Nếu bản thân mình che giấu những hành vi không hợp với đạo trung thứ thì sao có thể giáo dục được người khác làm theo đạo trung thứ.. để chỉ trích Nho giáo đã khuyến khích lòng trung thà
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Tổng quan về hệ tư tưởng Nho giáo 3
1 Quá trình hình thành và phát triển 3
1.1 Nho giáo nguyên thủy 3
1.2 Tống Nho 4
1.3 Phong trào phục hung Nho giáo 4
2 Nội dung cơ bản của Nho giáo 5
2.1 Tổ chức xã hội 5
2.2 Thuật lãnh đạo 7
3 Hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực 8
Chương 2: Nho giáo Việt Nam 9
Chương 3: Ảnh hưởng của Nho giáo tới việc trị quốc an dân 12
1 Thời nhà Hồ 13
2 Thời Hậu Lê 13
Thời nhà Mạc 14
3 Thời Lê trung hưng 15
4 Thời vua Lê – chúa Trịnh 16
5 Thời Tây Sơn 16
6 Thời nhà Nguyễn 16
Chương 4: Tổng kết 19
Tài liệu tham khảo 22
Điểm Lời phê của giáo viên ………
… ………
……
………
……
………
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ TƯ TƯỞNG NHO GIÁONho giáo, còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết
học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và đượccác môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị Nhogiáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, NhậtBản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam Những người thực hành theo các tín điều
của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay nho sinh.
1 Quá trình hình thành và phát triển
Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một thuậtngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ "Nho" gồm từ "Nhân" (người) đứng gầnchữ "Nhu" Nho gia còn được gọi là nhà Nho người đã học sách thánh hiền, có thểdạy bảo người đời ăn ở hợp luân thường, đạo lý… Nhìn chung "Nho" là một danhhiệu chỉ người có học thức, biết lễ nghĩa
Tại Trung Quốc, Nho giáo độc tôn từ thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tư tưởngchính thống cả về chính trị và đạo đức của Trung Hoa trong hơn 2.000 năm Từ thế
kỷ thứ IV, Nho giáo lan rộng và cũng rất phát triển ở các nước châu Á khácnhư Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam
1.1. Nho giáo nguyên thủy
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đónggóp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc,Đức Khổng Tử (sinh năm 551 TCN) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thốnghóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coiKhổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo
Trang 3Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lụckinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và KinhNhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi
là Ngũ kinh Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy đểsoạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi
là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử
là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời ChiếnQuốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sáchMạnh Tử Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộsách chủ yếu của Nho giáo và còn là những tác phẩm văn chương cổ điển củaTrung Quốc Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy,còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "Tư tưởng Khổng –
Mạnh" Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang
tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học Nho giáo bị biếnthành tôn giáo thì Văn Miếu trở thành nơi dạy học kiêm chốn thờ phụng, và Khổng
Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thựchành
1.2. Tống Nho
So với Nho giáo truyền thống chú trọng thực dụng và giáo dục người dân bậctrung thành quân tử, Tống Nho có điểm rất khác biệt là:
- Ði sâu vào lĩnh vực siêu hình học;
- Chú trọng tới phép tu dưỡng, quán tưởng;
- Tu tâm dưỡng tính để thành thánh nhân
1.3. Phong trào phục hưng Nho giáo thời hiện đại
Đến thế kỷ 20, với sự sụp đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất vị thế độctôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Quốc trong thập niên 1960-1970 khi MaoTrạch Đông làm chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc Đến đầu thế kỷ 21, đứngtrước sự suy thoái của đạo đức xã hội, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng,giáo dục con người dần được coi trọng trở lại và được thúc đẩy thành phong tràotại các nước Đông Á
Phục hưng Nho giáo trong thế kỷ XXI là phong trào đang lên ở Đông Á, nóxuất phát từ Trung Quốc và lan truyền ra các khu vực lân cận Nhiều hội thảo quốc
tế về phục hưng nền Nho học đã được tổ chức ở Trung Quốc, Hàn Quốc và NhậtBản Tập hợp các nhà nghiên cứu Nho giáo trong khu vực và trên thế giới đã kiếnlập Hiệp hội nghiên cứu Nho giáo quốc tế Trong buổi Hội thảo quốc tế về Nho
Trang 4giáo ở Hàn Quốc 2010, một số báo cáo ghi nhận "mặt trái của quá trình Tây phương hóa (nói cách khác là hiện đại hóa) đã làm cho xã hội Đông Á mất dần tôn ti trật tự, tinh thần cộng đồng và đoàn kết xã hội Lớp trẻ dần chạy theo những thứ hào nhoáng của văn minh hiện đại mà bỏ xa dần các quan niệm hiếu nghĩa, trung chính, tiết độ" Các báo cáo này nhấn mạnh giá trị tinh thần của Nho giáo sẽ
là công cụ hữu hiệu nhằm khôi phục lại giá trị đạo đức của xã hội
Trang 52. Nội dung cơ bản của Nho giáo
Gồm 9 nội dung chính, bao gồm:
- Vai trò của gia đình
- Vai trò của cá nhân
- Tư tưởng về thế giới đại đồng
tự xã hội, giúp gìn giữ các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội ở một mức khá cao, giúp
xã hội văn minh và ổn định lâu dài Nho giáo tiến hành tất cả những điều đó khôngphải bằng vũ lực mà bằng chủ trương giáo dục toàn diện từ vua quan đến nhân dân
để mỗi người đều tự giác thực hiện tùy theo vai trò của mình, đó cũng là lý do tạisao những nước sùng đạo Nho đều rất coi trọng giáo dục Sách Đại học có câu:
"Làm vua thì hết mình thực hiện đức nhân Làm bề tôi thì hết mình thực hiện đức kính Làm con thì hết mình thực hiện đức hiếu Làm cha thì hết mình thực hiện đức
từ Cùng người trong nước quan hệ với nhau phải hết mình thực hiện đức tín."
Trong thế giới quan Nho giáo, cả 3 yếu tố Quốc gia – Gia đình – Cá nhân đều
có liên hệ chặt chẽ với nhau Nho giáo xem cá nhân là yếu tố căn bản nhất cấu
Trang 6thành nên gia đình và xã hội Mỗi cá nhân có đức hạnh tốt thì gia đình, xã hội sẽtốt và ngược lại.
“Cái căn bản của thiên hạ là quốc gia Cái căn bản của quốc gia là gia đình Cái căn bản của gia đình là thân mình vậy”.
Sách Đại học viết "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình Người trong gia đình, gia tộc mình mà không giáo dục được thì sao
có thể giáo dục được người khác Một nhà thực hiện nhân ái có thể dấy lên cả nước một phong trào nhân ái Một nhà thực hiện khiêm nhường, có thể dấy lên cả nước một phong tục khiêm nhường Còn nếu một người tham lam tàn bạo, tất dấy lên cả nước phạm thượng, làm loạn Nếu bản thân mình che giấu những hành vi không hợp với đạo trung thứ thì sao có thể giáo dục được người khác làm theo đạo trung thứ Cho nên muốn trị nước tốt, trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình."
Nho giáo đề cao lòng trung thành của bề tôi với lãnh đạo Tuy nhiên, lòngtrung thành đó không phải là sự mù quáng tuân lệnh như đời nay vẫn hiểu lầm.Khổng Tử dạy rằng bề tôi chỉ trung thành với bậc minh quân đáng cho mình thờ;nếu vua tàn ác vô đạo thì có thể bỏ mà thờ ông vua khác, như Khổng tử đã bỏvua nước Lỗ Nghĩa Quân – Thần trong Nho giáo có định phận rõ ràng như Khổng
tử đã viết: “Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” Mạnh Tử đã
bảo Tề Tuyên Vương rằng: “Vua xem bề tôi như tay chân, thì bề tôi xem vua như
bụng như lòng Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước Vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề tôi xem vua như giặc như thù", “Kẻ làm hại đức nhân gọi là tặc; kẻ làm hại đức nghĩa gọi là tàn Kẻ tàn, kẻ tặc chẳng qua là một người thường mà thôi Tôi từng nghe vua Võ vương chỉ giết một người thường là Trụ mà thôi, chứ tôi chưa hề nghe Vũ vương giết vua” Tuân
tử cũng nói: “Tru bạo quốc chi quân, nhược tru độc phu” (Giết một ông vua tàn
bạo cũng như giết một kẻ ác độc)
Về sau, một số người dẫn ra những câu như “Trung thần không thờ hai chúa”, "Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung" để chỉ trích Nho giáo đã khuyến
khích lòng trung thành mù quáng, tạo điều kiện cho vua chúa nô dịch người dân.Thực ra, những câu nói này là của phái Pháp gia (một luồng tư tưởng khác cùngthời với Khổng Tử) chứ không phải của Nho gia Nhà nghiên cứu KimĐịnh viết: “…cái bổn gốc của Nho giáo là “chí trung”, mà trung là không cậy
dựa, “trung lập nhi bất ỷ cường tai kiểu” Đó là cốt yếu những bài học dạy học của Khổng tử Đừng đem những câu Hán học như “trung thần bất sự nhị quân”
Trang 7hay “quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” mà gán vào miệng ông Làm thế là thiếu óc khoa học Cha ông ta tuy về phê bình chưa đạt cao lắm nhưng không để cho những câu tầm gửi kiểu trên làm thui chột chí bất khuất”
Từ thời nhà Hán, Nho giáo đã trở thành trung tâm cho việc quản lý xã hội,duy trì đạo đức tại Trung Hoa trong suốt hơn 2000 năm Năm 1397, Minh Thái
Tổ ra lệnh mỗi làng phải dán một tờ ghi sáu điều Đạo Nho để dân noi theo: "Phải
hiếu thảo với cha mẹ, phải kính trọng người già, phải thờ phụng tổ tiên, phải dạy con nên người, phải yên ổn làm ăn" Năm 1670, vua Khang Hi nhà Thanh cũng ra
một sắc lệnh gồm 16 điểm, dạy dân phải hiếu lễ, cần kiệm, nộp thuế đúng kì và
ra lệnh các hương chức và kẻ sĩ trong làng cứ nửa tháng một lần đọc và giảng chodân nghe Những kẻ bất hiếu, ăn cắp ăn trộm, cưỡng hiếp gian dâm phải ghi tênvào một cái bảng treo trước cổng làng để nhân dân lấy đó làm răn
2.2. Thuật lãnh đạo:
Nho giáo chủ trương: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (Dân là quý nhất, rồi đến đất nước, cuối cùng mới là vua)" Người lãnh đạo chân chính phải
xem việc cai trị thiên hạ là bổn phận, trách nhiệm của mình chứ không phải vì lợi
ích cá nhân hay là thứ giúp bản thân mình trở nên cao quý Khổng Tử nói "Cao quý thay vua Thuấn và vua Vũ! Được cả thiên hạ mà vẫn cảm thấy việc này không
có gì đáng vui hoặc kiêu hãnh cả" Đây là một tư tưởng rất mới mẻ trong thời quân
chủ chuyên chế đang thịnh hành Vua không có quyền coi nhân dân là của riêng
mà phải lo cho dân và vì dân Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vuaquan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó Người trị dân, trị nước phảichăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáodục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành.Chủ trương chính trị của Nho giáo vào thời kỳ đó rất táo bạo nhưng rất hợp lý, làmcho nền quân chủ thời đó cũng như các nền chính trị thời nay cũng không thể nàobắt bẻ được
Nho giáo xem nhân dân là yếu tố quyết định đối với sự tồn vong của chế độchính trị Nếu một nhà nước nhận được sự ủng hộ của nhân dân thì vững bền, nếumất lòng dân thì sụp đổ Sách Đại học viết:
"Kinh Thi có câu: Khi nhà Ân chưa để mất lòng dân thì còn xứng
đáng để thụ mệnh thiên tử Nên soi vào tấm gương của nhà Ân để biết rằng, giữ được thiên hạ không phải là dễ Đây là muốn nói đạo trị dân: nếu được lòng dân là được nước, mất lòng dân là mất nước".
Muốn giữ được lòng dân, giữ vững chế độ thì người lãnh đạo phải có đức
thiện vì "có đức thiện mới có được mệnh trời, nếu không có đức thiện thì sẽ mất
Trang 8mệnh trời ngay" Chính vì thế "Làm người cai trị quốc gia không thể không cẩn thận Nếu để sơ suất một phân ly, không noi theo khuôn phép, tất sẽ bị nhân dân loại bỏ ngay" lãnh đạo phải có sự chuẩn bị thì mới thành công, không chuẩn bị
sẽ thất bại Nếu chuẩn bị thì nói không vấp váp, làm không khó khăn Nếu có phép tắc thì hành động không mắc sai lầm, việc hành đạo luôn thông suốt” Khổng Tử nói: "Quản lý, lãnh đạo một quốc gia có nghìn cỗ xe phải xử lý nghiêm túc, cẩn thận, chu đáo tất cả mọi công việc, phải đặc biệt giữ điều tín với dân, tiết kiệm chi tiêu, yêu mến dân, sử dụng sức dân trong thời gian thích hợp.” Người lãnh đạo cẩn
thận trong mọi việc nhưng cũng cần quyết đoán để không đánh mất thời cơ Quý
Tử Văn làm việc gì đều nghĩ đi nghĩ lại rất nhiều lần Khổng Tử nghe vậy nói
"Nghĩ hai lần là đủ rồi".
Người lãnh đạo quốc gia hoặc tổ chức luôn là tấm gương để cấp dưới và dânchúng noi theo Người lãnh đạo có đạo đức tốt thì cấp dưới, nhân dân mới noi
gương tu dưỡng đạo đức Ngược lại, thượng bất chính, hạ tất loạn - Cấp trên
không quang minh chính đại, không tuân thủ nguyên tắc, vi phạm luật pháp, cóhành động vô đạo thì cấp dưới và quần chúng cũng bắt chước làm bậy Khổng Tử
nói "Nếu có thể sửa mình ngay thẳng thì lãnh đạo quốc gia có khó gì? Không sửa được mình ngay thẳng làm sao có thể làm cho người khác ngay thẳng?"
Người lãnh đạo không cần phải biết làm những việc cụ thể của dân hay củanhững nhà chuyên môn dưới quyền mà chỉ cần có đạo đức, biết cách đối nhân xửthế, biết cách lấy lòng người để thu hút sự ủng hộ của dân chúng và người tài trong
thiên hạ Khổng Tử nói "Người bề trên coi trọng lễ thì dân chẳng ai dám coi thường, khinh mạn Người bề trên coi trọng nghĩa thì dân chẳng ai dám không phục tùng Người bề trên coi trọng chữ tín thì dân chẳng ai dám giả dối Nếu làm được như vậy thì dân bốn phương nhất định cõng con đến theo mình hết Cần gì mình phải học việc trồng cấy?" Diệp Công là quan huyện nước Sở hỏi về quản lý chính sự Khổng Tử nói "Khiến cho người ở gần vui lòng, khiến cho người ở xa đến quy phục".
Người lãnh đạo phải có học vấn mới thực hiện tốt công việc của mình Khổng
Tử phản đối quan niệm của học trò ông là Tử Lộ "Làm quan thì có dân để cai trị,
có thần xã tắc để tế lễ, không cần phải chọn kẻ có học làm huyện trưởng, sau làm mới là học." Người lãnh đạo còn phải thấm nhuần đạo Trung dung mới không đưa
ra những chính sách, những quyết định mang tính bất cập hoặc thái quá gây hại
cho quốc gia Khi còn ở nước Trần, Khổng Tử nói "Về đi! Về đi! Những học trò của quê hương ta, chí hướng thì rất cao xa mà việc làm thì rất giản lược, không câu nệ tiểu tiết; về văn chương đều có thể có thành tích khả quan Nhưng họ chẳng biết xem xét, sửa mình theo đạo Trung dung.".
Trang 9Thuật lãnh đạo của Nho giáo đề cao những lãnh đạo biết quý trọng tài năng,biết dùng người Lãnh đạo thiếu tài năng nhưng biết dùng người vẫn thành công.Ngược lại, lãnh đạo dù tài năng nhưng không biết dùng người cũng thất bại.
Nho giáo chủ trương người lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến mọi người rồichọn ra quan điểm đúng đắn nhất để thi hành Người lãnh đạo mà tự ý làm càn,chuyên quyền độc đoán hay bảo thủ thì nhất định gặp tai họa
3 Hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo với xã hội
- Tư duy bảo thủ, trì trệ, giáo điều, lạc hậu
- Tư tưởng chạy theo danh vọng
- Bất bình đẳng xã hội
- Trọng nam khinh nữa, bất bình đẳng giới
- Sự gia trưởng, quan liêu, cửa quyền
CHƯƠNG 2 NHO GIÁO VIỆT NAM
Nho Giáo ở Việt Nam cũng để lại dấu ấn rất lớn trong quá trình giáo dục vàlịch sử dựng nước ở các triều đình phong kiến thời trung đại Tín ngưỡng truyềnthống Việt Nam đã tiếp nhận Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo để làm nên "Tam giáo
đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn
giáo có cùng một mục đích) Ba tôn giáo đã trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo chăm lo tổchức xã hội, Đạo giáo chăm lo thể xác con người, Phật giáo chăm lo đời sống tâm
linh con người Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Phật Thích Ca
Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thứcmọi người Việt
Lịch sử Việt Nam ghi lại tên tuổi của nhiều bậc nhà Nho tài đức: Chu Văn
An (1292-1370); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1409-1595), Nguyễn Thiếp (1723-1804) học trò của họ, dẫu có quyền lực rất cao đi nữa cũng không bỏ rơi lễ nghĩa, đạođức với thầy Sử chép rằng, Chu Văn An đã dâng sớ xin vua chém 7 tên gian thần,vua không nghe, tức khắc ông từ quan về quê Một hôm, học trò ông là Phạm SưMạnh, đang làm quan to ở triều, về thăm thầy (tức Chu Văn An), dọc đường quakhu chợ đang họp, Phạm Sư Mạnh sai lính thét dân dẹp đường, làm huyên náo.Biết được sự việc, Chu Văn An giận học trò mình quên Lễ Nghĩa với dân, bènđóng cửa nhà không cho Phạm Sư Mạnh gặp mặt Vị quan lớn triều đình đã phảiquỳ trước cửa cả buổi thầy mới tha lỗi Nho giáo đã tạo nên những người thầy cantrực, đạo đức, như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước.Nho giáo thịnh hành nhất vào thời Lê sơ, với nhà nước phong kiến Trung ương tậpquyền
Trang 10Nhờ Đạo Nho, người Việt Nam rất coi trọng sự học hành Văn Miếu – Quốc
Tử Giám lập năm 1076 có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Nơiđây còn lưu giữ nhiều tấm bia ghi lại tên tuổi các Nho sĩ đỗ đạt trong các kỳthi Khoa bảng Việt Nam cùng nhiều bài văn bia nêu lên triết lý giáo dục: mở đầu là
ca ngợi công đức của các minh quân, ca ngợi đạo Nho và bậc thánh nhân quân tử;phần tiếp theo nói về việc mở khoa thi và liệt kê họ tên, quê quán những người thi
đỗ đại khoa; phần cuối là những lời bình về ý nghĩa của việc tuyên dương đạoNho, trách nhiệm và nghĩa vụ của người đỗ đạt trước giang sơn đất nước
Một số mặt tiến bộ của Nho giáo tại Việt Nam:
Tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thốngcoi trọng người có học Từ đó các kiến thức học tập được tích lũy, có điều kiện đểduy trì và phát triển Ngoài ra còn tạo cho con người biết đạo ăn ở, biết quan tâmđến người khác, biết sống có văn hóa và đạo đức
Tạo được cơ chế tuyển dụng người tài qua thi cử Bất kể xuất thân ra sao(nông dân, người thợ, lính tráng ) nếu học giỏi đỗ đạt thì có thể ra làm quan giúpnước (ở phương Tây thời kỳ này, chức tước chỉ được chuyển giao nội bộ trong cácgia đình quý tộc, dân thường hầu như không thể có được chức vị) Từ đó tạo nên
một tâm lý xã hội: "Không tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ" Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi cử làm mục tiêu cao nhất
trong cuộc đời mình Xã hội nhờ vậy coi trọng sự học tập cần cù
Câu châm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" đã ghi khắc sâu đậm vào dân
tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm, chữ "Lễ" luôn nhắc nhở người dân rằng phảihọc lễ độ, thân ái, hòa thuận với mọi người, tôn trọng trật tự, lễ kính với người già
và phải có trên dưới rõ ràng Còn chữ "Văn" nhắc nhở con người phải học hành đểthành người tài đức Câu này được phổ biến ở khắp các trường học tại Việt Nam
Tuy nhiên Nho giáo Việt Nam còn có những mặt hạn chế Về nội dung họctập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến mặt "thể dục" làmặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người Những kiến thức về giới tựnhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng
Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển) Do vậy, người học tuythấm nhuần tư tưởng Nho học về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức vềkhoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại không phát triển Cả hai mặt tiến bộ vàhạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ
Khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếungười xuất thân Nho học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ
khắc phục được mặt hạn chế, trở nên "Vừa có tài vừa có đức" Ngược lại nếu
Trang 11không tiếp thu được những tinh hoa tri thức phương Tây mà chỉ bắt chước lốisống, du nhập chủ nghĩa tiêu dùng hạ cấp của phương Tây; mô phỏng các hìnhthức chính trị phương Tây mà không hiểu rõ triết lý, ưu nhược điểm và điều kiệntồn tại của những hình thức đó hoặc tiếp thu những học thuyết chính trị cực đoan,
vô chính phủ, kích động bạo lực, đề cao sức mạnh phá hủy của đám đông thiếu trítuệ, phủ định các giá trị truyền thống, gây chia rẽ xã hội; xem thường Nho giáo vìcho rằng nó lỗi thời, không phù hợp với điều kiện xã hội hiện đại thì không nhữngkhông khắc phục được hạn chế vốn có mà những giá trị đạo đức của nền Nho học,những giá trị văn hóa dân tộc cũng bị đánh mất Đạo đức suy đồi, văn hóa thui chộtthì xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh Đó là bi kịch của những nước bị "cưỡng ép"phương Tây hóa thiếu định hướng và thiếu chiều sâu như Việt Nam, Trung Quốc
Nó tương phản với Nhật Bản: do chủ động phương Tây hóa một cách có ý thức, cóchọn lọc, có hệ thống nên vừa tiếp thu được hệ thống tư tưởng tiến bộ, tri thứckhoa học, công nghệ tiên tiến của phương Tây để hiện đại hóa quốc gia mà vẫn bảotồn được nền tảng đạo đức xã hội, sự đoàn kết quốc gia và bản sắc dân tộc do Nhogiáo hun đúc nên trong hàng ngàn năm
Nhược điểm nghiêm trọng nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện cáctrường phái học thuật nên khá đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú
và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bêntrong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mìnhmục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để vinh thân phì gia Đạt được mụcđích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc Ít người có chí cao xa, như học đểtham gia tranh luận những vấn đề học thuật, học để kinh bang tế thế hoặc để pháttriển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng Cũng có một số Nho sĩ quan tâmđến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn đềsiêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thứcsâu sắc thế giới và hành động sáng tạo Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêuhình thành cái thực tế, thực dụng Vì học tập và tư duy như thế nên Nho giáo ViệtNam ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật có thể so sánh với các nướcNho giáo khác
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ vàuyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biênsoạn lại thành những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò Có thể liệt kê
các sách như “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là “Thuyết ước” (tóm lược học thuyết)
và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “Tiết yếu” Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu
Văn An, thì ở triều Lê - Trịnh có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn
có “Tứ thư trích giảng” củaNguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính
Trang 12lý tiết yếu” của Bùi Huy Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là
cuốn sách giáo khoa mẫu mực Các sách này dễ học nhưng đã lược bớt rất nhiềuđiều, nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú và súc tíchcủa học thuyết, khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu của Nho giáo.Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọiđường sáng tạo đều bị thu hẹp lại Bên cạnh đó, hạn chế lớn nhất là tập quán sùngbái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam Trong khi đó bêncạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Phápgia Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau Điều nàykhiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế Nó chỉ đạt đến mức độ tiếpthu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuấthiện các học phái khác nhau Phương pháp tư duy của nó thiên về bảo thủ, giáođiều