Một là, đời sống của những hộ gia đình nông dân trực tiếp trồng cà phê còn gặp nhiều khó khăn do thu nhập từ sản xuất cà phê thấp và không ổn định, giá xuất khẩu cà phê vối của Việt Nam
Trang 1LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan:
“Đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các số liệu và trích dẫn trích trong luận án hoàn toàn trung thực Luận án không trùng với bất kỳ công trình nào khác, kết quả nghiên cứu trong luận án đã được công bố trên tạp chí Phát triển Kinh tế,
Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh”
Phạm Ngọc Dƣỡng
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 12
LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 12
1.1 Thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê và các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê 12
1.1.1 Thu nhập hộ gia đình nông dân và hộ gia đình nông dân trồng cà phê 12
1.1.2 Các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân và hộ gia đình trồng cà phê trong hội nhập kinh tế quốc tế 14
1.1.2.1 Nhóm lý thuyết liên quan đến sản lượng sản phẩm của hộ gia đình nông dân 14
1.1.2.2 Nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại hộ gia đình nông dân 19
1.1.2.3 Nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất tại hộ gia đình nông dân 20
1.1.2.4 Nhóm lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế 21
1.1.3 Đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trên thế giới 23
1.1.3.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê của hộ gia đình nông dân 23
1.1.3.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân 24
1.1.3.3 Các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân 30
1.1.3.4 Các yếu tố tác động từ hội nhập kinh tế quốc tế 32
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế 33
Trang 31.2.1 Về khía cạnh kinh tế 33
1.2.2 Về khía cạnh xã hội 34
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc đảm bảo thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê 36
1.3.1 Kinh nghiệm của Brazil 36
1.3.2 Kinh nghiệm của Colombia 40
1.3.3 Kinh nghiệm của Indonesia 43
1.4 Xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế 46
1.4.1 Xác định trên cơ sở lý thuyết 46
1.4.1.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại hộ gia đình nông dân 46
1.4.1.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân 47
1.4.1.3 Các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân 48
1.4.2 Mô hình lượng hóa các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê 48
Tóm tắt chương 1 59
CHƯƠNG 2 61
THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 61
2.1 Quá trình hình thành hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam 61
2.1.1 Bối cảnh ra đời hộ gia đình trồng cà phê 61
2.1.2 Đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam 63
2.1.2.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại hộ gia đình nông dân 63
2.1.2.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân 67
2.1.2.3 Các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân 73
2.1.2.4 Các yếu tố tác động từ hội nhập kinh tế quốc tế 75
Trang 42.2 Thực trạng thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam 79
2.2.1 Phân tích trên cơ sở thống kê các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê 79
2.2.1.1 Về sản lượng cà phê mà các hộ gia đình nông dân sản xuất trong năm 79
2.2.1.2 Về giá bán cà phê tại các hộ gia đình nông dân 83
2.2.1.3 Về chi phí sản xuất cà phê tại các hộ gia đình nông dân 85
2.2.1.4 Về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê 89
2.2.2 Lượng hóa các yếu tố chủ yếu tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê 100
2.2.2.1 Mô tả mẫu và quá trình thực hiện khảo sát 100
2.2.2.2 Mô tả các biến độc lập của mô hình 101
2.2.2.3 Kết quả hồi quy tuyến tính 106
2.2.2.4 Nhận xét rút ra từ kết quả mô hình hồi quy 110
2.3 Đánh giá điểm mạnh - yếu; cơ hội - thách thức (SWOT) trong quá trình nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế 115
Tóm tắt chương 2: 119
CHƯƠNG 3 121
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 121
3.1 Các cơ sở để đề xuất giải pháp 121
3.1.1 Căn cứ vào bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 121
3.1.2 Căn cứ vào dự báo nhu cầu tiêu thụ cà phê tại thị trường trong nước và thế giới122 3.1.3 Căn cứ vào các chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 123
3.1.4 Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của mô hình 125
3.1.5 Căn cứ vào bảng tổng hợp SWOT trong quá trình nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế 125
Trang 53.2 Các nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê 127
3.2.1 Nhóm giải pháp về nâng cao sản lượng cà phê tại các hộ gia đình nông dân 128
3.2.1.1 Xây dựng những vườn cà phê có quy mô lớn hơn theo hướng liên kết sản xuất giữa các hộ gia đình trồng cà phê 129
3.2.1.2 Nâng cao năng suất cà phê tại các hộ gia đình nông dân 133
3.2.1.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư tăng thêm cho sản xuất cà phê của hộ gia đình nông dân 137
3.2.1.4 Nâng cao kiến thức nông nghiệp trong sản xuất cà phê cho chủ hộ gia đình hoặc người trực tiếp quản lý vườn cà phê 138
3.2.2 Nhóm giải pháp về giảm chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân 142
3.2.2.1 Giảm chi phí nước tưới 142
3.2.2.2 Giảm chi phí phân bón 144
3.2.3 Nhóm giải pháp về nâng cao giá bán cà phê tại các hộ gia đình nông dân 146
3.2.3.1 Nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu ngay tại hộ gia đình nông dân 146
3.2.3.2.Xây dựng chuỗi cung ứng cà phê từ thị trường trong nước ra đến thị trường nước ngoài 148
3.2.4 Nhóm các giải pháp hỗ trợ khác 151
3.2.4.1 Đẩy mạnh tiêu thụ cà phê tại thị trường trong nước 151
3.2.4.2 Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê 152
3.2.4.3 Thành lập các hiệp hội nghề nghiệp liên quan đến sản xuất và xuất khẩu cà phê 154
Tóm tắt chương 3: 156
KẾT LUẬN 158
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 161
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
DANH MỤC PHỤ LỤC 173
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ARABICA Cà phê chè
A1 Cà phê chè loại 1
A2 Cà phê chè loại 2
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CENTS/lb Xu (Hoa kỳ)/Pound (454 gram)
EXCELSA Cà phê mít
EU Liên hiệp Châu Âu
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc FOB Giao hàng dọc mạn tàu tại cảng xuất khẩu
HS code Hệ thống hài hòa (thuế quan) và mã hàng hóa
Ha Hecta (10.000 m2)
ICO Tổ chức Cà phê Thế giới
ICOR Hệ số thay đổi vốn và đầu ra
Lb Pao (đơn vị đo lường của Anh, Hoa Kỳ bằng 454 gram)
Trang 7Qi Đơn vị sản lượng thứ i
ROBUSTA Cà phê vối
R1 5% Cà phê vối loại 1 với 5%
R2 Cà phê vối loại 2
SWOT Ma trận phân tích điểm mạnh – yếu, cơ hội - thách thức
TCHQVN Tổng cục Hải quan Việt Nam
TTTTPTNNNT Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
TC Tổng chi phí
USD Dollar (Đơn vị tiền tệ của Hoa Kỳ)
USDA Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
US cent Cent (bằng 1/100 Dollar)
VICOFA Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.0: Quy trình nghiên cứu của luận án 10
Hình 1.1: Khung phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ trồng cà phê 58
Hình 2.1: Diện tích cà phê tại các vùng 64
Hình 2.2: Sản lượng cà phê tại các vùng 64
Hình 2.3: Năng suất cà phê trồng tại Việt Nam giai đoạn 1930 - 2010 66
Hình 2.4: Sản lượng xuất khẩu và thị phần cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới 77
Hình 2.5: Cơ cấu trình độ văn hóa của chủ hộ 83
Hình 2.6: Cơ cấu trình độ chuyên môn của chủ hộ 83
Hình 2.7: Đường tương quan giữa quy mô diện tích vườn cà phê với thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê 92
Hình 2.8: Đường tương quan giữa năng suất cà phê trên 01 ha vườn với thu nhập trên 01 ha của hộ gia đình trồng cà phê 94
Hình 2.9: Tình trạng vay vốn cho sản xuất cà phê của hộ gia đình nông dân 94
Hình 2.10: Đường tương quan giữa kiến thức nông nghiệp trong sản xuất cà phê của chủ hộ và thu nhập trên 01 ha của hộ gia đình nông dân trồng cà phê 95
Hình 2.11: Đường tương quan mối quan hệ giữa loại cà phê đang trồng với thu nhập trên ha của hộ gia đình trồng cà phê 96
Hình 2.12: Đường tương quan giữa tình trạng ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của hộ gia đình trồng cà phê với các công ty thu mua và thu nhập trên ha của hộ gia đình trồng cà phê 97
Hình 2.13: Đường tương quan giữa chi phí sinh học cho ha cà phê với thu nhập trên 01 ha của hộ gia đình trồng cà phê trong năm 98
Hình 2.14: Đường tương quan giữa số lượng lao động chính trong gia đình tham gia sản xuất trên 01 ha cà phê với thu nhập trên 01 ha của hộ gia đình trồng cà phê 99
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng cung cà phê của các nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới 25
Bảng 1.2: Lượng cầu cà phê của các quốc gia tiêu thụ nhiều nhất thế giới 26
Bảng 1.3: Thị phần cà phê phân theo nhóm chất lượng sản phẩm 28
Bảng 1.4: Năng suất cà phê của một số nước 34
Bảng 1.5: Sản lượng và thị phần cà phê của Brazil trên thị trường thế giới 37
Bảng 1.6: Sản lượng và thị phần cà phê của Colombia trên thị trường thế giới 41
Bảng 1.7: Sản lượng và thị phần cà phê của Indonesia trên thị trường thế giới 44
Bảng 2.1: Diện tích trồng cà phê của Việt Nam 62
Bảng 2.2 Sản lượng cà phê tiêu thụ tại thị trường nội địa Việt Nam 68
Bảng 2.3 Sản lượng cung cầu cà phê trên thị trường thế giới 69
Bảng 2.4: Chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam phân loại theo số lỗi 70
Bảng 2.5: Cơ cấu xuất khẩu theo kích cỡ hạt 71
Bảng 2.6: Chênh lệch về giá xuất khẩu cà phê Việt Nam và cà phê vối thế giới 72
Bảng 2.7: Sản lượng xuất khẩu và thị phần cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế 76 Bảng 2.8: Các quốc gia nhập khẩu lớn nhất cà phê của Việt Nam 78
Bảng 2.9: Quy mô các vườn hoặc trang trại trồng cà phê 80
Bảng 2.10: Chi phí sản xuất cà phê trong thời kỳ kinh doanh 86
Bảng 2.11: Chi phí sinh học cho 01 ha cà phê trong năm thời kỳ kinh doanh 87
Bảng 2.12: Chi phí thuê lao động ngoài gia đình tham gia sản xuất cà phê 88
Bảng 2.13: Lãi suất các nguồn vốn vay của hộ gia đình trồng cà phê 89
Bảng 2.14 Thu nhập trên 01 ha cà phê của hộ gia đình trồng cà phê 90
Bảng 2.15: So sánh hiệu quả kinh tế theo quy mô diện tích vườn cà phê của hộ gia đình trồng cà phê 93
Bảng 2.16: Thống kê mô tả các biến độc lập trong mô hình 105
Bảng 2.17: Phân tích hệ số hồi quy của các biến độc lập 107
Trang 10Bảng 2.18: Tóm tắt mô hình ban đầu 108 Bảng 2.19: Phân tích phương sai (ANOVA) 108 Bảng 3.1 Ma trận phân tích SWOT kết hợp 126
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao,
là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới Tại Việt Nam, từ khi hội nhập trở lại với nền kinh tế thế giới đến nay (1994), cà phê luôn là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của đất nước với kim ngạch xuất khẩu mỗi năm lên đến trên dưới 2 tỷ Dollar (USD), đã góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Các thành tựu nổi bật của ngành cà phê Việt Nam trong các năm qua được thể hiện:
Thứ nhất, tạo công ăn việc làm cho khoảng 300.000 hộ gia đình nông dân trồng
cà phê với trên 600.000 lao động, tương đương 2,93% lực lượng lao động trong nông nghiệp, và bằng 1,83% lực lượng lao động của cả nước [26]
Thứ hai, từ năm 2006 đến nay, mỗi năm kim ngạch xuất khẩu của ngành cà phê
Việt Nam mang về cho đất nước từ 1,6 tỷ Dollars (USD) đến trên 2 tỷ USD, năm 2011 vừa qua kim ngạch xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam đạt tới 2,741 tỷ USD, bằng 2,84% tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước [78]
Thứ ba, mở rộng thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam tới gần 100 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ 2 thế giới về sản lượng (sau Brazil) và là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê vối (Robusta)
Bên cạnh những thành tựu nổi bật thì ngành cà phê Việt Nam cũng bộc lộ những hạn chế mà nếu không có những giải pháp khắc phục kịp thời thì rất có thể sẽ mất đi những cơ hội lớn do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, đồng thời không thể phát triển ngành cà phê Việt Nam, một trong những ngành nông nghiệp mà sản phẩm có giá trị cao, thị trường tiêu thụ rộng lớn trên toàn cầu Những hạn chế chủ yếu là:
Trang 12Một là, đời sống của những hộ gia đình nông dân trực tiếp trồng cà phê còn gặp
nhiều khó khăn do thu nhập từ sản xuất cà phê thấp và không ổn định, giá xuất khẩu cà phê vối của Việt Nam luôn thấp hơn và hoàn toàn phụ thuộc vào giá xuất khẩu cà phê vối cùng loại, cùng phẩm cấp của các nước khác trong khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê này;
Hai là, chất lượng cà phê của Việt Nam bị các nhà nhập khẩu nước ngoài đánh
giá thấp, trả giá thấp mặc dù chất lượng tự nhiên vốn có của nó không thua kém cà phê cùng loại của các nước khác
Ba là, việc phát triển diện tích cà phê trong các hộ gia đình nông dân còn mang
tính tự phát dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao, một số vùng có quy hoạch thì không
hợp lý và thiếu khoa học như chương trình phát triển 40.000 hecta (ha) cà phê chè bằng
vốn vay của cơ quan phát triển Pháp (AFD), với mức vốn đầu tư dự kiến lên đến 791 tỷ
650 triệu đồng, khởi động từ năm 1997 (Quyết định số 172/QĐ-TTg, ngày 24/3/1997, của Thủ tướng Chính phủ) đến nay hoàn toàn thất bại, đẩy một số gia đình trồng cà phê tại các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Vĩnh Phú, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái (cũ) vào hoàn cảnh nợ nần không có khả năng hoàn trả vốn vay do cho đến hiện nay mới chỉ trồng được 13.500 ha thì có tới 24% diện tích bị mất trắng, 42% diện tích bị đánh giá là quá xấu ít có khả năng cho thu hoạch [27]
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA) đã ban hành một
số văn bản nhằm phát triển ngành cà phê Việt Nam như:
(i) Bộ tiêu chuẩn TCVN 4193:2005 về chất lượng cà phê xuất khẩu;
Trang 13(ii) Nghị định 151/2006/NĐ – CP ngày 20/12/ 2006 của Thủ tướng Chính phủ
về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất nhập khẩu; Nghị định 106/2008/NĐ – CP ngày 19/9/2008, theo đó cà phê thuộc mặt hàng được vay vốn tín dụng xuất khẩu;
(iii) Đề án “Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam đến 2015 và định hướng 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 2635 /QĐ-BNN-CB ngày 26 tháng 8
năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
(iv) Quyết định số 63/2010/QĐ – TTg ngày 15 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản
Nhưng chất lượng cà phê vối, loại sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành cà phê Việt Nam vẫn bị khách hàng nước ngoài đánh giá thấp, trả giá thấp hơn giá xuất khẩu cà phê vối trung bình của thế giới đang làm cho đời sống người nông dân trực tiếp trồng cà phê còn gặp nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước mỗi năm mất đi hàng trăm triệu USD
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với trên 150 quốc gia thành viên, chiếm trên 2/3 dân số của toàn cầu đã mang đến cơ hội lớn cho ngành cà phê Việt Nam trong việc đưa sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu nhưng nó cũng tiềm ẩn những thách thức không nhỏ như: tiếp tục duy trì và nâng cao sản lượng xuất khẩu để giữ vững vị trí
là quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai thế giới về sản lượng và là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về cà phê vối, nâng cao giá và kim ngạch xuất khẩu để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho những người nông dân trực tiếp sản xuất ra cà phê, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường phù hợp với quy định của tổ chức Thương mại Thế giới,
Để phát huy những cơ hội và vượt qua những thách thức trên thì việc nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống vật chất và tinh thần cho những hộ gia đình nông dân trực
Trang 14tiếp trồng cà phê đóng vai trò quyết định, bởi chính hộ gia đình trồng cà phê là những người tạo ra các hạt cà phê để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
nhằm thu ngoại tệ về cho quốc gia Đó chính là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài “Thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế” để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế học của mình
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các lý thuyết kinh tế liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp nói chung và hộ gia đình trồng cà phê nói riêng, xác định các yếu tố chủ yếu tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng
cà phê để trên cơ sở đó xây dựng mô hình lượng hóa các yếu tố chủ yếu tác động đến thu nhập trên 01 ha vườn cà phê của hộ gia đình trồng cà phê tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam, nơi tập trung 90,48% diện tích và cung cấp 92,61% sản lượng cà phê xuất khẩu [Phụ lục 8], sau đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê mà chỉ có một số ít luận án tiến sĩ, báo cáo nghiên cứu và luận văn cao học có đề cập đến mặt hàng cà phê và sự phát triển của ngành cà phê Việt Nam như:
- Đề tài: “Một số giải pháp kinh tế nhằm phát triển bền vững cà phê vùng Tây Nguyên”, luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Liêm, thực hiện năm 2003
tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Luận án được thực hiện trên cơ sở lý thuyết của chuyên ngành Kinh tế, Quản lý và kế hoạch hóa Kinh tế Quốc dân, nội dung luận án mới chỉ tập trung ở việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vũng cà phê ở Tây Nguyên trên cơ sở các lý thuyết ngành quản trị kinh doanh, chưa làm rõ các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trực tiếp trồng cà phê Việt Nam trên cơ sở lý thuyết của kinh tế học
Trang 15- Đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế”, luận án tiến sĩ chuyên
ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế của nghiên cứu sinh Ngô Thị Tuyết Mai, thực hiện năm 2007 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Nội dung của luận án đã phân tích khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam trên cơ sở lý thuyết ngành quản trị kinh doanh trong đó có đề cập đến khả năng cạnh tranh của mặt hàng cà phê của Việt Nam nhưng chưa sâu
- Đề tài: “Năng lực cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế Chính trị của nghiên cứu
sinh Vũ Trí Tuệ, thực hiện năm 2012 tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Nội dung luận án tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của ngành cà phê trên cơ sở lý thuyết của chuyên ngành kinh tế chính trị và có đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành cà phê Việt Nam như đẩy mạnh áp dụng tiến
bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất và kinh doanh cà phê, đẩy mạnh tập trung kinh tế trong ngành, hoàn thiện tổ chức ngành hàng cà phê, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ nâng cao năng lục cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu về: “Ảnh hưởng của thương mại cà phê toàn cầu đến người trồng cà phê tỉnh Đắc Lắc – Phân tích và khuyến nghị chính sách” do Trung
tâm thông tin Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Oxfam Anh và Oxfam Hồng
kông, thực hiện năm 2002 Nội dung đề tài tập trung phân tích tác động tiêu cực của tự
do thương mại và sự lệ thuộc vào xuất khẩu ngày càng tăng của các quốc gia sản xuất
cà phê, theo đó khi giá xuất khẩu tăng làm các quốc gia mở rộng diện tích trồng cà phê dẫn tới sản lượng cà phê trên thế giới tăng và làm giá cà phê trên thị trường thế giới giảm làm ảnh hưởng trực tiếp đến người trồng cà phê
Trang 16- Đề tài nghiên cứu về: “Toàn cầu hóa, thương mại và đói nghèo – Bài học từ ngành cà phê Việt Nam”, của Phan Sỹ Hiếu, Trung tâm thông tin Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, thực hiện năm 2003 Nội dung đề tài nghiên phân tích mặt tiêu cực của toàn cầu hóa, đó là: sự nổi lên của các tập đoàn đa quốc gia, trong đó chỉ 5 tập đoàn lớn nhất (Phillipps Morris, Nestle’, P&G, T Chibo, Sara Lee) thâu tóm tới 70 sản lượng cà phê giao dịch của thế giới; và sự biến động của giá cà phê thế giới mà nguyên nhân chủ yếu là do các cú sốc về cung chứ không phải về cầu
- Đề tài nghiên cứu về: “Báo cáo nghiên cứu ngành cà phê – báo cáo số
29358 - VN ”, do Ban Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc Ngân hàng Thế giới
thực hiện tháng 6/2004 Nội dung báo cáo đã nêu được tổng quan và đánh giá thực trạng của ngành cà phê Việt Nam trong đó nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc xây dựng mạng lưới các thể chế hoạt động tốt, minh bạch và năng động cùng với việc xây dựng chương trình hành động hài hòa, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho người nông dân
- Đề tài nghiên cứu về: “Giải pháp nhằm tổ chức lại sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê ở tỉnh Daklak trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên cứu khoa
học cấp cơ sở của PGS.TS Đào Duy Huân, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2004) Tại đề tài này mới chỉ đề cập đến việc đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cà phê tại tỉnh Đắc Lắc và đề xuất giải pháp phát triển sản xuất và kinh doanh cà phê tại địa phương này
- Đề tài: “Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả kinh tế cây cà phê tỉnh Đắc Nông”, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế phát triển của học viên
Phạm Văn Toản, thực hiện năm 2008 tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17- Đề tài: “Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành thương
mại của học viên Huỳnh Kim Long, thực hiện năm 2009 tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Như vậy vẫn chưa có một đề tài nào về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện ở tầm luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế học
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Luận án sẽ làm rõ cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc
tế để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông dân trồng cà phê tại Những mục tiêu cụ thể của luận án là:
Thứ nhất là, từ lý luận và thực tiễn kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm đảm
bảo thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê tại các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam;
Thứ hai là, phân tích thực trạng và lượng hóa các yếu tố tác động đến thu nhập
của hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam;
Thứ ba là, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng
cà phê tại Việt Nam trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án: luận án tập trung nghiên cứu thu nhập của
hộ gia đình từ trồng cà phê và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trồng
cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 18Phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Về nội dung: luận án nghiên cứu các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của từng
yếu tố đến thu nhập từ trồng cà phê của hộ gia đình nông dân
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập
từ sản xuất cà phê của các hộ gia đình nông dân trồng cà phê tại Việt Nam từ năm 1994 đến năm 2011, đây là khoảng thời gian Việt Nam chính thức hội nhập trở lại với nền kinh tế thế giới sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập từ sản xuất cà phê của các hộ gia đình trồng cà phê tại khu vực Tây Nguyên trên địa bàn các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum, đây là nơi tập
trung 90,1% diện tích và cung cấp trên 92,61% tổng sản lượng cà phê của cả nước
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp tổng hợp và phân tích, thống kê mô tả, so sánh, đối chiếu, quy nạp, phân tích hồi quy đa biến, duy vật biện chứng, và lịch sử logích, trong đó:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích để làm rõ mục tiêu thứ nhất của luận án,
theo đó từ các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp nói chung như nhóm lý thuyết liên quan đến khối lượng sản phẩm tại các
hộ gia đình nông dân, nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại các hộ gia đình nông dân, nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm tại các hộ gia đình nông dân kết hợp với nghiên cứu đặc điểm thu nhập của các hộ gia đình trồng cà phê trên thế giới và kinh nghiệm đảm bảo thu nhập cho các hộ gia đình trồng cà phê tại
Trang 19các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trồng cà phê tại Việt Nam;
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh, đối chiếu, quy nạp và phân tích hồi quy đa biến để làm rõ mục tiêu thứ hai của luận án là đánh giá thực trạng các yếu tố chủ yếu tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê;
- Phương pháp duy vật biện chứng, và lịch sử logích để thực hiện mục tiêu thứ
ba của luận án là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam
Nguồn số liệu sử dụng:
- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ Niên giám Thống kê của các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam trong khoảng thời gian 1994 - 2011;
- Số liệu sơ cấp: được thu thập từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ gia đình nông dân hoặc người trực tiếp quản lý vườn cà phê tại 02 (hai) tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, là 02 địa phương có diện tích trồng cà phê lớn nhất cả nước, có đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp cho cả 2 loại cà phê có tính thương mại cao trên thị trường thế giới là cà phê chè và cà phê vối trong đó cà phê vối phát triển tốt nhất tại tỉnh Đắc Lắc và một số khu vực vùng thấp của tỉnh Lâm Đồng, còn cà phê chè phát triển tốt tại tỉnh Lâm Đồng trên các cao nguyên có độ cao trung bình từ 800 – 1500 mét
so với mực nước biển, khí hậu hậu ôn đới rất phù hợp với sự phát triển loại cà phê này
Quy trình nghiên cứu:
Từ cơ sở lý thuyết và mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả xây dựng bảng câu hỏi và trực tiếp khảo sát thử 10 hộ gia đình trồng cà phê tại vùng nghiên cứu để xem xét mức độ phù hợp của bảng câu hỏi, sau đó điều chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp với khả năng trả lời của người nông dân trước khi tiến hành khảo sát chính thức
300 chủ hộ gia đình hoặc người trực tiếp quản lý vườn cà phê đang trong thời kỳ thu
Trang 20hoạch trên địa bàn 22 xã thuộc 08 huyện của 2 tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng Số liệu thu thập từ thực tế được làm sạch và xử lý bằng phần mền SPSS để lượng hóa các yếu tố đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê Quy trình nghiên cứu cụ thể của luận án được thể hiện tại hình 1.0 dưới đây
Hình 1.0: Quy trình nghiên cứu của luận án
Từ kết quả phân tích thống kê kết hợp với kết quả mô hình hồi quy tuyến tính, đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Báo cáo kết quả nghiên cứu
Khảo sát chính thức
Khảo sát thử (10 hộ)
Xây dựng thang đo đánh giá
kiến thức nông nghiệp của
chủ hộ gia đình trồng cà phê
Trang 216 Những đóng góp của luận án
Với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, luận án sẽ đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Một là, xác định được các yếu tố tác động chủ yếu đến thu nhập của hộ gia đình
trồng cà phê tại Việt Nam trên cơ sở tổng hợp các nhóm lý thuyết liên quan thu nhập của hộ gia đinh nông dân, đặc điểm thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trên thế giới
và kinh nghiệm đảm bảo thu nhập cho các hộ gia đình trồng cà phê tại các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới như Brazil, Colombia, Indonesia
Hai là, phân tích thực trạng, lượng hóa và làm rõ tác động của từng yếu tố chủ
yếu đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh
tế quốc tế;
Ba là, đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông
dân trực tiếp trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
7 Tên và kết cấu của luận án
Tên luận án: thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam
hội nhập kinh tế quốc tế
Kết cấu của luận án: ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: lý luận về thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: thực trạng thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: một số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê
trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 22CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ
TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê và các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê
1.1.1 Thu nhập hộ gia đình nông dân và hộ gia đình nông dân trồng cà phê
Michael P Todaro (1998) cho rằng: thu nhập của hộ gia đình nông dân là số lượng hàng hóa và dịch vụ vật chất mà hộ gia đình nông dân có thể dùng thu nhập bằng tiền của họ mua được, với thu nhập bằng tiền chỉ đơn giản là tổng số tiền mà hộ gia đình kiếm được hàng tháng, năm [32, tr.76]
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) cho rằng: thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp “chính là phần tiền thưởng cho người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định như đất đai, nguồn vốn và nguồn lao động khi đưa các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm; hay, thu nhập của hộ gia đình nông dân chính là nguồn sản vật hộ gia đình nông dân nhận được mà họ có thể tiêu dùng và tiết kiệm” [110, tr.207] Khi xác định thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của một quốc gia, tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc coi thu nhập của hộ gia đình nông dân như là thu nhập của một doanh nghiệp tự làm chủ (Entrepereurial Income) [110, tr.210], theo đó:
Thu nhập hộ gia đình = Tổng giá trị nông sản (doanh thu và tiêu dùng gia đình)
- Chi phí các yếu tố sản xuất trung gian đầu vào
- Chi trả nguồn vốn đã tiêu dùng
- Chi thuê lao động
- Chi trả lãi suất và chi trả tiền thuê đất
Trang 23Tại Việt Nam, trong xác định thu nhập của hộ gia đình nông dân, Tổng cục Thống kê đã đưa ra khái niệm cho rằng: “Thu nhập của hộ gia đình nông dân là toàn bộ
số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền mà chủ hộ và các thành viên trong gia đình nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm), sau khi lấy tổng doanh thu từ bán các sản phẩm đã sản xuất được trong năm trừ đi các khoản chi phí để sản xuất những sản phẩm đó” [50]
Từ quan điểm của Michael P Todaro, quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc và thực tế xác định thu nhập của hộ gia đình nông dân tại Việt Nam ta thấy rằng thu nhập trong năm của hộ gia đình nông dân chính là phần tiền còn lại của hộ gia đình nông dân sau khi lấy doanh thu từ bán các sản phẩm nông nghiệp do hộ gia đình nông dân sản xuất ra trong năm trừ đi các khoản chi phí để sản xuất ra chúng nhưng không bao gồm chi phí lao động của các thành viên trong gia đình trực tiếp tham gia vào các quá trình tạo ra sản phẩm, bởi các thành viên trong gia đình tham gia vào sản xuất là để giảm chi phí thuê lao động ngoài gia đình và tạo ra thu nhập cho chính gia đình họ Như vậy, thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê là phần tiền còn lại của hộ gia đình nông dân sau khi lấy tổng doanh thu từ bán cà phê trừ đi các khoản chi phí không bao gồm chi phí lao động gia đình đã tham gia vào các quá trình sản suất để tạo ra tổng sản lượng cà phê của hộ gia đình trong năm Các chi phí ngoài chi phí lao động của gia đình tham gia vào quá trình sản xuất cà phê trong năm gồm: (i) các chi phí trung gian đầu vào cho sản xuất cà phê như chi nước tưới, chi phân bón, thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật, chi mua hoặc thuê thiết bị cơ giới để thay thế lao động thủ công; (ii) chi hoàn trả các khoản chi phí đầu tư ban đầu để hình thành vườn cà phê trong giai đoạn trước đó được phân bổ đều trong suốt thời kỳ thu hoạch của cây cà phê; (iii) chi phí thuê lao động ngoài gia đình để thực hiện các công việc như làm cỏ, bón phân, tỉa cành chăm sóc cây cà phê, thu hái và sơ chế biến cà phê tại gia đình; (iv) chi trả lãi vay cho các nguồn vốn đưa vào sản xuất cà phê trong năm
Trang 241.1.2 Các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân và hộ gia đình trồng cà phê trong hội nhập kinh tế quốc tế
Từ các quan điểm cho rằng thu nhập hộ gia đình nông dân bằng tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí (không bao gồm chi phí lao động của các thành viên trong gia đình tham gia vào các quá trình sản xuất), trong đó tổng doanh thu bằng tổng sản lượng sản phẩm mà hộ gia đình sản xuất ra trong năm nhân cho giá bán mỗi đơn vị sản phẩm, và tổng chi phí bằng tổng sản lượng sản phẩm nhân cho chi phí sản xuất mỗi một đơn vị sản phẩm Ta thấy rằng, thu nhập của hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào: (i) tổng sản lượng sản phẩm mà hộ gia đình nông dân sản xuất ra trong năm, (ii) giá bán mỗi một đơn vị sản phẩm mà họ đã sản xuất, và (iii) chi phí để sản xuất ra tổng sản lượng sản phẩm đó, theo đó các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân gồm:
1.1.2.1 Nhóm lý thuyết liên quan đến sản lượng sản phẩm của hộ gia đình nông dân
Sản lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thu nhập của hộ gia đình nông dân Các lý thuyết liên quan đến sản lượng sản phẩm mà hộ gia đình nông dân sản xuất ra trong năm là:
Lý thuyết về mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào cho
biết, sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào có mối quan hệ tương quan mật thiết với nhau, sản lượng đầu ra phụ thuộc rất lớn vào việc phối hợp các yếu tố đầu vào với các
tỷ trọng khác nhau sao cho đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Trong thực tế người ta thường sử dụng hàm sản xuất để thể hiện mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra với các yếu tố đầu vào, hàm sản xuất có dạng [20, tr.23]:
Y = f(Xi)
Trong đó:
Trang 25Y: Là sản lượng đầu ra;
Xi: Là các yếu tố đầu vào thứ i
Trong sản xuất các yếu tố đầu vào được chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Là nhóm vốn (K), gồm các yếu tố chính như nhà xưởng, đất đai, máy
móc và nguyên nhiên vật liệu, đây là nhóm các tư liệu sản xuất thể hiện quy mô sản xuất Trong sản xuất nông nghiệp các yếu tố đầu vào chính thuộc nhóm vốn là đất, hệ thống tưới nước, máy móc nông nghiệp, sân phơi, gia súc làm việc, giống cây trồng, phân bón, thuốc hóa học, nguyên vật liệu
Nhóm 2: Là lao động (L) được đề cập cả về số lượng và chất lượng lao động
trong đó chất lượng lao động bao hàm những yếu tố phi vật chất như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất
Nhóm 3: Là nhóm các yếu tố tăng năng suất tổng hợp (TFP - Total Factor
Productivity) điển hình như công nghệ sản xuất, thể chế chính trị
Hàm sản xuất một mặt cho biết sản lượng đầu ra từ việc kết hợp một lượng các yếu tố đầu vào, mặt khác cũng cho biết lượng yếu tố đầu vào cần sử dụng ứng với mỗi
kỹ thuật để sản xuất ra mức sản lượng đầu ra theo ý muốn Mối quan hệ phụ thuộc giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào trong ngắn hạn và trong dài hạn có những đặc tính riêng do khả năng thay đổi các yếu tố đầu vào trong ngắn hạn và trong dài hạn khác nhau, theo đó:
Trong ngắn hạn, các yếu tố đầu vào cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc
thiết bị phục vụ cho sản xuất không dễ dàng thay đổi nên việc muốn tăng hay giảm sản lượng trong ngắn hạn chỉ có thể thực hiện được bằng cách thay đổi các yếu tố đầu vào biến đổi như nguyên, nhiên liệu, lao động trực tiếp Trong nông nghiệp, các yếu tố đầu vào biến đổi trong ngắn hạn chủ yếu là phân bón, nước tưới và lao động nhưng việc gia
Trang 26tăng lượng yếu tố đầu vào không phải lúc nào cũng làm cho sản lượng tăng lên Theo quy luật năng suất biên giảm dần [19, tr.430], giai đoạn đầu khi tăng lượng yếu tố đầu vào năng suất biên và năng suất trung bình của yếu tố đó đều tăng dần lên dẫn đến sản lượng tăng nhanh, nhưng khi sản lượng tăng đến một mức nhất định thì sẽ làm cho năng suất trung bình và năng suất cận biên của yếu tố đó cùng giảm dần cho đến khi năng suất cận biên < 0 thì sản lượng giảm, các mối quan hệ này được thể hiện bằng các biểu thức dưới đây:
Ta có: APx = YX và MPx = ∆Y
∆X Trong đó:
APx: Là năng suất trung bình của yếu tố đầu vào biến đổi;
MPx: Là năng suất biên của yếu tố đầu vào biến đổi X;
X: Là số lượng yếu tố đầu vào biến đổi X; Y: Là tổng sản lượng
Trong dài hạn, tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể biến đổi, do đó khả năng
thay đổi sản lượng đầu ra trong dài hạn sẽ lớn hơn trong ngắn hạn, sản lượng đầu ra trong dài hạn phụ thuộc vào tất cả các yếu tố đầu vào và sẽ quyết định quy mô của sản xuất trong dài hạn Hiệu suất của việc gia tăng quy mô sản xuất có thể xảy ra một trong
ba trường hợp sau:
Trang 27Trường hợp 1: Tỷ lệ tăng sản lượng bằng tỷ lệ tăng của các yếu tố đầu vào được
gọi là hiệu suất không đổi theo quy mô
Trường hợp 2: Tỷ lệ tăng sản lượng lớn hơn tỷ lệ tăng của các yếu tố đầu vào
được gọi là hiệu suất tăng theo quy mô, thể hiện tính kinh tế của quy mô
Trường hợp 3: Tỷ lệ tăng sản lượng thấp hơn tỷ lệ tăng của các yếu tố đầu vào
được gọi là hiệu suất giảm theo quy mô, thể hiện tính phi kinh tế của quy mô
Như vậy lý thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra cho thấy khi chi phí đầu vào càng thấp hoặc thay đổi cơ cấu chi phí đầu vào làm chi phí đầu vào thấp hơn trong khi giữ nguyên hoặc gia tăng sản lượng đầu ra cao hơn chính là điều kiện để nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông dân
Lý thuyết về lao động và năng suất lao động trong nông nghiệp
Park Sung Sang (1992) [19, Tr.199] cho rằng, trong giai đoạn phát triển, sản
lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật…vv Theo ông, sản lượng nông nghiệp tăng là nhờ vào việc ứng dụng thành tựu mới của công nghệ sinh học vào trong sản xuất với đặc điểm công nghệ sinh học là vẫn tiếp tục hữu dụng hóa tối đa lao động nông nghiệp
Như vậy, có thể thấy rằng sản lượng sản phẩm của hộ gia đình nông dân phụ thuộc rất lớn sự phát triển của công nghệ sinh học, việc ứng dụng thành công thành tựu của khoa học và công nghệ làm tăng sản lượng, tăng năng suất đất, nâng cao năng suất
lao động của người nông dân và qua đó nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông dân
Lý thuyết về vốn trong sản xuất nông nghiệp
Harrod – Domar (1940) [19] cho rằng, đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào hoặc
toàn bộ nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn sản xuất Sự thay đổi quy mô vốn sản xuất sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi tổng sản lượng đầu ra Theo ông, tăng trưởng sản
Trang 28lượng trong nông nghiệp phụ thuộc vào vốn đầu tư hàng năm tăng thêm cho sản xuất, theo đó vốn đầu tư càng cao thì sản lượng sản xuất nông nghiệp càng cao
Như vậy, trong sản xuất nông nghiệp để duy trì tốc độ tăng trưởng sản lượng cần phải duy trì nguồn vốn đầu tư cho các yếu tố đầu vào của sản xuất nhằm nâng cao
độ màu mỡ của đất đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các lớp huấn luyện nhằm trang bị kiến thức sản xuất nông nghiệp cho người nông dân
Lý thuyết về thay đổi công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
Nicholas Kaldor (1957) cho rằng, trong quá trình sản xuất, phát minh và đổi mới công nghệ là để tiết kiệm các yếu tố đầu vào nhưng vẫn có thể sản xuất ra mức sản lượng như cũ với chất lượng tốt hơn Theo ông, nguồn gốc tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật tức là trình độ công nghệ (Technogy, T) [19], nó không chỉ làm tăng sản lượng mà còn làm tăng chất lượng của sản phẩm Ngày nay công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mền trong đó:
Phần cứng là máy móc, nhà xuởng, thiết bị,
Phần mềm là kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, bí quyết sản xuất, qui trình công nghệ, phương pháp tổ chức, bố trí sắp xếp, điều phối và quản lý các nguồn lực của sản xuất
Tóm lại: Nhóm lý thuyết về sản lượng cho thấy, trong sản xuất nông nghiệp sản lượng đầu ra phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố đầu vào như nguồn đất đai, nguồn vốn, nguồn nhân lực và sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật Trong đó nguồn vốn và sự tiến
bộ của khoa học và công nghệ đóng vai trò then chốt, vì thông qua những yếu tố này có thể tạo ra các loại giống cây trồng mới cho năng suất cao, chất lượng cao, có sức đề kháng tốt, có khả năng tránh được các loại sâu bệnh, có khả năng thích nghi với sự biến đổi của khí hậu và cải tạo độ màu mỡ của đất đai Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông qua các lớp đào tạo chuyển giao
Trang 29kiến thức sản xuất nông nghiệp cho người nông dân, qua đó giúp họ giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động để nâng cao thu nhập cho chính gia đình họ
1.1.2.2 Nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại hộ gia đình nông dân
Giá bán sản phẩm là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định đến thu nhập của hộ gia đình nông dân, là động lực cơ bản để các hộ gia đình nông dân quyết định chọn loại cây trồng hoặc vật nuôi mà họ kỳ vọng sẽ mang lại cho họ mức thu nhập cao nhất để nuôi sống họ và các thành viên trong gia đình họ trên cơ sở các nguồn lực khan hiếm của gia đình Giá hàng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó các yếu tố cơ bản nhất tác động đến giá hàng hóa trên thị trường là quan hệ giữa lượng hàng hóa từ các nhà sản xuất và lượng cầu hàng hóa của người tiêu dùng, và các chính sách điều tiết của chính phủ liên quan đến việc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm trên thị trường Từ đó, giá bán hàng hóa phụ thuộc vào:
Quan hệ cung - cầu hàng hóa trên thị trường
Quy luật cầu hàng hóa cho biết: nếu các yếu tố khác không thay đổi, thì khi giá
của một hàng hóa tăng lên, lượng cầu về hàng hóa đó sẽ giảm xuống [33, tr 81] Theo
đó lượng cầu của một hàng hóa trên thị trường có quan hệ nghịch biến với giá cả của chính nó trên thị trường
Quy luật cung hàng hóa cho biết: nếu những yếu tố khác không thay đổi thì khi
giá một hàng hóa tăng, lượng cung về hàng hóa đó cũng tăng và khi giá một hàng hóa giảm thì lượng cung của hàng hóa đó cũng giảm [33, tr 89] Theo đó lượng cung hàng hàng hóa trên thị trường có mối quan hệ thuận với giá cả của chính nó trên thị trường
Như vậy, quy luật cung cầu hàng hóa trên thị trường cho thấy, giá hàng hóa trên thị trường bị tác động chủ yếu bởi quan hệ cung cầu, khi lượng cầu về một hàng hóa tăng lên thì giá cả hàng hóa đó sẽ tăng lên và ngược lại khi lượng cầu về một hàng hóa
Trang 30giảm xuống thì giá cả hàng hóa đó cũng sẽ giảm xuống Trong thực tế giá hàng hóa trên thị trường có vai trò làm cho lượng cung cầu hàng hóa và lượng cầu hàng hóa trên thị trường tự động điều chỉnh đến một mức cân bằng giữa lượng cung của nhà sản xuất với lượng cầu của người tiêu dùng
Chính sách của chính phủ
Sản xuất nông nghiệp gắn liền với các hoạt động đời sống thường ngày của đại
bộ phận dân số ở các nước chậm và đang phát triển Sản phẩm của nông nghiệp không chỉ đáp ứng cho nhu cầu lương thực, thực phẩm thiết yếu cho chính người nông dân trực tiếp sản xuất ra nó mà còn cung cấp lương thực thực phẩm cho khu vực thành thị
và thực hiện chức năng giữ gìn an ninh lương thực cho quốc gia chính vì thế hầu hết chính phủ các quốc gia đều có những chính sách bảo vệ và khuyến khích phát triển nông nghiệp thông qua các chính sách nhằm tác động vào giá nhằm đảm bảo thu nhập
và đời sống của người nông dân Các chính sách mà chính phủ các nước thường sử dụng là: quy định giá sàn trong thu mua các sản phẩm của người nông dân, quy định giá trần đối với các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, cũng như áp chính sách thuế suất về xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thuế suất xuất khẩu và nhập khẩu các thiết bị, vật tư đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Tóm lại: Nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm cho thấy, trong sản xuất nông nghiệp giá sản phẩm trên thị trường không những bị chi phối bởi quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường mà còn bị chi phối của các chính sách điều tiết giá cả của chính phủ các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông dân
1.1.2.3 Nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất tại hộ gia đình nông dân David Ricardo (1772 – 1823) [19] cho rằng, trong sản xuất nông nghiệp chi phí sản xuất ngày càng có xu hướng tăng lên dẫn đến lợi nhuận thu được của nhà sản xuất
Trang 31giảm xuống Do sản xuất nông nghiệp là gắn liền với đất đai, mà đất đai trong sản xuất nông nghiệp lại có giới hạn trong khi dân số ngày càng tăng đòi hỏi lương thực và việc làm tăng dẫn đến người sản xuất phải mở rộng sản xuất trên những diện tích đất xấu hơn làm cho chi phí sản xuất ngày càng tăng lên và làm giảm thu nhập của họ
Từ đó có thể thấy rằng, trong sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chi phí sản xuất phụ thuộc vào độ màu mỡ của đất đai Độ màu mỡ của đất canh tác càng thấp, chí phí sản xuất càng cao và ngược lại khi độ màu mỡ của đất càng cao thì càng có điều kiện để giảm các chi phí trung gian đầu vào, giảm chi phí về công lao động và như vậy làm tăng thu nhập cho hộ gia đình nông dân
1.1.2.4 Nhóm lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế đang mang lại lợi ích thiết thực cho các quốc gia Ngay
từ thế kỷ 18, ADam Smith (1723 – 1790), đưa ra lý thuyết “Lợi thế tuyệt đối” trong
thương mại quốc tế, ông cho rằng: Các quốc gia nên chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối như tài nguyên nhiều, dễ khai thác, lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ cho sản lượng nông nghiệp cao, chi phí thấp để xuất khẩu những hàng hóa đó và nhập khẩu những hàng hóa mà họ không có lợi thế tuyệt đối [46];
Phát triển lý thuyết tuyệt đối của ADam Smith, David Ricardo (1772 -1823) đã
đưa ra lý thuyết “Lợi thế so sánh”, ông cho rằng: Mọi quốc gia luôn có thể và rất có lợi
khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, mỗi nước chỉ nên chuyên môn hóa vào sản xuất một sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hóa của mình đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác [46];
Eli Hecksher (1879 – 1952) và Berti O.hlin (1899 – 1979) trong lý thuyết “Tỷ lệ
các yếu tố” cho rằng: Trong một nền kinh tế mở cửa, các nước có thiên hướng xuất
khẩu hàng hóa cần nhiều yếu tố sản xuất mà nước họ có dồi dào [29, tr146];
Trang 32Paul R.Krugman và Maurice Obtefeld (1996) trong “Lý thuyết lợi ích kinh tế theo quy mô” cho rằng: Thương mại không nhất thiết nảy sinh từ lợi thế so sánh, thay
vào đó, nó có thể phát sinh từ lợi tức tăng dần hoặc lợi thế kinh tế nhờ quy mô – tức là,
từ xu thế sản lượng càng lớn, chi phí sản xuất càng thấp Lợi thế kinh tế nhờ quy mô khuyến khích các nước đi vào chuyên môn hóa và mậu dịch, ngay cả khi giữa chúng không có sự khác biệt về tài nguyên hay công nghệ [29]
Như vậy nhóm lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế cho thấy mọi quốc gia đều
có lợi khi tham gia thương mại quốc tế để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của quốc gia, đồng thời chia sẻ các nguồn lực kinh tế của các quốc gia khác thông qua một thị trường và khách hàng rộng lớn trên phạm vi toàn cầu Hội nhập kinh
tế quốc tế là điều kiện để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, cho phép cả các quốc gia không có bất kỳ lợi thế so sánh nào vẫn có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế nếu
họ biết xây dựng quy mô sản xuất đủ lớn để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và thực hiện xuất khẩu nhập khẩu
Tóm lại, từ các nhóm lý thuyết liên quan đến sản lượng sản phẩm của hộ gia
đình nông dân, nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại hộ gia đình nông dân
và nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất tại các hộ gia đình nông dân ta thấy rằng, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thu nhập của hộ gia đình nông dân bị tác động bởi các nhóm yếu tố sau:
(i) Nhóm yếu tố tác động đến sản lượng sản phẩm của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp gồm: nguồn đất đai, nguồn vốn tích lũy của hộ gia đình nông dân, nguồn lao động và sự tiến bộ của khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp Theo đó, nguồn đất đai thể hiện qua quy mô diện tích đất nông nghiệp mà hộ gia đình dùng cho sản xuất, và các yếu tố còn lại thể hiện qua năng suất cây trồng hay tổng khối lượng sản phẩm mà hộ nông dân có được trên diện tích đất canh tác đó;
Trang 33(ii) Nhóm yếu tố tác động đến giá bán sản phẩm của người nông dân là quan hệ cung cầu sản phẩm đó tại thị trường trong nước và thế giới, và các chính sách điều tiết của chính phủ liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của người nông dân;
(iii) Nhóm yếu tố tác động đến chi phí sản xuất tại hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào độ màu mỡ của đất đai, các chi phí sản xuất đầu vào chủ yếu như: chi nước tưới, chi phân bón, chi thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật, chi thuê lao động ngoài gia đình, và chi phí cho các nguồn vốn tăng thêm để phục vụ sản xuất trong năm
(iv) Nhóm yếu tố tác động từ hội nhập kinh tế quốc tế liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng ra ngoài biên giới của quốc gia và khả năng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của người nông dân thể hiện bằng việc thay đổi thói quen sản xuất cũ, ứng dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ để giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng nước ngoài
1.1.3 Đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trên thế giới
Cà phê là một loại cây nông nghiệp có thời kỳ kiến thiết cơ bản khoảng 3 đến 4 năm và cho thu hoạch quả trong khoảng thời gian từ 20 đến 25 năm Từ cơ sở lý thuyết
ta thấy rằng thu nhập hộ gia đình trồng cà phê phụ thuộc vào sản lượng cà phê mà hộ gia đình sản xuất ra trong năm, giá bán các sản phẩm cà phê tại các hộ gia đình nông dân và chi phí để sản xuất cà phê tại các hộ gia đình, theo đó:
1.1.3.1 Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê của hộ gia đình nông dân Sản lượng cà phê tại hộ gia đình nông dân phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:
(i) Nguồn đất đai, thổ nhưỡng
Cây cà phê chỉ phát triển tốt trong khu vực vĩ tuyến từ 250 Bắc đến 250 Nam của địa cầu [114], cây cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, song yêu cầu bắt
Trang 34buộc đất phải có tầng dày trên 01 mét và mạch nước ngầm thấp hơn 02 mét, không bị ngập úng để thỏa mãn nhu cầu háo khí của bộ rễ và sự hoạt hóa của các chất dinh dưỡng [30] Cây cà phê cho sản lượng cao nhất khi được trồng trên đất Bazan có độ dày tầng đất canh tác tối thiểu 70 cm, dung trọng nhỏ hơn 0,9 g/cm2, độ xốp > 63%
(ii) Năng suất của cây cà phê
Trong khoảng 30 năm qua với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã cải thiện năng suất và chất lượng cà phê trên toàn thế giới, sản lượng cà phê đã liên tục tăng lên đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng toàn cầu Vào những năm 1980, sản lượng cà phê của thế giới chỉ khoảng 60 triệu bao/năm thì đến năm 2011 tổng sản lượng cà phê của thế giới đã là 130,970 triệu bao/năm [Phụ lục 3], gấp hơn 2 lần sản lượng của năm 1980 Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã thay đổi kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế biến làm cho năng suất cà phê tại các hộ gia đình trồng cà phê ngày càng cao với chi phí sản xuất ngày càng thấp Cây cà phê cho sản lượng cao và chất lượng cao khi:
Một là, được trồng tại nơi có độ dốc và độ cao của rẫy không quá 100, gần sông, suối, hồ nước để thuận tiện trong việc tưới nước;
Hai là, được trồng bằng cây giống ươm tạo bằng phương pháp lai ghép, vô tính;
Ba là, được thu hái khi quả cà phê đã chín đỏ đồng đều và thực hiện sơ chế bằng
phương pháp chế biến ướt, trong trường hợp sử dụng phương pháp chế biến khô thì
nhất thiết phải phơi khô trên sân xi măng hoặc sấy khô bằng máy sấy
1.1.3.2 Các yếu tố tác động đến giá bán cà phê tại hộ gia đình nông dân
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu ở các quốc gia có nền kinh tế chậm và đang phát triển nhưng sản phẩm lại chủ yếu được tiêu thụ tại các quốc gia có nền kinh tế và công nghiệp phát triển do vậy hội
Trang 35nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các quốc gia trồng cà phê Giá cà phê trên thị trường được quyết định bởi:
(i) Quan hệ cung cầu cà phê trên thị trường thế giới
Trên thế giới có khoảng 75 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng cà phê nhưng trong
đó chỉ có 54 quốc gia có khả năng cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng ở ngoài quốc gia [120] Lượng cung cà phê của các nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới thể
hiện trong bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.1 Lượng cung cà phê của các nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới
Trang 36Bảng 1.1 cho thấy, chỉ riêng 7 quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới đã cung cấp tới khoảng 75% tổng lượng cung cà phê của thế giới trong đó 2 quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới là Brazil và Việt Nam cung cấp
ổn định khoảng 50% như vậy có thể thấy rằng giá bán cà phê trên thị trường thế giới phụ thuộc và lượng cung của 7 quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới trong đó Việt Nam và Brazil đóng vai trò quan trọng
Trong năm năm vừa qua lượng cung cà phê trên thị trường thế giới tăng trưởng chậm và thất thường trong khi lượng cầu về cà phê trên toàn cầu luôn tăng trưởng ổn định Bảng 1.2 dưới đây cho thấy lượng cầu cà phê trên toàn thế giới và tại 6 quốc gia tiêu dùng cà phê hàng đầu thế giới trong những năm vừa qua
Bảng 1.2: Lượng cầu cà phê của các quốc gia tiêu thụ nhiều nhất thế giới
Đơn vị tính: nghìn bao (60 kg)
Toàn thế giới 124.627 129.348 132.954 132.225 135.667 137.921
Hoa Kỳ 20.667 21.033 21.436 21.436 21.783 22.043 Brazil 16.133 16.927 17.526 18.583 19.070 19.573
Trang 37Như vậy, trên cơ sở lý thuyết cung cầu ta thấy rằng giá cà phê trên thị trường thế giới phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng và lượng cung cà phê của 7 quốc gia là Brazil, Việt Nam, Indonesia, Colombia, Ethiopia, Ấn Độ, Mehico trong đó lượng cung cà phê của Brazil và Việt Nam đóng vai trò quyết định và lượng cầu cà phê tại 6 quốc gia tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ, Brazil, Đức, Nhật Bản, Ý, Pháp
(ii) Chất lượng cà phê
Cây cà phê thích hợp với nhiệt độ ôn hòa, cường độ ánh sáng cao, có khả năng sống trong biên độ nhiệt độ lớn từ 80
C – 380C, ngưỡng nhiệt độ thích hợp nhất cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê là 150C – 240C đối với cà phê chè và
240C – 300C đối với cà phê vối, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn có tác dụng thúc đẩy hoạt động quang hợp, tích lũy chất khô vào ban ngày và hạn chế tiêu hao vật chất vào ban đêm, nhiệt độ ban đêm càng xuống thấp thì cây cà phê cho chất lượng càng cao, hàng năm vùng trồng cà phê yêu cầu lượng mưa tối thiểu là 1.500 – 3.000
mm [114] phân bổ đều trong 9 đến 10 tháng của năm và cần 1 – 2 tháng khô để cây phân hóa mầm hoa Trên thị trường cà phê thế giới, chất lượng cà phê phân loại cơ bản dựa trên hai giống cà phê chủ yếu là:
- Cà phê chè, là loại cà phê có hàm lượng cafein trong hạt không cao, chỉ
khoảng 0,8 – 1,4 % [114], vị thơm nồng nàn, hơi chua, được nhiều người trên thế giới
ưa chuộng Loại cà phê này chỉ phát triển tốt, cho chất lượng cao khi trồng tại độ cao từ
600 – 1.200 m so với mực nước biển tại vùng cận nhiệt đới (subtropical regions) như Mexico, Jamaica, Zimbabwe, khu vực S Paulo và Minas Gerais của Brazil; và tại những nơi đạt độ cao 1.200 – 2.100 mét so với mực nước biển nếu trồng tại khu vực xích đạo dưới vĩ tuyến 100 như (Kenya, Colombia, and Ethiopia) [114] Giá bán cà phê chè luôn cao hơn giá bán cà phê vối từ 1,6 – 1,86 lần, đôi khi lên tới 2,2 – 2,5 lần khi lượng cung cà phê chè tại các nước sản xuất cà phê chè chủ yếu như Brazil, Colombia
Trang 38bị sụt giảm [81] Các loại cà phê chè và các nước trồng cà phê chè chủ yếu trên thế giới gồm: cà phê chè dịu (Colombia Mild) là loại cà phê được đánh giá là có hương vị thơm ngon hàng đầu thế giới được trồng chủ yếu tại Colombia, Kenya và Tanzania; cà phê chè dịu khác (Other Mild) được trồng tại vùng Trung Mỹ, Ấn Độ; cà phê chè tự nhiên Brazil (Brazil Natural) được trồng tại tại Brazil, Ethiopia
- Cà phê vối, là loại cà phê có mùi thơm nồng, không chua, hàm lượng cafein
trong hạt cao khoảng 1,4 – 4 % [120], ít được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng
Cà phê vối có thể trồng ở độ cao từ 0 đến – 1.000 m (sea level – 3.000 feet) so với mặt nước biển và phát triển tốt nhất tại khu vực vĩ tuyến từ 100 Bắc đến 100 Nam của đường xích đạo Có hai loại cà phê vối được trồng chủ yếu là: Coffea Canephora Var Robusta (thường gọi là cà phê Robusta) và Coffea Canephora Var Kouilou (cà phê Kouilou), trong đó giống Robusta do có sức đề kháng tốt, ít bị ảnh hưởng của các loại sâu bệnh nên chiếm tới 90% diện tích cà phê vối của thế giới [30], được trồng chủ yếu
ở Việt Nam, Indonesia và một số nước Châu Phi,…
Trên thị trường cà phê toàn cầu, mỗi năm người tiêu dùng có nhu cầu tiêu thụ khoảng 2/3 sản lượng là cà phê chè chỉ cần 1/3 sản lượng là cà phê vối Cà phê chè được dùng để làm cà phê rang, xay cho chất lượng cao trong khi cà phê vối chủ yếu được dùng để chế biến thành cà phê hòa tan Nhu cầu tiêu thụ và thị phần của 2 loại cà phê chủ yếu trên thị trường thế giới những năm vừa thể hiện tại bảng 1.3 dưới đây
Bảng 1.3: Thị phần cà phê phân theo nhóm chất lượng sản phẩm
Loại cà
phê/năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Chè (%) 67,75 63,53 68,71 63,51 63,30 61,36 62,90 61,50 59,30 63,50 Vối (%) 32,25 36,47 31,29 36,49 36,70 38,64 37,10 38,50 40,70 36,50
Trang 39(iii) Mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu
Do cà phê được trồng ở các nước chậm và đang phát triển nhưng sản phẩm của
nó lại được tiêu thụ chủ yếu tại các quốc có nền kinh tế và công nghiệp phát triển nên
từ hạt cà phê tươi mà hộ gia đình nông dân thu hái đến thị trường tiêu thụ phải trải qua rất nhiều khâu trung gian khác nhau do nhiều công ty tham gia thực hiện, tại mỗi khâu trung gian hình thái sản phẩm lại được thay đổi và bồi đắp giá trị trong đó giá trị gia tăng cao nhất thuộc nhóm các nhà rang, xay chế biến và các nhà bán lẻ cà phê trên thị trường tiêu dùng Chính từ giá trị gia tăng trong khâu rang xay và chế biến rất cao cho nên các công ty rang xay chế biến cà phê đã thiết lập lên những chuỗi cung ứng cà phê
từ quốc gia sản xuất đến thị trường tiêu thụ trên phạm vi toàn cầu để vừa thu được lợi nhuận cao vừa tạo ra những rào cản đối với các công ty thương mại nhỏ lẻ tại các quốc gia trồng cà phê muốn trực tiếp đưa sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng nước ngoài Chuỗi cung ứng cà phê tiêu biểu trên thị trường thế giới và các hình thái sản phẩm giao dịch trên thị trường thế giới [Phụ lục 5], gồm:
- Cà phê quả tươi, là sản phẩm do các hộ trồng cà phê cung cấp ngay sau khi thu hoạch tại vườn, dạng sản phẩm này có giá trị thấp nhất trong chuỗi cung ứng;
- Cà phê thóc (Parchment Coffee), là hạt cà phê còn vỏ thóc bao bọc nhân và
là dạng trung gian trước khi chuyển sang dạng cà phê nhân, dạng này thường để cất trữ
và lưu thông nội địa từ các hộ gia đình cá thể đến các trung tâm chế biến Hệ số quy đổi từ cà phê thóc sang cà phê nhân được quy định là 0,8;
- Cà phê quả khô (dried coffee cherry), là dạng sản phẩm của quá trình chế biến khô, nó là một dạng sản phẩm trung gian trước khi chuyển thành cà phê nhân sống, trên thị trường giao dịch có thể quy đổi từ cà phê quả khô sang cà phê nhân sống với hệ số quy định là 0,5;
Trang 40- Cà phê nhân (Green been), là nhân của quả cà phê đã tách vỏ sẵn sàng trước khi rang Đây là dạng sản phẩm xuất khẩu chủ yếu từ các nước trồng cà phê, chiếm khoảng 94% sản lượng xuất khẩu trên thế giới;
- Cà phê rang xay (Roasted Coffee), là loại cà phê đã rang chín ở mọi cấp độ, loại cà phê này bao gồm cà phê đã rang và được xay thành sản phẩm sẵn sàng cho sử dụng;
- Cà phê lỏng (Liquid Coffee), là loại cà phê được chế biến từ tinh chất của cà phê và nước dùng để uống liền;
- Cà phê hòa tan (Soluble Coffee), là loại cà phê được làm từ tinh chất của cà phê, có thể uống liền sau khi pha với nước đủ nóng cho chất cà phê tan ra Hiện nay trên thế giới cà phê hòa tan có nhiều loại như cà phê hòa tan nguyên chất, cà phê hòa tan với hỗn hợp đường và chất béo,…
Trong khoảng 30 năm qua thu nhập của người nông dân trực tiếp trồng cà phê
và giá trị gia tăng tại quốc gia sản xuất cà phê ngày càng giảm xuống trong khi đó thu nhập của các công ty rang xay, chế biến và thương mại cà phê tại các quốc gia tiêu thụ lại càng ngày càng có xu hướng tăng lên, nếu vào niên vụ 1984/1985 người trồng cà phê được hưởng khoảng 21,8 % của giá bán lẻ cà phê tại thị trường tiêu thụ thì đến niên vụ 2000/2001 giảm xuống chỉ còn được hưởng khoảng 10,4% trong khi đó thu nhập của các công ty rang xay, chế biến và thương mại cà phê tại các quốc gia tiêu thụ
cà phê lại có xu hướng tăng lên, có năm những các công ty này hưởng tới 81,7% giá cà phê bán lẻ trên thị trường cà phê tiêu dùng [Phụ lục 6]
1.1.3.3 Các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân
Chi phí sản xuất cà phê là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ gia đình nông dân Do cà phê là cây trồng nông nghiệp, chi phí sản xuất phụ thuộc vào độ