1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số và miên núi - Tiềm năng, thách thức

5 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 665,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục duy trì, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở từng vùng, liên vùng và từng địa phương như các lễ hội truyền thống, cưới xin, lễ mừng cơm mới … đồng [r]

Trang 1

Ngày nhận bài: 16/11/2017; Ngày phản biện: 29/11/2017; Ngày đuyệt đăng: 5/12/2017 Số 20 - Tháng 12 năm 2017

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du

lịch đa dạng và phong phú, tiềm năng ấy thể hiện

ở các thế mạnh di tích, danh thắng, khu du lịch

quốc gia, các nét văn hóa độc đáo cũng như các

vùng du lịch trong cả nước Tính đến tháng 8

năm 2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng

cảnh trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng

di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp

hạng cấp tỉnh Tới năm 2014, có 8 di sản được

UNESCO công nhận là Di sản thế giới bao gồm:

Quần thể danh thắng Tràng An, Thành nhà Hồ,

Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố

đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh

địa Mỹ Sơn và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ

Bàng Tính đến hết năm 2010 Việt Nam được

UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế

giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ

An, Đồng Nai, Cù Lao Chàm, Cần Giờ, Cà Mau

và biển Kiên Giang, Việt Nam đứng thứ 27 trong

số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi

tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp; là 1/12 quốc

gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và

vịnh Nha Trang

Là ngành kinh tế mũi nhọn có tầm quan trọng

trong việc phát triển kinh tế đất nước, du lịch đã

nhận được nhiều quan tâm của Nhà nước ta và

các bộ ngành thông qua việc ban hành các văn

bản pháp lý, các chiến lược, chương trình hành

động quốc gia như nghị quyết số 92/NQ – CP ngày 10/12/2014 của chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới, quyết định 2473 ngày 30/12/2011 thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, quyết định số 321/QĐ – TTg ngày 18/2/2013 phê duyệt chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2013 - 2020 của thủ tướng chính phủ, chỉ thị

số 18/CT – BVHTTDL ngày 06/02/2012 của Bộ văn hóa thể thao du lịch về việc tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”…, riêng chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu

số được quy định tại Điều 15 Nghị định 05/2011/ NĐ-CP về công tác dân tộc như sau: “Tập trung

hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái; hỗ trợ quảng bá,

đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch”

Ngoài ra, nội dung này còn được hướng dẫn bởi Mục 3 Chương II Thông tư 12/2014/TT-BVHTTDL Việc nghiên cứu phát triển du lịch các vùng dân tộc và miền núi gắn liền với việc thực hiện chính sách dân tộc ở các vùng dân tộc

và miền núi, làm tốt công tác này không chỉ thu hút lực lượng lao động làm dịch vụ, tăng thêm

PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

VÀ MIỀN NÚI - TIỀM NĂNG, THÁCH THỨC

X u hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ trọng nông

nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái, trong đó vai trò của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét Tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong ngành dịch vụ, du lịch đã đem lại đóng góp lớn cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước với hàng ngàn tỷ đồng Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta trong đó phát triển du lịch dân tộc thiểu số là một hướng đi mới trong những năm gần đây, với sự quan tâm của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương cũng như sự nỗ lực của đồng bào các dân tộc hy vọng sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Từ khóa: Du lịch Việt Nam; du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tiềm năng và thách

thức; sản phẩm du lịch Việt Nam.

Trang 2

nguồn thu nhập cho đất nước nói chung và vùng

dân tộc và miền núi nói riêng mà còn góp phần

hiểu biết lẫn nhau, giao lưu giữa các miền văn

hoá, tăng thêm niềm tin và sức mạnh đoàn kết

dân tộc, trật tự an ninh xã hội ở các vùng du lịch

dân tộc miền núi, chống mọi luận điệu xuyên tạc

về chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo của Đảng

và Nhà nước ta, tăng cường thêm nét đậm đà bản

sắc văn hoá các dân tộc

Tiềm năng phát triển du lịch vùng dân tộc

miền núi

Vùng dân tộc và miền núi nước ta có nhiều

yếu tố thuận lợi cho sự phát triển du lịch, có

nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, chiếm tới 5/7

vùng du lịch của cả nước bao gồm Vùng trung

du và miền núi phía Bắc (bao gồm các tỉnh Hòa

Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái,

Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc

Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc

Giang), vùng Bắc Trung Bộ: (gồm các tỉnh Thanh

Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,

Thừa Thiên - Huế gắn với du lịch hành lang Đông

Tây và hệ thống biển, đảo Bắc Trung Bộ), Vùng

Duyên hải Nam Trung Bộ (gồm các tỉnh Quảng

Nam, TP Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú

Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận gắn

với hệ thống biển đảo Nam Trung Bộ), Vùng Tây

Nguyên (gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk

Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), Vùng Tây Nam Bộ

(gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang,

Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến

Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu

Giang và TP Cần Thơ gắn với du lịch tiểu vùng

sông Mêkông), nhiều nơi còn hoang sơ, tạo nên

sự thu hút đặc biệt đối với khách trong và ngoài

nước như miền Bắc có vườn quốc gia Ba Vì ở Hà

Nội; Mộc Châu - Sơn La với cảnh đẹp kỳ vĩ; hồ

Ba Bể ở độ cao 146m so với mặt biển, diện tích

500 ha ở Bắc Kạn; thác Bản Dốc ở Cao Bằng; cao

nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang; động Tam

Lào Cai nơi du lịch nổi tiếng ở độ cao mây mù

tuyết phủ; hồ Núi Cốc ở Thái Nguyên; hồ Thác

Bà ở Yên Bái; dãy Phan Xi Păng cao 3.400m; có

nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, có bản Apa Chải,

xã Xín Thầu, huyện Mường Nhé, Lai Châu giáp 3

quốc gia Việt Nam, Trung Hoa và Lào.v.v…

Miền Trung, Tây Nguyên có Bà Nà (Đà Nẵng)

được ví như chốn bồng lai tiên cảnh; đảo Lý Sơn

ở Quảng Ngãi với nhiều trải nghiệm đáng nhớ; ở

Quảng Nam có khu tháp cổ Mỹ Sơn; động Phong

Nha, Quảng Bình là di sản văn hoá thế giới; ngược

lên Tây Nguyên ta có Biển Hồ Gia Lai; ngã ba

Đông Dương, cửa khẩu B’y Kon Tum; hồ Lắc,

Đắc Lắk; thành phố cao nguyên Đà Lạt với núi Liang Biang nổi tiếng cao 2300m so với mặt biển; với thung lũng tình yêu; có khu tháp Chàm cổ kính của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.v.v Miền Nam có nhà thờ Đức Bà ở Thành phố

Hồ Chí Minh, có núi Đá dựng ở Kiên Giang, có nhiều hang động lung linh, màu sắc, có xứ thơ

Hà Tiên cao 100 m giữa cánh đồng, có văn thánh miếu ở Vĩnh Long, có núi Sam ở Châu Đốc, có vườn cò Vàm Hồ ở Bến Tre, có 450 chùa Khmer

cổ kính đó là những điểm đến của khách du lịch danh thắng các vùng dân tộc Việt Nam

Đồng thời các vùng miền ở trên gắn liền với các chiến công của dân và quân từ cách mạng tháng 8-1945 đến nay sẽ là những di sản đồ sộ để tuyên truyền cho các tour du lịch, để đáp ứng trí

tò mò, tìm hiểu, khám phá của du khách

Đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi rất thân thiện, gây được ấn tượng và thiện cảm với du khách, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán và lối sống riêng Dựa vào lợi thế trên ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một số điểm

du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sa Pa, du lịch Bản Lác ở Mai Châu Điển hình như Bản Lác, Bản Pom Coóng ở Mai Châu Hòa Bình đã

có hơn hai mươi ngôi nhà sàn chuyên phục vụ khách du lịch, với giá từ 500.000 đến 800.000/ sàn là một con số đáng khích lệ cho du lịch dân tộc miền núi

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta còn

có nhiều món quà lưu niệm, đồ thủ công được khách nước ngoài yêu thích từ túi, khăn, quần, áo,

mũ, váy, móc chìa khóa thổ cẩm cho đến các món

ăn, uống đặc sản như thắng cố, muối kiến vàng, cơm lam, rượu cần, rượu táo mèo, các loại thực phẩm khô có thể mua làm quà như thịt bò khô gác bếp, khô nai, thịt trâu khô… Trong đó thổ cẩm Việt Nam là hình ảnh ấn tượng quen thuộc của nhiều du khách quốc tế khi đến Việt Nam

Ở đâu, trong bất kỳ cửa hàng ở khu du lịch nào, người ta cũng thấy những gian hàng bày bán đủ các mặt hàng thổ cẩm Họa tiết trên đồ thổ cẩm rất bắt mắt và sặc sỡ với nhiều khối hình học tạo nên sự đối xứng và vòng lặp trên tác phẩm Được thêu bằng tay, chất chứa cả tâm hồn và tình yêu quê hướng đất nước, hình ảnh cỏ cây hoa lá, cảnh sinh hoạt của người dân Việt Nam khiến nhiều

du khách yêu thích, mua về làm quà Nhờ đó, sản phẩm dệt thổ cẩm không chỉ phổ biến với bà con các dân tộc trên vùng núi cao mà còn trở thành một mặt hàng “đắt khách” ở hầu hết các khu du lịch Việt Nam

Ngoài ra, vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Trang 3

nước ta cũng là nơi còn lưu giữ các trò chơi, lễ

hội truyền thống lâu đời, các lời ca điệu múa độc

đáo rất riêng của từng dân tộc như múa Xòe, múa

Chiêng của người Thái, múa Khèn, múa Sênh

tiền của người Mông, múa Tăng bu, múa Gậy của

đồng bào Khơ mú, múa Sạp của dân tộc Mường,

múa Trống, múa Xúc tép của dân tộc Cao Lan,

múa Chèo thuyền, múa Hoa sen của đồng bào

Khmer Nam Bộ…và đặc biệt là không gian văn

hóa cồng chiêng Tây Nguyên – kiệt tác truyền

khẩu và phi vật thể nhân loại, di sản văn hóa phi

vật thể thứ hai của Việt Nam được công nhận Lễ

hội cổ truyền ở vùng dân tộc và miền núi nước ta

rất đa dạng, phong phú và trải rộng khắp đất nước

như ném còn của dân tộc Thái, Mường, Tày, lễ

hội mừng lúa mới của các dân tộc thiểu số ở Tây

Nguyên, lễ hội lồng tồng của người Tày, lễ hội

đâm trâu của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây

nguyên và ở phía Bắc của vùng Đông Nam bộ, hội

đua voi ở Buôn Đôn, lễ hội Ka tê ở Ninh Thuận

và Bình Thuận, lễ hội cầu an bản Mường, Lễ hội

Ok Om Bok (hay còn gọi là lễ hội cúng trăng) của

đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ sinh sống ở các

tỉnh: Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang,

Hậu Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long… Tại mỗi vùng

miền, lễ hội tuy mang một nét tiêu biểu và giá

trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối

tượng tâm linh cần được suy tôn, như: Những vị

anh hùng chống ngoại xâm, những người có công

trong việc dạy dỗ hay truyền nghề hoặc những

người có nhiều công lao đóng góp cho việc chống

thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ

thế… Chính vì thế, lễ hội truyền thống là dịp để

con người giao lưu cộng cảm, trao truyền những

đạo lý, tình cảm, mỹ tục và những khát vọng cao

đẹp Đồng thời, những lễ hội truyền thống cũng

là dịp mang lại cho con người sự thanh thản nơi

tâm linh, gạt bỏ hay quên đi những lo toan thường

nhật để về với cội nguồn, về với thiên nhiên

Những thuận lợi này có một sức hấp dẫn rất

lớn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước

đến thăm quan, du lịch cũng như mua sắm các

hàng hóa lưu niệm vùng dân tộc và miền núi

Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa, du lịch dân

tộc và miền núi ngày càng phát triển đa dạng và

phong phú như du lịch tâm linh, du lịch gia đình,

du lịch sinh thái, v.v… đã mở ra diện mạo vùng

đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng phát triển,

đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không

ngừng được nâng lên cả về mặt vật chất và tinh

thần, đồng thời phát triển du lịch vùng dân tộc

và miền núi cũng tạo ra được nhiều công ăn việc

làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước

hạn chế những tệ nạn xã hội như nạn nghiện hút,

buôn bán thuốc phiện, buôn lậu, buôn bán phụ nữ

qua biên giới … Bên cạnh những thuận lợi ở trên, vùng dân tộc

và miền núi nước ta vẫn còn nhiều thách thức tác động trực tiếp đến phát triển du lịch đó là:

1 Rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán

2 Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: Địa hình chia cắt, rừng núi hiểm trở, nhiệt độ trong ngày

và giữa các mùa có biên độ thay đổi lớn và đột ngột, gây nhiều khó khăn cho sức khoẻ con người

và mùa khô thì hanh heo, khô cạn, thiếu nước

3 Kết cấu hạ tầng còn thấp kém Các sản phẩm phục vụ khách du lịch chưa đa dạng phong phú, phần lớn vẫn là các sản phẩm quen thuộc, mang tính truyền thống, chưa có sự đột phá, sáng tạo, tạo sự mới lạ đối với khách du lịch, cũng như chủ yếu mang tính tự phát của các hộ gia đình

và các doanh nghiệp, chưa có sự đầu tư của cơ quan chức năng và các chính quyền địa phương Chất lượng sản phẩm du lịch phục vụ du khách chưa có sức cạnh tranh với các quốc gia khác, Việt Nam chưa khai thác được thế mạnh các sản phẩm địa phương, liên vùng, liên quốc gia để xây dựng những tour du lịch hấp dẫn du khách

4 Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác du lịch như hướng dẫn viên chưa được đào tạo bài bản, ít kinh nghiệm thực tế và mang tính chuyên nghiệp chưa cao, khả năng am hiếu về phong tục, tập quán, văn hóa của chính dân tộc mình và các dân tộc khác để hướng dẫn, phục vụ khách du lịch còn nhiều hạn chế và bất cập, khả năng giao tiếp với khách du lịch bằng ngoại ngữ nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phục

vụ khách du lịch

5 Tư duy và tầm nhìn du lịch hạn hẹp: sự liên kết trong du lịch còn lỏng lẻo, thiếu bền vững, chủ nghĩa cát cứ, cục bộ địa phương đã triệt tiêu thế mạnh của du lịch vùng dân tộc và miền núi Việt Nam

6 Các loại hình du lịch còn đơn điệu, còn có tình trạng chèo kéo, ép giá mua hàng hóa đối với khách du lịch v.v…Mặc dù những biểu hiện này chỉ là cá biệt, nhưng đã gây phản cảm đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài

7 Nhiều người, trong đó có cả những người trong cơ quan tham mưu chiến lược vẫn cho rằng vùng dân tộc - miền núi không phải là vùng động lực phát triển Vì vậy, chủ yếu vẫn là xoá đói, giảm nghèo, giúp đồng bào điều kiện sống, chăm sóc sức khoẻ, mở mang trường học, cứu giúp khi thiên tai, bão lũ, chưa coi trọng phát triển du lịch

là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp một phần rất quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, tạo nhiều công ăn việc làm cho đồng bào các dân tộc

Trang 4

thiểu số đang sinh sống ở vùng dân tộc và miền

núi, góp một phần rất quan trọng xóa đói, giảm

nghèo Do dân cư sống rải rác, suất đầu tư lớn,

hiệu quả kinh tế thấp, nên chủ yếu trong chính

sách vẫn chỉ là hỗ trợ chứ chưa phải là đầu tư

phát triển

8 Không gian danh thắng và di sản văn hóa

bị xâm hại: việc khai thác nguồn tài nguyên vì

mục đích kinh tế đã phá vỡ cảnh quan, dẫn đến

môi trường ô nhiễm, làm mất không gian thiêng

của di tích

9 Việc quảng bá du lịch ở vùng dân tộc thiểu

số và miền núi thông qua các hình thức khác

nhau như trên báo, chí, phát thanh, truyền hình,

các ấn phẩm về du lịch chưa được đẩy mạnh và

đổi mới toàn diện, do vậy tác dụng quảng bá, thu

hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc

tế chưa cao

Từ những thách thức trên, để phát triển du lịch

vùng dân tộc thiểu số và miền núi, có thể thực

hiện một số giải pháp như sau:

1 Nhóm giải pháp quy hoạch phát triền du

lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Các địa phương cần tiếp tục tiến hành quy

hoạch phát triển du lịch cho phù hợp với đặc thù

của địa phương mình như lợi thế so sánh về nhân

lực, vật lực, các danh lam thắng cảnh, các địa

điểm du lịch tâm linh, các nơi nghỉ dưỡng, leo

núi, tắm nước khoáng và tắm thuốc dân tộc, các

ngành nghề truyền thống, v.v…

2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách:

- Tiếp tục rà soát các cơ chế chính sách về phát

triển du lịch vùng dân tộc và miền núi loại bỏ các

cơ chế chính sách không còn phù hợp, điều chỉnh,

bổ sung kịp thời các chính sách đã có

- Nghiên cứu, xây dựng các cơ chế chính sách

mới cho phù hợp với đặc điểm của từng vùng,

liên vùng và từng địa phương

3 Nhóm giải pháp về xây dựng và phát triển

cơ sớ hạ tầng vùng dân tộc thiểu số và miền núi

để phục vụ phát triền du lịch

Đẩy mạnh công tác xã hội hóa huy động mọi

thành phần kinh tế, nguồn lực đầu tư cho cơ sở

vật chất kỹ thuật du lịch như đường, sá, cầu,

cống, điện nước, khu du lịch tâm linh, hệ thống

cáp treo, leo núi v.v…Tăng cường đầu tư xây

dựng cơ sở hạ tầng, tạo thuận lợi cho du khách

tiếp cận khu, điểm du lịch Cần quy hoạch sắp

xếp và xây dựng các cơ sở dịch vụ: nhà nghỉ, y

tế, ăn uống, vui chơi giải trí… Có biện pháp quản

lý chặt chẽ các loại dịch vụ, phí dịch vụ phục vụ

du khách Nâng cao ý thức phục vụ trong kinh

doanh, tránh làm mất giá trị văn hóa truyền thống

của người Việt

Nguồn kinh phí thu được từ hoạt động du lịch phải được cân đối sử dụng phục vụ trở lại đầu tư tu

bổ các cơ sở du lịch Xây dựng hoàn chỉnh và hình thành đồng bộ về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lưu trú, sản phẩm và nguồn nhân lực… đủ khả năng đón khách trong nước và quốc tế

4 Nhóm giải pháp đa dạng hóa các loại hình

du lịch trong đó chú ý đến du lịch tâm linh, leo núi Hiện nay ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi

có rất nhiều chùa chiền, nơi thờ tự, để ghi danh công đức của những người có công xây dựng và bảo vệ đất nước Trải qua năm tháng thăng trầm của lịch sử, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt do

đó phần lớn đã bị mai một Để thu hút khách du lịch, các địa phương cần huy động một nguồn kinh phí theo phương châm xã hội hóa để bảo tồn các di tích lịch sử này đồng thời cùng với việc phát triển du lịch tâm linh, các địa phương cần phát triển du lịch leo núi, bơi thuyền, xây dựng các hệ thống cáp treo để thu hút khách du lịch vì những địa điểm này có địa hình hiểm trở không xây dựng được cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống v.v…

5 Nhóm giải pháp về đa dạng hóa các sản phẩm du lịch truyền thống:

Hiện nay để có nguồn thu từ khách du lịch trong và ngoài nước, vùng dân tộc thiểu số cần phải nghiên cứu đa dạng hóa các sản phẩm du lịch truyền thống theo hướng phong phú, đa dạng

về số lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm

du lịch, giá cả các sản phẩm du lịch hợp lý, có

độ thẩm mỹ cao như: các sản phẩm giới thiệu về phong cảnh, lịch sử cội nguồn của các sản phẩm

đó và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, các sản phẩm của làng nghề truyền thống như thêu thùa, dệt, may v.v…

6 Nhóm giải pháp về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở từng vùng, liên vùng và từng địa phương

Tiếp tục duy trì, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở từng vùng, liên vùng và từng địa phương như các lễ hội truyền thống, cưới xin, lễ mừng cơm mới … đồng thời tiếp tục sưu tầm các tác phẩm có tính nghệ thuật cao để quảng bá với khách du lịch trong và ngoài nước về bản sắc văn hóa đa dạng phong phú của dân tộc mình Chú trọng giáo dục nếp sống văn hóa bảo vệ không gian và môi trường du lịch Bảo tồn giá trị di sản văn hóa trong khai thác và phát triển du lịch không vì mục đích kinh tế mà phá

vỡ di sản, xâm lấn danh thắng, hủy hoại không gian tâm linh của các công trình tín ngưỡng, di tích văn hóa

Trang 5

7 Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ lãnh đạo quản lý, hướng dẫn viên du lịch

Nhóm giải pháp này giữ một vị trí rất quan

trọng có tính quyết định để nâng cao chất lượng

phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước Việc

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý,

hướng dẫn viên du lịch cần bảo đảm đủ về số

lượng và không ngừng nâng cao về chất lượng để

đáp ứng kịp thời phát triển du lịch vùng dân tộc

và miền núi nói riêng và xu thể toàn cầu hóa và

Hội nhập kinh tế Quốc tế nói chung

8 Nhóm giải pháp về tiến hành thí điểm xã

hội hóa làm công tác du lịch

Việc tiến hành thí điểm xã hội hóa làm công tác

du lịch cần có sự hướng dẫn, phối hợp và quản lý

chặt chẽ của các cơ quan chức năng liên quan để

công tác xã hội hóa làm công tác du lịch đi đúng

hướng tránh tình trạng tự phát, vô tổ chức làm tốt

công tác này sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm,

góp phần quan trọng vào xóa đói, giảm nghèo,

không ngừng nâng cao mức sống của đồng bào

các dân tộc thiểu số

9 Chính quyền địa phương và cơ quan chuyên

môn quản lý hoạt động du lịch các cấp, cơ sở kinh

doanh dịch vụ thực hiện đồng bộ giải pháp bảo

đảm an ninh, trật tự nhằm bảo vệ an toàn cho

khách du lịch Tăng cường kiểm tra, phát hiện,

ngăn chặn và xử lý các đối tượng đeo bám, gây

mất an toàn cho khách du lịch Ngoài ra, tăng

cường kiểm tra, thanh tra và xử lý các tổ chức,

cá nhân có hành vi vi phạm, tiếp thu giải quyết

những kiến nghị của khách du lịch Tuyên truyền

vận động nhân dân tham gia phong trào cải thiện môi trường tại các điểm du lịch

10 Tăng cường tuyên truyền quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tờ rơi, áp phích, các ấn phẩm du lich để thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm quan, du lịch tại các vùng dân tộc và miền núi Đổi mới công tác xúc tiến, quảng bá du lịch trên tinh thần huy động mạnh

mẽ sự tham gia của các hiệp hội và doanh nghiệp

du lịch Tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xúc tiến du lịch gắn với việc quảng bá văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên các phương tiện truyền thông đại chúng Tăng cường năng lực cơ quan tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương, nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch

Tài liệu tham khảo

[1] Hà Quế Lâm, (2009),“Tiềm năng phát triển du lịch vùng dân tộc và miền núi Việt Nam”,

website: http://web.cema.gov.vn/modules.php?n ame=News&op=Print&mid=2226;

[2] “Tiềm năng du lịch của Việt Nam”,

website: https://www.vietiso.com/info/tiem-nang-du-lich-viet-nam;

[3] Minh Nhựt, “Những lễ hội tiêu biểu của các vùng, miền ở nước ta”, báo Bình Phước,

website: https://www.vhttdlkv3.gov.vn/Le-hoi/ Nhung-le-hoi-tieu-bieu-cua-cac-vung-mien-o-nuoc-ta.2093.detail.aspx

TOURIST DEVELOPMENT IN THE ETHNIC MINORITIES AND MOUNTAINOUS

REGION- POTENTIAL AND CHALLENGE

Abstract: The legal tendency of the world’s economic structure shows that the density of

agriculture from the dominant position has given way to the industry, and that the role of the service economy will eventually dominate, of which, the role of tourism in the service sector

is also increasingly clear In Vietnam, the average annually growth rate of over 14% per year

is nearly double the growth rate of the whole economy and contributes to the increasing share

of the service and tourism sector Great for the growth and economic development of the country with thousands of billion In addition to the development of tourism is also easy to create conditions for other industries to develop With the advantages, positive aspects that tourism development brings, tourism actually has the potential to change the economic face

of our country in which development of ethnic tourism is a new direction in the recent years, with the concern of all levels, branches and local authorities, as well as the efforts of the ethnic minority people, they are expected to bring big revenue to the state budget.

Keywords: Vietnam tourism; tourism of ethnic minority and mountainous areas; potential

and challenge; Vietnamese tourism products.

Ngày đăng: 15/01/2021, 05:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w