1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế định về hôn nhân gia đình trong Bộ Luật Hồng Đức

31 1,6K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 693,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật hôn nhân và gia đình trong bộ Luật Hồng Đức, có phần lớn nội dung quy định bị chi phối sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo không chỉ trong phần quan niệm hôn nhân mà ngay cả trật tự gia đình của giai cấp phong kiến. Không chỉ dừng lại ở đó các quy định còn vận dụng một cách hợp tình, hợp lý những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các giá trị của Nho giáo và thể hiện được tinh thần độc lập và sáng tạo của triều đình trong việc xây dựng Quốc Triều Hình Luật đáp ứng được lòng tự tôn dân tộc của mọi tầng lớp nhân dân.

Trang 1

LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

ĐỀ TÀI:

Pháp luật hôn nhân và gia đình trong BLHD

Sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng nho giáo với truyền thống,

tập quán dân tộc Việt Nam.

THỰC HIỆN : NHÓM 6B

LỚP :

TP.HCM ngày 22 tháng 3 năm 2016

DANH SÁCH NHÓM 6

Trang 2

MỤC LỤC

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Trang 3

Bộ luật Hồng Đức là một trong những bộ luật quan trọng nhất của Việt Nam thời

kỳ phong kiến Nói đến bộ luật Hồng Đức người ta nghĩ ngay đến một bộ luật có kĩthuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toàn diện với nhiều giá trị nổi bật trong lịch

sử pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến Bộ luật Hồng Đức không chỉ được đánhgiá cao hơn hẳn so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó mà còn cónhiều ý nghĩa quan trọng đối với việc biên soạn nhiều bộ luật khác của các triều đạiphong kiến Việt Nam sau này

Bộ luật Hồng Đức bao trùm toàn bộ khía cạnh xã hội lúc bấy giờ, đồng thời mangnhững nét đặc trưng tiêu biểu của xã hội Bộ Luật Hồng Đức là bộ luật có nhữngthành tựu to lớn, có những nét riêng biệt, thể hiện độc đáo bản sắc dân tộc và tính độclập của một quốc gia có chủ quyền Đây là bộ luật đã khẳng định được giá trị và vị thếcủa mình trong lịch sử hệ thống pháp lụât của dân tộc và trên thế giới bởi những giátrị tiến bộ của nó vượt trước thời đại bấy giờ, và mang tính nhân đạo nhân văn sâu sắccủa người Việt Những giá trị trong Bộ Luật Hồng Đức thể hiện ở nhiều khía cạnhkhác nhau, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội Sự ảnh hưởng tư tưởngNho giáo được in đậm trong nhiều quy phạm pháp luật được ghi nhận trong bộ LuậtHồng Đức, không chỉ dưới khía cạnh như gia đình và xã hội mà nó còn được trải rộng

ra dưới khía cạnh kinh tế bằng những chính sách trong nông nghiệp, chính sách quânđiền, chính sách an dân, chính sách ổn định sản xuất nông nghiệp

Luật hôn nhân và gia đình trong bộ Luật Hồng Đức, có phần lớn nội dung quyđịnh bị chi phối sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo không chỉ trong phần quan niệm hônnhân mà ngay cả trật tự gia đình của giai cấp phong kiến Không chỉ dừng lại ở đó cácquy định còn vận dụng một cách hợp tình, hợp lý những giá trị truyền thống văn hoácủa dân tộc trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các giá trị của Nho giáo và thể hiện đượctinh thần độc lập và sáng tạo của triều đình trong việc xây dựng Quốc Triều Hình Luậtđáp ứng được lòng tự tôn dân tộc của mọi tầng lớp nhân dân

Trang 4

1 Khái quát chung về Bộ Luật Hồng Đức.

Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiệncòn được lưu giữ đầy đủ Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều cótên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi chobài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức

Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiềulĩnh vực pháp luật khác nhau như: Lĩnh vực luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luậthôn nhân-gia đình, luật hành chính v.v

1.1 Hoàn cảnh ra đời.

Sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền thời Lê Sơ còn đề ra yêu cầuxây dựng một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự có lợi cho giai cấpthống trị để bảo vệ và bên vực nền chuyên chính của giai cấp phong kiến Bộ quốctriều hình luật (tức luật Hồng Đức) đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử ấy, nhằm đápứng những yêu cầu phát triển sang giai đoạn mới của chế đọ phong kiến Việt Nam.Bộluật Hồng Đức đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ đến thời

Lê Thánh Tông mới hoàn thành

Ngay sau khi lên ngôi, trong năm 1428 Lê Lợi đã cùng các đại thần bàn định một

số luật lệ về kiện tụng và phân chia ruộng đất của thôn xã Những hình phạt, những lễ

ân giảm trong luật Hồng Đức (49 điều thuộc chương danh lệ) phần lớn đều được quyđịnh thời Lê Thái Tổ Ba mươi hai điều luật trong chương điền sản để pháp chế hóacác thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽ trong những năm Thuận Thiên(1428-1433) và được thực hiện trong suốt thời Lê Sơ

Đến năm 1449, Nhân Tông ban hành 14 điều luật khẳng định và bảo vệ quyền tưhữu ruộng đất Sang thời Thánh Tông, triều đình liên tiếp ban bố nhiều điều lệ về kếthừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ti trật tự và đạo đức phong kiến về việc trấn ápmọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trị của giai cấp phong kiến.Năm 1483, Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các phép luật đóban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê Sơ, san định lại, xây dựng một bộ phápđiển hoàn chỉnh

1.2 Ý nghĩa

1.2.1 Cách tân về bộ máy chính quyền.

Trang 5

Về mặt hành chính, nhà Vua đã kiên quyết và kiên trì cải tạo bộ máy chính quyền

từ trung ương đến địa phương Đời Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ Đời vua LêLợi chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Dân (tức bộ Hộ) Lê Thánh Tông tổ chức thành 6 bộ

1.2.2 Giữ đất nước luôn ở thế phòng bị đối với quân xâm lược nước ngoài.

Trong bộ luật Hồng Đức có nhiều điều quy định rõ trách nhiệm bảo vệ đường biên,vùng biển, cửa quan Các hành vi xâm phạm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ bị trừng trịnghiêm khắc Trong bộ luật Hồng Đức có nhiều điều quy định rõ về việc sử phạt đốivới các hành vi ấy Vua Lê Thánh Tông còn ban hành các đạo dụ, những sắc chỉ quyđịnh việc kê khai, kiểm tra dân số của toàn vương quốc, đặt ra luật lệ về chế độ binhdịch mà ngày nay chúng ta gọi là nghĩa vụ quân sự, đặt ra phép quân điền cùng vớiviệc xây dựng quân đội chính quy, thiện chiến làm cho đất nước luôn ở trong tìnhtrạng đầy đủ sức mạnh để đập tan mọi âm mưu xâm lược

1.2.3 Giữ nghiêm kỉ cương phép nước.

Vua Lê Thánh Tông đặc biệt đề cao trách nhiệm của quan lại Ông nói “Các quanviên là những người gân guốc của xóm làng nhờ đó mà chính được phong tục Vậyphải lấy lễ, nghĩa, liêm, sĩ mà dạy dân khiến cho dân xu hướng về chữ nhân, chữnhượng, bỏ hết lòng gian phi, để cho dân dược an cư, lạc nghiệp, giàu có, đông đúc,mình cũng được tiến là người trưởng giả trong làng.”

1.2.4 Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế

xã hội.

Dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp là nền tảng của xã hội Quả là đúng khi nhàvua anh minh ấy ngay từ ngày đầu lên trị vì đã lấy việc mở mang nông nghiệp làmtrọng

Trước hết trong việc cải cách hành chính, Nhà Vua đã đặt ra các cơ quan chuyêntrách về việc chấn hưng nông nghiệp như đặt ra 4 cơ quan mới và đặc biệt coi trọngviệc đắp đập, tu sửa đê điều để phòng bão lũ Trong bộ luật Hồng Đức có hai điều quyđịnh khá tỉ mỉ về vấn đề này “Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng mườitháng giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trong haitháng đến ngày mông mười tháng 3 thì phải đắp xong Quan lộ phải năng đến xem xét,quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày Nếu không cố gắng làm để quá hạn mà khôngxong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm Quân lính và dân binh không theo thờihạn đến làm và không chăm chỉ sửa đê, để quá hạn không xong thì bị trượng hoặcbiếm

Trang 6

1.2.5 Mở rộng giao lưu, khuyến khích thương nghiệp lành mạnh.

Dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông ban hành một số luật định nhằm giúp chohàng hóa từ kinh đô Thăng Long về các nơi trung tâm buôn bán các địa phương trong

cả nước, luôn luôn tấp nập ngược xuôi như những dòng xuối cuộn chảy ngày đêmkhông ngừng

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, trừng trị nghiêm khắc những hành vi ứchiếp, đục khoét dân lành của quan lại

Vua Lê Thánh Tông trong ý thức và hành động của mình lại lấy dân làm quý Ôngchăm lo rất chu đáo đến sự ấm no cho dân Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất

là bằng cách cải thiện pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất, là cái quyền gốc choviệc thực hiện các quyền tiếp theo bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầuhạnh phúc cho người dân

Trong bộ luật Hồng Đức đã có những điều luật quy định việc trừng phạt nhữnghành vi vi phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt ruộng đất củangười dân như: Tranh giành đất đai trái với chúc thư (điều 354), nhận bừa ruộng đấtcủa người khác (điều 344), hà hiếp, bức hại để mua ruộng đất của người khác (điều355), tá điền cấy rẽ mà trở mặt ăn cướp (điều 356)

2 Nội dung luật hôn nhân và gia đình.

Luật hôn nhân và gia đình là nghành luật quan trọng trong bộ luật Hồng Đức nóiriêng cũng như trong luật pháp phong kiến nói chung Bởi theo nho giáo đạo tề gia là

cơ sở cho đạo tề quốc, các mối quan hệ cha con, vợ chồng, anh em là ba trong nămmối quan hệ cơ bản của xã hội Luật hôn nhân và gia đình trong bộ luật Hồng Đứcđược xây dựng trên nguyên tắc không tự do : nhiều vợ, nam nữ bất bình đăng, đề caovai trò của người cha, người chồng, người vợ cả và con trưởng trong gia đình, cũng cố

và bảo vệ chế độ gia đình phong kiến và gia trưởng

2.1 Đối tượng điều chỉnh.

Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình(như kết hôn, chấm dứt hôn nhân(do chết hoặc ly hôn))

2.2 Nội dung cơ bản.

2.2.1 Những quy định chung.

a

Điều kiện đăng ký kết hôn.

Trang 7

Việc kết hôn phải có sự cho phép của cha mẹ: việc kết hôn phải thực hiện dưới sựđứng đầu sắp đặt (làm chủ hôn) của cha mẹ hoặc người trưởng họ hoặc người trưởnglàng (điều 314).

Luật Hồng Đức không quy định rõ tuổi kết hôn, song trong Hồng Đức hôn giá lễnghi có ghi: “Con trai từ 18 tuổi, con gái từ 16 tuổi mới có thể thành hôn’’ Có lẽ là do

đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này Đây là quy định nhằmhạn chế tình trạng tảo hôn trong xã hội

b Đăng kí kết hôn

Thủ tục và trình tự.

Nghi thức kết hôn thực hiện trang trọng, qua bốn lễ, với lễ vật theo luật định:

Nghị hôn (nhờ mối lái bàn định)

Định thân (đem lễ vật vấn danh đến nhà gái)

Nạp trưng (đem đủ sính lễ đẫn cưới đến nhà gái)

Thân nghinh (đón dâu)

Việc đính hôn thông qua lễ nạp trưng có giá trị pháp lý ràng buộc trách nhiệm củahai gia đình trong việc hứa hôn thể hiện qua trao, nhận sính lễ

Nhà gái “đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi, không gả nữa thì bị phạt 80 trượng, bồithường đồ sính lễ gấp đôi” Nhà trai “đã nhận sính lễ rồi mà không lấy nữa thì phạt 80trượng, mất đồ sính lễ”(điều 315) Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn chođến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từhôn

Trường hợp đôi nam nữ tự ý chung sống với nhau như vợ chồng mà không quanghi lễ luật định, gọi là “cẩu hợp”, thì người con trai phải nộp tiền tạ cho cha mẹngười con gái, đồng thời người con gái bị phạt 50 roi Sau đó giá thú mới được gọi làhợp pháp (điều 314)

Những trường hợp không được đăng kí kết hôn:

Không được kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng (điều 317); khi ông

bà, cha mẹ bị giam tù (điều 318)

Kết hôn với người thân thích cùng họ, con riêng của vợ, với vợ cả, vợ lẽ của người

bà con (điều 319)

Quan lại và con cháu quan lại lấy con gái làm nghề hát xướng (điều 323)

Trang 8

Học trò lấy vợ góa của thầy đã chết; anh trai, em trai lấy vợ của em trai, anh trai đãchết (điều 324).

Quan ở biên trấn kết thông gia với tù trưởng vùng đó (điều 334)

Quan lấy đàn bà, con gái trong địa hạt mình làm quan (điều 316)

Kêt hôn với đàn bà, con gái phạm tội đang trốn tránh (điều 339)

Cấm lấy vợ của kẻ phạm tội đang trốn tránh làm vợ mình

Không được vi phạm trật tự vợ cả, vợ lẽ, nàng hầu (điều 309)

Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng sau khi kết hôn:

Vợ và chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau tại một nơi và phải thực hiện đầy

đủ quan hệ vợ chồng Người vợ có nghĩa vụ chung thủy với chồng/ để tang chồng và

có quyền được giảm hình phạt theo quan phẩm của chồng

Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:

Buộc phải ly hôn: Do việc kết hôn vi phạm điều pháp luật cấm(các điều cấm kết

hôn như nói trên, trừ trường hợp quan lấy vợ nơi hạt mình trấn nhậm thì chỉ bị phạttrượng, bãi chức mà không buộc phải ly hôn)

Ly hôn do lỗi của người vợ: Điều 310 quy định người chồng phải ly hôn khi

người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt ân nghĩa vợ chồng) như: không cócon, ghen tuông, bị ác tật, dâm đãng, không kính cha mẹ, không hòa thuận với anhem, trộm cắp) thì phải bỏ vợ, gọi là “rẫy vợ” (xuất thê, bỏ vợ); hoặc vợ, chồng phạmvào nghĩa tuyệt (đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợ chồng) Tuy nhiên, không thể ly hôn nếukhi phạm vào điều thất xuất người vợ đang ở trong 3 trường hợp(tam bất khứ):đã đểtang nhà chồng 3 năm; khi lấy nhau nghèo mà giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi

bỏ lại không có bà con để trở về Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha

mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không dược đặt ra.Vợ thông gian (điều 401) Vợ đánhchồng (không /có gây thương tích hoặc chết) (điều 481)

Trang 9

Ly hôn do lỗi của người chồng: Các điều 308, 333 quy định người vợ có quyền

trình xin li hôn cụ thể:

Điều 308 quy định: "Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ đượctrình với quan sở tại và xã quan làm chứng) nếu có con thì 1 năm thì mất vợ" Hoặcngười chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ một cách phi lý Quy định như vậy quyền lợi củangười phụ nữ đã được bảo đảm và quan trọng hơn nó cũng trở thành cơ sở để ngườichồng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với vợ, với gia đình Đây là quy địnhnổi bật phản ánh tính sáng tạo của nhà làm luật nhằm duy trì trật tự ổn định trong giađình

Ngoài những quy định trên Bộ Luật Hồng Đức còn chấp nhận chấm dứt kết hôndo:

Nguyên nhân từ 2 phía: Giấy li hôn được làm dưới hình thức họp đồng,người vợ

và người chồng mỗi bên giữ 1 bãn làm bằng chứng(điều 167)

Phân chia tài sản khi chấm dứt hôn nhân.

Luật Hồng Đức không quy định cách thức giải quyết chung mà chỉ hướng dẫn cụthể đối với một số trường hợp đặc biệt (như khi chồng qua đời)

Đối với điền sản có được do bố mẹ dành cho (phu điền sản và thê sản):

Khi người chồng chết trước thì ruộng đất do nhà chồng đã cho ( phu điền sản)được chia làm hai phần bằng nhau Một phần dành cho gia đình bên chồng để lo choviệc tế lễ (bố mẹ bên hoặc những người thừa tự bên chồng) Một phần dành cho vợđược hưởng suốt đời nhưng không được làm của riêng (nghĩa là không được bán) Khingười vợ chết thì phần tài sản này giao lại cho gia đình chồng ( bố mẹ hoặc ngườithừa tự của chồng)

Khi người vợ chết trước thì vấn đề tài sản cũng được giải quyết tương tự nhưtrường hợp chồng chết trước

Khi người chồng chết, người vợ đi lấy chồng khác hay còn gọi là tái giá, thì phầntài sản được chia phải trả lại cho gia đình bên chồng Trong khi nếu người vợ chếttrước, chồng đi lấy vợ khác vẫn tiếp tục có quyền đối với tài sản được chia

Đối với điền sản do hai vợ chồng tạo ra trong quá trình hôn nhân.

Khi người chồng chết trước thì điền sản được chia làm hai phần bằng nhau, mộtphần dành cho vợ làm của riêng, một phần dành cho chồng được chia như sau: 1/3dành cho nhà chồng để lo việc tế lễ, 2/3 dành cho vợ để phụng dưỡng một đời, không

Trang 10

được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình chồng Khi người vợ chết trước thìvấn đề tài sản cũng được giải quyết tường tự như trên.

Khi người vợ tái giá thì 2/3 tài sản được chia từ số tài sản của chồng phải trả lạicho người tế tự bên chồng Nếu cha mẹ chồng hãy còn sống thì buộc về cha mẹ cả.Khi người chồng đi lấy vợ khác thì 2/3 tài sản được chia từ số tài sản của vợ vẫnđược tiếp tục sử dụng

Đối với trường hợp vợ chồng không có con.

Điều 376 dành cho người chồng nhiều quyền lợi hơn điều 375: “Nếu cha mẹ vợcòn sống thì cha mẹ được hưởng một nửa tài sản, chồng được một nửa (nhưng khôngđược bán) Nếu cha mẹ cợ chết thì chồng hưởng 2/3 (toàn quyền sở hữu), người thừa

tự được hưởng 1/3”

Để bảo tồn tài sản cho con cái sau này thừa kế, nhà làm luật đã cấm người vợ khi

đi tái giá (hoặc người chồng sau khi lấy vợ khác) bán ruộng đất trong gia đình của lầnhôn nhân trước (điều 377)

Tuy nhiên luật không đề cập đến việc phân chia tài sản sau khi ly hôn (có lẽ ly hônthời xưa là việc rất đặc biệt, bất thường, luật pháp không trù liệu cách giải quyết hậuquả)

Quyền và nghĩa vụ chăm sóc con cái sau ly hôn.

Tương tự tài sản, con cái không được xác định cụ thể sau khi cha mẹ ly hôn.Nhưng thông thường khi ly hôn, con cái thuộc về người chồng, nhưng nếu muốn giữcon, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con

b Quan hệ pháp luật về nhân thân giữa cha mẹ và con:

Trang 11

Cha mẹ có toàn quyền nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện cho các con, quyết định nơi

ở cho các con, đồng thời cha mẹ cũng có nghĩa vụ đại diện cho các con trong việc bồithường thiệt hại do hành vi phạm pháp của con mình gây ra; chịu trách nhiệm hình sự

về hành vi phạm pháp của các con (điều 506, 507)

Con có các quyền được giảm hình phạt theo quan phẩm của cha, mẹ (điều 12), cónghĩa vụ phải vâng lời cha mẹ, không được kiện cha mẹ (điều 511), phải che giấu tộicủa cha mẹ (điều 504),chịu thay cha mẹ hình phạt roi hay trượng (điều 38), để tangcha mẹ (điều 543, 130)

Cha mẹ có quyền sau đây đối với con:

Cầm cố và bán con

Từ con: đứa con bị từ đối với gia đình trở thành người dưng, gia đình không còntrách nhiệm gì nữa, đứa con cũng không có quyền lợi gì nữa

c Quan hệ nhân thân của con cháu:

Vì đạo hiếu, con cháu có quyền cũng là nghĩa vụ che giấu tội phạm của ông bà,cha mẹ và được phép chịu tội thay cho ông bà, cha mẹ Nếu chịu thay hình phạt đánhroi, đánh trượng thì được giảm nhẹ hình phạt một bậc (điều 38, 39)

d Con cháu có nghĩa vụ sau đây đối với ông bà, cha mẹ.

Không được trái lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ (điều 506)

Phải phụng dưỡng ông bà, cha mẹ (điều 506)

Con cháu không được tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ; con cháu dâu không đượckiện ông bà, cha mẹ chồng (điều 2 và 511)

Phải để tang ông bà, cha mẹ đúng phép (điều 2)

Phải đi theo ông bà, cha mẹ khi ông bà, cha mẹ bị lưu đày

d Quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ (các điều 309, 481, 483, 484):

Vợ cả (thê) có vị trí cao hơn các vợ lẽ và nàng hầu (thiếp, tỳ) Quy định về cácnghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì cũng phải tuân thủ theo trật tự thê thiếp

và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn

e Quan hệ giữa anh chị em:

Trong gia đình, anh chị em phải sống hòa thuận với nhau (điều 487 và 512)

Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các

em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình(phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau)

Trang 12

f Quan hệ nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506)

Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻcũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi Cụ thểhình thức nhận nuôi con nuôi ( điều 380), các quyền và nghĩa vụ về nhân thân của connuôi (điều 380) Các mối quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi ( điều 381)

g Quan hệ nhân thân khác:

Đại gia đình gồm các thân nhân thuộc “tam tộc”: thân nhân bên nội (nội thân),thân nhân bên ngoại (ngoại thích) và thân nhân bên vợ (bà con bên vợ)

Các người thân thuộc ở trên đời ta gọi là tôn thuộc (như: ông bà, cha mẹ, chú bác);những người thân thuộc ở dưới đời ta gọi là ty thuộc (như: con, cháu, chắt, chút).Thân thuộc cùng một họ và một ông tổ sinh ra gọi là đồng tông; người cùng một

họ mà không cùng chung một ông tổ gọi là đồng tính Người đồng tông không đượclấy nhau làm vợ chồng; còn đồng tính thì có thể kết hôn với nhau được

3 Tư tưởng nho giáo.

3.1 Khái niệm

Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán Tự từ Nho gồm từ nhân

(người) đứng cận chữ Nhu (cần, đợi, chờ) Nho Giáo còn gọi là nhà nho, người đọcsách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời, ăn ở cho phù hợp vớiluân thường đạo lý

Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551-479 TCN), tên Khâu, Tự Trọng

Ni người nước Lỗ, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức cũng như tư tưởng trướcđây thành học thuyết gọi là Nho học hay Nho giáo

3.2 Ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo đối với việt nam

a Tích cực

Trước hết là cương vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và uy thế gópphần củng cố và phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm mẫu mực cho việcchấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền theo một quy mô hoàn chỉnh

có đầy đủ những thể chế và điều phạm Mà ở thế kỷ XV, các xu thế phát triển đó đã vàđang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trên các bình diện sảnxuất và củng cố quốc phòng

Như đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu pháttriển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu của giai cấp địa chủ của

Trang 13

nhà nước và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về ruộng đất Vì thế cho nênkhi chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của chế độ phong kiến, Nho giáocàng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này Nó làm cho sản xuất nông nghiệp và traođổi hàng hoá được đẩy mạnh hơn trước.

Đồng thời Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinhthần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết nó làm cho nền giáo dụcphát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông Nền giáo dục ấy cùngvới chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức đông đảo chưa từng thâý trong lịch

sử chế độ phong kiến Việt Nam Do đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng góp phầnthúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới Là một học thuyết tích cựcnhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những quan hệ xãhội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức Do đó, nhận thức lýluận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng được nâng cao hơn Dựa vào lịch sử củaNho giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủhơn

b Tiêu cực.

Nho giáo ở Việt Nam khi chiếm ở vị trí độc tôn thì đã làm cho chủ nghĩa giáo điều

và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và trong địa hạt giáo dụckhoa học Các quan lại, sĩ phu, đều lấy thánh kinh, hiền truyện của Nho giáo làmkhuôn vàng thước ngọc cho mọi người suy nghĩ và hành động của mình, lấy cái xã hộithời Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho mọi tình trạng xã hội; lấy những sự tích vàđiều phạm trong kinh, thư, kinh xuân thu làm tiêu chuẩn để bình giá mọi sự việc Bệnh giáo điều và khuôn sáo này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực khoa học và nghệthuật nhất là trong văn học và sử học khiến cho sự sáng tạo trong các lĩnh vực này bịdập vào những cái khuôn sẵn có Đó là một tật bệnh đã được rèn đúc ngay từ khingười nho sĩ phải mài dũa văn chương để tiến vào con đường cử nghiệp

Tính chất tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau càng gây tác hại không nhỏ trongviệc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.Khi đã chiếm được địa vị thống trị trên

vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt Nam không tiếp tục đi sâu vào khám phá những vấn đềbản chất của đời sống và của vũ trụ, vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác Nó chỉchú trọng đến những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế

Trang 14

Cho nên khi xã hội phong kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng conngười được đặt ra thì Nho giáo trở thành bất lực Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì

nó đã sớm bỏ con đường phát triển tư duy trừu tượng Nó bắt đầu đè nặng lên conngười và bóp nghẹt nếp sống giản dị, những quan hệ xã hội trong sáng, những tìnhcảm tự nhiên và chân thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phảnđộng, cổ hủ và lạc hậu

4 Truyền thống và tập quán của Việt Nam

4.1 Khái niệm

4.1.1 Truyền thống:

Truyền thống là những thói quen tốt đẹp được lưu giữ từ đời này qua đời khác, thế

hệ này tới thế sau mà không thay đổi.Đó cũng là những thói quyen, tư tưởng, lốisống, những giá trị văn hóa lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác Tích cực vàđược mọi người tôn trọng, lưu giữ, kế thừa và phát huy

4.1.2 Tập quán:

Xét về mặt dân tộc và văn hoá - xã hội thì tập quán được hiểu dựa trên những nét

cơ bản là những phương thức ứng xử giữa người với người đã được định hình và đượcxem như một dấu ấn, một điểm nhấn tạo thành nề nếp, trật tự trong lối sống của cánhân trong quan hệ nhiều mặt tại một cộng đồng dân cư nhất định

4.2 Đặc điểm.

4.2.1 Truyền thống:

Lập đi lập lại truyền đến nhiều đời vẫn không dứt

Được hình thành và hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử

Là quá trình “cho” và “nhận” các giá trị văn hóa, tinh thần giữa các dân tộc

Kế thừa và phát huy mạnh mẽ những giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp của dân tộc

4.2.2 Tập quán:

Tập quán có đặc điểm là bất biến, bền vững, do vậy, rất khó thay đổi Trong nhữngquan hệ xã hội nhất định, tập quán được biểu hiện và định hình một cách tự phát hoặcđược hình thành và tồn tại ổn định thông qua nhận thức của chủ thể trong một quan hệnhất định và tập quán được bảo tồn thông qua ý thức của quá trình giáo dục có địnhhướng rõ nét Như vậy, tập quán được hiểu như những chuẩn mực xử sự của các chủthể trong một cộng đồng nhất định và còn là tiêu chí để đánh giá tính cách của một cánhân tuân theo hay không tuân theo những chuẩn mực xử sự mà cộng đồng đã thừa

Trang 15

nhận và áp dụng trong suốt quá trình sống, lao động, sinh hoạt tạo ra vật chất vànhững quan hệ liên quan đến tài sản, đến tình cảm của con người trong cộng đồng.Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng và bản lĩnh văn hoá

có tính độc lập tương đối giữa các dân tộc Do vậy, tập quán của mỗi dân tộc đều cónhững nét đặc thù, khác nhau Câu ngạn ngữ: “Luật vua thua lệ làng” đã phản ánhđúng thực trạng về tập quán của mỗi dân tộc ở Việt Nam

Truyền thống bất khuất: Tinh thần bất khuất đó cũng ăn sâu vào lòng mỗi người

dân Việt, để trở thành truyền thống muôn đời Bởi vậy, khi người Việt bị các giốngdân khác đô hộ, nếu mình yếu thế thì tinh thần bất khuất biểu lộ bằng lới nói, bằng sựchâm chọc, bằng những mẩu chuyện tiếu lâm Ðến khi mình mạnh thì vùng lên giếtgiặc

Truyền thống tự chủ: Ðọc lịch sử, chúng ta thấy có rất nhiều giai đoạn nước Việt

phải xưng thần, phải triều cống, phải nhận sắc phong của nước Tàu Ðây không phải

là sự mất tự chủ, mà là một phương cách ngoại giao khéo léo để giữ nước Trong cácgiai đoạn đó, người Việt vẫn làm chủ nước Việt, chớ không để mất nền tự chủ

Truyền thống hiếu học: Dân tộc Việt Nam có một tinh thần hiếu học rất cao Và,

bài ca dao trên đây đã cho thấy tinh thần hiếu học và mục đích của sự học Muốn khônthì phải học và học để phục vụ đất nước Tinh thần hiếu học của người Việt Nam đãbiến thành truyền thống Và truyền thống này vẫn còn tiếp nối ở trong nước, cũng nhưtại hải ngoại

Tập quán

Người Việt Nam có những phong tục tập quán rất phong phú trái dài trên khắp mọimiền Tổ quốc.Đó là tục ăn trầu, hút thuốc lào, tết nguyên đán, tết thanh minh, lễ độngthổ, lễ khai ấn, cúng giỗ người chết, tục thách cưới, tang lễ, và các lễ hội đặc trưngnhư hội hoa Vị Khê, Nam Định, hội chọi trâu,…

4.3.2 Hạn chế.

Ngày đăng: 17/09/2016, 12:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w