1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN hệ PHÁP LUẬT tố TỤNG dân sự

10 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Thảo Luận Tuần 2 Chủ Thể Quan Hệ Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự
Người hướng dẫn Phan Nguyễn Bảo Ngọc
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Dân Sự
Thể loại Bài tập thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 31,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó: nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện; người có nghĩa vụ và quyền lợi liên q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Giảng viên: Phan

Nguyễn Bảo Ngọc NHÓM 10

3 Trần Viễn Khuyên 1853801013088 Phân tích án

5 Nguyễn Đức Minh 1853801013114 Phân tích án

7 Lương Thị Mỹ Linh 1853801013097 Nhận định

Trang 2

01013

Trang 3

Phần 1 Nhận định

1 Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi kiện.

SAI

Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn chỉ cần là người

mà nguyên đơn khởi kiện cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị bị đơn đó xâm phạm Tức là, không chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn mới có thể trở thành bị đơn, mà trên thực tế, mặc dù, bị đơn không gây thiệt hại cho nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị đơn, trong trường hợp bị đơn đó bị nguyên đơn khởi kiện

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015

2 Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm.

ĐÚNG

Căn cứ vào Điều 68 BLTTDS 2015 ta có: tư cách tố tụng của đương sự được hình thành khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự Trong đó: nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện; người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ

Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của mình, tuy nhiên bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì lúc này bị đơn trở thành nguyên đơn dân sự và ngược lại, bên nguyên đơn trở thành bị đơn

Cơ sở pháp lý: Điều 68, BLTTDS 2015

3 Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.

ĐÚNG

Vì nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương

sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện thì họ không được làm người đại diện Hay nói một cách đơn giản, một người không được đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ

án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập nhau

Trang 4

Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự mà quyền và lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này không đối lập với nhau thì một người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự

Cơ sở pháp lý: Điều 87 khoản 1 điểm b BLTTDS 2015

4 Việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.

ĐÚNG

Vì theo Khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì “Trước khi mởphiên tòa,

việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Chánhán Tòa án quyết định.”

5 Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS.

ĐÚNG

Vì theo Khoản 2 Điều 47 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì “khi Chánh ánvắng mặt, một

Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củaChánh án, trừ quyền kháng nghị quy định tại điểm g khoản 1 Điều này.” Ngoài ra, trường hợp

Chánh án TAND phân công cho Phó Chánh án làm thẩm phán giải quyết vụ việc dânsự thì PhóChánh án TAND trở thành người tiến hành tố tụng theo Điều 46 của Luật này

6 Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi trở lên.

SAI

Vì theo khoản 3 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì nếu người đó đã đủ mười tám tuổi trở lên mà là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc thuộc trường hợp pháp luật có quy định khác thì không được xem là người có năng lực tố tụng dân sự đầy đủ

7 Người làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là đương

sự SAI

Vì đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự trong việc dân sự bao gồm: người yêu cầu giải quyết

Trang 5

sinh từ khi Tòa án nhận đơn, thụ lý vụ việc dân sự Do đó,người làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS là nguyên đơn hoặc người yêu cầugiải quyết việc dân sự

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 68 BLTTDS

8 Người chưa thành niên có thể tự mình tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết.

SAI

Vì đối với đương sự là người chưa đủ 6 tuồi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi TTDS Vì vậy, việc thực hiệnquyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 69 BLTTDS

9 Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đươngsự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự.

SAI

Vì Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự thì được phép thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của đương sự như: thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ, thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác, thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản Tố tụng mà Tòa

án tống đạt theo ủy quyền của đương sự…

Cơ sở pháp lý: Điều 76 BLTTDS

10 Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự.

SAI

Vì trường hợp Thẩm phán là người thân thích của người đại diện đương sự có thể xem

đó là căn cứ cho rằng Thẩm phán không vô tư khách quan trong khi làm nhiệm vụ Do

đó, tùy trường hợp cụ thể của mối quan hệ đó mà Thẩm phán sẽ phải từ chối tiến hành

tố tụng hoặc bị thay đổi

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 52 BLTTDS, theo tinh thần Điều 13 NQ 03/2012, Điều

52 BLTTDS

Trang 6

Phần 2 Bài tập

TAND thành phố Y thụ lý một vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T (nguyên đơn) và bà H (bị đơn) và Chánh án đã phân công cho một Thẩm phán B giải quyết Sau đó, Thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Một thời gian sau, Thẩm phán B được điều chuyển công tác về TAND tỉnh P, nên Chánh án TAND thành phố Y đã giao vụ án cho Thẩm phán khác giải quyết

Sau phiên xử sơ thẩm của TAND thành phố Y, đương sự kháng cáo Thẩm phán B được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này Tại phiên tòa, đương sự yêu cầu thay đổi Thẩm phán B Hội đồng xét xử tuyên bố hoãn phiên tòa để thực hiện việc thay đổi Thẩm phán B

Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?

Trình bày:

Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015

Căn cứ theo khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015, B là Thẩm phán đã tham gia giải quyết

vụ án này theo thủ tục sơ thẩm nhưng B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết đối với vụ án này Do đó, B không thuộc trường hợp cần phải bị thay đổi theo quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS

Như vậy, hành vi tố tụng trên của Tòa phúc thẩm là không hợp lý Thẩm phán B không cần phải thay đổi

Phần 3 Phân tích án: Bản án số 135/2017/DS-PT

1 Tóm tắt tình huống

Nguyên đơn ông Diệp Thanh S khởi kiện bà Ngũ Trung T đòi lại nhàđất mà cha mẹ của ông gửi giữ giùm trước khi xuất cảnh theo diện đoàn tụ giađình (1983) Năm 2009, bị đơn cam kết giữ giùm nhà đất, đồng ý trả lại nhà đấtdiện tích 587,8m2, tọa lạc tại K1, số 10/2

Trang 7

sau đó, bị đơn lấy ½ ngôi nhà cùng với ½ thửa đất của mảnh sân trước để xây nhà cho gia đình bà ở mà không có sự đồng ý của ông Diệp Thanh S

Bị đơn bà Ngũ Trung T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguồn gốc đất là của cha mẹ bà thuê của chùa L T từ năm 1940 Năm 1969, mẹ bà có cho ông Diệp L, bà Đỗ Thị D (cha mẹ ruột của nguyên đơn) mượn đất để xây nhà chứ không cho đất Năm 1983, ông L, bà D xuất cảnh sang Pháp nên bà có mua lại căn nhà của ông L, bà D xây trên đất của bà với giá 5 cây vàng, bà T được Ty Xây dựng tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà năm 1984 Ngày 19/6/2009 bà đồng

ý ký vào tờ cam kết là do ông S có ý mua lại căn nhà này với giá 500.000.000đ và cũng là để trốn thuế vì lúc đó bà đang cần tiền để sửa nhà nên bà đồng ý ký vào

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn và người có liên quan trả lại giá trị nhà đất Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo với nội dung: Nhà thì mua của vợ chồng ông Diệp L, đất có nguồn gốc của cha là ông Ngũ M để lại, sau đó mẹ bà làm giấy cho; nhà có sửa chữa khoảng 500.000.000 đồng Ông Võ Văn T (chồng bà T) đồng ý như kháng cáo của bà T, nhà

là tài sản chung của vợ chồng, ông T không ký tên vào Tờ cam kết năm 2009

Hội đồng xét xử nhận định Tòa án cấp sơ thẩm không xác định đúng yêu cầu phản

tố nêu trên của bị đơn, buộc bị đơn và người có liên quan (ông T) thanh toán lại giá trị quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất nhưng chưa quyết định giá trị pháp lý của hợp đồng mua bán nhà giữa ông L với bà T Hợp đồng mua bán nhà năm 1983 vẫn

tồn tại thì không có căn cứ pháp lý để buộc bị đơn bà T và ông T có nghĩa vụ thanh toán tiền giá trị nhà và giá trị quyền sử dụng đất và chịu án phí dân sự Tòa án cấp sơ thẩm buộc thanh toán giá trị nhà đất nêu trên nhưng chưa xem xét,thẩm tra, xác minh công sức bảo quản nhà từ năm 1983 đến nay của vợ chồng bà T Từ nhận định trên, Tòa án cấp phúc thẩm chưa có căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục phúc thẩm, phải hủy bản án để giải quyết lại sơ thẩm

2 Xác định vấn đề pháp lý có liên quan

- Tranh chấp “đòi lại tài sản” giữa Nguyên đơn ông Diệp Thanh S, bà Diệp Minh N kiện Bị đơn-bà Ngũ Trung T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Về phần diện

Trang 8

tích đất và nhà tranh chấp tọa lạc tại K1, 10/2, đường B H N, ấp Đ N, xã H A, TP.B H, tỉnh Đồng Nai

- Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn và người có liên quan trả lại giá trị nhà đất Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo

- Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo và hủy bản án sơ thẩm Với nhận định Tòa án cấp sơ thẩm không xác định được yêu cầu phản tố của bị đơn Ngoài ra Tòa án chưa thẩm tra, xác minh diện tích ghi trong tài liệu mua bán nhà (có xác nhận của chính quyền địa phương), giấy chứng nhận sở hữu nhà, quyền sử dụng đất có liên quan hay không với giấy kê khai đất ghi tên ông Ngũ M (ngày 14/9/1976, có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 27/9/1976) và quá trình sử dụng đất này cho đến khi bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đó mới có căn cứ xem xét các yêu cầu tranh chấp của đương sự Cũng nhưchưa xem xét, thu thập đầy đủ tài liệu, chưa quyết định giá trị pháp lý của hợp đồng mua bán nhà để quyết định quyền và nghĩa vụ của bị đơn

3 Trả lời các câu hỏi sau

* Yêu cầu phản tố là gì? Yêu cầu độc lập là gì?

- Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

- Yêu cầu độc lập là yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gắn với vụ

án đang được giải quyết, đảm bảo đầy đủ 03 điều kiện gồm:

(1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

(2) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết và

(3) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

* Có phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố?

- Không phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố

Trang 9

- Để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố thì phải đảm bảo các điều kiện được quy định tại Điều 200 BLTTDS 2015 là:

+ Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

+ Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

+ Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

* Có phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập?

Không phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập mà theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLTTDS 2015 quy định về quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập khi:

- Về thời điểm: trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (khoản 2 Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

- Về mặt nội dung: Yêu cầu phản tố chỉ được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản1 Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

+ Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

+ Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

+ Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

* Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tòa án

có bắt buộc phải chấp nhận hay không?

Trang 10

Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì không bắt buộc Tòa án phải chấp nhận

Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015 thì: “3 Bị đơn có quyền đưa ra

yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.

Như vậy, bị đơn được thay đổi yêu cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 244 BLTTDS 2015 quy định về xem xét việc

thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu: “1 Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung

yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm

vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”.

Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu phản tố

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Ngày đăng: 10/05/2022, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w