Cấu trúc và nội dung cơ bản của Bộ Luật Hồng Đức Bộ luật Hồng Đức gồm 3 phần : Bản phụ lục về tang chế các công cụ để thực hiện hình phạt Quy định về đồ hình cụ các công cụ để thực hiện
Trang 1Môn Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
A Khái quát chung về Bộ luật Hồng Đức 2
I Một số nét cơ bản về Lê Thánh Tông 2
II Một số nét cơ bản về bộ luật Hồng Đức 2
1 Hoàn cảnh ra đời của bộ luật hồng đức 2
2 Cấu trúc và nội dung cơ bản của Bộ Luật Hồng Đức 5
B Nội dung cụ thể của bộ luật Hồng Đức 8
I Các quy định về dân sự 8
1 Sở hữu và hợp đồng 8
2 Thừa kế 14
II Các quy định về hình sự 14
1 Các nguyên tắc chủ đạo 14
2 Tội phạm 15
3 Hình phạt 16
III Các quy định về hôn nhân gia đình 18
1 Hôn nhân 18
2 Quan hệ gia đình 19
IV Quy định về tố tụng 20
V Quy phạm pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 21
C Đánh giá tổng quan về Bộ Luật Hồng Đức và các yếu tố tác động,ảnh hưởng đến Bộ luật Hồng Đức 24
I So sánh 24
1 Luật Trung Hoa 24
Trang 43 Tính nhân đạo và tiến bộ của bộ luật Hồng Đức 25
II Các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến nội dung của các chế định trong Bộ Luật Hồng Đức 26
1 Yếu tố khách quan 26
2 Yếu tố chủ quan 32
III Giá trị, nhận xét, đánh giá 38
1 Giá trị của Bộ luật Hồng Đức 38
2 Nhận xét, đánh giá 44
PHẦN KẾT LUẬN 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Từ xưa, cổ nhân đã từng nói: “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”, “ việc xưa đã không hiểu biết, lấy gì mà ngẫm xét việc nay” Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam, bên cạnh công việc tìm hiểu, rút kinh nghiệm từ những mô hình tiên tiến của các nước trên thế giới, chúng ta cũng cần trở về nguồn gốc văn minh Việt Nam để nhìn thấy những kinh nghiệm thành công,thất bại của tiền nhân thông qua các định chế chính trị- Nhà nước pháp quyền trong từng thời kỳ đất nước
Có thể coi thế kỷ XV là thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt, đánh dấu một chuyển biến lón trong đời sống pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh đã tạo nên sức mạnh kỷ cương cho nước Đại Việt thời Lê Sơ- một quốc gia
mà nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài cho là hùng mạnh nhất Đông Nam Á thế kỷ
XV Bộ luật Hồng Đức được biên soạn và ban bố dưới triều Lê Thash Tông niên hiệu Hồng Đức (1470-1479) vào giữa thời kỳ cực thịnh của triều Lê Bộ luật được trình bày thành các điều khoản theo cách thức phân loại của thời đó và tuy được
mô phỏng theo bộ luật nhà Đường- Trung Quốc , nhưng nội dung của các quy địnhtrong Bộ Luật Hồng Đức có rất nhiều nét đặc sắc và tiến bộ khiến cho nhiều học giả phương Tây phải chú ý và khâm phục Dưới đây là khái quát quát chung về bộ luật Hồng Đức để chứng tỏ những nhận định trên
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
A Khái quát chung về Bộ luật Hồng Đức
A.I Một số nét cơ bản về Lê Thánh Tông
Vua Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành,(còn có tên khác là Lê Hậu)hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư của vua Lê Thái Tông, mẹ là bà Ngô ThịNgọc Dao Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại nhà ông ngoại ởkhu đất chùa Huy Văn, Khâm Thiên, Hà Nội ngày nay
Tên tuổi và sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông gắn chặt với một giai đoạnphát triển cường thịnh của đất nước Sách “Các triều đại Việt Nam” của tác giảQuỳnh Cư- Đỗ Đức Hùng đánh giá về ông:“là ông vua ở ngôi gần như lâu nhấttrong lịch sử Việt Nam(38 năm) Nhưng điều đáng nhớ không phải vì ông ở ngôilâu mà vì những đóng góp của triều vua này vào đời sống mọi mặt của quốc giaĐại Việt cường thịnh thời đó” Thời trẻ, Lê Thánh Tông với thiên tư thông minh vàrất chăm chỉ học hành thể hiện con người có chí khí lớn Việc lên ngôi vua của LêThánh Tông được sử sách ghi chép lại rất rõ Khi Lê Nghi Dân- ông vua cướp ngôi
Trang 7bị lật đổ, các vị quan đại thần trong triều, đứng đầu là Nguyễn Xí, đều nhận địnhrằng Lê Tư Thành, thiên tư sáng suốt, hùng tài đại lược thật xứng đáng làm vua.
Họ đã đem xe kiệu đến đón vua ở cung riêng (gọi là cung Gia Đế) Lê Thánh Tônglên làm vua năm 1460, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận (1460-1469) và HồngĐức (1470-1497) Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa triều Lê phát triển tớiđỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa…
A.II Một số nét cơ bản về Bộ luật Hồng Đức
A.II.1 Hoàn cảnh ra đời của Bộ luật hồng đức
A.II.1.1 Một vài nét về bối cảnh lịch sử
A.II.1.1.1 Về Chính trị
Năm 1428, Lê lợi lên ngôi đánh dấu việc chấm dứt giai đoạn chiến tranh vàchuyển sang thời kì hòa bình lâu dài của dân tộc Kinh nghiệm thời kì chiến tranhrất lớn nhưng cũng chưa thực sự đủ để đưa đất nước vào con đường thái bính,thịnh trị Ngay từ thời Lê Thái Tổ, tình trạng quan lại cậy thế công thần để kéo bèkết đảng trục lợi riêng và lấn át nhà vua đã là hiện tượng phổ biến Ở giai đoạn đầuVua Lê Thái Tổ với uy tín của vị lãnh tụ kháng chiến vẫn khống chế được đội ngũcông thần và Điều hành tốt công việc triều chính Nhưng ngay sau đó chính nhàvua cụng mắc phải nhiều sai lầm khiến các mâu thuẫn cung đình ngày càng căngthẳng, đồng thời gây ra sự bất bình lớn từ phía dân chúng Hành vi giết hại 1 sốcộng thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm văn xảo và bắt giam Nguyễn trãi đã đẩynhà vua phải đối diện với sự bất hợp tác của quần thần cụng như quần chúng.Những nhân tố trên đây cứ âm ỉ cháy trong cung đình nhà Lê Đến khi năm 1433
Lê Thái Tổ mất Thái tử Lê Nguyên Long lên nối ngôi lấy niên hiệu là Lê TháiTông Đại tư đồ Lê Sát, Tư Khấu Đô tổng quản Lê Ngân phụ chính.Với thời gian.lần lượt Lê Sát, rồi Lê Ngân đều mắc tội chuyên quyền, làm trái đạo rồi bị tội giết
Lê Thái Tông trực tiếp nắm quyền Năm 1442 Lê Thái Tông mất, thái tử Bang Cơmới 2 tuổi lên ngôi (tức là vua Lê Nhân Tông) Tuyên từ Thái hậu Nguyễn ThịAnh nhiếp chính, triều đình rơi vào cảnh lục đục, nhiều công thần bị giết hại, đámquan triều thì tham ô hối lộ … Sau 11 năm, Nhân Tông nắm thực quyền, cố gắngvãn hồi tình hình thì xảy ra cuộc chính biến năm 1459 do Lê Nghi Dân cầm đầu
Mẹ con Nhân Tông bị giết Lê Nghi Dân tự lập mình lên làm vua Tám tháng sau,Nguyễn Xí Đinh Liệt… cùng một số công thần thời lam sơn nổi binh phế truất
Trang 8Nghi Dân, Đưa hoàng tử Tư Thành lên ngôi (Tức Vua Lê Thánh Tông) Vua LêThánh Tông lên ngôi giữa lúc triều chính hỗn loạn Sự phế lập hoàng đế là mộtbiểu hiện rõ nét cho những xung đột quyền lục gay gắt chốn cung đình Điều này
đã gây cản trở lớn cho công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước trên nhiều phươngdiện, đe dọa đến cả sự tồn tại của Triều Lê
Giai cấp nông dân có số lượng đông đảo nhất trong xã hội Lê sơ Họ là lựclượng sản xuất chính tai ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là Điều kiện đảm bảocho sự phát triển và phồn vinh của đất nước Chính vì vậy họ được nhà nước phongkiến hết sức quan tâm và bảo vệ
Do Chính sách độc tôn Nho Giáo của triều Lê sơ đã dẫn đến một thực trạng
là tầng lớp Nho sĩ ngày càng phát triển đông đảo và chiếm vị trí quan trong gópphần tạo nên diện mạo mới cho xã hội Lê sơ
Trang 9A.II.1.2 Quá trình xây dựng và ban hành BLHĐ
Sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền thời Lê sơ còn đề ranhiều yêu cầu một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự xã hội có lợicho giai cấp thống trị, để bảo vệ và bênh vực nền chuyên chính của giai cấp phongkiến Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, bộ BLHĐ (tức Luật Hồng Đức) đã ra đời nhằmđáp ứng những yêu cầu phát triển sang giai đoạn mới của chế độ phong kiến ViệtNam
Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi đã cùng với các đại thầnbàn định một số luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất của thôn xã Nhữngthứ hình phạt, những lễ ân giảm trong Luật Hồng Đức (49 Điều thuộc chươngDanh lệ) phần lớn đều được quy định trong thời Lê Thái Tổ Ba mươi hai Điều luậttrong chương Điền sản để pháp chế hóa các thể lệ quân điền cũng được quy địnhchặt chẽ trong những năm Thuận Thiên (1428-1433) và được thực hiện suốt trongthời Lê sơ Tuy vậy chỉ mới là bước đầu xây dựng, nên luật pháp thời Thái Tổ còn
có nhiều thiếu sót nhất là về phương diện tư hữu tài sản Những thiếu sót ấy sẽđược các triều vua sau bổ sung thêm
Trong thời Thái Tông (1434-1442), một số nguyên tắc xét xử các vụ kiệncáo về một số Điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với nướcngoài được xây dựng thêm
Đến năm 1449, Nhân Tông ban hành 14 Điều luật khẳng định về bảo vệquyền tư hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạmđến quyền tư hữu ruộng đất Theo nhà sử học Phan Huy Chú thì “từ đó về sau các
vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân gian mới có tiêu chuẩn” (Hình luật chítrong Lịch triều hiến chương loại chí)
Sang thời Thánh Tông, triều đình liên tiếp ban bố nhiều Điều lệ về kế thừahương hỏa, về việc bảo vệ tôn ty trật tự về đạo đức phong kiến, về việc trấn áp mọihành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị của giai cấp phong kiến.Hai bộ luật Hồng Đức Thiện Chính Thư và Thiên Nam Dư Hạ Tập còn ghi chép lạinhiều Điều luật ban bố về thi hành trong thời Thánh Tông, theo thứ tự từng năm.Riêng trong bộ luật Thiên Nam Dư Hạ Tập, còn ghi lại 40 Điều luật thi hành trongnăm Quang Thuận (1460-1469) và 61 Điều trong năm Hồng Đức (1470-1497)
Trang 10Năm 1483, vua Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các Điều luật,các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê Sơ, san định lại,xây dựng thành một bộ pháp điển hoàn chỉnh Đó là bộ BLHĐ, mà người ta thườnggọi là bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trị xây dựng của vua Lê Thánh Tông Thực
ra bộ luật đó không phải là do vua Lê Thánh Tông sáng tạo ra, cũng không phảiđược xây dựng riêng trong những năm Hồng Đức (1470-1497), mà là sản phẩmcủa một thời kỳ phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam,trong cả thời Lê Sơ Công lao của triều vua Lê Thánh Tông là đã san định các luật
lệ của những triều vua trước để hoàn thành bước xây dựng bộ pháp điển ấy
A.II.2 Cấu trúc và nội dung cơ bản của Bộ Luật Hồng Đức
Bộ luật Hồng Đức gồm 3 phần :
Bản phụ lục về tang chế (các công cụ để thực hiện hình phạt)
Quy định về đồ hình cụ (các công cụ để thực hiện hình phạt)
Nội dung của bộ luật, gồm 722 Điều (được thiết kế trong 16 chương thuộc 6quyển) Mỗi chương có đối tượng Điều chỉnh khác nhau và khác thể bảo vệ phápluật cụng khác nhau Cụ thể như sau :
Quyển 1 :gồm 2 chương với 96 Điều
Chương Danh Lệ (Chương tên gọi luật lệ) có 49 Điều quy định chung về tội phạm
và hình phạt Những quy định này làm căn cứ cho việc định tội và áp dụng hìnhphạt
Chương Cấm Vệ (bảo vệ, canh giữ cấm cung) gồm 47 Điều chủ yếu quy định vềviệc bảo vệ cung cấm, hoàng thành nơi nhà vua, hoàng tộc và các quan đại thầnsinh sống, làm việc; đồng thời liệt kê những tội phạm liên quan đến cấm vệ Đây lànhững lại tội phạm liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến sự cai trị và quyền lực củagiai cấp thống trị phong kiến nên được xếp ở các chương đầu của bộ luật
Quyển 2: gồm 2 chương với 187 Điều
Chương Chức Chế(hay còn gọi là vi chế) gồm 144 Điều quy định về quan chế (tứcnhững vấn đề về công chức,công cụ…)và các hành vi phạm tội liên quan
Trang 11Chương Quân Chính gồm 43 Điều chủ yếu quy định về quân sự và các loại tộiphạm về quân sự.
Quyển 3:có 6 chương, 127 Điều
Chương Hộ Hôn gồm 58 Điều, qui định về Điều kiện, thủ tục về kết hôn, ly hôn;quyền và nghĩa vụ giữa các nhóm thành viên trong gia đình; đồng thời các loại tộiphạm về hôn nhân – gia đình
Chương 2, 3 (Chương điền sản) gồm 32 Điều, đề cập đến vấn đề tài sản (chủ yếu làruộng đất)trong hôn nhân và gia đình
Chương 4, 5 (tăng bổ luật hương hỏa) gồm 27 Điều sửa đổi, bổ sung một số nộidung của chương 2 và chương 3 về thừa kế và hương hỏa đối với di sản là ruộngđất
Chương 6 (Chương Thông Gian) có 10 Điều qui định về các hành vi gian dâm, viphạm chế độ hôn nhân và đời sống vợ chồng
Quyển 4: có 2 chương, 104 Điều
Chương Đạo Tặc có 54 Điều quy định về các hành vi cướp của, giết người, xâmhại an ninh quốc gia
Chương Đấu Tụng có 50 Điều quy định về các hành vi đánh nhau, lăng mạ, xúcphạm danh dự, nhân phẩm người khác
Quyển 5: có 2 chương, 140 Điều
Chương Trá Ngụy (tức các hành vi gian dối) có 38 Điều quy định về các hành vigian dối, lừa đảo trong lĩnh vực dân sự như giả mạo các loại văn khế,văn tự đểchiếm đoạt tài sản của người khác, làm hang giả, cân đo gian dối trong mua bán;giả mạo giấy tờ, văn tự của nhà vua hay của quan lại
Chương Tạp Luật có 92 Điều quy định về các hành vi nguy hiểm khác cho xã hội,ảnh hưởng đến trật tự chung mà chưa được quy định trong các chương khác như :các hành vi phạm pháp trong mua bán, xây dựng, giao thông, giết mổ gia súc, giacầm… và các tranh chấp khác
Quyển 6:có 2 chương, 78 Điều
Trang 12Chương Bộ Vong có 13 Điều quy định về việc bắt giữ tội phạm
Chương Đoán Ngục (xử án) có 65 Điều quy định thủ tục Điều tra, xét xử và thihành án đối với hành vi phạm tội
BLHĐ là một bộ luật mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều loại qui phạm pháp luậtkhác nhau từ hình luật, dân luật, hành chính, hôn nhân-gia đình và kể cả luật tốtụng
Trang 13B Nội dung cụ thể của bộ luật Hồng Đức
B.I Các quy định về dân sự
B.I.1 Sở hữu và hợp đồng
B.I.1.1 Pháp luật về quyền sở hữu
B.I.1.1.1 Quan niệm về quyền sở hữu
Quan niệm về quyền sở hữu pháp luật nhà Lê khác với pháp luật dân sự hiệnđại, pháp luật nhà Lê không định nghĩa về quyền sở hữu và các hình thức thực hiệnquyền sở hữu Hơn nữa khái niệm quyền sở hữu cũng chưa được sử dụng mà dùng
từ “của” để thay thế Tuy nhiên, qua một số quy định, pháp luật bảo vệ quyền
sở hữu bằng các quy định mang tính cấm đoán mà nếu không phải chủ sở hữu thìkhông được phép thực hiện, trừ khi tài sản đó được giao dịch hợp pháp Nhìnchung theo luật định, tài sản của người nào thì chính người đó có quyền thực hiệnmột số hành vi liên quan đến tài sản, bao gồm:
Quyền chiếm hữu: chủ sở hữu là người có quyền chiếm giữ tài sản thuộcquyền sở hữu của mình Quyền chiếm hữu thuộc về người có tài sản, những hành
vi xâm chiếm bất hợp pháp buộc phải chấm dứt, khôi phục lại quyền chiếm giữcủa chủ sở hữu, đồng thời người vi phạm còn bị khép vào tội trộm cắp
Ngoài ra quyền chiếm giữ có thể được thực hiện bởi một chủ thể khác phùhợp với ý chí của chủ sở hữu (chẳng hạn như được chủ cho thuê, cho mượn, cầm
cố, gửi giữ,…), hoặc không theo ý chí của chủ sở hữu từ bỏ tài sản, bán, tặng cho,trao đổi tài sản
Quyền dùng tài sản là quyền dụng ích tức sử dụng, khai thác lợi ích từ tàisản, pháp luật thừ nhận và cho phép người có tài sản được sử dụng tài sản theo ýchí của mình, như trực tiếp khai thác lợi ích của tài sản hoặc đem cầm cố, thuêmướn… Trong trường hợp người nhặt được tài sản thất lạc (như trâu bò, thuyềnbề…) phải đến báo quan hoặc trả lại cho chủ, nếu giữ lấy dùng hay nuôi thì xử tộibiếm hay đồ (Điều 586) hoặc nhận giữ tài sản của người khác cũng không đượcdùng tài sản đó (Điều 579)…
Trang 14Quyền chuyển nhượng là hình thức thực hiện quyền sở hữu được pháp luậtquy định khá chi tiết, đầy đủ và rõ ràng Về cơ bản theo pháp luật nhà Lê, quyềnđịnh đoạt được thực hiện bằng các cách: bán, tặng cho, trao đổi, để lại thừa kế.Theo đó, mỗi khi đem bán tài sản định đoạt, chủ sở hữu phải viết rằng, “tài sản(bán, tặng cho, trao đổi…) là của riêng tôi, không liên quan gì đến người khác”.
Như vậy, ngoài người có tài sản, không một ai có quyền định đoạt thay.Điều 386 cấm nô tỳ hay tá điền bán trộm ruộng đất của chủ; Điều 377 quy định khichồng chết, nghiêm cấm người mẹ bán tài sản của con khi con còn nhỏ… Ngoài ra,người vi phạm còn bị xem xét xử lý hình sự Ngoài ra, còn nhiều quy định khácnghiêm cấm những hành vi cưỡng bức, đe dọa hay buộc chủ sở hữu phải chuyểnnhượng tài sản trái với ý muốn của họ tức chủ sở hữu phải chuyển nhượng tài sảntrái với ý chí của mình
B.I.1.1.2 Các căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu
Thứ nhất đó là căn cứ xác lập quyền sở hữu bao gồm:
Thu thập từ hoạt động lao động, sản xuất (bao gồm cả việc thu hoa lợi, lợi tức).Chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận (thông qua hợp đồng dân sự mua bán, tặngcho, cho vay, trao đổi,…)
Quyết định của nhà nước về cấp phát đất đai
Thừa kế di sản Theo chương Điền sản trong bộ luật Hồng Đức, người thừa kế(theo di chúc hoặc theo pháp luật) trở thành chủ sở hữu đối với phần di sản đượcchia
Phát hiện tài sản bị đánh rơi, thất lạc, chôn vùi,… Người có công phát hiện tài sảnthất lạc được sở hữu một nửa tài sản đó (Điều 602, 606, …)
Quyền sở hữu được xác lập theo thời hiệu quy định những người đi vay có cầm cốruộng đất mà quá ba mươi năm thi không được chuộc lại ruộng đát có quyền khôngtrả lại và được pháp luật thừa nhận là chủ sở hữu ruộng đất đó
Các trường hợp khác do pháp luật quy định như: được bồi thường thiệt hại, đượcnhà nước ban thưởng, cha mẹ cho con vào ngày cưới, và những trường hợp khác bịpháp luật tước quyền sở hữu của chủ thể này đồng thời làm phát sinh quyền sở hữutài sản đó cho chủ khác
Trang 15Thứ hai đó là căn cứ chấm dứt quyền sở hữu bao gồm:
Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác (dưới hình thứchợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay…)
Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ tài sản của chủ sở hữu (Điều 377, 379,384,…)
Tài sản bị nhà nước tịch thu Thông thường tài sản bị tịch thu là do chủ sởhữu phạm tội theo pháp luật hình sự và bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản
Ngoài ra, còn một số trường hợp khác, tuy không phổ biến nhưng được phápluật quy định là căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, như: chủ sở hữu từ bỏ quyền sởhữu của mình, tài sản bị tiêu hủy (Điều 611, 631), tài sản đã được người khác xáclập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc do tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, thất lạc,…
B.I.1.1.3 Các hình thức sở hữu ruộng đất
Có hai hình thức sở hữu ruộng đất là công hữu và tư hữu
Hình thức sở hữu ruộng đất công hữu gồm có hai loại và được sử dụng vàohai mục đích cơ bản sau:
Ruộng đất quốc khố: loại ruộng đất này dùng để phát canh thu tô, tức chiacho nông dân khai khẩn, sử dụng và nộp thuế cho nhà nước Ngoài ra, một phầnnhỏ ruộng quốc khố dùng để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng,
an ninh quốc gia
Loại đồn điền: do nhà nước tổ chức khai hoang lập ra các đồn điền Điều
350 Bộ luật Hồng Đức nghiêm cấm hành vi biến ruộng đất hoang thành ruộng tư.Vua Lê Thánh Tông quan tâm nhiều đến việc khai khẩn ruộng hoang để chia chodân cày Đối tượng được chiêu mộ đến đây cày cấy là những người phạm tội,người nông dân lưu tán nghèo khổ, các tù binh chiến tranh Họ trở thành nô càycho nhà nước và được hưởng một phần sản phẩm làm ra, chứ không có quyền gìđối với đất đai đó Từ sau năm 1481, vua Lê Thánh Tông đã quyết định thành lập
43 sở đồn điền ở các địa phương
Hình thức thứ hai là ruộng đất tư hữu Ruộng đất tư hữu được hình thànhbằng cách được nhà vua ban cho, thừa kế nhưng phổ biến nhất là thông qua giaodịch dân sự hợp pháp Chính sự thừa nhận mọi người đều có quyền tư hữu ruộng
Trang 16đất và nhà nước bảo vệ quyền này tương đối nghiêm ngặt nên đưa nền kinh tế thời
Lê sơ trở nên thịnh vượng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Ngoài ra, còn một hình thức sở hữu phổ biến những vẫn được pháp luật thừanhận và bảo vệ, đó là sở hữu chung Giữa chủ thể này có mối quan hệ bạn bè, hônnhân, huyết thống, láng giềng, đồng nghiệp,… nhưng phổ biến nhất là giữa vợ vàchồng Tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng được gọi là “tân tạo điền sản” (tàisản, ruộng đất tạo lập trong thời kỳ hôn nhân)
Tóm lại, việc thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu dù thuộc hình thức sở hữunào cũng nhằm tăng thêm của cải và làm giàu cho con người Điều này thể qua sựtrăn trở của vua Lê Thánh Tông hay nhắc nhở triều thần rằng, “Cần phải làm chodân nhiều của cải, làm cho dân giàu” Chỉ khi nào con người có “hằng sản” (tàisản) thì mới mong xây dựng ở họ “hằng tâm” (đạo đức tốt)
B.I.1.1.4 Chế độ bảo vệ ruộng đất và quyền sở hữu ruộng đất
Quyền sở hữu đất đai phản ánh chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc trênlãnh thổ, đất đai đó Ngoài ra, ruộng đất đối với người nông dân là nguồn sống, là
tư liệu sản xuất cơ bản nên khi không còn được lao động trên mãnh đất của mình,người nông dân sẽ bị rơi vào con đường bần cùng hóa Chính vì vậy nên Bộ luậtHồng Đức đã có nhiều quy định để bảo vệ ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước cũngnhư ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân
Đối với ruộng đất công có hai loại chủ thể bị cấm đoán vi phạm vào quy chếruộng đất đó là người dân và quan lại Đối với người dân chủ yếu là cấm hành vilấn đất, tẩu tán ruộng đát công trái phép Đối với quan lại thì nhà làm luật một mặtcấm họ lợi dụng chức quyền để chiếm ruộng đát công: mặc khác cấm họ lạm dụngquyền hạn để thu thuế trái phép hoặc ẩn lậu, bòn rút số thuế của nhà nước hoặcsách nhiễu, chèn ép người dân Đặc biệt, nếu xâm phạm ruộng đất liên quan đếnchủ quyền quốc gia, lãnh thổ thì hình phạt rất nghiêm khắc Điều 72 quy định; “Aibán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị xử chém” Trong tườnghợp này, đất đai không đơn thuần là tư liệu sản xuất hay để thu lợi, lợi tức mà cònliên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ
Đối với ruộng đất tư Nhà nước thừa nhận ruộng đất tư được tự do chuyểnnhượng theo hình thức điển mại, đoạn mại, để lại thừa kế, cho thuê… trên cơ sởcùng thỏa thuận Nếu nhà nước không can thiệp bằng pháp luật thì không thể bảo
Trang 17vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, tranh chấp sẽ diễn ra tràn lan Do vậy, việcbảo vệ quyền tư hữu ruộng đất của cá nhân bao gồm bảo vệ các văn khế về ruộngđất đã được kí kết hợp pháp.
Nhìn chung các hình phạt hình sự trong Chương Điền sản Bộ luật Hồng Đứctrở thành công cụ quan trọng nhất để bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất công cũngnhư ruộng đất tư
B.I.1.2 Pháp luật về hợp đồng
B.I.1.2.1 Điều kiện của hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể về một giá trị tài sản nòa đókhi đáp ứng được bốn Điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, Điều kiện về chủ thể Khi ký kết hợp đồng thường có hai bên: bênchuyển và bên nhận chuyển tài sản Nếu bên chuyển không phải là chủ sở hữu tàisản thì hợp đồng đó được xem như là vô hiệu Điều 342 Bộ luật Hồng Đức quyđịnh: “Ai bán ruộng đất của công hay ruộng đất khẩu phần thì bị phạt 60 trượng.Truy tiền bán và ruộng cho vào công khố Đem cầm thì phạt 60 trượng và bắtchuột lại” Theo Quốc triều thư khế thể thức khi đem tài sản để giao dịch, bênchuyển nhượng buộc phải ghi rõ trong hợp đồng: “số ruộng đất, tài sản này là củatôi (ghi tên của người chuyển nhượng) và không liên quan đến người khác: nếu có
gì man trá tôi xin chịu tội” Đây là Điều khoản cứng, thiếu nó hợp đồng không cógiá trị
Đối với bên nhận chuyển tài sản có thể là bất kỳ người nào Tuy nhiên, trongmột số trường hợp để bảo vệ lợi ích công cộng hay bảo đảm ổn định kinh tế, anninh quốc phòng, pháp luật nghiêm cấm người Việt thực hiện các giao dịch tài sảnvới người dân tộc Trung Hoa
Thứ hai Điều kiện về ý chí Hợp đồng được ký kết phải là kết quả của sự tựnguyện, tự do về mặt ý chí của các bên Nhất thiết phải ghi rõ sự “tự nguyện” củamình trong hợp đồng mẫu Pháp luật nhà Lê sơ nghiêm cấm những hành vi cưỡngbức, đe dọa buộc phải ký kết hợp đồng, lừa dối hay có hành vi khác nhằm lẫn gâythiệt hại cho bên kia
Thứ ba, nội dung của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 18Thứ tư, Điều kiện về hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định củapháp luật Chẳng hạn việc xác lập hợp đồng bằng văn bản buộc các chủ thể phải làngười biết chữ, trong trường hợp một hoặc cả hai bên không biết chữ thì việc kýkết hợp đồng phải được tiến hành trước mặt xã trưởng Việc lập hợp đồng bằngvăn bản phải tuân theo mẫu chung trong Bộ Quốc triều thư khế thể thức.
Tóm lại, pháp luật nhà Lê không đưa ra khái niệm cũng như Điều kiện củahợp đồng một cách hệ thống nhưng thông qua một số quy định nêu trên cho thấypháp luật có những ràng buộc nhất định đối với các bên tham gia hợp đồng theonhững chuẩn mực, Điều kiện cụ thể Khi đó, hợp đồng có giá trị pháp lý và hiệulực đối với các bên, được nhhaf nước bảo đảm thực hiện, ngược lại pháp luậtthường dùng cụm từ “trả lại tài sản” nhằm không thừa nhận một giao dịch nào đó,tức bị vô hiệu
B.I.1.2.2 Phân loại hợp đồng
Căn cứ vào hình thức có hai loại là hợp hợp đồng miệng và hợp đồng vănbản Ngoài một số loại hợp đồng bắt buộc phải lập văn bản, những đối tượng kháccủa hợp đồng không quy định về hình thức văn bản (thường là những tài sản thôngdụng như lúa gạo, phân bón hay nhu yếu phẩm hàng ngày) có thể được giao kếtbằng miệng
Căn cứ vào nội dung tức căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của các bên tronghợp đồng có các loại sau:
Một là hợp đồng mua bán có hai loại là hợp đồng đoạn mại và hợp đồngđiển mại Hợp đồng đoạn mại là loại hợp đồng “mua đứt bán đoạn” tức là bên mua
có toàn quyền sở hữu đối với tài sản và có thể tiếp tục đem tài sản đó chuyểnnhượng lai cho một chủ thể bất kỳ cũng như bất cứ thời gian nào theo ý của mình,bên bán không còn bất cứ quyền năng gì đối với tài sản đã bán, không có quyềncản trở khi bên mua thực hiện các quyền đối với tài sản Còn hợp đồng điển mạitức là hợp đồng bán tài sản tạm thời thì đến một thời hạn nào đó do thỏa thuận củahai bên thì người mua phải bán lại tài sản cho chủ cũ nhưng thời hạn này khôngquá 20 năm (đối với người ngoài) và 30 năm (đối với người có quan hệ hôn nhânhuyết thống) Quá thời hạn này, không chuộc lại tài sản xác lập quyền sở hữu đốivới tài sản thì mất tài sản đã điển mại và chủ mới tiếp tục xác lập quyền sở hữu đốivới tài sản đó
Trang 19Hai là hợp đồng vay Đối tượng phổ biến của hợp đồng vay là một khoảntiền hoặc kim khí quý như vàng, bạc thời hạn hợp đồng vay do các bên thỏathuận, trong trương hợp vay có cầm cố ruộng đất thì tối đa không quá 20 hoặc 30năm Trong trường hợp các bên không thỏa thuận thì cũng áp dụng thời hạn này.
B.I.2 Thừa kế
Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá gần gũivới các quan điểm hiện đại về thừa kế Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phátsinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình,dòng họ Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các Điều 354, 388) và thừa
kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các Điều 374-377, 380, 388 Điểm đángchú ý trong bộ luật Hồng Đức, người con gái có quyền thừa kế ngang bằng vớingười con trai Đây là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiếnkhác Thứ ba, bộ luật đã phân định về nguồn gốc tài sản của vợ chồng, gồm có: tàisản riêng của mỗi người và tài sản chung của cả hai vợ chồng Việc phân định nàygóp phần xác định việc phân chia thừa kế cho các con khi cha mẹ đã chết hoặc chiatài sản cho bên còn sống nếu một trong hai vợ hoặc chồng chết trước Thừa kếchính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê
B.II Các quy định về hình sự
B.II.1 Các nguyên tắc chủ đạo
Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộnội dung của bộ luật Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:
Vô luật bất thành hình (Điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉkhép tội khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hìnhphạt đã quy định và nó là tương tự như trong các bộ luật hình sự hiện đại
Chiếu cố (Điều 1, 3-5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cốđối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ v.v
Chuộc tội bằng tiền (Điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh nhưtrượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lưu, tử, thích chữ Tuy nhiên các tộithập ác (mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chấtrăn đe, giáo dục) không cho chuộc
Trang 20Trách nhiệm hình sự (Điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quyđịnh về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay chongười khác.
Miễn, giảm trách nhiệm hình sự (Điều 18, 19, 450, 499, 553): trong đó quyđịnh về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chínhđáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừthập ác, giết người)
Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (Điều 25, 39, 411, 504)
B.II.2 Tội phạm
Phân loại theo hình phạt (ngũ hình và các hình phạt khác)
Theo sự vô ý hay cố ý phạm tội
Theo âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội
Tính chất đồng phạm
* Các nhóm tội cụ thể
Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:
Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (Điều 2,411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-Điều 412), đại bất kính (430, 431)
Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (Điều 416), bấthiếu (nhiều Điều, chẳng hạn Điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn
Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (420 và421)
Các nhóm tội phạm khác: bao gồm các tội liên quan đến sự an toàn thân thểcủa vua, nghi lễ cung đình, xâm phạm trật tự công cộng, quản lý hành chính, thểthức nghi lễ triều đình, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm conngười, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân
sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, cáctội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v
Trang 21B.II.3 Hình phạt
Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc vớikhung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng haygiảm nhẹ (Điều 41)
Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và các hình phạt khác:
B.II.3.1 Ngũ hình
Ngũ hình được quy định tại Điều 1 và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử
- Xuy (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10, 20, 30, 40, 50 roi, có thể kèm phạt tiền và biếmchức, áp dụng cả cho nam và nữ
- Trượng (đánh bằng gậy) cũng có 5 bậc: 60, 70, 80, 90 và 100 trượng, chỉ áp dụngcho nam
Thứ phụ: phục dịch công việc ở làng (dành cho thường dân nữ có tội)
Viên phụ: làm các công việc trong vườn (dành cho vợ các quan chức)
Tang thất phụ: phục dịch ở các nơi nuôi tằm, nếu phạm tội nặng
Tượng phường binh (quét dọn chuồng voi kèm 80 trượng và thích 2 chữ vào mặt)cho nam và xuy thất tỳ (nấu cơm nuôi quân kèm 50 roi và thích 2 chữ vào cổ) chonữ
Trang 22Chủng điền binh (lính lao động ở đồn điền của nhà nước kèm 80 trượng và thíchvào cổ 4 chữ, phải đeo xiềng) cho nam và thung thất tỳ (xay thóc giã gạo trong cáckho thóc thuế của nhà nước kèm 50 roi và thích vào cổ 4 chữ) cho nữ
- Lưu tức lưu đày đi nơi xa, có 3 bậc là:
Lưu cận châu, đày đi làm việc nặng ở Nghệ An với hình phạt phụ là thích vào mặt
6 chữ, đánh 90 trượng, đeo xiềng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ
Lưu ngoại châu: Lưu đày đến Bố Chánh, Quảng Bình Phụ hình có 90 trượng,thích 8 chữ vào mặt, đeo xiềng 2 vòng dành cho nam và đánh 50 roi cho nữ
Lưu viễn châu: đày đi Cao Bằng Phụ hình gồm 100 trượng, thích 10 chữ vào mặt,đeo xiềng 3 vòng cho nam, đánh 50 roi cho nữ
- Tử (giết chết) có 3 bậc là:
Giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu)
Khiêu (chém bêu đầu)
Lăng trì (tùng xẻo) tức xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau
đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương
B.II.3.2 Các hình phạt khác
Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng các hình phạt khác như:
Biếm tư (Điều 27, 46) bao gồm các bậc từ 1 đến 5 tư nhưng có quy định chochuộc tội biếm bằng tiền theo Điều 22 Biếm tư có thể được hiểu như một hìnhthức làm hạ thấp tư cách của người bị phạt Ngoài ra người bị phạt biếm tư cònphải chịu hình phạt đánh roi (xuy hoặc trượng)
Phạt tiền (Điều 26) có 3 bậc: 300-500 quan, 60-200 quan và 5-50 quan.Ngoài ra còn có quy định về tiền bồi thường tang vật (Điều 28), tiền đền mạng(Điều 29)
Tịch thu tài sản có 2 bậc là tịch thu toàn bộ gia sản (nặng theo Điều 426,430) và tịch thu một phần tài sản (nhẹ, các Điều 88, 523)
Thích chữ vào cổ hoặc mặt: Được áp dụng như là hình phạt phụ đối với cáctội lưu, đồ, trượng, xuy
Trang 23Xung vợ con làm nô tỳ Chỉ áp dụng đối với các tội mưu phản, mưu đại nghịch,mưu bạn trong thập ác (Điều 411, 412)
B.III Các quy định về hôn nhân gia đình
Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhânkhông tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng Nó thể hiện lễ nghĩa Nhogiáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ
B.III.1 Hôn nhân
Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã Điều chỉnh các quan hệ như kết hôn,chấm dứt hôn nhân (do chết hoặc ly hôn)
B.III.1.1 Kết hôn
Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các Điều kiện để có thể kết hôn là: có
sự đồng ý của cha mẹ (Điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họhàng thân thích (Điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (Điều317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (Điều 318),cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thày (Điều 324), với một
số quy định khác trong các Điều 316, 323, 334, 338, 339 Tuy nhiên, luật HồngĐức không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệHồng Đức hôn giá) có viết: "Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thànhhôn", có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về Điều này LuậtHồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thànhhôn (các Điều 314, 315, 322) Lưu ý là luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân cógiá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn Ví dụ Điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồsính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng Còn người con gái phải
gả cho người hỏi trước Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khithành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi kết hôn:
Vợ và chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau tại một nơi và phải thựchiện đày đủquan hệ vợ chồng Hành vi “ bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại”củangười chồng là viphạm nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ quan hệ vợ chồng ,vì vậyngười chồng bị
“mất vợ”(nếu đã có con thì hạn 1 năm);người vợ có nghĩa vụchung thuỷ với
chồng ,nghĩa vụ để tang chồng và có quyền được giảm hình phạttheo quan phẩm của chồng
Trang 24
B.III.1.2 Chấm dứt kết hôn
Luật Hồng Đức quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trongngười đã chết, ly hôn
Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý
là quan hệ hôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu làchồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang Quy định này được đặt ra mộtcách gián tiếp trong các Điều 2 và 320
Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:
Buộc phải ly hôn (các Điều 317, 318, 323, 324, 334) do hôn nhân đã viphạm các quy định cấm kết hôn
Ly hôn do lỗi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khingười vợ phạm phải Điều nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) như:không con, ghen tuông, ác tật (mắc các bệnh như phong, hủi), dâm đãng, khôngkính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp
Ly hôn do lỗi của người chồng: Các Điều 308 / 333 quy định người vợ cóquyền trình quan xin ly hôn khi: chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (có quan
xã làm chứng), trừ khi chồng có việc phải đi xa hay nếu con rể lấy Điều thị phimắng nhiếc cha mẹ vợ
B.III.2 Quan hệ gia đình
Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã Điều chỉnh các quan hệ nhưquan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộckhác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tứctrưởng họ)
Quan hệ vợ-chồng: Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã Điều chỉnhquan hệ vợ-chồng, tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm Điềuchỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi
và phải có trách nhiệm với nhau (các Điều 321 và 308, 309), không được ngượcđãi vợ (Điều 482), nghĩa vụ chung thủy (Điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau(các Điều 2, 7)
Trang 25Quan hệ cha mẹ-con cái: Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân củacon cái, bao gồm: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7Điều 2), nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (Điều 38), nghĩa vụkhông được kiện cáo ông bà-cha mẹ (Điều 511), nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà,cha mẹ (các Điều 9, 504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tộimưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ-mẹ kế giết cha thìđược phép tố cáo và nghĩa vụ để tang ông bà-cha mẹ (Điều 2).
Quan hệ nhân thân khác: Đề cập tới quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các Điều 309,
481, 483, 484) và nhà chồng, anh-chị-em (các Điều 487, 512), nuôi con nuôi (cácĐiều 380, 381, 506) và vai trò của người trưởng họ (Điều 35)
Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ vớichồng và nhà chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chungđược ưu tiên hơn Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa
vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuậntrong gia đình (phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau) Việc nhận nuôi con nuôi phảiđược lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ cũng như ngược lại, con nuôiphải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi
B.IV Quy định về tố tụng
Nội dung của pháp luật tố tụng hình sự nhà Lê được ghi nhận rõ trong cuốiquyển 6 – quyển cuối cùng của Bộ luật Hồng Đức, gồm 2 chương: Bộ vong (bắtngười phạm tội) và Đoán ngục (xử án) thể hiện một số khái niệm như:
Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (Điều 672)
Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố cáo(các Điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các Điều 546, 660, 665, 667, 668, 714,716), thủ tục xử án (các Điều 671, 709), phương pháp xử án (các Điều 670, 683,
686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các Điều 646, 658, 659, 663, 676, 680,701-704)
B.V Quy phạm pháp luật trong bộ luật Hồng Đức
1 Quy phạm
Trang 26Đa phần các qui phạm pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức được xây dựngtheo phương thức xuất hiện đầy đủ cả 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tàitrực tiếp.
Ví dụ Điều 586: "Trâu của 2 nhà đánh nhau, con nào chết thì 2 nhà cùng ănthịt, con nào sống thì 2 nhà cùng cày, trái luật thì sẽ xử phạt 80 trượng."
Trong đó: Trâu của 2 nhà đánh nhau là bộ phận giả định; con nào chết thì 2nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì 2 nhà cùng cày là bộ phận quy định; trái luật thì
vi nào nên tránh, tạo Điều kiện để toàn thể mọi tầng lớp nhân dân hiểu luật Quan
xử án cũng biết được cần phải xử như thế nào
Có nhiều qui phạm trong Bộ luật Hồng Đức mô tả ngắn một tình huống cụthể Điều này khiến qui phạm trở nên rõ ràng với người dân
Ví dụ Điều 393: "Người cha lấy vợ trước sinh được một con trai, phầnhương hoả đã giao cho giữ; nhưng người con trai ấy lại chỉ sinh được một ngườicon gái; mà cha có vợ lẽ hay nàng hầu lại sinh được một con trai nhưng lại bị cốtật, người con trai cố tật ấy sinh được cháu trai, thì ruộng đất hương hoả phải giaocho người cháu trai con kẻ cố tật, để tỏ ra rằng dòng họ không thể để tuyệt."
Hoặc Điều 395: "Cha mẹ sinh được hai con trai, người con trai trưởng chỉsinh con gái, con thứ lại có con trai thì phần hương hỏa giao cho con trai người conthứ; nhưng con trai người con thứ chỉ sinh cháu gái thì phần hương hỏa trước kialại phải giao trả cho con gái người con trưởng"
Trang 27Ưu điểm của cách quy định ngắn gọn một tình huống, ngoài việc dễ thuộc,
dễ nhớ, dễ vận dụng còn cho thấy từ một vấn đề pháp lý khá phức tạp đã đượcchuyển hóa thành một tình huống rất đơn giản
Bộ luật Hồng Đức có cách quy định chế tài dưới dạng chế tài cố định Vớimỗi một vi phạm cụ thể thì có một hình phạt cụ thể tương ứng; mức độ tăng nặnghay giảm nhẹ cũng được quy định ngay sau đó một cách cụ thể, rõ ràng
Ví dụ Điều 466: "Đánh gãy răng, sứt tai mũi, chột 1 mắt, gãy ngón chân,ngón tay, giập xương, hay lấy nước sôi, lửa làm người bị thương và rụng tóc, thì
xử tội đồ làm khao đinh Lấy đồ bẩn thỉu ném vào đầu mặt người ta thì xử biếm 2tư; đổ vào miệng mũi thì biếm 3 tư Đánh gãy 2 răng, 2 ngón tay trở lên thì xử tội
đồ làm tượng phường binh Lấy gươm giáo đâm chém người, dẫu không trúngcũng phải lưu đi châu gần (người quyền quý phạm tội thì xử tội biếm) Nếu đâmchém bị thương và làm đứt gân, chột 2 mắt, đoạ thai thì xử tội lưu đi châu xa Nếutrong khi đương xét hỏi, người bị thương lại bình phục, thì tội nhân được giảm tội
2 bậc Nếu đánh bị thương 2 người trở lên và nhân bị thương mà thành cố tật, hayđánh đứt lưỡi, huỷ hoại âm, dương vật đều xử tội giảo; và phải đền tiền thương tổnnhư lệ định Với chế tài cố định này, nó đã đảm bảo tính chính xác trong việc ápdụng luật của các cơ quan Nhà nước, tránh được sự tuỳ tiện trong việc áp dụngluật"
Việc xây dựng các chế tài cố định trong Bộ luật Hồng Đức ở một chừngmực nhất định rất thuận lợi cho việc áp dụng, và có ưu điểm là tránh được sự tùytiện trong việc áp dụng
Trong Bộ luật Hồng Đức từ một sự kiện hay vụ việc, nhà làm luật lường tínhcác vấn đề phát sinh xung quanh vụ việc đó
Ví dụ Điều 234: "Những quan coi quân đội ở các trấn, lộ hay huyện cùngnhững quan viên trong các cục các viện, đi lại giao kết với nhau, mưu làm việcphản nghịch, mà quan ty quản giám chẳng lưu tâm xem xét, hay dung túng giấugiếm không tâu lên, thì cùng với người phản nghịch cùng một tội; nếu đã tâu lên
mà lại ngầm sai người báo cho kẻ phản nghịch biết thì tội cũng thế Nếu vì tâu lênkhông giữ kín đáo để cho kẻ phản nghịch biết thì viên quan tâu được giảm tội 1bậc Nếu việc mưu phản nghịch đã lộ, việc hung ác đã rõ, mà quan giám không xét
Trang 28tình thế mà lung bắt và tâu lên, thì bị tội như tội đồng mưu; nếu việc mưu phảnchưa lộ thì được giảm nhẹ hai bậc."
Trang 29C Đánh giá tổng quan về Bộ Luật Hồng Đức và các yếu tố tác động,ảnh hưởng đến Bộ luật Hồng Đức
C.I So sánh
Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chấtgiai cấp của nó Mục tiêu hàng đầu của nó là để bảo vệ vương quyền, địa vị vàquyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởngphong kiến Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo Tuyvậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó
C.I.1 Luật Trung Hoa
Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnhhưởng của cả luật pháp nhà Đường và nhà Minh Tuy vậy, nó có những điểmkhông giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dunglẫn bố cục
Về bố cục, bộ Đường luật có 500 Điều chia thành 12 chương (Danh lệ, Vệcấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạpluật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển Có thể thấy, trong luật Hồng Đức cácquy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêngbiệt và cụ thể hơn
Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật HồngĐức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về văn tự, chúc thư,chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-chồng khi góa bụa v.v) Chính
vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời ViệtNam Cộng hòa hay dựa trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các
vụ kiện tụng liên quan tới tài sản vợ-chồng
C.I.2 Bộ luật nhà Nguyễn
So với bộ Hoàng Việt luật lệ (hay luật Gia Long) (năm 1811) ra đời sauhàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phânngành rõ như Hoàng Việt luật lệ Tuy nhiên, mức bảo vệ quyền lợi của người phụ
nữ trong luật Hồng Đức lại cao hơn so với Hoàng Việt luật lệ Như giáo sư Vũ VănMẫu đã viết khi nhận xét về Hoàng Việt luật lệ: "bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạtrong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà
Trang 30Nguyễn Không còn những Điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư,đến các Điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng
Ngoài ra, Luật Hồng Đức còn được đánh giá là nhẹ hơn các triều đại trước
và nhẹ hơn luật của nhà Nguyễn sau này, có cả sự phân biệt trừng phạt người phạmtội còn nhỏ tuổi hoặc tàn tật
C.I.3 Tính nhân đạo và tiến bộ của bộ luật Hồng Đức.
Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó có một bước tiến khá căn bản trong việc cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến: nhân đạo với phụ
nữ và trẻ em
Đối với phụ nữ:
Vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới
Đối với phụ nữ, quyền lợi của đối tượng này được đề cập chủ yếu trong hai chương
“Hộ hôn” và “Điền sản” với những quy định thể hiện sự coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ cũng như bảo vệ quyền lợi của họ trong việc hương hỏa, tế lễ,thừa kế và sở hữu tài sản
Người vợ, theo phong tục và quy định phải lệ thuộc vào chồng nhưng trong bộ luậtHồng Đức địa vị của người vợ có những độc lập nhất định như họ có quyền có tài sản riêng, có quyền xin ly hôn trong một số trường hợp, ví dụ tại điều 308 quy định: “Chồng xa cách vợ không lui tới suốt 5 tháng thì vợ được phép trình quan sở tại, quan xã làm chứng thì chồng đó mất vợ Nếu đã có con thì gia hạn 1 năm Những người công sai đi xa không áp dụng luật này Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ cũ thì xử biếm”
Trong trường hợp cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng bị tội, điều 320 quy định như sau:
“Mãn tang chồng nhưng người vợ thủ tiết, nếu ngoài ông bà, cha mẹ, kẻ nào khác
gả ép người phụ nữ đó thì bị biếm ba tư và buộc phải ly dị Trả người đàn bà về chồng cũ…” hoặc “những nhà quyền thế mà ức hiếp để cưới con gái lương dân thì
xử phạt, biếm hay đồ” (điều 338)
Khi xảy ra tình trạng ly hôn, luật xác định tài sản của vợ chồng được hình thành từ
3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung) Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung; khi
Trang 31ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.
Bộ luật Hồng Đức xử rất nặng đối với những trường hợp xâm phạm thân thể, tiết hạnh của người phụ nữ, kẻ nào “hiếp dâm thì xử lưu hay chết Phải nộp tiền tạ tội hơn một bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường Nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc đánh người bị thương
Nếu làm chết người đàn bà thì điền sản kẻ phạm tội phải giao cho nhà người bị chết” (điều 403); “gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm” (điều 404)
Nếu “chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh người bị thương nhưng nhẹ hơn
3 bậc Nếu đánh chết thì xử như tội đánh chết người nhưng nhẹ hơn 3 bậc, tiền đền mạng bớt 3 phần Cố ý giết vợ thì giảm một bậc tội; nếu có tội bị chồng đánh, không may chết thì xử riêng Đánh vợ bé bị thương, sứt gãy trở lên thì nhẹ tội hơn đánh vợ 2 bậc…” (điều 482)
Bên cạnh đó, hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạmnhân nam Ví dụ: Điều 1 quy định trượng hình chỉ đàn ông phải chịu: "Từ 60 chođến 100 trượng, chia làm 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100trượng, tuỳ theo tội mà thêm bớt Xử tội này có thể cùng với tội lưu, tội đồ, biếmchức, hoặc xử riêng chỉ đàn ông phải chịu." Điều 680: "Đàn bà phải tội tử hình trởxuống nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình Nếuchưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan bị xử biếm hai tư; ngục quản bị đồ làmbản cục đinh Dù đã sinh rồi, nhưng chưa đủ hạn một trăm ngày mà đem hànhhình, thì ngục quan và ngục lại bị tội nhẹ hơn tội trên hai bậc Nếu đã đủ 100 ngày
mà không đem hành hình, thì ngục quan hay ngục lại bị tội biếm hay tội phạt" Trong trường hợp người phụ nữ có việc liên quan đến kiện tụng hoặc bị tội thì họ vẫn được bảo vệ ở mức độ nhất định, nếu “quan coi ngục, lại ngục, ngục tốt gian dâm với đàn bà, con gái có chuyện thưa kiện thì tội nặng hơn một bậc so với tội gian dâm thông thường Nếu có thuận tình thì giảm 3 bậc tội cho các gian phụ ấy Nếu họ bị hiếp thì không xử tội họ” (điều 409) Đặc biệt tại điều 680 quy định:
“Đàn bà phạm tội tử hình trở xuống, nếu đang mang thai thì phải đợi sau khi sinh