1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi về Hộ Gia Đình trong BLDS

5 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 24,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1:Vào năm 1993 1994, sau khi tập đoàn sản xuất tan rã, Nhà nước cấp cho gia đình anh Tư Râu (huyện Gò Quao – Kiên Giang) 02ha đất. Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thể hiện cấp cho hộ ông, bà… do cha anh Tư đứng tên. Những năm sau đó, các anh em Tư Râu ai nấy đều có gia đình ra ở riêng, không còn chung Sổ hộ khẩu với cha mẹ nữa. Năm 2013 cha anh Tư Râu qua đời, mấy mẹ con đem chuyện phân chia đất đai ra bàn bạc và đa số đều đi đến thống nhất chia đều cho mỗi người một phần bằng nhau, duy chỉ có người em út đang còn ở chung với mẹ thì cho rằng: “Anh, chị không có tên trong Sổ hộ khẩu gia đình thì không có QSDĐ”? TL:Về trường hợp gia đình anh Tư Râu, xác định thành viên hộ gia đình vào thời điểm Nhà nước cấp đất chứ không phải vào thời điểm hiện tại, nên mặc dù có người đã cắt khẩu chuyển đi nơi khác nhưng họ vẫn còn chung QSDĐ với gia đình.

Trang 1

Câu 1: Vào năm 1993 - 1994, sau khi tập đoàn sản xuất tan rã, Nhà nước cấp cho gia đình anh

Tư Râu (huyện Gò Quao – Kiên Giang) 02ha đất Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thể hiện cấp cho hộ ông, bà… do cha anh Tư đứng tên Những năm sau đó, các anh em

Tư Râu ai nấy đều có gia đình ra ở riêng, không còn chung Sổ hộ khẩu với cha mẹ nữa Năm

2013 cha anh Tư Râu qua đời, mấy mẹ con đem chuyện phân chia đất đai ra bàn bạc và đa số đều

đi đến thống nhất chia đều cho mỗi người một phần bằng nhau, duy chỉ có người em út đang còn

ở chung với mẹ thì cho rằng: “Anh, chị không có tên trong Sổ hộ khẩu gia đình thì không có QSDĐ”?

TL:Về trường hợp gia đình anh Tư Râu, xác định thành viên hộ gia đình vào thời điểm Nhà

nước cấp đất chứ không phải vào thời điểm hiện tại, nên mặc dù có người đã cắt khẩu chuyển đi nơi khác nhưng họ vẫn còn chung QSDĐ với gia đình

Câu 2: Hãy nêu và phân tích những mâu thuẫn vá bất cập của BLDS 2005 về HGĐ?

TL:

• Về Hộ gia đình tham gia quan hệ dân sự:

Điều 106 về “Hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên

có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.”

Theo quy định trên, khi tham gia vào quan hệ dân sự, thì Hộ gia đình phải có phải có đủ 3 điều kiện sau đây:

– Thứ nhất, phải là Hộ gia đình “mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định”, chứ mọi Hộ gia đình nói chung không đương nhiên là

chủ thể trong quan hệ dân sự;

– Thứ hai, chỉ khi Hộ gia đình “tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực” để “hoạt động kinh

tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác

do pháp luật quy định” Như vậy, chỉ trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh như vay vốn, mua

vật tư nguyên liệu sản xuất,… của gia đình, thì mới có sự tham gia của chủ thể Hộ gia đình Còn, nếu như tham gia vào các hoạt động khác, chẳng hạn như mua bán xe ô hoặc mua bán nhà ở tô không vì mục đích kinh doanh, thì không xuất hiện chủ thể Hộ gia đình trong quan hệ dân sự Đây là một điều vô lý, vì khi cũng là tài sản chung và giao dịch liên quan đến tài sản chung của

Hộ gia đình, nhưng lại không phải là giao dịch của Hộ gia đình Tất nhiên các điều khoản liên quan khác thì lại vẫn quy định việc định đoạt ài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của Hộ gia đình thì vẫn phải được các thành viên đồng ý;

– Thứ ba, các thành viên Hộ gia đình “có tài sản chung”, nhưng không phải là bất cứ tài sản nào,

mà chỉ trong trường hợp có tài sản chung theo quy định tại Điều 108 về “Tài sản chung của hộ

gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 như sau: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.” Tuy nhiên, điều khó khăn là, ngoài tài sản chung là “quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình”, thì không biết

căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để xác định được những tài sản nào khác là “tài sản chung của Hộ gia đình”

Trang 2

Như vậy, cùng một tài sản, nhưng chủ thể tham gia giao dịch, lúc này thì là là cá nhân, nhưng lúc khác lại phải là Hộ gia đình, mặc dù không hề có bất cứ sự thay đổi nào về chủ sở hữu Ngoài ra, cũng khó có thể tách bạch giữa tài sản của Hộ gia đình sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh với tài sản để sinh hoạt

Và theo quy định của Bộ luật Dân sự thì chủ thể Hộ gia đình trong quan hệ dân sự chỉ áp dụng trong một số giao dịch sản xuất, kinh doanh theo quy định tại Điều 106 nói trên Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực khác đã mở rộng chủ thể Hộ gia đình vượt quá quy định nền tàng của Bộ luật Dân

sự, đưa chủ thể quan hệ dân sự này vào rất nhiều giao dịch khác, như: Vay vốn ngân hàng, mua bán điện nước sinh hoạt,…

• Về đại diện của Hộ gia đình trong quan hệ dân sự:

Điều 107 về “Đại diện của hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự quy định:

“1 Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha,

mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.

Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự.

2 Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.”

Theo quy định trên, thì chủ Hộ gia đình đương nhiên là người đại diện của hộ gia dình để xác lập các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Người đại diện có thể là chủ Hộ gia đình được ghi tên trên Sổ hộ khẩu hoặc là người được người chủ Hộ gia đình đó uỷ quyền Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 109 về “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình”, thì chủ Hộ gia đình không đương nhiên có quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, mà còn phải đáp ứng được một số điều kiện như sau:

“1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.”

Tuy nhiên, Điều 146 về “Hợp đồng về quyền sử dụng đất”, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày

29-10-2004 của Chính phủ về Thi hành Luật Đất đai thì lại quy định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.” Như vậy, theo pháp luật đất đai, thì giao dịch của Hộ gia đình chỉ đòi hỏi các thành viên từ

đủ 18 tuổi trở lên, trong khi Bộ luật Dân sự thì yêu cầu các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên Điều khó hiểu là ở chỗ, mặc dù Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung tới 6 lần, nhưng vẫn giữ nguyên về điều kiện tham gia của thành viên Hộ gia đình đủ 18 tuổi rõ ràng mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự

Ngoài đất đai đã được quy định tại Luật Đất đai năm 2003, còn lại những tài sản khác, thì không

có căn cứ pháp lý để xác định thế nào là “tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình” Chỉ có quy định tài sản phải có hay không có giấy chứng nhận quyền sở hữu, chứ chưa có

quy định thế nào là có giá trị lớn Thậm chí đối với tài sản là tiền gửi tiết kiệm, thì pháp luật chuyên ngành ngân hàng không hề căn cứ vào mối quan hệ vợ chồng, gia đình,… mà khẳng định

luôn: “Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm” và “Đồng chủ sở hữu

Trang 3

tiền gửi tiết kiệm là 2 cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm” (khoản 3 và 4, Điều 6 về

“Giải thích từ ngữ”, Quy chế về Tiền gửi tiết kiệm, ban hành kèm theo Quyết định số

1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13-9-2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

• Về trách nhiệm của Hộ gia đình trong quan hệ dân sự:

Trong quan hệ dân sự, Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 110 về

“Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự như sau:

“1 Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình.

2 Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ

để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình.”

Khoản 2, Điều 107 như đã đề cập ở trên cũng quy định “Giao dịch dân sự do người đại diện của

hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.” Tuy nhiên, nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2, Điều 109

nói trên, thì có thể dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu và Hộ gia đình không phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 110 nói trên

• Về thành viên của Hộ gia đình:

Muốn xác định được Hộ gia đình có đủ điều kiện để tham gia các giao dịch dân sự một cách hợp pháp và phải chịu trách nhiệm hay không, thì việc quan trọng nhất là phải xác định được các thành viên của Hộ gia đình Đáng tiếc, vấn đề mấu chốt này lại là một điều thách đố, nguy hiểm

và nhức nhối trên thực tế, vì không có căn cứ pháp lý để khẳng định những người nào là thành viên của Hộ gia đình

Trên thực tế, thường xác định các thành viên của Hộ gia đình dựa vào Sổ hộ khẩu gia đình, mặc

dù, Sổ hộ khẩu không phải là căn cứ pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ chung của các thành viên, mà để phục vụ cho mục đích quản lý nhân khẩu thường trú Thành viên đăng ký trong Sổ

hộ khẩu thường xuyên có biến động do việc tách, nhập hộ; nhập cắt, chuyển khẩu do sinh, tử, di chuyển, thậm chí đăng ký cư trú nhờ,… Theo quy định tại Điều 19 về “Điều kiện đăng ký

thường trú tại tỉnh”, Luật Cư trú năm 2006, thì ai cũng có thể được đăng ký vào Sổ hộ khẩu của gia đình khác, chỉ cần người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà đồng ý bằng văn bản Riêng việc nhập vào Sổ hộ khẩu tại thành phố trực thuộc trung ương thì đòi hỏi có thêm điều kiện về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng hoặc họ hàng ruột thịt

Do vậy, để xác định thành viên Hộ gia đình làm cơ sở cho giao dịch dân sự theo đúng quy định của pháp luật, thì thường phải phát huy hết khả năng suy đoán để tìm ra mọi tình huống có thể Chẳng hạn, khi giao dịch bất động sản (bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất) của Hộ gia đình, thì thường phải xác định như sau:

– Thứ nhất, phải xác định thành viên của Hộ gia đình là tất cả những người có tên trong Sổ hộ

khẩu tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận bất động sản Không có cơ sở pháp lý để loại trừ những người cùng chung hộ khẩu, mặc dù là người ngoài cuộc, người ở nhờ không phải là thành viên đồng sở hữu tài sản chung của Hộ gia đình Trường hợp không còn Sổ hộ khẩu tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận bất động sản, thì phải căn cứ vào những bằng chứng pháp lý khác như văn bản xác nhận của UBND hoặc Công an nơi đăng ký hộ khẩu về các nhân khẩu của Hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận bất động sản;

– Thứ hai, phải xác định thành viên của Hộ gia đình là tất cả những người có tên trong Sổ hộ

khẩu tại thời điểm thực hiện giao dịch Không có cơ sở pháp lý để chỉ công nhận các thành viên

Hộ gia đình có tên trong Sổ hộ khẩu tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận bất động sản và

Trang 4

tước quyền của những người có tên trong Sổ hộ khẩu sau thời điểm đó Và cũng như trên, không

có cơ pháp lý để loại trừ những người không phải là thành viên đồng sở hữu tài sản của Hộ gia đình

– Thứ ba, phải xác định người ký giao dịch hoặc văn bản đồng ý với việc giao dịch gồm tất cả

các thành viên đủ 15 tuổi trở lên (hoặc là đủ 18 tuổi trở lên theo pháp luật đất đai) trong Sổ hộ khẩu có quan hệ hôn nhân (vợ – chồng), quan hệ huyết thống (cha mẹ đẻ – con, ông bà nội ngoại – cháu ruột, anh – chị – em ruột,…), quan hệ nuôi dưỡng (cha mẹ nuôi – con nuôi) và quan hệ khác nữa, mà cùng có quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản chung tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận bất động sản cũng như tại thời điểm thực hiện giao dịch Đồng thời, còn phải xác định người ký còn bao gồm cả những người khác thực sự là thành viên của Hộ gia đình, nhưng lại không có tên trong Sổ hộ khẩu ở cả hai thời điểm được cấp Giấy chứng nhận bất động sản và tại thời điểm giao dịch Không đủ cơ sở pháp lý để loại trừ người không có tên trong Sổ

hộ khẩu, vì đã tách hộ khẩu hoặc chưa nhập khẩu vào Hộ gia đình, vì điều đó không đồng nghĩa với việc họ đã mất quyền đối với quyền sở hữu tài sản chung của Hộ gia đình Mặc dù, nếu họ không có tên trong Sổ hộ khẩu, thì cũng khó có cơ sở pháp lý để yêu cầu ký vào văn bản liên quan, nhất là các giao dịch bắt buộc phải công chứng Bên cạnh đó, nếu người có tên trong Sổ hộ khẩu nhưng không thực sự là thành viên Hộ gia đình, thì cũng không có cơ sở pháp lý để loại bỏ

họ Vì vậy vẫn buộc phải đưa họ vào trực tiếp tham gia giao dịch, không thì cũng phải yêu cầu

họ lập cam kết không liên quan đến tài sản Vì vấn đề quá rắc rối như vậy, nên hầu như phải phó thác và chỉ còn biết thực hiện theo yêu cầu hay hướng dẫn của từng địa phương và của các công chứng viên

• Những vướng mắc khác liên quan đến Hộ gia đình:

Xét về bản chất, chỉ có trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp, thì mới xuất hiện chủ thể giao đất cho Hộ gia đình Tuy nhiên Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn đã nhập nhèm quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với rất nhiều loại đất cho Hộ gia đình, trong khi đó là đất thuộc quyền sử dụng của một cá nhân hay của hai vợ chồng Ví dụ đất do 1 cá nhân nhận chuyển nhượng hoặc đất thổ cư từ lâu đời cũng “bị” cấp “sổ đỏ” cho cả Hộ gia đình (xem Phụ lục 04 và 05: Đất ở và đất nhận chuyển nhượng cấp cho Hộ gia đình)

Hộ gia đình sử dụng đất không phải là đất thuê chỉ có quyền: “Thế chấp, bảo lãnh[1]bằng quyền

sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (khoản 7, Điều 113 về “Quyền và nghĩa vụ của hộ gia

đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê”) Nghĩa là Hộ gia đình không được phép thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn hay mua vật tư, phân bón của cá nhân,

tổ chức phi tín dụng để sản xuất, kinh doanh hoặc không được thế chấp tại các tổ chức tín dụng

để làm việc khác như xây nhà, chữa bệnh, học tập,…

Câu 4: Chủ hộ của HGĐ A trồng cà phê có ý định bán cho HGĐ B một số tài sản của hộ, gồm 1 chiếc máy bơm( dung để tưới rẫy cà phê) và số cà phê dự trữ, do thấy giá cả cà phê đang tăng cao nên đa số các thành viên của HGĐ A không đồng ý Theo điều 109 BLDS 2005, chủ hộ của HGĐ A không có quyền bán các tài sản trên Tuy vậy, khi các thành viên đi vắng, chủ hộ A đã bán các tài sản trên cho B Sau đó các thành viên của HGĐ A quay về biết chuyện và họ muốn đòi lại các tài sản đã bán cho ông B Hỏi trong trường hợp này họ có thể đòi lại được không? TL: Các thành viên của HGĐ A không thể đòi lại tài sản này được Vì ở đây đối tượng giao dịch

mua bán là các động sản không đăng ký quyền sở hữu và bên mua là ông B ở đây là người chiếm

Trang 5

hữu ngay tình đối với tài sản đó( điều 189, 257 BLDS 2005) Đồng thời, do trong luật không ghi

rõ là khi định đoạt tài sản thì sự đồng ý của các thành viên phải thể hiện thành văn bản hay chỉ nói miệng hay là 1 hình thức nào khác Vì thế các thành viên trong HGĐ A không thể viện lý do

rằng, họ đã họp và đi đến quyết định đa số là không bán các tài sản trên

Câu 3: Một HGĐ có 3 thành viên là A,B,C cùng chung tài sản trị giá là 3 tỉ đồng Họ đã dung số tiền này để kinh doanh với tư cách là HGĐ Sau 1 thời gian làm ăn họ bị thua lỗ và thiếu nợ 5 tỉ đồng Họ đã dung tài sản chung để đền bù phần thua lỗ nhưng vẫn còn 2 tỉ đồng buộc họ phải dung tài sản riêng của mình để trả món nợ trên Tuy nhiên, chủ nợ lại không đòi cả 3 người mà chủ nợ chỉ đòi 1 mình A phải trả khoản 2 tỉ trên Hỏi họ có thể đòi như vậy được không?

TL: Theo điều 110 BLDS 2005, thì sau khi dung phần tài sản chung để chịu trách nhiệm nếu không đủ thì các thành viên phải lấy luôn phần tài sản cá nhân của mình để chịu trách nhiệm Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là Luật không đặt vấn đề xác định phần trách nhiệm mà mỗi thành viên của HGĐ phải chịu Theo đó, các chủ nợ có thể yêu cầu bất kỳ thành viên nào của HGĐ phải thực hiện một phần hay toàn bộ món nợ thay cho các thành viên khác Như vậy trách nhiệm tài sản của các thành viên đối với món nợ của HGĐ là không độc lập

Câu 5:Trong 1 gia đình có 4 thành viên là vợ chồng và 2 con chưa thành niên, và người chồng là chủ hộ của HGĐ này Trong 1 tai nạn người chồng qua đời còn người vợ bị mất năng lực hành vi dân sự Hỏi trong tình huống này ai sẽ là người chủ hộ?

Ngày đăng: 17/09/2016, 12:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w