồng cầm đố là hợp đồng thực tế và phải

có sự chuyển giao tài sản giữa chủ nợ và con nợ

Một điểm tiến bộ của Hoàng Việt Luật là quy định rõ trường hợpnào khế ước cầm đồ mới có hiệu lực đối kháng với người thứ ba:

"muốn viện ra để tranh nại với người đề tam, thời khế ước cầm đồphải làm thành giấy đề rõ ngày tháng và kê rõ số nợ là bao nhiêu cùngvật cầm là gì, thuộc loại nào từ khi giá vật cầm hay số nợ cầm nhỏ hơnhai mươi đồng" [Hoàng Việt Hộ Luật, điều 1514] Quy định này đãbuộc các bên muốn bảo vệ quyền lợi của mình thì phải công khai khếước cầm đồ Chính quy định này đã bảo vệ được quyền của người thứ

ba ngay tình và đảm bảo tính ổn định, an toàn cho các giao dịch dân

sự trong xã hội

Còn trong BLDS Bắc Kỳ được ban hành vào năm 1931 có ghinhận các hình thức bảo đảm tương tự nguyên tắc đại cương của Bộluật dân sự nước cộng hòa Pháp nhưng cầm đồ không được đề cập tớitrong bộ luật này

Như vậy pháp luật về cầm đồ trong thời kỳ này, coi cầm đồ làmột cách của biện pháp thế chấp Các quy định về cầm đồ được xâydựng tương tự như mô hình cầm cố hiện nay

1.3.3 Pháp luật thời kỳ từ năm 1945 cho đến nay

Trang 15

Sau khi giành được độc lập dân tộc vào năm 1945, đất nướcchúng ta đã gặp khó khăn rất lớn trong việc xây dựng pháp luật đặcbiệt là thiếu đội ngũ am hiểu pháp luật Để giải quyết tình thế khókhăn này Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 90/SL ngày 10 tháng 10năm 1945 về việc tạm sử dụng lại một số luật lệ cũ về dân sự, kinh tế,hôn nhân gia đình đang sử dụng, ở ba miền Bắc - Trung - Nam phùhợp với sắc lệnh này Như vậy bộ luật gia yếu Nam kỳ, Bộ luật dânBắc kỳ 1931 là bộ luật Trung kỳ 1936 vẫn còn có hiệu lực sau ngàythành lập chính quyền Tuy nhiên việc áp dụng các luật lệ này có sựchọn lọc với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập chủ quyền vàchính thể dân chủ cộng hòa Cho đến năm 1959 Tòa án Nhân dân Tốicao mới ra chỉ thị số 772/CT-TANDTC về việc đình chỉ áp dụng luật

lệ của đế quốc phong kiến Như vậy từ 1945 đến 1959 các qui định vềcầm đồ không có gì thay đổi

Đến đầu những năm 60 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bảnpháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự Nội dung chủ yếu của cácvăn bản này nhằm xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thực hiệnchính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa, thực hiện công hữu hóa về tư liệusản xuất…

Trong những năm của thập niên 70 đất nước ta chìm trong cuộckháng chiến chống đề quốc Mỹ trường kỳ, gian khổ Khiến cho nềnkinh tế xã hội gặp rất nhiều khó khăn Miền Bắc tập trung sản xuất hỗtrợ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, đồng thời thực hiệncải cách xã hội chủ nghĩa nên chúng ta không có điều kiện để pháttriển kinh tế xã hội dẫn tới pháp luật thời kỳ này kém phát triển, các

Trang 16

văn bản pháp luật ban hành chủ yếu nhằm chống đói nghèo và nhằmgiúp huy động nhân lực vật lực cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.

Vào năm 1972 ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Việt Namcộng hòa đã tạo một bước tiến mới trong phát triển dân luật ở nước ta,

đó là đã xây dựng thành công bộ dân luật Sài Gòn 1973 Bộ luật nàyqui định khác chi tiết và đầy đủ về các biện pháp bảo đảm Riêng cầm

đồ được quy định từ điều 1340 đến 1361 Cũng giống như trong bộluật Trung kỳ cầm đồ được coi như một hình thức của thế chấp mà đốitượng của nó là động sản Theo quy định của bộ luật này thì: "cầm đồ

là khế ước do đẩy trái hộ giao cho chủ nợ một động sản để đảm bảocho món nợ Do đó sự đảm bảo này chủ nợ được quyền ưu tiên lấy nợtrước so với các chủ nợ khác trên đồ vật đã cầm [6, điều 1350 chương

II, tiết i] Vậy cầm đồ theo quan điểm của chính quyền Việt Nam cộnghòa là việc con nợ chuyển giao một động sản cho chủ nợ để đảm bảonghĩa vụ trả nợ và bộ luật đồng thời cũng ghi nhận trường hợp cầm đồbằng tài sản của người thứ ba để đảm bảo trả nợ cho con nợ, luật cũngcho phép bên thứ ba giữ tài sản thay cho bên chủ nợ Bộ luật dân sựSài Gòn còn qui định rõ động sản được đem ra cầm đồ có thể là độngsản vô hình như là trái quyền, khi cầm trái quyền thì khế ước cầm đồphải tổng đạt cho người nợ trái quyền ấy

Bộ luật dân sự Sài Gòn cũng quy định rất chặt chẽ hình thức củakhế ước cầm đồ đó là: "khế ước cầm đồ phải có văn tự xác nhận mới

có giá trị nếu món nợ có giá trị trên hai cục ngàn đồng Văn tự phảighi rõ số tiền và đồ vật cầm đồ là gì" Do cầm đồ là sự chuyển giaotạm thời về tài sản trong một khoảng thời gian nhất định nên sự quy

Trang 17

định chặt chẽ như vậy nhằm đảm bảo sự an toàn cho các chủ thể trongmối quan hệ này.

Bộ dân luật Sài Gòn cũng là bộ luật đầu tiên quy định về quyền

và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm đồ đối với tài sản đượcđem ra cầm đồ để đảm bảo sự cân bằng về quyền lợi giữa các bên,đồng thời tránh tranh chấp xảy ra Theo đó chủ nợ khi cầm tài sản cónghĩa vụ chăm nom đồ vật, nếu để xảy ra hỏng hóc, thiệt hại đối vớitài sản thì phải bồi thường thiệt hại, ngược lại thì con nợ có nghĩa vụtrả những chi phí hợp lí cho việc trông nom bảo quản đồ vật cho chủnợ

Đồng thời Bộ luật này cũng lần đầu tiên quy định về phươngthức xử lí tài sản cầm đồ "chủ nợ không đương nhiên trở thành sở hữuchủ vật cầm" Nếu không trả được nợ khi đáo hạn chủ nợ phải xin đấugiá phát mại tài sản ấy, đồ vật ấy hoặc xin tòa cửa giám định viên trịgiá đồ vật mà trừ nợ tới giá ước lượng, nếu đồ vật trị giá cao hơn, chủ

nợ có thể được phép giữ lại đồ vật và trả thêm cho trái hộ số sai biệt.Quy định về phương thức xử lí rất chặt chẽ, loại trừ được việc các tráichủ xử lí tài sản một cách tùy tiện xâm hại tới lợi ích của thụ trái Đây

là một quy định rất tiến bộ mà các quy định sau này về cầm đồ có sự

kế thừa và học tập

Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước ta hoàn toàn độc lập.Công việc trước mắt sau một thời gian dài chìm trong chiến tranh, đấtnước bị chia cắt là phải khắc phục hậu quả chiến tranh, xóa dần sựkhác biệt giữa hai miền Nam - Bắc về mọi mặt Trong giai đoạn nàyNhà nước tập trung xây dựng bản hiến pháp mới làm nền tảng cho

Trang 18

việc xây dựng Nhà nước và việc ban hành hệ thống văn bản pháp luậtcủa nước ta sau này Các văn bản pháp luật quy định về dân sự ở thời

kỳ đầu này rất ít, còn văn bản quy định về các biện pháp bảo đảm thìchưa có Sau này khi đất nước dần đi vào ổn định, hệ thống pháp luậtcũng được hoàn thiện hơn đã có các văn bản pháp luật quy định về cácbiện pháp bảo đảm nói chung và cầm cố nói riêng Các qui định nàyluôn được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển củanền kinh tế xã hội đất nước Nhưng trong một thời gian dài không cócác qui định của pháp luật về cầm đồ, cho tới năm 1995 trong Nghịđịnh 02/1995/NĐ - CP ngày 5 tháng 1 năm 1995 qui định về hàng hóadịch vụ cấm kinh doanh, thương mại hàng hóa, dịch vụ kinh doanhthương mại có điều kiện ở thị trường trong nước, cầm đồ được coi làmột dịch vụ kinh doanh có điều kiện chỉ các doanh nghiệp được phépkinh doanh Để thực hiện Nghị định này liên bộ Ngân hàng - Thươngmại đã ban hành Thông tư số 02/1995/TT-LB ngày 3 tháng 10 năm

1995 hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ Đây là lần đầu tiên tronglịch sử phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam cầm đồ được quyđịnh một cách chính thống và chặt chẽ trong một văn bản pháp luậtriêng Theo Thông tư số 02 thì "dịch vụ cầm đồ là hình thức cho vaytiền đòi hỏi người vay phải có tài sản cầm cố bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ của mình ghi trong hợp đồng cầm đồ Người vay tiền có tài sảncầm cố gọi là bên cầm đồ; người cho vay tiền nhận tài sản cầm cố gọi

là bên nhận cầm đồ" [10 khoản 1 Mục I] Ngoài ra thông tư còn quyđịnh cụ thể về tài sản cầm cố, điều kiện để được kinh doanh dịch vụcầm đồ, các bên (bên cầm đồ và bên nhận cầm đồ), mức tiền vay, lãi

Trang 19

suất, hợp đồng cầm đồ và trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên Tiếp đến

là BLDS 1995 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa IX - kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995cùng quy định về cầm đồ: "Việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồđược thực hiện theo qui định tại các điều từ điều 329 đến điều 344 của

bộ luật này và các văn bản pháp luật khác về hoạt động của cửa hàngcầm đồ" [7, điều 345] Như vậy các quy định của pháp luật về cầm cốcũng được áp dụng cho hoạt động cầm đồ Thông tư số 02/1995/TT-

LB ngày 3 tháng 10 năm 1995 qua một thời gian dài áp dụng đã bộclộc nhiều điểm bất cập, không còn phù hợp với thực tế phát triển củahoạt động cầm đồ Trước tình hình đó Bộ Thương mại đã ban hànhThông tư số 13/1999/TT-BTM ngày 19 tháng 5 năm 1995 hướng dẫnkinh doanh dịch vụ cầm đồ thay thế thông tư liên bộ số 02/1995/TT-

LB Cho tới thời điểm này Thông tư số 13/1999/TT-BTM vẫn cònhiệu lực và tạo hành lang pháp lí vững chắc cho các chủ thể khi thamgia vào quan hệ này Bộ luật dân sự 1995 trong thời gian qua đã cónhững đóng góp đáng kể trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự,nay do sự phát triển của nền kinh tế xã hội, cũng như quá trình hộinhập của đất nước Bộ luật này đã tỏ ra có nhiều hạn chế và không cònphù hợp Để khắc phục điều này, Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI - kỳ họp lần thứ 7 đã thông qua BLDS 2005ngày 14 tháng 6 năm 2005 thay thế BLDS 1995 Thừa kế BLDS 1995,BLDS 2005 tại điều 341: "Việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồđược thực hiện theo quy định tại các điều từ 326 đến điều 340 của bộluật này và các văn bản pháp luật khác về hoạt động của cửa hàng cầm

Trang 20

đồ" Như vậy cầm đồ ngoài chịu sự điều chỉnh của thông tư số13/1999/TT -BTM ngày 19 tháng 5 năm 1999 còn hướng dẫn và kinhdoanh dịch vụ cầm đồ, còn chịu sự điều chỉnh bởi các qui định củaBLDS 2005 phần cầm cố tài sản.

Trang 21

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA GIAO DỊCH VỀ CẦM ĐỒ

Hiện nay quan hệ giao dịch về cầm đồ được điều chỉnh bởithông tư số 13/1999/TT-BTM hướng dẫn về kinh doanh dịch vụ cầm

đồ và BLDS 2005 cùng với các văn bản hướng dẫn bộ luật này Vậycác yếu tố của giao dịch về cầm đồ được pháp luật hiện hành quy địnhnhư thế nào? Ta sẽ lần lượt trình bày trong phần nội dung này

2.1 Điều kiện về chủ thể

Theo khái niệm tại Thông tư số 13/1999/TT-BTM "kinh doanhdịch vụ cầm đồ là việc thương nhân cho khách hàng vay tiền và nhậngiữ hàng hóa hoặc tài sản của khách hàng để đảm bảo việc thực hiệncác nghĩa vụ trong hợp đồng cầm đồ Vậy chủ thể của quan hệ cầm đồtheo như qui định bao gồm bên nhận cầm đồ là thương nhân có tiềncho vay và nhận giữ hàng hóa hoặc tài sản của khách hàng và lên cầm

đố là khách hàng có nhu cầu vay tiền

Cầm đồ là một loại của giao dịch dân sự, vì vậy các bên muốntrở thành chủ thể trong quan hệ cầm đồ trước tiên phải thỏa mãn cácđiều kiện về chủ thể của giao dịch dân sự nói chung, đó là phải cónăng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Theo qui địnhcủa pháp luật hiện hành chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sựbao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ chức hợp tác

Cá nhân, năng lực hành vi dân sự của cá nhân được hiểu là :"khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,nghĩa vụ dân sự" [8, điều 17] Tại điểm 11.2 khoản 11, mục II Thông

Trang 22

tư 13/1999/TT-BTM đã quy định: "Không được giao dịch cầm đồ vớikhách hàng là người không có năng lực hành vi dân sự" Vậy như thếnào là người có năng lực hành vi? còn như thế nào là người không cónăng lực hành vi? Cá nhân từ đủ mười tám tuổi không bị hạn chế nănglực hành vi dân sự thì được coi là có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Cá nhân đáp ứng đủ điều kiện này thì được phép tham gia giao dịch.Một trường hợp ngoại "cá nhân là người chưa thành niên từ đủ mườilăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự màkhông cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừtrường hợp pháp luật có qui định khác" [8, điều 20 khoản 2] Đây làtrường hợp cá nhân chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng do họ

có tài sản riêng để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ nên pháp luậtcho phép họ tham gia vào giao dịch Tuy nhiên không phải giao dịchnào họ cũng được phép tham gia, chẳng hạn như trong quan hệ vayvốn tại các tổ chức tín dụng chỉ có các cá nhân từ đủ mười tám tuổi trởlên không bị mất năng lực hành vi dân sự mới được tham gia, còn đốivới giao dịch cầm đồ họ vẫn có thể tham gia với tư cách là bên cầm

đồ Ngoài hai trường hợp đã được nêu trên thì không trường hợp nàođược phép tham gia vào giao dịch dân sự nói chung và cầm đồ nóiriêng mà không có sự đồng ý của người đại diện (tại giao dịch nhằmphục vụ nhu cầu sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi) Năng lực pháp luậtdân sự của cá nhân: "là khả năng của cá nhân có quyền dân sự vànghĩa vụ dân sự năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người

đó sinh ra và chấm dứt, khi người đó chết đi, mọi cá nhân đều ngang

Trang 23

bằng nhau về năng lực pháp luật dân sự vì vậy đây là yếu tố khôngcần quan tâm nhiều khi xác lập giao dịch.

Một chủ thể quan trọng nữa thường tham gia vào quan hệ phápluật dân sự là pháp nhân, pháp nhân theo quy định của pháp luật là:

"Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điềukiện sau đây:

Pháp nhân cũng là một chủ thể trong quan hệ cầm đồ, trong quan

hệ này pháp nhân thường đóng vai trò là bên nhận cầm đồ, thực hiệnhoạt động cầm đồ như một hoạt động kinh doanh chính hoặc kiêmdoanh Còn pháp nhân với vai trò là bên cầm đồ vay vốn tại các cửahiệu cầm đồ là rất ít bởi các cửa hiệu cầm đồ ở nước ta hầu như hoạtđộng nhỏ lẻ nguồn vốn eo hẹp chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốncủa pháp nhân, hơn nữa hiện nay người dân vẫn chưa có cái nhìn đúngđắn về loại hình kinh doanh này nên rất e dè khi xác lập giao dịch.Pháp nhân xác lập giao dịch thông qua người đại diện của mình là cánhân, nên khi tham gia vào giao dịch người đại diện của họ cũng phải

có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự

Ngoài hai chủ thể trên tổ hợp tác, hộ gia đình cũng là chủ thể củagiao dịch dân sự nói chung và giao dịch cầm đồ nói riêng Hiện nay

Trang 24

Nhà nước đang có chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình và pháthuy vai trò của các hợp tác xã Theo quy định của pháp luật thì:

"Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng gópcông sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm,ngưnghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luậtquy định" [8, điều 105]

"Tổ chức hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp táccủa ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên,cùng đóng góp tài sản công sức để thực hiện những công việc nhấtđịnh cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong cácquan hệ dân sự" [8, điều 111]

Tổ chức hợp tác hộ gia đình khi tiến hành hoạt động kinh doanh,hay thực hiện một công việc nhất định nào đó, nếu thiếu vốn ngoàiviệc vay vốn tại các tổ chức tín dụng, thì cũng có thể đem tài sản củachính mình đem cầm cố tại các cửa hiệu cầm đồ để vay vốn và họđương nhiên trở thành chủ thể của quan hệ này Và người đại diện của

họ khi xác lập giao dịch cũng phải có đầy đủ năng lực hành vi và nănglực pháp luật dân sự

Bên cạnh việc phải đáp ứng các điều kiện chung khi tham giavào quan hệ giao dịch dân sự thông thường thì các chủ thể nói trênmuốn trở thành chủ thể của quan hệ cầm đồ còn phải đáp ứng một sốđiều kiện đặc thù của quan hệ này

Thứ nhất về phía bên nhận cầm đồ họ phải là "thương nhân cógiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong đó nội dung có ghi kinhdoanh dịch vụ cầm đồ [15, khoản 1 mục II] Thương nhân theo khoản

Trang 25

1 điều 6 luật thương mại 2005 được định nghĩa như sau: "Thươngnhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạtđộng thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinhdoanh" Như vậy thương nhân ở đây cũng có thể là tổ chức kinh tếgồm: doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các

tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật Và thương nhâncũng có thể là cá nhân (không phân biệt là người Việt Nam hay nướcngoài) hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và cóđăng ký kinh doanh So với qui định của pháp luật cũ (Thông tư liên

bộ số 02/1995/TT-LB hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ) thì bênnhận cầm đồ theo quy định của pháp luật hiện hành được mở rộngthêm rất nhiều bao gồm cá nhân hoạt động thương mại một cách độclập, thường xuyên tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp Còn trongThông tư số 02/1995/TT-LB thì bên nhận cầm đồ chỉ bao gồm: "làdoanh nghiệp được thành lập theo luật định gồm: doanh nghiệp Nhànước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty liên doanh, doanh nghiệp hợp tác xã được cấp giấy chứngnhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ cầm đồ theo qui định" [14,khoản 6, mục I] Như vậy bên nhận cầm đồ chỉ là những doanh nghiệp

đã được liệt kê trong điều luật Đây là điểm tiến bộ của pháp luật hiệnhành so với luật cũ, điều này đã tạo điều kiện cho nhiều chủ thể có thểtham gia vào giao dịch cầm đồ để thỏa mãn nhu cầu, mục đích của

họ, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Khikinh doanh dịch vụ cầm đồ các chủ thể có thể lập doanh nghiệp hoặc

Trang 26

không, điều kiện này không còn bắt buộc đối với các chủ thể nhưtrong luật cũ Ngoài điều kiện về tư cách chủ thể phải là thương nhân

có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, biên nhận cầm đồ còn phảiđáp ứng các điều kiện về vật chất như: phải có cửa hàng, cửa hiệu cốđịnh địa chỉ rõ ràng có bảng niêm yết rõ hàng hóa, tài sản cầm đồ, tỷ

lệ tiền vay, lãi suất theo quy định có kho cất giữ, bảo quản an toànhàng hóa, tài sản cầm đồ đảm bảo chống được hư hỏng mất mát trongthời gian lưu giữ Sở dĩ có quy định là vì trong quan hệ cầm đồ có sựchuyển giao tài sản hoặc hàng hóa thuộc sở hữu của cầm đồ sang bênnhận cầm đồ Quy định này tạo điều kiện cho bên nhận cầm đồ hoànthành tốt nghĩa vụ của mình trong hợp đồng cầm đồ với khách hàng

mà chúng ta sẽ được tìm hiểu trong mục quyền và nghĩa vụ của cácbên Và một điều kiện không thể thiếu nữa đối với bên nhận cầm đồ là

họ phải có vốn để kinh doanh (cụ thể là tiền mặt), nguồn vốn này cóthể là nguồn vốn tự có hoặc họ có thể huy động từ nhiều nguồn hợppháp khác nhau Đây thực sự là một điều kiện quan trọng đối với bênnhận cầm đồ bởi thực chất của quan hệ cầm đồ là dịch vụ cho vay tiền

có bảo đảm bằng hàng hóa tài sản của bên đi vay

Chủ thể thứ hai trong quan hệ này là bên cầm đồ (khách hàng)

"Khách hàng trong dịch vụ cầm đồ có thể là người sản xuất, kinhdoanh hoặc là người tiêu dùng" Ngược lại với bên nhận cầm đồ đểđược tham gia vào quan hệ này phải đáp ứng những điều kiện rất chặtchẽ, thị bên cầm đồ hầu như không phải đáp ứng bất cứ điều kiện gìngoài điều kiện chung đối với giao dịch dân sự thông thường "Người"

ở đây có thể hiểu là bao gồm cá nhân (hoặc người Việt Nam hoặc

Trang 27

người nước ngoài), tổ chức Bên khách hàng là người sản xuất, kinhdoanh bởi khi sản xuất, kinh doanh nhu cầu vốn rất lớn, không phải aicũng có sẵn ở đây xuất hiện nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồnkhác nhau, cầm đồ chính là một phương hữu để huy động vốn nhanhchóng và dễ dàng Ngoài ra người tiêu dùng cũng là khách hàngthường xuyên của các cửa hiệu cầm đồ (hiện nay chiếm tỉ lệ cao nhất).Tiêu dùng là nhu cầu không thể thiếu được của mỗi con người trongđời sống hàng ngày, tuy nhiên không phải ai lúc nào cũng có sẵn tiền

để đáp ứng nhu cầu của mình, dẫn tới tình trạng nhu cầu thì không thểkhông đáp ứng mà tiền không có Giải pháp để thoát khỏi nó là đi vay

để giải quyết tình trạng trước mắt Tuy nhiên một điều kiện tiên quyết

để họ có thể trở thành khách hàng tại các cửa hiệu cầm đồ, hay nóichính xác hơn để vay được tiền họ phải có hàng hóa hoặc tài sản thuộc

sở hữu của mình (hoặc của người thứ ba nhưng phải có giấy ủy quyềnhợp pháp) chuyên giao cho bên nhận cầm đồ trong suốt thời gian thỏathuận để đảm bảo nghĩa cụ trả nợ Quy định về bên cầm đồ trong phápluật hiện hành là so với luật cũ (Thông tư số 02/1995/TT-LB) là một

sự đổi mới hoàn toàn Trong Thông tư số 02/1995 qui định: Bên cầm

đồ là pháp nhân được thành lập theo pháp luật hiện hành nếu là phápnhân nước ngoài phải được nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthừa nhận, có trụ sở tại Việt Nam; là cá nhân gồm công dân Việt Namhoặc công dân nước ngoài từ mười tám trở lên có năng lực hành vidân sự, cư trú hợp pháp tại Việt Nam theo qui định của luật pháp ViệtNam Với qui định này đã làm hạn chế quyền vay vốn của một số chủthể chẳng hạn như tổ chức không phải pháp nhân, cá nhân từ đủ mười

Trang 28

sáu đến dưới mười tám tuổi có tài sản riêng… pháp luật hiện hành đãkhắc phục điểm hạn chế này bằng cách không liệt kê từng chủ thể một

mà nêu một cách khái quát bên cầm đồ có thể là người sản xuất, kinhdoanh hoặc tiêu dùng Người ở đây có thể là tổ chức hoặc cá nhân cónhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng

Một phần nữa cần làm rõ trong mục này là mối quan hệ giữa chủthể trong lĩnh vực cầm đồ nói riêng và cầm đồ nói chung Theo quiđịnh tại điều 326 BLDS 2005 "cầm cố tài sản là việc một bên (sau đâygọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bênkia (sau đây gọi là bên nhận cầm đồ) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ".Trong quan hệ về cầm cố cũng bao gồm hai chủ thể là bên cầm cố vàbên nhận cầm cố Việc sử dụng hai thuật ngữ bên cầm cố và bên nhậncầm cố để chỉ các chủ thể trong quan hệ về cầm cố là một điểm rấttiến bộ của BLDS 2005 so với BLDS 1995 Với cách sử dụng này dẫnđến cách hiểu rộng hơn về chủ thể tham gia quan hệ cầm cố tài sản, đó

là không chỉ bên có nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm có thể mang tàisản thuộc sở hữu của mình ra cầm cố cho việc thực hiện nghĩa vụ dân

sự của mình mà bên thứ ba có thể dùng tài sản thuộc sở hữu của mình

để cầm cố bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ.Còn bên nhận cầm cố là bên chấp nhận giữ một tài sản nào đó để đảmbảo quyền của mình được thực hiện một cách đầy đủ Vậy bên nhậncầm cố chỉ có thể là bên có quyền trong quan hệ dân sự có nghĩa vụđược bảo đảm bằng biện pháp cầm cố chứ không thể là người thứ banào khác

Trang 29

Bên nhận cầm cố có thể là các tổ chức tín dụng, các tổ chức thựchiện hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật ngân hàng hoặcbất cứ tổ chức, cá nhân nào có đủ năng lực tham gia giao dịch cầm cố

và là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính được bảo đảm bằngbiện pháp cầm cố Các chủ thể này nếu có giấy phép kinh doanh, kinhdoanh trong đó nội dung có kinh doanh dịch vụ cầm đồ thì họ đồngthời trở thành bên nhận cầm đồ trong quan hệ cầm đồ

Bên cầm cố cũng là các tổ chức, cá nhân bất kỳ nào đó có đủnăng lực tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và có đủ tài sản đem

ra cầm cố bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đã được xácđịnh Cùng với các chủ thể này nếu họ là người sản xuất, kinh doanhhoặc tiêu dùng đem hàng hóa tài sản thuộc sở hữu của mình tới cầm

cố tại các cửa hiệu cầm đồ để vay tiền thì họ được gọi là bên cầm đồchủ thể của quan hệ cầm đồ

Như vậy từ những phân tích ở trên ta có thể khẳng định rằng chủthể của cầm đồ là một bộ phận nhỏ của chủ thể trong quan hệ cầm cốtài sản nói chung

2.2.Đối tượng của giao dịch về cầm đồ

Đối tượng của cầm đồ là các loại hàng hóa hoặc tài sản màkhách hàng đem tới các hiệu cầm đồ để cầm cố đảm bảo cho nghĩa vụtrong quan hệ vay tài sản (vay tiền) Theo qui định của pháp luật hiệnhành: "Hàng hóa, tài sản được sử dụng để cầm cố phải là động sản, cógiá trị mua bán trao đổi thuộc quyền sở hữu của khách hàng" [15,điểm 3.1 khoản 3 mục I] Như vậy đối tượng của cầm đồ bao gồmhàng hóa, tài sản Hàng hóa được hiểu là "sản phẩm do con người làm

Trang 30

ra được mua bán trên thị trường [5, tr.421] Tài sản theo qui định baogồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản [8, điều 163] Việccác nhà làm luật chia đối tượng cầm đồ bao gồm hàng hóa hoặc tài sản

là chưa hợp lí, bởi hàng hóa cũng chính là tài sản (nó có thể quyền tàisản, vật, giấy tờ có giá) vì vậy trong trường hợp này

Tuy nhiên không phải bất cứ loại hàng hóa tài sản nào cũng trởthành đối tượng của quan hệ cầm đồ, mà hàng hóa, tài sản đó phải làđộng sản có giá trị mua bán trao đổi Động sản ở đây là những tài sảnkhông phải bất động sản như đất đai,nhà, công trình xây dựng gắn liềnvới đất đai, kể cả tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó…

và các tài sản khác mà pháp luật qui định là bất động sản

Tài sản hoặc hàng hóa đem đi cầm phải có giá trị mua bán vàtrao đổi bởi nếu như tài sản, hàng hóa không thể mua bán, cũng nhưkhông thể trao đổi được thì việc cầm cố tài sản, hàng hóa tại hiệu cầm

đồ của khách hàng để đảm bảo nghĩa vụ trong hợp đồng cầm đồ chẳngcòn ý nghĩa Chức năng bảo đảm của hàng hóa, tài sản đem cầm cũngkhông còn Quan hệ cho vay giữa chủ hiệu cầm đồ với khách hàng trởthành quan hệ không có bảo đảm, khi dài hạn mà người vay không trảđược nợ, còn hàng hóa, tài sản không thể mua bán trao đổi được dầnđến bên có quyền sẽ không xử lí được số tài sản, hàng hóa để thu hồivốn Quy định này phù hợp với quy định của BLDS 2005 về đối tượngcủa cầm cố: "Tài sản cầm cố thuộc sở hữu của bên cầm cố và phảiđược phép đem ra giao dịch Tài sản được phép đem ra giao dịch cónghĩa là tài sản không bị cấm lưu thông vào thời điểm xác lập giao

Trang 31

dịch Tài sản có giá trị mua bán trao đổi cũng đồng nghĩa với chúngđược phép lưu thông trên thị trường.

Đối tượng của cầm đồ còn phải là những tài sản hàng hóa thuộc

sở hữu hợp pháp của bên khách hàng, có nghĩa là tài sản đó phải thuộcquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của bên cầm đồ và quyền sở hữu

đó được pháp luật thừa nhận Việc xác định một tài sản, hàng hóa cóphải thuộc sở hữu của khách hàng hay không sẽ trở nên rất dễ dàngnếu như tài sản, hàng hóa đó có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu.Nhưng trên thực tế số lượng tài sản hàng hóa có giấy tờ chứng minhquyền sở hữu rất ít, còn lại đa số là không có Những tài sản này việcxác định chúng có phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng để đi cầmhay không là một điều không dễ dàng Đối với tài sản, hàng hóakhông có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của ai căn cứ vào thực tếchiếm hữu tài sản đó Việc pháp luật quy định hàng hóa, tài sản phảithuộc sở hữu hợp pháp của khách hàng có tác dụng rất lớn trong việcngăn chặn các cửa hiệu cầm đồ trở thành nơi tiêu thụ của những hànghóa, tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp Nhưng đây cũng là một khókhăn đối với bên nhận cầm đồ Trên thực tế bên nhận cầm đồ xácminh căn cứ vào cam kết của khách hàng và giấy tùy thân của họ nhưchứng minh thư nhân dân…

Bên cạnh việc qui định hàng hóa, tài sản cầm đồ phải thuộc sởhữu hợp pháp của khách hàng Các nhà làm luật còn qui định chophép bên cầm đồ được sử dụng hàng hóa, tài sản của người thứ ba đểcầm cố vay tiền Quy định này tạo điều kiện cho những người không

có hàng hóa, tài sản cũng có thể tham gia vào quan hệ cầm đồ để vay

Trang 32

vốn Tuy nhiên việc sử dụng hàng hóa, tài sản thuộc sở hữu của ngườithứ ba để cầm đồ phải có giấy ủy quyền hợp pháp của người này chokhách hàng.

Nếu hàng hóa, tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người thìphải có giấy ủy quyền hợp pháp của các đồng sở hữu cho khách hàng.Tài sản thuộc sở hữu chung có nghĩa là tất cả các dòng sở hữu cóquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối hàng hóa, tài sảnchung đó Sở hữu chung được chia làm hai hoặc sở hữu chung theophần và sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chung theo phần là sở hữuchung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xácđịnh đối với tài sản chung Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền,nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phầnquyền sở hữu của mình, trừ trường hợp pháp luật có thỏa thuận khác[8, điều 216] Như vậy nếu như một chủ sở hữu chung theo phần chỉđem phần hàng hóa, tài sản thuộc sở hữu của mình trong khối tài sảnchung đi cầm đồ mà đòi hỏi họ phải có giấy ủy quyền của nhữngngười còn lại là vô lý, như thế vô hình chung xâm phạm đến quyền sởhữu của chính bản thân họ Theo tôi trong trường hợp tài sản thuộc sởhữu chung theo phần việc yêu cầu phải có giấy ủy quyền chỉ nên đặt

ra khi bên cầm đồ sử dụng toàn bộ khối tài sản, hàng hóa chung đó đểcầm đồ "Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phầnquyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối vớitài sản chung Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung [8, điều 217] Như vậyđối với tài sản, hàng hóa thuộc sở hữu chung hợp nhất thì trong mọi

Ngày đăng: 22/04/2016, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w