1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Tìm hiểu về Chính phủ điện tử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW

21 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 162,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUVào những năm 1995 - 2000 chính phủ điện tử đã được các nước tiếp thu vàứng dụng rộng rãi, thúc đẩy phát triển và ngày càng được các nước coi như mộtgiải pháp hữu hiệu để tăng hiệu

Trang 1

MỞ ĐẦU 3

Phần 1: Mô hình thành phần chính phủ điện tử cấp tỉnh 5

1 Mục tiêu của mô hình thành phần 5

2 Mô hình thành phần 5

Phần 2: Thực trạng tại Việt Nam 9

1 Thực trạng CPĐT 9

2 Một số dịch vụ hành chính công qua website của chính phủ 12

3 Nguồn nhân lực cho việc triển khai CPĐT 14

4 Nhận thức của người dân 15

Phần 3: Ưu – nhược điểm của CPĐT 16

1 Ưu điểm 16

2 Nhược điểm 17

Phần 4: Giải pháp đẩy mạnh 18

KẾT LUẬN 19

Danh sách thành viên và phân công công việc 20

Trang 2

MỞ ĐẦU

Vào những năm 1995 - 2000 chính phủ điện tử đã được các nước tiếp thu vàứng dụng rộng rãi, thúc đẩy phát triển và ngày càng được các nước coi như mộtgiải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan chính phủ, phục vụngười dân và doanh nghiệp tốt hơn Cho đến nay chính phủ điện tử vẫn tiếp tụcđược các nước thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, ngày càng sâu rộng hơn, các nước đãcoi phát triển chính phủ điện tử là bắt buộc

Ngày nay, với sự bùng nổ của các phương tiện di động, băng thông rộng,công nghệ,… nên nhiều nước đã đẩy mạnh phát triển chính phủ điện tử đa dạnghơn, liên thông hơn dưới khái niệm chính phủ di động, chính phủ ở mọi lúc, mọinơi và trên mọi phương tiện

Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đưa ra định nghĩa “Chính phủ điện tử”.Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về chính phủ điện tử, hay nóicách khác, hiện không có một hình thức chính phủ điện tử được áp dụng giốngnhau cho các nước Các tổ chức khác nhau đưa ra những định nghĩa về Chính phủđiện tử của riêng mình

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: “Chính phủ điện tử là việc các cơ

quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống Công nghệ thông tin - truyền thông để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Nhờ

đó giao dịch của các cơ quan chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí”

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (UN): “Chính phủ điện tử được định

nghĩa như là việc sử dụng Internet để truyền tải cũng như cung cấp thông tin và dịch vụ của chính phủ tới người dân và doanh nghiệp”.

Hoặc chi tiết hơn: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan chính phủ sử dụng

công nghệ thông tin (như máy tính, các mạng diện rộng, Internet, và sử dụng công nghệ di động) có khả năng biến đổi những quan hệ với người dân, các doanh nghiệp, và các tổ chức khác của Chính phủ (làm việc và trao đổi qua mạng không cần đến trực tiếp công sở) Những công nghệ đó có thể phục vụ những mục đích khác nhau: cung cấp dịch vụ chính phủ đến người dân tốt hơn, cải thiện những tương tác giữa chính phủ với doanh nghiệp, tăng quyền cho người dân thông qua truy nhập đến thông tin, hoặc quản lý của chính phủ hiệu quả hơn.

Trang 3

Lợi ích của Chính phủ điện tử

Chính phủ điện tử là chính phủ đảm bảo được cung cấp đầy đủ thông tin cầnthiết và đúng lúc cho việc ra quyết định Chính phủ điện tử lý tưởng là một chínhphủ cung cấp đầy đủ thông tin, đúng thời điểm cho những người quyết định, đó làlợi thế lớn nhất của công nghệ thông tin (CNTT)

Chính phủ điện tử sử dụng CNTT để tự động hoá các thủ tục hành chính củaChính phủ, áp dụng CNTT vào các quy trình quản lý, hoạt động của Chính phủ Do

đó, tốc độ xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn rất nhiều lần

Chính phủ điện tử cho phép công dân có thể truy cập tới các thủ tục hànhchính là thông qua phương tiện điện tử, ví dụ như: Internet, điện thoại di động,truyền hình tương tác

Chính phủ điện tử giúp cho các doanh nghiệp làm việc với Chính phủ mộtcách dễ dàng bởi mọi thủ tục đều được hiểu, hướng dẫn và mỗi bước công việc đềuđược đảm bảo thực hiện tốt, tin cậy Mọi thông tin kinh tế mà Chính phủ có, đềuđược cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp để hoạt động hiệu quả hơn

Đối với công chức :

CNTT dùng trong CPĐT là một công cụ giúp họ hoạt động hiệu quả hơn, cókhả năng dáp ứng nhu cầu của công chúng về thông tin truy cập và xử lý chúng

Đối với người dân và doanh nghiệp :

Giảm thiểu thời gian cho công dân, doanh nghiệp và người lao động khi truynhập và sử dụng dịch vụ của chính phủ và do đó giảm thiếu chi phí của nhân dân.Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động của chính phủ

Đối với Chính phủ :

Giảm “nạn giấy tờ” văn phòng - công sở, tiết kiệm thời gian, hợp lý hoá việcvận hành công việc, cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ chấtlượng cao hơn và giảm ngân sách chi tiêu của Chính phủ

Trang 4

PHẦN 1

MÔ HÌNH THÀNH PHẦN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CẤP TỈNH

Chính phủ điện tử của tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương được hiểu làchính quyền điện tử cấp tỉnh

1 Mục tiêu của mô hình thành phần

- Tạo một mô hình thống nhất mang tính định hướng cho các tỉnh phát triểnchính quyền điện tử;

- Đảm bảo linh hoạt và khả năng đáp ứng đối với các thay đổi;

- Hỗ trợ xác định mức độ trưởng thành về chính quyền điện tử cấp tỉnh;

- Hỗ trợ việc lập kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng thông tin, ứng dụng côngnghệ thông tin, và dịch vụ công trực tuyến;

- Nâng cao khả năng tái sử dụng thay vì xây dựng mới từ đầu;

- Hỗ trợ việc lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp với yêu cầu nghiệp

vụ, mức độ sẵn sàng về tài chính và nhân lực, xu thế phát triển của công nghệ

Trang 5

Chi tiết các thành phần:

1) Người sử dụng: Là những người sử dụng các dịch vụ do các cơ quan

chính phủ cung cấp bao gồm người dân; các doanh nghiệp; các cán bộ công chức,viên chức nhà nước

2) Kênh truy cập: Là các hình thức, phương tiện qua đó người sử dụng truy

cập thông tin, dịch vụ mà chính phủ điện tử cung cấp Các hình thức này bao gồm

và không giới hạn bởi các trang thông tin điện tử/cổng thông tin điện tử(website/portal), thư điện tử (email), điện thoại (cố định hoặc di động), máy Fax,hoặc có thể đến trực tiếp gặp các cơ quan chính phủ Trong đó:

- Trang thông tin điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin

trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin

- Cổng thông tin điện tử là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi

trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng màqua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin

3) Giao diện với người sử dụng:

Thành phần đảm bảo việc lấy người sử dụng làm trung tâm trong cung cấpdịch vụ Thành phần này cung cấp các khả năng liên quan trực tiếp đến quản lýngười sử dụng dịch vụ (cả bên ngoài lẫn bên trong), các nghiệp vụ tương tác vớingười sử dụng dịch vụ, nằm ở phía ngoài của một nghiệp vụ và là giao diện vớinhiều đối tượng sử dụng dịch vụ Ngoài ra, thành phần này còn đảm bảo sự nhấtquán về việc truy cập sử dụng dịch vụ, ứng dụng của người sử dụng dịch vụ trêncác kênh truy cập khác nhau Đây là thành phần đảm bảo sự trong suốt của người

sử dụng trong việc sử dụng đa kênh truy cập

4) Các dịch vụ công trực tuyến, các ứng dụng nghiệp vụ:

Đây là thành phần cơ bản trong mô hình thành phần của chính quyền điện tử.Thành phần này bao gồm các dịch vụ công trực tuyến mà chính phủ điện tử cungcấp cho người dân, doanh nghiệp thể hiện trong mối quan hệ tương tác giữa các cơquan chính phủ và người dân (G2C), và giữa các cơ quan chính phủ và các doanhnghiệp (G2B) đã nói ở trên Trong đó,

- Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi

pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấpcho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnhvực mà cơ quan nhà nước đó quản lý

Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giảiquyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân

Trang 6

- Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác

của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường

mạng (Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ).

- Ứng dụng nghiệp vụ: Là các ứng dụng phục vụ tác nghiệp các nghiệp vụ

của các cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan chính phủ, bao gồm: Các ứng

dụng bên trong (Quản lý tài chính, Quản lý nhân sự, Quản lý tài nguyên số…), Các ứng dụng liên cơ quan (Quản lý văn bản và điều hành, ), Các ứng dụng cho cán bộ (Đào tạo từ xa, Cung cấp thông tin phục vụ cán bộ, công chức, viên chức,…)

5) Lớp tích hợp:

Là thành phần cung cấp khả năng tích hợp các ứng dụng và dịch vụ nóichung, nhằm tạo ra các dịch vụ tích hợp nhưng không phá vỡ cấu trúc, gián đoạnhoạt động của các ứng dụng/dịch vụ đang hoạt động Thành phần này tạo cơ sở chonhiều ứng dụng/dịch vụ khác nhau có thể giao tiếp với nhau một cách thông suốttrong một môi trường không thuần nhất về nền tảng phát triển các ứng dụng và dịch

vụ, từ đó, hướng đến cung cấp các dịch vụ chất lượng cao theo cơ chế liên thông.Thành phần này còn cung cấp khả năng cho phép các hệ thống ứng dụng mới truynhập vào các hệ thống ứng dụng có sẵn, nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực đã đầu

tư vào các hệ thống và nền tảng có sẵn

6) Các dịch vụ dùng chung:

Đây là các dịch vụ được sử dụng chung cho nhiều cơ quan chính phủ trongtỉnh, hỗ trợ các ứng dụng nghiệp vụ và dịch vụ công trực tuyến Đây là một thànhphần quan trọng của mô hình, việc triển khai thành công các dịch vụ dùng chung sẽgóp phần đáng kể đảm bảo tránh lãng phí, đầu tư trùng lặp, nâng cao khả năng kếtnối của các hệ thống khi sử dụng chung các dịch vụ cơ bản

- Trang thiết bị người dùng cuối: Bao gồm máy tính cá nhân, máy tính xách

tay, các thiết bị hỗ trợ cá nhân phục vụ công việc của các cán bộ, các trang thiết bịphục vụ việc truy cập thông tin, sử dụng dịch vụ của người dân và doanh nghiệp

Trang 7

- Hệ thống mạng: Thành phần then chốt nhằm đáp ứng yêu cầu hạ tầng kết

nối các dịch vụ nền và các ứng dụng, dịch vụ, nhằm đáp ứng mục tiêu sẵn sàngphục vụ nhu cầu truyền nhận dữ liệu và khai thác thông tin của các cơ quan nhànước Cơ sở hạ tầng mạng đối với một địa phương đó là sự kết hợp của mạng diệnrộng WAN, mạng thành phố/đô thị MAN, mạng cục bộ LAN, mạng riêng ảo(VPN), mạng Internet

- Nền tảng, máy chủ: Bao gồm nền tảng là các hệ điều hành, các máy chủ

khác nhau trong các hệ thống thông tin

- Tưởng lửa: Trang thiết bị phần cứng/phần mềm nhằm giới hạn sự truy cập

giữa các mạng và/hoặc các hệ thống theo một chính sách về an toàn bảo mật cụ thể

9) Phần quản lý, các nội dung hỗ trợ tất cả các thành phần trên:

Thành phần này bao gồm các yếu tố phục vụ chung, hỗ trợ, tác động, duy trì

tất cả thành phần ở trên Thành phần này bao gồm: Chính sách về An toàn bảo mật

thông tin, Tiêu chuẩn kỹ thuật, Quy định, quy chế, Tổ chức và điều hành, Truyền thông và Đào tạo.

Chi tiết về các thành phần trong mô hình thành phần chính quyền điện tửđược thể hiện ở hình sau (Hình 2), Mô hình này được xây dựng dựa trên mô hìnhcủa Gartner

Trang 8

Hình 2: Mô hình thành phần chi tiết của Chính quyền điện tử cấp tỉnh

PHẦN 2 THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM

Nhà nước ta rất quan tâm tới việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tintrong hoạt động quản lý nhà nước Có nhiều văn bản pháp quy về các hoạt độngtrong lĩnh vực này như Luật Giao dịch Điện tử, Nghị định số 43/2011/NĐ-CP, nghịđịnh số 14/2013/NĐ-CP,… Năm 2000 Thủ tướng chính phủ đã kí vào hiệp địnhkhung ASEAN điện tử, cam kết triển khai chính phủ điện tử tại Việt Nam theo các

lộ trình của ASEAN

1 Thực trạng chính phủ điện tử

Hiện này, mô hình chính phủ điện tử đang được xây dựng rộng khắp trên cảnước Nhiều cơ quan nhà nước ở các thành phố, các tỉnh đã có website và cổngthông tin điện tử để giao tiếp với người dân Có thể kể đến một số tỉnh thành phốnhư Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng,…

Triển khai chính phủ điện tử tại Hà Nội:

Trang 9

Được tổ chức lần đầu vào năm 2003, trải qua 13 năm triển khai thì Hội thảo Triển lãm Quốc gia về Chính phủ điện tử 2016 dưới sự chủ trì của Ủy ban Nhândân thành phố Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội phối hợp cùng Tậpđoàn Dữ liệu Quốc tế IDG Việt Nam đã trở thành diễn đàn quốc gia lớn và uy tínnhất tại Việt Nam về những dự án cải cách Chính phủ điện tử cũng như thảo luậnxây dựng các giải pháp nhằm đảm bảo Chính phủ điện tử sẽ phát triển một cáchhiệu quả và toàn diện nhất.

-Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của bộ máy nhànước là nhiệm vụ cấp thiết cho sự phát triển của Chính phủ điện tử trong bối cảnhhội nhập quốc tế Tuy nhiên, lộ trình ứng dụng CNTT trong phát triển Chính phủtại Hà Nội cũng như các tỉnh, thành phố khác hiện đang gặp phải nhiều khó khănthách thức như hạ tầng CNTT còn hạn chế khiến việc ứng dụng CNTT còn chậm,chưa đáp ứng được nhu cầu của người dùng dẫn đến chỉ số phát triển CNTT-TT(ICT Development Index) năm 2015 của Việt Nam chỉ xếp thứ 102/167, tụt 8 bậc

so với năm 2014 (Theo khảo sát của Liên hiệp Viễn thông Quốc tế năm 2015) Hơn

10 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã xác định CNTT-TT đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế quốc gia và là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triểnKinh tế - Xã hội của đất nước

Lộ trình triển khai phát triển dịch vụ công thông minh đã có những bước tiếntrong nửa đầu năm 2014, điển hình là việc Công an thành phố Hà Nội đã bắt đầutriển khai thử nghiệm hệ thống cấp hộ chiếu trực tuyến từ tháng 03/2014 Theothống kê, tỉ lệ hồ sơ đăng ký đã tăng từ 30% trong tháng đầu tiên lên đến gần 70%trong tháng 6/2014

Cùng với phát triển Chính phủ điện tử thì xây dựng thành phố thông minhcũng là một trong những mục tiêu trọng tâm đã và đang được triển khai Trong khi

đô thị hóa toàn cầu đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng thì việc ứng dụng CNTTtrong xây dựng thành phố thông minh được coi như một giải pháp tối ưu để giảiquyết bài toán quản lý đô thị và phát triển kinh tế- xã hội, điển hình như nhữngthách thức về giao thông và y tế Thực tế hiện nay cho thấy rằng hạ tầng giao thông(HTGT) tại Việt Nam tuy được chú trọng đầu tư nhưng hiệu quả mang lại vẫn chưacao

Bình quân đầu tư vào HTGT của Việt Nam từ năm 1995 đến nay vào khoảng4-5% trên tổng số GDP, trong khi nhiều nước chỉ đạt 2-3% Nhận thức được vấn đềnày, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới đây đã chính thức đưa ra “Giải pháp giaothông thông minh trên nền bản đồ số” với kỳ vọng sẽ giải quyết được bài toán giaothông phức tạp hiện nay

Trang 10

Song song với giao thông, y tế cũng có những hoạt động đáng chú ý khi mà

kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT giai đoạn 2016 - 2020 được Bộ Y tế phêduyệt với 33 dự án triển khai với vốn đầu tư gần 1.800 tỷ đồng Bên cạnh đó, vàođầu tháng 2 năm 2016, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 sẽ chính thức được triểnkhai với các cơ sở khám, chữa bệnh

Tất cả những điều này đã phần nào thể hiện rõ nỗ lực cũng như quyết tâmcủa Bộ y tế trong phát triển ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả công tácquản lý và phục vụ dân sinh Trong bối cảnh đó, Hôị thảo Quốc gia về Chính phủĐiêṇ tử 2016 sẽ đưa vào thảo luận chủ đề chính: “Phát triển Chính phủ điện tử: Hạtầng hiện đại, dịch vụ công thông minh, tăng cường minh bạch và gắn kết côngdân” Hội thảo sẽ tiếp tục các trao đổi, đánh giá về thực trạng và những bước pháttriển mới của Chính phủ điện tử, cũng như đề xuất các sáng kiến ứng dụng côngnghệ tạo đà cho những chuyển biến lớn trong phát triển Chính phủ Điện tử ngàymột bền vững, đáp ứng được nhu cầu và mang đến sự hài long tới người dân

Triển khai Chính phủ điện tử tại Tp Hồ Chí Minh:

Tp Hồ Chí Minh là đơn vị có chỉ số sẵn sàng CNTT xếp hạng nhất trong cáctỉnh, thành và cũng đi đầu trong xây dựng chính phủ điện tử Kết quả này đạt được

từ quyết tâm của lãnh đạo thành phố, từ cách làm đột phá và từ sự phát triển của hạtầng viễn thông, internet

Tại Việt Nam nói chung và Tp Hồ Chí Minh nói riêng, hạ tầng viễn thông

và internet phát triển mạnh những năm vừa qua đã tạo điều kiện rất tốt cho xâydựng chính phủ điện tử (CPĐT) Tính đến tháng 10 - 2007, Tp Hồ Chí Minh có 8,6thuê bao điện thoại, trong đó có 1,6 triệu điện thoại cố định, 7 triệu điện thoại diđộng, chiếm 25% của cả nước Internet băng thông rộng cũng phát triển rất ấntượng, từ 5.000 thuê bao ADSL năm 2003 đến nay đạt gần 400.000, tăng 80 lầntrong 5 năm và chiếm 50% số thuê bao ADSL cả nước

Tp Hồ Chí Minh đã đưa CNTT vào cơ quan nhà nước từ rất sớm Ngay từnhững năm 1998-2001, Sở Kế hoạch - Đầu tư, UBND Quận 1 đã tin học hóa thànhcông một số công việc Những năm sau đó TP cũng đã có nhiều chương trình, dự

án ứng dụng CNTT Đặc biệt từ 2005 đến nay CPĐT được xây dựng một cáchchuyên nghiệp hơn với bộ máy chuyên nghiệp, mục tiêu rõ ràng, kế hoạch trọngtâm và triển khai bài bản Tp Hồ Chí Minh đã xác định mục đích của CPĐT làphục vụ người dân; giúp cơ quan quản lý xử lý thông tin nhanh, nhiều và chính xác;công khai, minh bạch hóa hoạt động của cơ quan nhà nước Là công cụ, đồng thời

là nội dung của cải cách hành chính Các lĩnh vực cần tập trung thực hiện trước là:đất đai-xây dựng, đăng ký kinh doanh và tạo môi trường làm việc điện tử

Ngày đăng: 09/09/2016, 23:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Khái quát Mô hình thành phần của Chính quyền điện tử cấp tỉnh - Tìm hiểu về Chính phủ điện tử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW
Hình 1 Khái quát Mô hình thành phần của Chính quyền điện tử cấp tỉnh (Trang 4)
Hình 2: Mô hình thành phần chi tiết của Chính quyền điện tử cấp tỉnh - Tìm hiểu về Chính phủ điện tử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW
Hình 2 Mô hình thành phần chi tiết của Chính quyền điện tử cấp tỉnh (Trang 8)
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC CỦA THÀNH VIÊN - Tìm hiểu về Chính phủ điện tử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC CỦA THÀNH VIÊN (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w