- Rộng hơn ta thấy ở loài chim công, chim trĩ, … bộ lông của chim trống bao giờ cũng đẹp hơn trong khi chim mái thì bộ lông tối ám... Phân biệt giới tính qua hình dáng: Người ta có thể
Trang 1TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA CHIM
Trang 2IV SINH SẢN:
1 Sự sai khác đực cái:
Sự sai khác đực cái
của chim thường thể
hiện khi đã trưởng thành sinh dục Sự sai khác
này có thể là đặc điểm sinh dục cố định (gà,
công, uyên ương, …) hay tạm thời (vịt, mòng két, mòng bể và một số loài rẽ ) Và có thể phân biệt
Trang 3a Phân biệt giới tính qua sắc lông:
- Chim bảy màu (Chloebia gouldiae) cũng vậy, bộ
lông chim trống lúc nào cũng tươi tắn nổi bật hơn
chim mái Chim mái sắc lông nhạt hơn chỉ trong mùa sinh sản mới tươi lên một chút
Trang 4 - Rộng hơn ta thấy ở
loài chim công, chim
trĩ, … bộ lông của
chim trống bao giờ
cũng đẹp hơn trong
khi chim mái thì bộ
lông tối ám
Trang 5b Phân biệt giới tính qua
hình dáng: Người ta có thể
căn cứ vào hình dáng để
đoán ra chim trống hay chim mái vì chim trống thường lớn hơn, đầu to, vai rộng, ngực nở lại dài đòn hơn chim mái
Ví dụ:Hoạ mi, Khướu, Yến phụng, Bồ câu, …
Trang 6c Phân biệt giới tính qua tiếng kêu, giọng hót: Đây là phương pháp thường được áp dụng và đáng tin cậy nhất Có loài chim trống và chim mái giọng
khác hẳn nhau nhưng cũng có loài giọng của chim trống và chim mái là như nhau
* Ở loài chim trống và
chim mái có giọng khác
nhau: thì việc phân biệt
khá dễ dàng.
Ví dụ:- Hoạ mi, con trống
hót có bài bản lại luyến lái
tài tình trong khi con mái
Trang 7- Khướu cũng vậy, chim trống thì hót véo von cả
trăm giọng trong khi chim mái chỉ biết kêu “ro…
ro”
* Ở loài chim trống và chim mái có giọng như nhau: thì ta phải để tâm tìm hiểu mới có thể phân biệt được chúng
Trang 8- Chích choè than (hay Chích choè lửa) trống hót giống như chim mái có điều giọng chim trống rất to và nhiều âm điệu trong khi chim mái hót
nhỏgiọng, ít hót và hơi không dài như chim trống
Trang 9 - Cu gáy trống và mái
đều có giọng gáy như
nhau chỉ có điều khác
làchim trống gáy
quanh năm còn chim
mái chỉ siêng gáy vào
mùa sinh sản Trong
mùa sinh sản, giọng
chim mái còn có phần
hấp dẫn hơn giọng
chim trống nữa
Trang 10- Vành khuyên, chim trống và mái đều có tiếng
kêu “chép!chép! ” như nhau nhưng nếu lắng tai
nghe kĩ ta sẽ thấy chim trống siêng kêu mà tiếng
kêu lại gắt, âm cao hơn trong khi đó chim trống
âm thấp, hơi trầm
Đặc biệt chim Sơn
ca mái không biết hót trong khi đó chim trống lại hót rất hay
Trang 11d Phân biệt giới tính qua phần mũi chim:
- Yến phụng: Con
mái trên mũi có lớp
sáp màu trắng (ở
chim tơ) và màu trắng
ngà (ở chim trưởng
thành) Ngược lại, ở
con trống trên mũi có
lớp sáp màu hồng hay
màu xanh biếc
Trang 12 - Khướu: Ta có thể quan sát chùm lông mọc trên mũi của chúng Chùm
lông đen này chỉ to bằng hột bắp, nhưng nếu lông ngắn chỉ cao độ 1 mm là chim mái Ngược lại cao vài mm thì là chim
trống
Trang 13 - Riêng Bồ câu và Cu gáy có dạng mũi
giống nhau Ở con trống thớ thịt trên lỗ mũi nở ngang và gồ cao lên khiến gốc mỏ
to và chót thịt trên mỏ nhỏ và xẹp Còn mỏ chim mái nhìn ngang trông suôn đuột từ
Trang 14e Phân biệt giới tính qua màu mỏ: Có nhiều
giống chim sắc lông và hình dáng trống mái như nhau nhưng quan sát kĩ sẽ thấy màu mỏ của chúng lại có điểm khác nhau: Bạc má, Manh manh, … Có mỏ màu đỏ tươi nhưng ở con trống thì tươi hơn ở con mái
Trang 15 Thế nhưng cũng có loài mải đến ngày nay các
nhà điểu học tài ba trên thế giới vẫn chưa phân biệt được trống mái ra
sao đó là con Nhồng
(Yểng )
Trang 162 Ghép đôi, khoe mẽ:
Trừ ra một số ít loài: Cun cút, Nhát hoa chim mái chủ động khoe mẽ gù chim trống, đánh nhau để giành chim trống Còn đa số loài chim con trống khoe mẽ để dẫn dụ con mái bằng nhiều cách khác nhau
Trang 17a Bằng cách phô trương bộ lông:
Những loài chim mà con
trống có bộ lông màu sặc
sỡ, con mái có bộ lông
xỉn: chim Trĩ, chim Công,
Gà,… Chim trống thường
phô ra những phần đẹp
nhất của bộ lông hay mào
thịt ở đầu, đám da trần có
màu sắc sặc sỡ ở cổ hay ở
ngực để hấp dẫn con mái.
Trang 18 - Chim Thiên đường đuôi cong, con trống đậu trên cành cây trước trước mặt con mái ưỡn thẳng người
ra, các lông ngực và bụng bè ra tạo thành một tấm hình chữ nhật màu lục nhung mịn, giữa có một dải hẹp có nhiều vạch ngang nhỏ màu xanh Thỉnh thoảng nó há miệng để khoe lớp màng miệng màu xanh lục thẫm mà chỉ đến mùa sinh sản mới có
Trang 20 - Đến Nam Phi, có dịp
quan sát loài Đà điểu, 1 trong những loài vật am hiểu nghệ thuật tỏ tình Để duy trì nòi giống nó tìm cách thu hút sự chú
ý của con mái bằng cách trình diễn vũ điệu rất
đặc biệt với đôi cánh
dang rộng và bộ lông
dựng ngược để tạo sự
chú ý cho con mái Đôi lúc nó nằm bẹp xuống
đất, đầu lắc lư hệt như
một con gà tây khổng lồ
Trang 21b Bằng tiếng hót và những âm thanh đặc biệt:
- Cò thì kêu lên những tiếng răng rắc như tiếng cành cây gãy để thể hiện tình yêu
Trang 22- Không giống như những loài khác, chim Gõ kiến lại tạo ra các âm thanh máy móc Thay vì hót nó lại lấy một cành cây khô gõ thử lên mái nhà cho đến khi tìm thấy một điểm tạo ra được âm thanh mà chúng mong muốn, sau đó chúng mới dùng mỏ để gõ lên như một hồi trống cho chim mái để mắt đến.
Trang 23c Bằng những động tác đặc biệt:
- Sếu trống khi tán tỉnh sếu mái thường biểu diễn những điệu nhảy tán tỉnh ngoạn mục: cúi đầu, gập thân và nhảy, đôi khi vọt lên cao đến 6 m trong
không trung
Trang 24 - Một số loài chim lại
dùng đuôi để giao tiếp
Đuôi được coi là “chứng minh thư” vì khi đến mùa xây tổ, lập gia đình
chúng phải nhận biết
chính xác đâu là đồng
loại để tránh “râu ông nọ cắm cằm bà kia” Do đó, không phải ngẫu nhiên
mà gà trống lại có cái
Trang 25 - Còn loài Nhạn biển
Châu Úc con trống lại
khoe chân của mình với con mái Nếu chân của con trống nào to khoẻ
hơn sẽ được con mái
chấp nhận
Trang 26- Ngỗng khi tìm bạn tình lại có những hành động rất ngộ nghĩnh Chúng làm ra vẻ như sắp quyết chiến với ai đó bằng cách diễu võ dương oai rất hùng dũng Nhưng thực ra chẳng có đối thủ nào cả Chú ta làm thế để gây ấn tượng với một cô nàng nào đó.
Trang 27- Thời kỳ ve vãn của chim ruồi là một cảnh tượng kỳ lạ Chim trống biểu diễn nhào lộn đủ kiểu để khoe khoang Với tốc độ cực nhanh, chim trống sẽ bổ nhào thẳng xuống từ trên cao, băng tới đậu trên bạn tình.
Trang 28- Uyên ương thì con trống luôn gục đầu với bạn
tình, thỉnh thoảng há miệng to hút nước hoặc vươn dài cổ đầu lắc qua lắc lại Có lúc còn biểu diễn một
tư thế đặc biệt: quay đầu ra sau dùng mỏ chạm khẽ vào những cái lông kiếm màu cam ở phía sau
Trang 29 Nếu chim mái bơi
nhanh lên trước thì
chim trống sẽ đuổi
theo, chúng quấn quít vời nhau Đôi khi
chim trống cong đuôi lên leo lên mình con mái, dùng mỏ ngậm
chặt lông đầu con mái thực hiện giao phối
Trang 30d Bằng lễ vật:
- Loài chim cũng có tục tặng quà “cầu hôn”
Không phải chỉ có con người mới biết tặng hoa, chim Sáo đá Châu Âu, con trống khi đi xa về phải mang theo một cành hoa đẹp tặng bạn tình
Trang 31 - Ở chim Pinguin và chim Cánh cụt thì
dùng viên sỏi để làm quà tặng cho chim
mái Đây cũng là vật liệu để chúng dùng
xây tổ sau này
Trang 32 Tại quần đảo Glapages
( Ecuador) có loài chim cốc tỏ tình rất thú vị, con trống phải tặng cho con mái 1 món quà Đ ể làm được điều đó, con trống phải vượt qua 1
chặng đường dài trên các đồi núi nham thạch thậm chí lặn cả xuống biển để lấy rong
biển, thứ mà con cái rất mê cũng là vật liệu xây tổ
Trang 333/ Làm tổ
_ Loài chim làm tổ nhằm mục đích bảo vệ chính mình Tổ chim là nơi chim đẻ trứng, ấp và nuôi con Tổ chim đảm bảo vi khí hậu thuận lợi nhất cho sự phát triển của chim non và che mắt kẻ thù
Trang 34a/ Vị trí xây tổ:
_ Dưới mặt đất:
+ Loài cú hang Châu
Mỹ làm tổ dưới đất,
chúng đào tổ thành
các đường hầm
+ Chim bói cá,
bồng chanh, sả, trẩu
lớn, trẩu bé, đào
hang hốc đất ở thành
bờ ao, bờ sông suối
Trang 35_ Trên mặt đất: Mọi loại chất nền đều được khai thác: băng, sa mạc, bờ sông, hồ nước, bãi cỏ lau sậy…
+ Chim choi choi, te
te cựa, ác là, đẻ trứng
trên bãi cát có vỏ ốc
và cuội
Trang 36 _ Trên hốc cây, ngọn cây, vách núi đá, khe tường…
Trang 37b/ Dụng cụ và vật liệu xây tổ:
_ Dụng cụ: ở chính cơ thể chúng Với hàm trên, hàm dưới, chúng đào bới, đẽo tạc Với những cú mổ chúng dệt và thêu
_ Vật liệu: Chúng tận dụng mọi thứ kể cả phân nhưng có thể chia làm:
+ Vật liệu có nguồn gốc thực vật(phần lớn các loài chim): cành cây nhỏ, lá cây, xơ vỏ cây, bông cỏ, lá cỏ, rễ cây, rêu rong, địa y…
Trang 38 + Vật liệu có nguồn gốc động vật: tơ, mạng nhện, lông, tóc, nước bọt, xương thú, xương đầu chim, xác côn trùng…
Yến mào: dùng nước bọt trộn với rêuYến sào: xây tổ bằng nước bọt nguyên chất và gắn vào vách đá trong hang
Ngoài ra chúng còn dùng cả miếng kính, đá, mảnh vải màu sặc sỡ, nút chai, nắp bút
Trang 39c/ Cách xây tổ
+ Gõ kiến mổ cái mỏ nhọn, khoẻ vào thân cây, khoét 1 hốc khá sâu, rồi tha những sợi cỏ, lá khô lót vào
+ Quạ, diều hâu, ác là,vạc, cò… thường tha những cành cây khô mang về gác lên chạc cây làm tổ
Trang 41 + Ở đồng ruộng, loài xít chỉ gập cây lúa
hay cây cói thành 1
đám dày 15-20cm tuỳ chỗ nước nông hay
sâu rồi nằm vào đó
để tạo nên dáng tổ
Trang 42_ Cách phức tạp:
+ Chim chích đuôi dài dùng mạng nhện hay sợi
tơ kén sâu nối các lá cây lại với nhau Sau đó
chúng dùng chân quặp lấy mép 1 lá, còn mỏ cặp vào mép 1 lá khác, rồi kéo 2 mép lá lại với nhau bằng sợi tơ
Sau đó chim tha nhiều
sợi cỏ mềm về lót bên
trong Các sợi cỏ này
được quấn lại thành 1
cái phễu nằm gọn
trong tổ lá vừa mới
Trang 43 + Chim thợ lò: dùng cát
trộn với phân bò để đắp thành chiếc tổ hình cầu
nặng khoảng 4 kg, đặt
ngang trên các cành cây trông tựa như quả bưởi
Tổ có cửa 1 bên và phía trong và phía trong có
vách lửng ngăn đôi, nửa ngoài thông với cửa là lối
ra vào, nhảy qua bức
vách vào trong là buồng
Trang 44+ Chim rồng rộc, chim mỏ rộng xanh và 1 số ít
loài chim nhỏ khác sống ở vùng nhiệt đới gọi là chim thợ dệt có tài đặc biệt là làm những chiếc tổ treo hình cầu mà cửa vào là 1 đường ống dài đi từ dưới lên hay ở ngang bên cạch tổ Tổ của nó được đan bằng sợi cỏ hay sợi thực vật khác, quấn vào đầu cành tre, lá cau, lá dừa
Trang 46 _ Một số loài chim
dựng tổ thiếu hoặc tu sửa tổ trong suốt thời gian sống trong tổ
+ Mòng biển, nhạn biển, và gà gô có thể bổ sung 1 số vật liệu trong suốt thời kỳ ấp trứng
Trang 47 + Vịt biển và những
giống vịt khác cứ luôn luôn dứt lông ngực của mình xuống trong suốt thời kỳ đang ấp trứng, sao cho ổ trứng gần nở được phủ 1 lớp dày
hơn so với khi trứng
mới được đẻ.
Trang 48 + Đại bàng lông vàng
thường làm tổ và sinh đẻ trên những vách núi
cheo leo hoặc cây cao
cách mặt biển khoảng
sung vào tổ cũ, nên tổ
càng ngày càng lớn, tổ cao nhất có thể tới 6m, rộng 2m, nặng 1 tấn trở lên
Trang 49 + Vẹt Paraket Thầy
Tu ở Nam Mỹ làm tổ chung bằng que và
cành Nhiều khi tổ
quá to làm gãy cả
cành Mỗi cặp trống, mái có cửa vào riêng biệt Tổ nọ chồng lên tổ kia tạo thành 1
Trang 50 _ Một số loài không làm tổ, tận dụng tổ
chim khác:
+ Chim đầu rìu, cú phù thuỷ, 1 số loài
vẹt tận dụng lại các
hốc cây từng là tổ
của gõ kiến
Trang 51 4/ Đẻ trứng, ấp trứng và nuôi con:
a/ Đẻ trứng
+ Đẻ trứng có hạn định: cu gáy, bồ câu chỉ đẻ 2 trứng, choi choi đẻ 4 trứng
+ Đẻ trứng không hạn định: gà, vịt…
_ Số lượng trứng đẻ trong 1 lứa của 1 loài
cũng thay đổi tuỳ theo lượng thức ăn:
Trang 52_ Hình dạng và kích thước trứng:
Thông thường trứng có đầu nhỏ, thuôn nhọn để chim mái dễ ấp và trứng không bị lăn khỏi tổ
núi rất thấp, trứng hình quả
lê để không bị lăn xuống.
trứng gần như bằng nhau.
Trang 53 _ Màu sắc trứng:
Trứng có nhiều màu
sắc và hoa văn phong
phú, độc đáo, khác
nhau tuỳ từng loài
Trứng choi choi
Trang 54 b/ Aáp trứng
_ Ở phần lớn loài chim công việc ấp trứng được cả chim trống và chim
mái cùng tham gia như: Đà điểu Châu Phi con
trống ấp đêm, con mái
ấp ngày Khi 1 con ấp
trứng con kia đi kiếm
mồi cho cả 2 con cũng
có loài bớt thời gian(bỏ
ổ trứng) đi kiếm mồi
Trang 55 _ Việc ấp trứng cũng khác nhau tuỳ loài.
Trang 56 _ Có những loài chim
kí sinh tổ, chúng
không làm tổ và ấp
trứng mà đẻ vào tổ
chim khác nhờ ấp và nuôi con hộ
Trang 57 c/ Nuoâi con:
Trang 58 _ Tập tính chăm socù chim non ở các loài chim rất
khác nhau nhưng đều bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
+ Kiếm mồi nuôi chim non
+ Bảo vệ con non chống kẻ thù ăn mồi
+Dọn vệ sinh tổ
+Che chở con non
- Thời gian nuôi con cũng khác nhau tuỳ loài