Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất, cư trú xen kẽ, phân tántrên mọi vùng miền với cơ cấu dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hộikhông đồng đều, bản sắc văn hóa đa dạn
Trang 1PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Một số khái niệm liên quan 3
2 Đối tượng nghiên cứu 4
3 Phương pháp nghiên cứu 4
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG 5
1 Cơ sở khoa học 5
1.1 Sự cần thiết của chính sách phát triển du lịch 5
1.2 Vai trò 7
1.3 Mục tiêu 8
2 Cơ sở pháp lý 9
3 Cơ sở thực tiễn 11
3.1 Thực trạng triển khai chính sách phát triển du lịch vùng DTTS 11
3.1.1.Kết quả đạt được 11
3.1.2.Tồn tại 12
3.2 Thực trạng triển khai chính sách phát triển du lịch vùng DTTS ở vùng Tây Bắc 14
3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch vùng DTTS 17
3.3.1.Cơ hội phát triển du lịch tại các vùng dân tộc thiểu số 17
3.3.2.Thách thức phát triển du lịch tại các vùng dân tộc thiểu số 18
3.3.3.Giải pháp 18
PHẦN 3: PHẦN KẾT LUẬN 22
Trang 2PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những quốc gia đa dân tộc Trải qua mấy nghìn nămdựng nước và giữ nước, các dân tộc luôn kề vai sát cánh, gắn bó máu thịt bênnhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai địch họa, xây dựng đấtnước Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất, cư trú xen kẽ, phân tántrên mọi vùng miền với cơ cấu dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hộikhông đồng đều, bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú Vì vậy, vấn đề dân tộc vàđoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta,
là nguồn sức mạnh và dộng lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn đối với vùngđồng bào dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng – an ninh,chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độdân trí, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, theo nguyên tắc cơ bản là: “Bình đẳngđoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển” Những nguyên tắc cơ bản nàyđược Đảng và Nhà nước thể hiện một các nhất quán trong các văn kiện củaĐảng, Hiến pháp của Nhà nước và được cụ thể hóa bằng những chính sách phùhợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng của nước ta Tronggiai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng, Nhà nước đã ban hànhhàng loạt những chính sách cụ thể, nhằm đảm bảo cho nhân dân các dân tộc thực
sự bình đẳng về mọi mặt Và chính sách về phát triển du lịch ở vùng thiểu số làmột chính sách không thể thiếu
Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em nghiên cứu về vấn đề triển khaithực hiện chính phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số
1 Một số khái niệm liên quan
“Vùng dân tộc thiểu số (Vùng DTTS) là địa bàn có đông các dân tộc thiểu sốcùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam” (Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc)
Một số vùng chỉ có một hoặc một số dân tộc thiểu số sống tập trung như cáchuyện có người Mông ở tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu; các tỉnh có nhiềungười Thái sinh sống như Sơn La, Điện Biên, Nghệ An Người Tày Nùng ở Cao
Trang 3Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn Người Mường ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ,dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận; dân tộc Khmer ở các tình Tây NamBộ,
“Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú,trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mụcđích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mụcđích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoàimôi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính làkiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống
khác hẳn nơi định cư” (Theo Tổ chức Du lịch Thế giới)
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoàinơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Luật Du lịch 2005)
“Du lịch cộng đồng hay du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà ở
đó cộng đồng địa phương có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển
và quản lý hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du
lịch được giữ cho cộng đồng” (Theo Quỹ bảo tồn thiên nhiên Thế giới WNF)
Du lịch cộng đồng gắn với nhiều hoạt động như tham quan các làng nghề cổ,khám phá núi rừng thiên nhiên, tìm hiểu văn hóa các dân tộc , trong đó, tiêubiểu nhất là loại hình homestay - hình thức khách du lịch đến ở nhà người dânđịa phương để cùng ăn, nghỉ, tham gia các công việc hàng ngày cũng như cáchoạt động văn hóa, văn nghệ
2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở khoa học
1.1 Sự cần thiết của chính sách phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đốivới phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường Du lịchgóp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mang lại nguồn thu ngân sách quốcgia và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Ngành du lịch tác động tích cựcđối với việc phát triển các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là ngành thủ công
mỹ nghệ với các làng nghề như gốm sứ, mây tre đan,
Du lịch góp phần thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo ra nhiềuviệc làm và có thu nhập thường xuyên cho người lao động tại nhiều vùng, miềnkhác nhau, trong đó có cộng đồng dân cư tại vùng dân tộc thiểu số Việc pháttriển du lịch giúp thúc đẩy, bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc, là cầu nối, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trongnước và du lịch góp phần quan trong đối với bảo tồn, nâng cao nhận thức thứctrách nhiệm cho cộng đồng đối với công tác gìn giữ và bảo vệ tài nguyên và môitrường
Phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số cũng là nâng cao hình ảnh, giớithiệu bản sắc văn hóa dân tộc, phong tục tập quán, của các dân tộc thiểu số vớicác vùng miền khác trên đất nước cũng như với bạn bè quốc tế, rộng hơn nữa làgóp phần vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện đường lối đốingoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng và Nhà nước ta
Đất nước Việt Nam uốn lượn theo bờ biển Đông có hình dáng chữ S, cảnhtượng thiên nhiên, núi non, sông suối, đồng bằng phì nhiêu, bờ biển sóng vỗ rìrào, trời xanh mây trắng, gió thổi lành lạnh.v.vv như một bức tranh thơ mộngtrước cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ Bờ biển phía Đông dài 2360 km; biên giớiđất liền dài 4510 km ; từ Bắc đến Nam theo đường thẳng 1650 km, bề rộng từ
400 đến 600 km, nơi hẹp nhất là Quảng Bình 50 km từ kinh tuyến 102º08’ đến109º28’, vĩ tuyến 8º02’ đến 23º23’ Bắc bán cầu Vùng dân tộc thiểu số và miềnnúi Việt Nam chiếm 3/4 diện tích cả nước, dân số khoảng 20 triệu người đủ
Trang 5thành phần 54 dân tộc sống xen kẽ nhau nhưng cũng có vùng tập trung một sốdân tộc hoặc một dân tộc sống gắn liền với phong cảnh thiên nhiên.
Miền Bắc có Vịnh Hạ Long - một kỳ quan thế giới được UNESCO côngnhận; có động Tam Thanh, núi Vọng Phu ở Lạng Sơn; có thác Bản Dốc, hangPác Pó ở Cao Bằng; có hồ Ba Bể ở độ cao 146m so với mặt biển, diện tích500ha, núi Phiabioóc, vườn quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên có 417 loàithực vật, 229 loài động vật có xương ở Bắc Kạn; hồ Núi Cốc ở Thái Nguyên; có
hồ Thác Bà ở Yên Bái; đỉnh Phan Xi-păng cao 3.400m; có vùng Sa Pa Lào Cainơi du lịch nổi tiếng ở độ cao mây mù tuyết phủ; có nhà máy thuỷ điện HoàBình, có động cô tiên Sơn La; có mùa xoè hoa, uống rượu cần, có bản Apa Chải,
xã Xín Thầu, huyện Mường Nhé Lai Châu giáp 3 quốc gia Việt Nam, TrungHoa và Lào.v.v
Đi vào Miền Trung, Tây Nguyên có dãy Trường Sơn hùng vĩ, có conđường Hồ Chí Minh thênh thang mới có sau 30 năm chiến tranh ghi dấu ấn lịch
sử dân tộc Việt Nam anh hùng chống Mỹ Ở Quảng Nam có khu tháp cổ MỹSơn; động Phong Nha Quảng Bình là di sản văn hoá thế giới; ngược lên TâyNguyên ta có Biển Hồ Gia Lai; ngã ba Đông Dương, cửa khẩu B'y Kon Tum; 3nước Việt Nam, Lào, Campuchia, có hồ Lắc, Đắc Lắk; thành phố cao nguyên
Đà Lạt với núi Lang Biang nổi tiếng cao 2300m so với mặt biển; có khu thápChàm cổ kính của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.v.v
Đến vùng dân tộc Khmer Nam Bộ với hệ thống kênh rạch như mạngnhện, ở Kiên Giang có núi Đá dựng, có nhiều hang động lung linh, màu sắc, có
xứ thơ Hà Tiên cao 100m giữa cánh đồng, có núi Bà Đen Tây Ninh, có vùng núigiữa đồng bằng như vùng Tri tôn Bảy núi, có 450 chùa Khmer cổ kính, đó lànhững điểm đến của khách du lịch danh thắng các vùng dân tộc Việt Nam
Không chỉ vậy, các vùng miền ở trên gắn liền với các chiến công của dân
và quân tư cách mạng tháng 8-1945 đến nay sẽ là một nội dung lý thú để tuyêntruyền cho các tour du lịch, để đáp ứng trí tò mò, tìm hiểu, khám phá của dukhách
Trang 61.2 Vai trò
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, mộthoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành mộtnhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước Về mặtkinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiềunước công nghiệp phát triển Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thểphủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của dulịch Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá thông thườngcòn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi,vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn…
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tếdịch vụ Ngành Du lịch nhận được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời củaChính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch Trong đócũng có nhắc đến việc phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số Nhận thức về tầmquan trọng về vai trò của du lịch vùng dân tộc thiểu số đối với phát triển kinh tế-
xã hội của vùng, nhiều địa phương đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũinhọn trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp
Ở các vùng có dân tộc thiểu số sinh sống, điều kiện về cơ sở hạ tầng cònthấp, khi ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tếkhác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vựckhác trong nền kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, dukhách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lênđáng kể Các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phongphú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệpphải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá Để làm đượcđiều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyểnchọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách.Dẫn đến việc thu nhập cá nhân đưuọc nâng cao và góp phần làm tăng trưởngkinh tế của đất nước nói chung, của vùng nói riêng
Trong thời kỳ hội nhập, phát triển du lịch còn là cơ hội để các vùng dân tộcthiểu số giao lưu, hội tụ các nền văn minh vật thể và phi vật thể vào sự đa dạng
Trang 7chung của ngành du lịch đất nước Từ đó, tạo niềm tin, sự hiểu biết, tình đoànkết giữa các dân tộc.
Đặc biệt, các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch tại các vùng dân tộcthiểu số đang gia tăng đáng kể Dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng Công ty lữhành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan các bản làngdân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du lịch ra nướcngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềngCampuchia, Lào và Thái Lan
1.3 Mục tiêu
Vùng DTTS có nhiều lợi thế vị trí tiềm năng để phát triển du lịch Chính
vì vậy, trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước, cũng như định hướngphát triển kinh tế xã hội của đất nước đều có chủ trương đưa ngành du lịch củavùng xứng đáng với vị trí là một trong những trọng tâm du lịch của cả nước vàtrở thành ngành kinh tế quan trọng của vùng, xứng đáng với tiềm năng của địaphương Phát triển mạnh ngành du lịch của vùng DTTS nhằm:
- Góp phần vào sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng GDP du lịchtrong cơ cấu kinh tế của cả nước
- Nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán ngoại tệ
- Phát huy bản sắc dân tộc, tôn tạo và giữu gìn các di tích lịch sử - văn hóa,các lễ hội truyền thống, cảnh quan môi trường,…
- Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động
- Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành trong quá trình phát triển kinh tế
- Nâng cao đời sống vật chất- tinh thần cho người dân, mở rộng giao lưu,nâng cao dân trí
- Thu hút thêm vốn đầu tư của nước ngoài để xây dựng và phát triển đấtnước
Trang 82 Cơ sở pháp lý
Điều 15 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc đã quy đinh rõ rằng:
“Tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi
trường, sinh thái; hỗ trợ quản bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch”.
Điều 12 Thông tư số 12/2014/TT-BVHTTDL quy định chi tiết thi hành chínhsách du lịch vùng dân tộc thiểu số Cụ thể:
1 Ưu tiên hỗ trợ hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch các vùngdân tộc thiểu số; nghiên cứu, khảo sát tiềm năng du lịch, lựa chọn xây dựng cácsản phẩm du lịch đặc trưng cho các vùng dân tộc thiểu số; phát triển mô hình dulịch miền núi có sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số Cụ thể như sau:
a) Hỗ trợ công tác nghiên cứu, khảo sát tiềm năng du lịch, xây dựng quyhoạch du lịch của các vùng dân tộc thiểu số;
b) Hỗ trợ việc lựa chọn và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng củacác vùng dân tộc thiểu số có tiềm năng du lịch phát triển, phù hợp với quy hoạchtổng thể phát triển du lịch của vùng, khu vực, địa phương;
c) Ưu tiên xây dựng, phát triển loại hình du lịch dựa trên địa hình miềnnúi, có sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số; hỗ trợ việc bảo vệ, gìngiữ môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn tại nơi có các hoạt động du lịch;
d) Hỗ trợ công tác quảng bá, xúc tiến các điểm đến, các sản phẩm du lịchcủa vùng dân tộc thiểu số; tạo điều kiện để đơn vị quản lý các điểm du lịch thamgia các sự kiện, chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch của vùng và quốc gia
2 Hỗ trợ phát triển du lịch theo mô hình bền vững, có trách nhiệm, bảo đảmcộng đồng vùng dân tộc thiểu số có quyền tham gia và hưởng lợi từ hoạt động
du lịch:
a) Ưu tiên các hoạt động khảo sát, đánh giá tiềm năng du lịch ở các vùngdân tộc thiếu số; tổ chức khai thác hợp lý tài nguyên, cảnh quan du lịch theo
Trang 9nguyên tắc khai thác gắn chặt với bảo tồn, thu hút người dân địa phương thamgia và được hưởng lợi từ hoạt động du lịch;
b) Ưu tiên hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại các bản, làng của đồngbào dân tộc thiểu số theo mô hình lưu trú tại nhà dân (homestay); khai thác, pháthuy văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số phục vụ pháttriển du lịch; hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động du lịch tới đời sống, vănhóa của đồng bào dân tộc thiểu số;
c) Hướng dẫn khách du lịch khi tới tham quan, lưu trú tại các bản làng,điểm du lịch ở vùng dân tộc thiểu số tuân thủ và tôn trọng phong tục tập quán,lối sống và văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc;
d) Xây dựng cơ chế thu hút đầu tư vào điểm du lịch và các bản, làng theo
mô hình du lịch cộng đồng, ưu tiên dự án hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ;
e) Ưu tiên tổ chức các sự kiện du lịch tại vùng dân tộc thiểu số
3 Ưu tiên hỗ trợ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn phát triển nguồnnhân lực du lịch tại khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi cótiềm năng phát triển du lịch theo hướng:
a) Bảo đảm về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực du lịch, sử dụng hiệuquả và có đãi ngộ thỏa đáng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch tại vùngdân tộc thiểu số có du lịch phát triển hoặc có tiềm năng phát triển;
b) Tập trung đầu tư phát triển nhân lực du lịch là người dân tộc thiểu số (đặcbiệt là đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên) đạt trình độ cơ bản; áp dụng
cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để đào tạo, thu hút;
c) Huy động các nguồn lực đầu tư, khuyến khích, ưu đãi ở mức cao nhất vềđất đai, thuế và ưu đãi khác cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịchtại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có tiềm năng phát triển du lịch; phát huyvai trò của cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số trong phát triển du lịch;
d) Ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc thiểu số được đàotạo đồng bộ về cơ cấu ngành nghề du lịch với các trình độ từ sơ cấp nghề đếnđại học và sau đại học;
Trang 10e) Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cánhân nước ngoài tham gia phát triển nhân lực du lịch là người dân tộc thiểu số;
f) Dành ngân sách nhà nước theo phân cấp quản lý và áp dụng cơ chế tàichính đặc thù để thực hiện nhiệm vụ, chương trình, dự án về đào tạo, bồi dưỡngphát triển nhân lực du lịch là dân tộc thiểu số, đặc biệt tại những vùng có tiềmnăng phát triển du lịch;
g) Khuyến khích các cơ sở đào tạo du lịch, doanh nghiệp du lịch đầu tư đàotạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch là người dân tộc thiểu số; tạo điều kiện thuận lợi
để doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, sử dụng nhân lực du lịch là dân tộc thiểusố
Trang 11những người hoạt động văn hoá, nghệ thuật vùng đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa được chú trọng bước đầu; Một số di sản văn hoá của vùngđồng bào các dân tộc thiểu số được tôn vinh, đặc biệt Không gian văn hóa Cồngchiêng Tây Nguyên được Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của LiênHiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện nhânloại; Tăng cường giao lưu văn hoá qua các hoạt động mang tính chất vùng, miềngóp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, góp phần củng cố, tăngcường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3.1.2 Tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đáng kể đã đạt được trong lĩnh vực văn hoá ởvùng đồng bào dân tộc thiểu số, thời gian qua cũng còn nhiều vấn đề cấp báchcần khắc phục, những nhu cầu bức thiết cần phải giải quyết Đời sống kinh tế -
xã hội của các dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 5.000 người và dưới 10.000người) đều rất khó khăn so với các dân tộc có số dân đông hơn Trong đó, vấn
đề đặc biệt cấp bách đặt ra là bản sắc văn hóa của các tộc người này bị mai mộtnhanh chóng Thậm chí có dân tộc (như người Ơ Đu) ít tìm được các nét vănhóa đặc trưng Nhiều chính sách được thực hiện thông qua những dự án, đề án,
và chương trình mục tiêu quốc gia còn chưa thể hiện rõ vai trò và tầm quantrọng của văn hóa/chính sách văn hóa đối với các chính sách cũng như biện phápphát triển kinh tế- xã hội ở vùng các dân tộc thiểu số và đối với các dân tộc thiểusố; Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá còn lớn: Ở nhiều vùng nông thôn, nhất
là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cáchmạng, kháng chiến trước đây, vùng biên giới, hải đảo, hoạt động văn hoá cònnghèo nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá so với thành thị còn lớn; Đầu tưcủa Nhà nước cho bảo tồn văn hoá còn thấp và manh mún, đặc biệt đầu tư bảotồn và phát triển văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Hoạt động du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi dường như mới chỉ
là bước đầu Sự phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng thiên nhiên vànhân văn của vùng dân tộc thiểu số Tỷ lệ khách du lịch đến vùng dân tộc thiểu
số, miền núi còn thấp so với các vùng khác trong cả nước Bên cạnh đó do nhiềunguyên nhân, hoạt động du lịch cũng có những tác động mặt trái đối với môitrường tự nhiên và xã hội vùng dân tộc thiểu số Môi trường sinh thái bị xuốngcấp do các hoạt động du lịch, bản sắc văn hoá bị mai một, lai căng