Luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế học về " Thu nhập của hộ gia trình trồng cà phê trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế". bài viết có 3 chương rõ ràng là: lý luận về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế;thực trạng thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế;một số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Cà phê là mặt hàng nông sản có giá trị, có tính thương mại cao, với khách hàng hiện diện ở hầu hết các quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Trong 20 năm qua, cà phê luôn là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù vậy, vẫn đang tồn tại một số hạn chế mà một trong những hạn chế lớn nhất là đời sống của những hộ gia đình trồng cà phê còn gặp nhiều khó khăn. Luận án này đã phần nào phân tích được những mặt tích cực và hạn chế của vấn đề từ đó có những giải pháp cho hộ gia đình trồng cà phê có được thu nhập ổn định và đời sống hiệu quả hơn!
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, là nguồn thu nhập ngoại tệ chủ yếu của nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới trong đó có Việt Nam Từ khi hội nhập trở với nền kinh tế thế giới (1994) đến nay, cà phê luôn là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu mỗi năm lên đến trên dưới 2 tỷ Dollar (USD) đã góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Các thành tựu nổi bật của ngành cà phê Việt Nam các năm qua là:
Thứ nhất, tạo công ăn việc làm cho khoảng 300.000 hộ gia đình nông
dân trồng cà phê với trên 600.000 lao động, tương đương 2,93% lực lượng lao động trong nông nghiệp, và bằng 1,83% lực lượng lao động của cả nước
Thứ hai, từ năm 2006 đến nay, mỗi năm kim ngạch xuất khẩu của
ngành cà phê Việt Nam mang về cho đất nước từ trên 1,6 tỷ Dollars (USD) trở lên, năm 2012 này kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt tới trên 3,3 tỷ USD
Thứ ba, mở rộng thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam tới gần
100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ 2 thế giới về sản lượng
và là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê vối
Bên cạnh những thành tựu nổi bật thì ngành cà phê Việt Nam cũng bộc
lộ những hạn chế là:
Một là, đời sống của những hộ gia đình nông dân trực tiếp trồng cà
phê còn gặp nhiều khó khăn do thu nhập từ sản xuất cà phê thấp và không ổn định bởi giá xuất khẩu cà phê vối của Việt Nam thấp hơn và phụ thuộc vào giá xuất khẩu cà phê vối cùng loại của các nước khác trong khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê này;
Hai là, chất lượng cà phê của Việt Nam bị các nhà nhập khẩu nước
ngoài đánh giá thấp hơn chất lượng tự nhiên vốn có của nó;
Trang 2Ba là, Việc phát triển diện tích cà phê trong các hộ gia đình nông dân
còn mang tính tự phát dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, và Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam đã ban hành một số văn bản nhằm nâng cao chất lượng cà phê Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới, nhưng chất lượng cà phê của Việt Nam vẫn bị khách hàng nước ngoài đánh giá thấp, trả giá thấp hơn giá cà phê vối trung bình trên thế giới dẫn đến đời sống người trồng cà phê còn gặp nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mỗi năm mất đi hàng trăm triệu USD
Việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với trên 150 quốc gia thành viên, chiếm trên 2/3 dân số của toàn cầu
đã mang đến cơ hội lớn cho ngành cà phê Việt Nam trong việc đưa sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu nhưng nó cũng tiềm
ẩn những thách thức không nhỏ nếu như ngành cà phê Việt Nam không có những chính sách nhằm nâng cao thu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho những người nông dân trực tiếp sản xuất ra cà phê Đó chính là lý
do mà tác giả lựa chọn đề tài “Thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế” để làm luận án tiến sĩ
chuyên ngành kinh tế học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay vẫn chưa có luận án tiến sĩ nào thuộc chuyên ngành kinh
tế học nghiên cứu về về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê mà chỉ có một vài đề tài đề cập đến sự phát triển của ngành cà phê của Việt Nam như: Đề
tài: “Một số giải pháp kinh tế nhằm phát triển bền vững cà phê vùng Tây Nguyên”, luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Liêm, thực hiện
năm 2003 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Luận án được thực hiện trên
cơ sở lý thuyết của chuyên ngành Kinh tế, Quản lý và kế hoạch hóa Kinh tế
Quốc dân; Đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế”,
Trang 3luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế của nghiên cứu sinh Ngô Thị Tuyết Mai, thực hiện năm 2007 tại Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân; Đề tài: “Năng lực cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành
Kinh tế Chính trị của nghiên cứu sinh Vũ Trí Tuệ, thực hiện năm 2012 tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Đề tài nghiên cứu
về: “Ảnh hưởng của thương mại cà phê toàn cầu đến người trồng cà phê tỉnh Đắc Lắc – Phân tích và khuyến nghị chính sách” do Trung tâm thông tin
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Oxfam Anh và Oxfam Hồng kông,
thực hiện năm 2002; Đề tài nghiên cứu về: “Toàn cầu hóa, thương mại và đói nghèo – Bài học từ ngành cà phê Việt Nam”, của Phan Sỹ Hiếu, Trung
tâm thông tin Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thực hiện năm 2003; Đề
tài nghiên cứu về: “Báo cáo nghiên cứu ngành cà phê – báo cáo số 29358 -
VN ”, do Ban Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc Ngân hàng Thế giới thực hiện tháng 6/2004; Đề tài nghiên cứu về: “Giải pháp nhằm tổ chức lại sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê ở tỉnh Daklak trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của PGS.TS Đào Duy Huân, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2004); Đề tài: “Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả kinh tế cây cà phê tỉnh Đắc Nông”, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế phát triển của học viên
Phạm Văn Toản, thực hiện năm 2008 tại Trường Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh; Đề tài: “Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh
tế chuyên ngành thương mại của học viên Huỳnh Kim Long, thực hiện năm
2009 tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Thứ nhất là, từ cơ sở lý luận và thực tiễn kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm đảm bảo thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê của các nước trên thế giới, xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê
tại Việt Nam; Thứ hai là, phân tích thực trạng và lượng hóa các yếu tố tác
Trang 4động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam; Thứ ba là, đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Về đối tượng nghiên cứu: luận án chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố
tác động đến thu nhập từ sản xuất cà phê của các hộ gia đình nông dân
Về phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập từ sản xuất cà phê của các hộ gia đình trồng cà phê tại khu vực Tây Nguyên từ năm 1994 đến năm 2011, đây là khoảng thời gian Việt Nam hội nhập trở lại với nền kinh tế thế giới sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam
- Về không gian: luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê tại khu vực Tây Nguyên, gồm các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum, nơi tập trung 90,1% tổng diện tích cà phê của cả nước và cung cấp 92,61% tổng sản lượng
cà phê cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng
- Phương pháp tổng hợp và phân tích để làm rõ mục tiêu thứ nhất
của luận án là xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trồng cà phê tại Việt Nam;
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh, đối chiếu, quy nạp và phân tích hồi quy đa biến để làm rõ mục tiêu thứ hai của luận án là đánh giá thực trạng các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê;
- Phương pháp duy vật biện chứng, và lịch sử logích để thực hiện mục tiêu thứ ba của luận án là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam
Số liệu sử dụng:
- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ Niên giám Thống kê của các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum, Bộ Nông nghiệp và Phát
Trang 5triển Nông thôn, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam trong khoảng thời gian
1994 - 2011;
- Số liệu sơ cấp: được thu thập từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp 300 chủ hộ gia đình nông dân hoặc người trực tiếp quản lý vườn cà phê trên địa bàn 22 xã thuộc 08 huyện của 2 tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng là 02 địa phương
có diện tích trồng cà phê lớn nhất cả nước, có đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp cho 2 loại cà phê có tính thương mại cao trên thị trường thế giới là
cà phê vối và cà phê chè
6 Những đóng góp của luận án
Với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, luận án sẽ đóng góp về mặt lý luận
và thực tiễn như sau:
Một là, xác định được các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia
đình trồng cà phê tại Việt Nam trên cơ sở các lý thuyết kinh tế học liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp nói chung
và những đặc điểm riêng biệt của hộ gia đình trồng cà phê; Hai là, đánh giá
thực trạng và lượng hóa các yếu tố chủ yếu tác động đến thu nhập của hộ gia
đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế; Ba là,
đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
7 Tên và kết cấu của luận án
Tên luận án: thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Kết cấu của luận án: ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: lý luận về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: thực trạng thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá
trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: một số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng
cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 6CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê và các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê
1.1.1 Thu nhập hộ gia đình nông dân và hộ gia đình trồng cà phê
Michael P Todaro (1998) cho rằng: thu nhập của hộ gia đình nông dân
là số lượng hàng hóa và dịch vụ vật chất mà hộ gia đình nông dân có thể dùng thu nhập bằng tiền của họ mua được, với thu nhập bằng tiền chỉ đơn giản là tổng số tiền mà hộ gia đình kiếm được hàng tháng, năm Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) cho rằng: thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp “chính là phần tiền thưởng cho người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định như đất đai, nguồn vốn và nguồn lao động khi đưa các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm” Do đó trong xác định thu nhập của hộ gia đình nông dân, FAO coi hộ gia đình nông dân như là một doanh nghiệp tự làm chủ, theo đó: Thu nhập hộ gia đình = Tổng giá trị nông sản - chi phí các yếu
tố sản xuất trung gian đầu vào - chi trả nguồn vốn đã tiêu dùng - chi thuê lao động - chi trả lãi suất và chi trả tiền thuê đất Theo đó thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê được xác định là tổng doanh thu từ bán cà phê trong năm trừ đi các khoản chi phí không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản suất cà phê tại hộ gia đình trong năm
1.1.2 Các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân và hộ gia đình trồng cà phê trong hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2.1 Nhóm lý thuyết liên quan đến sản lượng sản phẩm của hộ gia đình nông dân
Luận án đã sử dụng các lý thuyết như: lý thuyết về mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào; lý thuyết về lao động và năng suất lao động trong nông nghiệp của Park Sung Sang (1992); lý thuyết về vốn
Trang 7trong sản xuất nông nghiệp của Harrod – Domar (1940); lý thuyết về thay đổi công nghệ trong sản xuất nông nghiệp của Nicholas Kaldor (1957)
1.1.2.2 Nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại hộ gia đình nông dân
Giá bán hàng hóa phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường và các chính sách điều tiết sản xuất và tiêu dùng của chính phủ 1.1.2.3 Nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm tại hộ gia đình nông dân
David Ricardo (1772 – 1823) cho rằng chi phí sản xuất phụ thuộc vào
độ màu mỡ của đất đai, khi độ màu mỡ của đất càng cao thì càng có điều kiện để giảm các chi phí trung gian đầu vào, giảm chi phí về công lao động
và làm tăng thu nhập cho hộ gia đình nông dân
1.1.2.4 Nhóm lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế
Từ ADam Smith (1723 – 1790) với lý thuyết “lợi thế tuyệt đối”, David Ricardo (1772 -1823) với lý thuyết “lợi thế so sánh”, Eli Hecksher (1879 – 1952) và Berti O.hlin (1899 – 1979) với lý thuyết “Tỷ lệ các yếu tô” cho đến Paul R.Krugman và Maurice Obtefeld (1996) với lý thuyết “Lợi thế kinh tế theo quy mô” đều cho rằng các quốc gia đều có lợi khi tham gia
thương mại quốc tế
1.1.3 Đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trên thế giới
Cà phê có thời kỳ kiến thiết cơ bản khoảng 3 đến 4 năm và cho thu hoạch trong khoảng thời gian từ 20 đến 25 năm Các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê gồm:
1.1.3.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê của hộ gia đình nông dân
Gồm: (i) Nguồn đất đai, thổ nhưỡng, cây cà phê cho sản lượng cao
nhất khi được trồng trên đất Bazan có độ dày tầng đất canh tác tối thiểu 70
cm, dung trọng nhỏ hơn 0,9 g/cm2, độ xốp > 63%, và (ii) Sự phát triển của
Trang 8khoa học và công nghệ trong sản xuất cà phê làm cây cà phê cho năng suất
ngày càng cao, với chi phí sản xuất càng thấp
1.1.3.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân
Cà phê chủ yếu được trồng ở các nước chậm và đang phát triển nhưng sản phẩm lại được tiêu thụ chủ yếu tại các quốc gia có nền kinh tế và công nghiệp phát triển Giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào: (i) Quan hệ cung cầu cà phê trên thị trường thế giới; (ii) Chất lượng cà
phê: theo đó, cà phê chè có hàm lượng cafein trong hạt chỉ khoảng 0,8 – 1,4
%, được nhiều người trên thế giới ưa chuộng cho nên giá bán cao hơn giá của
cà phê vối (hàm lượng cafein trong hạt cao khoảng 1,4 – 4 %) từ 1,6 đến 1,86 lần; (iii) Mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng cà phê trên toàn cầu
1.1.3.3 Các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân
Gồm: (i) Chi phí đầu tư thời kỳ kiến thiết cơ bản để hình thành vườn
cà phê, (ii) Chi phí trung gian đầu vào cho sản xuất cà phê thời kỳ kinh doanh, (iii) Chi thuê lao động ngoài gia đình tham gia sản xuất cà phê, và (iv) Chi trả lãi vay cho các nguồn vốn sản xuất cà phê
1.1.3.4 Các yếu tố tác động từ hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có tính chất quyết định đến thu nhập của các
hộ gia đình trồng cà phê bởi tại các nước trồng cà phê người ta chỉ tiêu thụ khoảng ¼ sản lượng của họ, do đó ¾ sản lượng còn lại sẽ được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Về khía cạnh kinh tế
Nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế là để phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam khi sản xuất cà phê với năng suất cao nhất thế giới, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng để phát triển đất nước
1.2.2 Về khía cạnh xã hội
Trang 9Nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông dân trồng cà phê có ý nghĩa
xã hội rất to lớn như ổn định kinh tế, chính trị và xã hội cho vùng Tây Nguyên là khu vực có vị trí địa chính trị, địa kinh tế hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của cả nước
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc đảm bảo thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê
Từ nghiên cứu kinh nghiệm đảm bảo thu nhập cho các hộ gia đình trồng cà phê tại Brazil, Colombia và Indonesia, cho thấy: (i) các các quốc gia đều lựa chọn những khu vực có điều kiện đất đai thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp trồng cà phê cho những sản phẩm chất lượng cao, năng suất cao nhằm duy trì thị phần cà phê của những quốc gia này trên thị trường cà phê toàn cầu; (ii) đảm bảo giá bán cho các hộ gia đình nông dân bằng các quỹ phát triển cà phê quốc gia, quỹ bình ổn giá cà phê do chính phủ hoặc giao cho liên đoàn những người trồng cà phê trực tiếp quản lý điều hành; (iii) tổ chức sản xuất lớn và quản lý ngành hàng cà phê một cách hiệu quả, trên cơ sở phối hợp giữa nhà nước và các tổ chức nghề nghiệp cùng tham gia điều hành các hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu để tạo ra sức mạnh cạnh tranh cho sản phẩm của quốc gia
1.4 Xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê
1.4.1 Xác định trên cơ sở lý thuyết
1.4.1.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại hộ gia đình Sản lượng cà phê phụ thuộc vào: (i) Quy mô diện tích vườn cà phê của
hộ gia đình nông dân, (ii) Năng suất cà phê trên mỗi một ha vườn của hộ gia đình nông dân, (iii) Sự thay đổi quy mô vốn sản xuất cà phê trong năm, và (iv) Kiến thức, kỹ năng, tay nghề của người lao động
1.4.1.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại các hộ gia đình Giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào: (i) Quan hệ cung cầu cà phê trên thị trường thế giới, (ii) Chất lượng cà phê xuất khẩu có
Trang 10phù hợp với khẩu vị của khách hàng quốc tế, và (iii) Mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng cà phê trên toàn cầu của các hộ gia đình
1.4.1.3 Các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất tại hộ gia đình Chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào: (i) Chi phí cho các yếu tố trung gian đầu vào cho sản xuất cà phê, (ii) Chi thuê lao động ngoài gia đình, và (iii) Chi phí hoàn vốn đầu tư thời kỳ kiến thiết cơ bản hình thành vườn cà phê
1.4.2 Mô hình lƣợng hóa các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê
Từ quan điểm của Park S.S (1992), quan điểm của Harrod – Domar, quan điểm của Nicholas Kaldor (1957), Lewis (1955), Oshima (1995), Randy Barker (2002) và một số công trình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam và quốc tế có kết quả như: (i) Đinh Phi Hổ và Chiv Vann Dy (2010) nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập của nông dân trồng lúa ở Campuchia, (ii) Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010) xây dựng mô hình nhận diện các yếu tố tác động đến thu nhập của nông dân vùng trung du
ở tỉnh Phú Thọ, (iii) Đinh Phi Hổ và Nguyễn Hữu Trí (2010) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động nông nghiệp ở tỉnh Bến tre, (iv) Bùi Quang Bình (2008), nghiên cứu vốn con người và thu nhập của hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên, (v) Mai Văn Xuân và Nguyễn Văn Hóa (2011), nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố đầu vào đến phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc Các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ trồng cà phê được lựa chọn để đưa vào mô hình lượng hóa là:
Các yếu tố tác động đến thu nhập/ha cà phê Kỳ
vọng Nhóm yếu tố tác động đến sản lƣợng cà phê của hộ
- Năng suất cà phê trên 01 ha vườn đang thu hoạch (X1), X1
tính bằng tấn/ha
- Tình trạng vay vốn cho xản xuất cà phê (X2), X2 là biến giả,
theo đó (X = 1 có vay vốn, X = 0 không vay vốn)
+
+
Trang 11- Trình độ kiến thức nông nghiệp trong sản xuất của chủ hộ
(X3),
X3 tính bằng điểm với mức cao nhất là 10
+
Nhóm yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại gia đình
- Loại cà phê mà hộ đang trồng có phù hợp với khẩu vi của
người tiêu dùng thế giới (X4), X4 là biến giả, theo đó:
X4 = 1 trồng cà phê chè và X4 = 0 gia đình trồng cà phê vối
- Tình trạng ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa hộ
gia đình trồng cà phê và các công ty thu mua (X5), X5 là biến
giả, theo đó: X5 = 1 có HĐTT và X5 = 0 không có HĐTT
+
+
Nhóm yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê
- Chi phí phân bón cho 01 ha cà phê trong năm (X6) X6 được
tính bằng triệu đồng/ha
- Chi phí thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật cho 01 ha cà phê
trong năm (X7), X7 được tính bằng triệu đồng/ha
- Chi phí nước tưới cho 01 ha cà phê trong năm (X8) X8 được
tính bằng triệu đồng/ha
- Số lao động chính trong gia đình tham gia sản xuất trên 01 ha
cà phê trong năm (X9), X9 tính bằng số người/ha
Từ mô hình có dạng tổng quát Y = f(X1, X2, X3,…Xn) ta có mô hình tổng quát được trình bày dưới dạng logarith tuyến tính như sau:
lnY = Bo + b1lnX1 + b2X2 + b3lnX3 + b4X4 + b5X5 + b6lnX6 + b7lnX7 +
b8lnX8 + b9lnX9 + u
Trang 12CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Quá trình hình thành hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam 2.1.1 Bối cảnh ra đời hộ gia đình trồng cà phê
Sau khi Luật Đất đai ban hành năm 1993, quy định rõ chuyển giao quyền sử dụng đất lâu dài ổn định cho hộ gia đình nông dân, hình thức kinh
tế hộ gia đình nông dân trồng cà phê mới chính thức được xác lập
2.1.2 Đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam
2.1.2.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại hộ gia đình Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại gia đình nông dân gồm:
(i) Tác động từ nguồn đất đai: Cây cà phê tại Việt Nam được trồng
chủ yếu tại các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng
vùng Tây Nguyên, nơi có khoảng 1,2 triệu ha đất Bazan, rất phù hợp với sự
phát triển của cây cà phê nên cho năng suất cao và chất lượng cao
(ii) Tác động từ năng suất của cây cà phê: Năng suất cà phê của Việt
Nam đã tăng lên rất nhanh từ khoảng 0,32 tấn/ha (1970) đến trên 2 tấn/ha hiện nay, gấp 1,5 lần năng suất cà phê của Brazil (1,25tấn/ha), gấp hơn 2 lần năng suất cà phê của Colombia (0,93tấn/ha), gấp 3 lần năng suất của Indonesia (0,69tấn/ha)
2.1.2.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân
Các yếu tác động đến giá cà phê tại hộ gia đình nông dân gồm:
(i) Quan hệ cung cầu cà phê trên thị trường trong nước và quốc tế: Đối với thị trường trong nước: trong vòng 10 năm qua, mức độ tăng trưởng trong tiêu thụ cà phê tại thị trường trong nước luôn duy trì ở mức cao, năm thấp nhất là 8%/năm và cao nhất lên đến 46%/năm;
Đối với thị trường quốc tế, trong khoảng 20 năm qua lượng cầu cà phê
trên toàn thế giới tăng trưởng liên tục và ổn định trong khi đó lượng cung tăng không đều và thiếu ổn định đã dẫn đến việc mất cân đối trong quan hệ