du khảo Việt Nam từ tháng 11/2004 tới tháng 5/2005, với học bổng Fulbright của Bộ Ngoại Giao Mỹ, giúp thu thập thêm nhiều tài liệu quí, có cơ hội làm việc tại các văn khố và thư viện Việ
Trang 1Phân Chia Thế Giới
Ðầu Xuân Kỷ Sửu (25/1/2009) tôi khởi đầu việc hiệu đính phần tư liệu lịch sử Việt từ đời Ngô (938-965) tới đời Nguyễn (1802-1945) Ðây có lẽ là lần hiệu đính cuối cùng, và khá tốn thì giờ vì việc chuyển đổi từ lịch Ta qua lịch Tây.
Mặc dù đã hoàn tất việc sơ thảo ít năm trước, suốt năm qua, tôi chú trọng vào thời hiện đại, nhất là khía cạnh pháp luật hơn sử học.
Một trong những bài viết cần hiệu đính là bài “Tài Liệu Nghiên Cứu Sử” đã in trong Ngàn Năm Soi Mặt năm 2002 Chuyến
Trang 2du khảo Việt Nam từ tháng 11/2004 tới tháng 5/2005, với học bổng Fulbright của Bộ Ngoại Giao Mỹ, giúp thu thập thêm nhiều tài liệu quí, có cơ hội làm việc tại các văn khố và thư viện Việt Nam, du lịch
từ Nam chí Bắc, tiếp xúc nhiều học giả và nhà nghiên cứu trong nước khiến nhiều chi tiết cần được cập nhật.
Là người nghiên cứu chuyên nghiệp, với tôi, chỉ có sự thực lịch
sử mới quan trọng Tôi không ngả theo, chiều chuộng một thế lực hay cá nhân nào, mà những điều đã và sẽ viết chỉ là sản phẩm của hơn 30 năm nghiên cứu, với hy vọng những thế hệ mai sau nhìn rõ chân diện dân tộc mình, hầu rút ra bài học hữu ích cho bản thân, cũng như những dự tính phục vụ đất nước, nhân loại.
Tôi không hề có tham vọng chính trị hay một mục đích nào khác hơn làm tròn trách nhiệm một người học sử Hơn 2000 năm trước, Trang Chu từng viết: Ngọn gió thổi qua rừng núi, hang động, phát ra muôn vạn âm thanh khác nhau; thế nhân thường chỉ nhận hiểu được những tiếng vang trầm bổng, dị biệt ấy; ít ai tìm hiểu đến cái uyên nguyên của gió Ðời sống nhân loại cũng vậy Chúng ta chỉ thường được chứng kiến những màn ảo thuật trước mắt, ít ai tận tường những mưu mẹo, bàn định phía sau hậu trường.
Việt Nam không là một đại cường, nhưng cũng là một quốc gia không nhỏ, thiết lập được vị thế đáng nể trọng tại Ðông Nam Á và trên thế giới Khả năng tự sinh tồn và ngày một phát triển, hùng mạnh hơn là công lao, xương máu của biết bao thế hệ Không hiểu biết tường tận lịch sử dân tộc, đất nước mình mới nẩy sinh những tinh thần chia rẽ, hướng ngoại, hay nuôi dưỡng tham vọng độc tôn– thuận ta thì sống, nghịch ta thì diệt–của luật kẻ mạnh đã có hàng chục ngàn năm lịch sử với những cơn điên rồ tanh máu.
Ở những năm đầu một thiên niên mới không thể dấu diếm niềm
ao ước của tôi về sự phục hưng của tinh thần yêu chuộng sử văn trong giới trẻ, và một chương trình giáo khoa mà sử học là một trong những tín chỉ bắt buộc cho các sinh viên đại học.
Ngoài ra, cũng mong giới đồng nghiệp trong nước khởi đầu– hoặc tiếp tục–chương trình sử dụng DNA để sớm giải quyết vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Chấm dứt tìng trạng “dĩ nghi truyền nghi” trong quốc sử về những tiếng “Hùng” hay “Lạc,”tránh được cảnh những người hồ đồ, thiếu kiến thức hăm hở “khỉ sự”xưng tội rằng
tổ tiên mình là người Tàu!
Khi từ Việt Nam trở lại Mỹ, tôi đã có dự định tìm tài trợ cho kế họch này, nhưng sức khoẻ đột ngột suy yếu, đành bỏ dở cùng nhiều
dự tính khác.
Trang 3Houston, 1/2/2009
Người học sử Việt nào cũng bị đối mặt nhiều trở ngại nhức đầu Nào là
vấn đề tên nước, tên dân, nguồn gốc dân tộc Nào là vấn đề ngày tháng, niên
đại Nào là những âm mưu hiểm độc của ngoại cường dưới chiêu bài khai
hóa, tự do, dân chủ, trộn lẫn với tham vọng quyền lực, lợi danh của các phe
nhóm bản xứ, với bảng hiệu đấu tranh giành độc lập, giải phóng, v v Căn
nguyên chính của chứng nhức đầu kinh niên trên là vấn đề tư liệu, hay thiếu
tư liệu
Mặc dù các sử quan Việt cho rằng nước cổ Việt xuất hiện từ năm 2879 Trước tây lịch [TTL], mãi tới thế kỷ XIII, nước ta mới có bộ quốc sử đầu
tiên, tức Ðại Việt Sử Lược của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1272) Hơn một thế
kỷ sau tới bộ Việt sử cương mục (1386-1427) của Hồ Tông Thốc, hoàn
thành vào cuối đời Trần (1225-1400) Nhưng hai bộ sử này bị thất lạc trong thời gian nhà Minh chiếm đóng nước ta (1407-1427) Vào đầu triều [Hậu]
Lê, Phan Phu Tiên soạn Sử Ký Tục Biên (1455) Rồi dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497), Ngô Sĩ Liên hoàn tất bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
(1479), gồm 2 phần: Ngoại kỷ (5 tập) và Bản Kỷ (10 tập) Các đời sau tiếp
tục viết thêm (tục biên): Vũ Quỳnh (Ðại Việt thông giám), Lê Tung (Ðại
Việt thông giám tổng luận, 1514), Phạm Công Trứ (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Bản Kỷ, Tục Biên, 1665), Lê Hi và Nguyễn Quí Ðức (Bản Kỷ, Tục Biên, 1697), Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá (Quốc sử tục biên), Nguyễn Nghiễm (Việt sử bị lãm), Lê Quí Ðôn (Ðại Việt thông sử,
hay Lê triều thông sử, 30 quyển; và Quốc triều tục biên, 8 quyển) Ngoài ra, còn các bộ Trung hưng thực lục (1289?) của Trần Nhân Tông; Lam sơn thực
lục (1431-1432) của Lê Thái Tổ; Thiên nam minh giám của họ Trịnh; [Lê
triều] Trung hưng thực lục của Lê Tương Dực (1504-1509), hay các sách tư của họ Ngô, Lịch triều tạp kỷ của họ Cao [có lẽ là Ngô Cao Lãng] tại Ái
châu [Thanh Hoa] và con là Siển Trai (Emile Gaspardone, BEFEO, số 34 (1934), tr 1-167 tại 75) v v
Tóm lại, quốc sử Việt mới chỉ xuất hiện từ thời Trung cổ Và vì các điều kiện chính trị, chiến tranh, ý thức hệ (Khổng giáo), thiếu phương tiện bảo quản (giấy rách nát, mọt hoặc mối ăn, chiến tranh), không những sách của Lê Văn Hưu và Hồ Tông Thốc bị thất lạc, tuyệt bản, ngay đến bộ sử của Ngô Sĩ Liên cũng không còn nguyên vẹn Nó đã bị sửa chữa, hiệu đính qua các lần sao chép, tục biên, v v Bộ quốc sử cũ nhất mà chúng ta được đọc
là bản in vào khoảng cuối thế kỷ XVII
Năm 1798, vua Quang Toản nhà Tây Sơn (1778-1802) cũng cho lệnh
sử quan Bắc thành chép sử Vì bộ Ðại Việt Sử Ký cũ nhất bị thất lạc, sử quan
phải chép lại từ đời Hồng Bàng tới thập nhị sứ quân làm Ngoại kỷ, và mở đầu Bản kỷ bằng Ðinh Tiên Hoàng cho tới ngày bị Minh chiếm đóng [1407], gồm 17 quyển Ngô Thì Nhiệm có lẽ chịu trách nhiệm sửa chữa và khắc bản
Trang 4Ðến đời vua Tự Ðức (1848-1883), quốc sử quán nhà Nguyễn hoàn tất
bộ Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, nhưng chỉ khắc bản năm
1884 (đời Kiến Phước, 1883-1884) Ngoài ra, còn hai bộ Ðại Nam Thực
Lục, từ chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến vua Ðồng Khánh (1885-1889),
và Ðại Nam Liệt Truyện.
Tất cả các bộ sử này đều gây nhiều vấn nạn
Từ thời Pháp thuộc đến nay, vấn đề biên soạn sử tiến bộ hơn, nhưng vẫn chưa có những nghiên cứu thực sự giá trị Số người được huấn luyện chuyên nghiệp ngành sử học quá ít Ða số những người nghiên cứu hoặc viết
sử đều là nhà mô phạm, hoặc coi sử như một thứ giải trí thanh cao Bởi thế, các tác phẩm giá trị nhất đều do học giả ngoại quốc hay học giả Việt ở hải ngoại soạn thảo Một trong những lý do chính vẫn là thiếu sử liệu Ngoài ra, còn những áp lực chính trị giai đoạn của chế độ cầm quyền, các tổ chức, phe phái có thế lực khiến sử gia không dám chép hết sự thực; hay thiếu phương tiện vật chất để hoàn thành các tác phẩm tốt, v v Nhiều bộ “sử” chỉ thuần
là tài liệu chiến tranh chính trị hoặc truyền giáo Ða số tác giả, và từ đó người học sử đời sau, dễ bị lạc vào mê hồn trận của các hệ thống tuyên truyền cực kỳ tinh vi của nhiều phe phái, xà cừ mà tưởng lầm thành bạc
Bài viết này chỉ chú trọng vào vấn đề tài liệu sử Vấn đề phương pháp
sử và triết lý sử sẽ dành cho một dịp khác
I SÁCH SỬ TỪ THỜI TRUNG CỔ TRỞ VỀ TRƯỚC:
Nhiều người tin rằng với bốn ngàn năm văn hiến, dân Việt rất yêu thích lịch sử Niềm tin này không được phản ảnh qua số sách sử hoàn thành hay việc bảo tồn các sử liệu Tổng số sách sử còn được lưu truyền vỏn vẹn mươi tựa, vậy mà hầu hết đã tuyệt bản Các sách sử chúng ta được đọc ngày nay chỉ khắc bản và ấn hành từ cuối thế kỷ XVII Sách sử cũng thường chỉ tàng trữ tại Bí các (rồi Nội các) hay sử quán (Hàn lâm viện) của các triều đình, rất
ít khi lọt ra ngoài Một số gia đình nổi danh văn học và làm quan to, như họ Ngô ở Hà Ðông, mới tồn trữ được những bản tóm lược hay thông sử trong thiên hạ Chiến tranh với Chiêm Thành, Trung Quốc, và những cuộc nội chiến cũng đóng góp một phần vào việc tàn phá số sách sử cổ thời vốn chẳng dồi dào này Khí hậu ẩm thấp nhiệt đới, phẩm chất giấy và bản khắc xấu, mối mọt là yếu tố quan trọng khác Ngoài ra, còn những loại tội ác văn hóa như các tân trào tiêu hủy sách vở của các chế độ bại trận (tài liệu nhà
Lý, nhà Mạc, nhà Tây Sơn, v v )
Mãi tới thế kỷ XVIII và XIX mới có hai học giả bỏ công ghi chép lại
những sách sử đã ấn hành Ðó là Bảng Nhãn Lê Quí Ðôn (1726-1784) [Ðại
Việt thông sử, Nghệ văn chí; bản Việt ngữ Hà Nội, 1978, tr 98-113], và
Phan Huy Chú (1782-1840) [Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí;
bản Việt ngữ Hà Nội 1992, 3:68-77] Qua hai bộ bách khoa trên, hậu thế
Trang 5mới có được ý niệm tổng quan về các tựa sách đã xuất hiện Người có công đầu trong việc giới thiệu sách sử Việt với Tây phương là các học giả Pháp vào đầu thế kỷ XX, đặc biệt là Emile Gaspardone (“Bibliographie annamite” [Thư mục An-Nam]; BEFEO, 34 (1934), tr 1-167)
Ðại cương, các sử quan Việt đều chỉ bắt chước sử quan Trung Quốc để
biên soạn quốc sử Mặc dù có những nỗ lực Việt hóa tư liệu Trung Quốc, nhưng vì thiếu sử liệu địa phương, lại bị gò bó trong “thánh Triết” Khổng
học, và ràng buộc bằng miếng đỉnh chung cùng danh lợi, những bộ quốc sử Việt còn lưu truyền không chỉ thiếu sót mà đôi chỗ còn thiếu độ khả tín
A MÔ HÌNH TRUNG QUỐC:
Theo Bảng Nhãn Lê Quí Ðôn, nguồn gốc của phương pháp sử Trung
Quốc là hai bộ Kinh Thư (được gọi tâng lên là Thượng thư), và Xuân Thu.
Kinh Thư chép mỗi việc riêng biệt, từ đầu đến cuối, nên còn gọi là “kỷ truyện.”
Kinh Thư có nhiều bản khác nhau Theo lời truyền tụng, Khổng
Khâu (hay Khưu, K'ung Ch'iu, 551-479 TTL) soạn một bản Lại có nhiều người bình giải, sửa chữa theo ý mình Khổng Khâu tự là Trọng
Ni, người nước Lỗ (Lu), thuộc địa phận tỉnh Sơn Ðông, Trung Quốc, ngày nay Thường được tôn xưng là Khổng tử, chí thánh hay Vạn thế
sư biểu [ông thày vạn năm] Theo truyền thuyết, ngoài Kinh Thư, Khổng Khâu còn soạn sách Xuân Thu, chú giải Kinh Dịch, v v (Có
người cho rằng Khổng Khâu chẳng soạn được bộ sách nào cả) Muốn
hiểu thêm Kinh Thư, người thông thạo ngoại ngữ nên đọc thêm Bernhard Karlgren, The Book of Documents (Stockholm: 1950); Saraphin Couvreur, Chou King: Les annales de la Chine (Paris: 1950); hay Clae Waltham, Shu Ching: Book of History (Chicago: 1971).
Xuân Thu (tức sử nước Lỗ), vẫn theo lời truyền thuyết, do Khổng Khâu
soạn theo lối “biên niên.”
Xuân Thu được coi như nguồn gốc sử học Trung Hoa Bộ Xuân Thu có ba bản chú giải: một của Tả Khâu Minh (Tso Ch'iu-ming, cùng
thời với Khổng Khâu), gọi là Tả Thị Xuân Thu hay Tả truyện (có thuyết
cho là của Tả Khưu, đời Tấn); một do Công Dương Cao (Kung
Yang-kao, cuối đời Chu), thường gọi là Công Dương Truyện, và một của Cốc Lương Xích (Ku Liang-ch'ih, đời Hán), tức Cốc Lương truyện Chính
bản của Khổng Khâu và ba bản diễn nghĩa chỉ được truyền khẩu, ai muốn hiểu sao cũng được Vì sợ va chạm với người quyền thế, sách bị dấu kín, chưa ai được thấy nguyên bản Nhưng môn đệ Khổng Khâu
(như Mạnh Kha) thích ca ngợi Xuân Thu “là việc của Thiên tử,” hay
“Khổng tử viết xong Xuân Thu mà rồi loạn thần, tặc tử sợ.” (Xuân Thu
Trang 6Tam Truyện [Hoàng Khôi 1969], I:11) Chu Hy tán thêm: “Sách Xuân
Thu căn cứ vào đương thời đại loạn, thánh nhân cứ thực sự chép ra Còn như được hỏng, phải trái, đã có hậu thế luận bàn.” (Ibid., I:31) Nói
cách khác, Xuân Thu cùng ba bản diễn nghĩa là một tổng hợp kiến thức
nhiều đời; chẳng ai rõ chữ nào của Khổng Khâu, câu nào của người khác Mãi tới thời nhà Hán (206 TTL-8 STL, 25-220), Ðổng Trọng
Thư mới khởi dạy sách Xuân Thu Từ đó, Xuân Thu còn tam sao thất
bản hơn nữa
Xuân Thu cùng ba bản giải thích của họ Tả, họ Công, họ Cốc đã
được dịch qua tiếng Việt, gọi chung là Xuân Thu Tam Truyện (bản dịch Hoàng Khôi, 3 tập, Sài Gòn: 1969) Những câu ngắn ngủi như “ẩn
công, Nguyên niên, Xuân vương chính nguyệt; tam nguyệt, công cập Châu Nghi Phủ minh vu miệt” [ẩn công, Năm đầu, mùa Xuân tháng
Giêng [vua nhà Chu lên ngôi] vương; Tháng Ba, [Lỗ] Công [và] Châu Nghi Phủ thề ở đất Miệt], v v thật tối tăm, khó hiểu với người đọc
Dù giống như thể ghi niên biểu sơ lược sau này–theo theo kiểu một
chuỗi keywords [chữ chính] chắp nối với nhau, và không ai hiểu được ý
nghĩa nếu không đọc thêm những lời bình giải Nhượng Tống sử dụng
những tiếng nặng nề như “băm nhau” để đánh giá Xuân Thu, nhưng nhận xét này hơi quá đáng Nội dung hay kỹ thuật Xuân Thu chẳng có
gì đáng kể, nhưng tính chất cổ thời và giá trị lịch sử là điều không ai có thể phủ nhận–một tác phẩm với hơn hai ngàn năm tuổi đời mà nội dung ngày một nhiều chi tiết hơn, tổng hợp quan niệm sử và chính trị của các nho gia Trung Quốc
Shih chi [Sử Ký] của Sima Qian [Ssu-ma Ch'ien, Tư Mã Thiên,]
(145-86 TTL), đời Hán–một trong 21 bộ “chính sử” của Trung Quốc trước thế kỷ
XVII–cũng là khuôn vàng, thước ngọc của sử quan Việt Sách này chép theo
lối kỷ truyện Sau Sử Ký, sử quan và văn gia Việt rất ưa chuộng các sách
Tsu-chih t'ung-chien [Tư Trị Thông Giám] của Tư Mã Quang (1019-1086),
và Thông Giám Cương Mục của Zhu Xi [Chu Hy, 1130-1200; còn được biết như Chu Tử, Trúc Ðình, hay Tử Dương (Chỉ nên tìm ra ý định [intentions]
của tiên Thánh khi đọc kinh sách)] Hai sách này cũng theo thể biên niên
(Lê Quí Ðôn, Ðại Việt Thông Sử, bản dịch Ngô Thế Long & Văn Tân [Hà
Nội: 1978], tr 19-20)
Các sử quan Việt thiên về phương pháp “biên niên,” nhưng đôi lúc
cũng linh động áp dụng lối “kỷ truyện.” Bộ Ðại Việt Sử Lược của Lê Văn
Hưu–soạn từ cuối đời Trần Thái Tông (1226-1258) tới năm Nhâm Thân (1272) đời Trần Thánh Tông (1258-1278) mới hoàn tất, gồm 30 quyển, từ đời Triệu Võ Vương (207-137 TTL) tới Lý Chiêu Hoàng (1226)–chép theo
lối biên niên như Thông Giám Cương Mục của Chu Hy Nhưng thỉnh thoảng
có lời bình giống như Sử Ký của Tư Mã Thiên (kỷ truyện) (Theo Lê Tắc, Lê Văn Hưu sửa sách Việt Chí của Trần Tấn; ANCL, 1961:237)
Trang 7Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên–dựa trên các bộ Ðại Việt Sử
Ký của Lê Văn Hưu (1272), Ðại Việt Sử Ký Tục Biên của Phan Phu Tiên
(1455) và Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trãi (1435)–vẫn theo cách biên niên,
nhưng thêm vào các mục, loại (tị sự), “chê, khen, phân biệt người hay kẻ
dở” theo kiểu Xuân Thu của Khổng Khâu và Sử Ký của Tư Mã Thiên.(“ Biểu
dâng sách;” Toàn Thư [Giu 1967], I:20)
Phan Phu Tiên sinh quán tại làng Vẽ (Ðông Ngạc), huyện Từ Liêm, Bắc Ninh Ông có công sửa lại bộ Việt sử cũ (không chép tháng),
từ Trần Thái Tông (1226-1258) tới năm 1427.([KÐ]VSTGCM, 18:29,
I:970)
Nguyễn Trãi (1383-1442) là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê;
lưu lại hậu thế một sự nghiệp văn học đáng kể, đặc biệt là bộ Ức Trai
Tập.
Như đã lược nhắc, bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư còn lưu truyền hiện
nay không phải là nguyên bản của Ngô Sĩ Liên, mà đã được hiệu đính, sao chép lại nhiều lần
Những người viết tục biên có:
(1) Ðầu thế kỷ XVI, Vũ Quỳnh viết Ðại Việt thông giám, hay Việt
giám thông khảo Chép từ đời Hồng Bàng tới Thập nhị sứ quân (966)
làm Ngoại kỷ Bản kỷ khởi từ Ðinh Tiên Hoàng (968-979) tới năm đầu [Hậu] Lê Thái Tổ (1428).(“ Phàm Lệ,” Toàn thư [Giu 1967], tr 21)
(2) Lê Tung [Dương Bang Bản, 1452-?] viết Ðại Việt thông giám
tổng luận, hay Việt giám thông khảo tổng luận (1514), tóm tắt bộ sử
của Vũ Quỳnh cho vua Lê Tương Dực (1510-1516) đọc (Toàn Thư [Giu 1967], I:39; KÐVSTGCM, q.26, tờ 11A)
(3) Ðầu đời Lê Huyền Tông (1662-1672), Phạm Công Trứ
(1600-1675) soạn Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Bản Kỷ, Tục Biên (1665), gồm 23
quyển Chép từ thời Hồng Bàng tới Lê Thái Tổ, y theo sách Ngô Sĩ
Liên và Vũ Quỳnh Riêng phần Bản Kỷ, Tục Biên–từ Lê Lợi tới Lê
Cung Hoàng (1522-1527), tức quyển 11-15, và từ Lê Trang Tông
(1533-1548) tới Lê Thần Tông (1619-1643, 1649-1662)–dựa theo Thực
lục (Phan Huy Chú, (Hà Nội: 1992), 3:71; Gaspardone, BEFEO, số 34
(1934), tr 59) Ðây là bộ sử đầu tiên được khắc bản, ấn hành (Phan Huy Chú, (Hà Nội: 1992), 3:72) Tuy nhiên, bản khắc mới chỉ hoàn tất được 5, 6 phần mười
(4) Trong thời Lê Hy Tông (1680-1705), Lê Hi (1648-1703) và
Nguyễn Quí Ðức, soạn Sử ký Tục biên, chép tiếp đến cuối đời Lê Gia
Tông (1662-1675) Gồm 5 tập Ngoại kỷ và 19 tập Bản kỷ Tục Biên (1697) Ðược khắc bản, ấn hành Ðây là bộ sử còn lưu truyền đến hiện nay (Xem bản dịch Cao Huy Giu [Hà Nội: NXB Khoa Học, 1967];
Trang 8Ðào Duy Anh “hiệu đính, chú giải và khảo chứng.”)
(5) Ðời Lê Hiển Tông (1740-1786), Ngô Thì Sĩ (1726-1780),
Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá soạn Quốc sử tục biên Gồm
6 quyển, chép từ Lê Hy Tông (1675-1705) tới Lê Ý Tông (1735-1740) (Phan Huy Chú, 1992, 3:73)
(6) Nguyễn Nghiễm (1708-1775) soạn Việt sử bị lãm Gồm 7
quyển
(7) Năm 1775, Nguyễn Hoản [Hoàn?] (1713-1792), Lê Quí Ðôn,
Vũ Miên (1718-1788), v v được lệnh soạn Quốc triều tục biên, 8
quyển, từ Lê Trang Tông (1533-1548) tới Lê Gia Tông (1671-1675)
Bổ sung chỗ thiếu của sử cũ [Theo KÐVSTGCM, chép thêm từ đời Lê
Hy Tông (1676-1705) tới Lê Ý Tông (1735-1740) (CM q.44, tờ 26)?].(8) Ðến đời Tây Sơn, năm 1798 Quang Toản cho lệnh viết lại sử
Vì bộ Ðại Việt Sử ký bị mất, Ngô Thì Nhiệm (1746-1803?) thu góp tài
liệu cũ viết từ đời Hồng Bàng đến thập nhị sứ quân (968) làm Ngoại
kỷ, gồm 7 tập, và từ Ðinh Tiên Hoàng (968-980) tới năm Lê Lợi giải phóng Ðại Việt khỏi ách đô hộ của nhà Minh (1427) làm Bản kỷ, gồm
10 tập; tổng cộng 17 tập Năm 1800, bản gỗ khắc xong, vua Quang
Toản cho in với tựa Ðại Việt Sử ký tiền biên (Gaspardone 1934:65,
73-74; bản dịch của Viện Hán Nôm Hà Nội năm 1997)
Hiện nay, có hai bản dịch Việt ngữ của Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư:
Một của Nhượng Tống (chỉ có Ngoại kỷ), một của Cao Huy Giu (trọn
bộ, 1967, dựa theo bản Lê Hi [1697])
Các tác giả Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục (1856 khởi
viết, 1859 hoàn tất, hiệu đính từ 1871 tới 1878, in năm 1884) tự nhận đã
theo phương pháp mà bảy thế kỷ trước Chu Hy dùng để viết cuốn Thông
Giám Cương Mục Sử kiện được thuật theo lối biên niên, trước hết tóm lược
dữ kiện chính trong vài hàng (cương), rồi diễn giải rõ ràng chi tiết hơn
(mục) Tuy nhiên, cách trình bày dữ kiện thì lại theo lối sách Xuân Thu của
Khổng Khâu
Bộ Ðại Nam Thực Lục của quốc sử nhà Nguyễn thì, cũng giống như
Ðại Thanh Thực Lục, theo phương pháp biên niên sử (Xem, chẳng hạn, Ta Ch’ing Jen Tsung Yue huang ti tu lu [Ðại Thanh Gia Khánh Huệ Hoàng đế
thực lục] (Taipei: 1964)
B GÁNH NẶNG “THÁNH GIÁO”:
Thứ hai, sợi giây xuyên suốt các nhận định (“đao bút”) trong các bộ
quốc sử nhà Lê và Nguyễn nói trên là tinh thần Khổng học như thiên mệnh,
chính thống, tam cương, ngũ thường, v v vay mượn từ phương Bắc Chỉ
Trang 9cần đọc “Phàm Lệ” của các sử quan trong bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư,
người ta thấy tinh thần đao bút Khổng giáo quá hiển lộ Chính vì thế cách sắp xếp các triều đại thiếu tinh thần khoa học, đôi khi vô lý: Như trên thực
tế, quân Minh chiếm đóng Ðại Việt suốt 20 năm, sử chỉ chép có 4 năm; những năm còn lại chia cho các vua Hậu Trần và thời kỳ kháng chiến của Lê
Lợi để bảo tồn “quốc thống!” (Toàn Thư [Giu 1967], I:24) Hay con Lê Ðại
Hành là Lê Trung Tông vừa lên ngôi được 3 ngày đã bị em là Lê Long Ðĩnh giết, nhưng sử quan chỉ cho Ngọa Triều lên ngôi 8 tháng sau “để định tội Ngọa triều cướp ngôi giết anh.” (Ibid., I:23) Lời “Bàn” hay “cẩn án” của các
sử quan sau mỗi sự kiện cũng dựa theo nghi lễ và đạo đức Khổng giáo Ðinh Tiên Hoàng (968-979), chẳng hạn, dù được coi như nối dòng chính thống của Hùng Vương (2879-255 TTL), bị chê trách đã lập đến năm hoàng hậu,
vi phạm nguyên tắc “tam cương” của Khổng giáo, nên mất đi “thiên mệnh.”
(Toàn Thư [Giu 1967], I:45-6, 55) Bộ Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám
Cương Mục còn thêm lời “phê” của Tự Ðức (1848-1883) Những lời phê
này được viết cao hơn văn bản (gọi là viết đề lên) Dù phản ảnh nhân sinh
quan và vũ trụ quan của vua vào thế kỷ XIX, nhưng những lời phê trên không thoát khỏi khuôn khổ “chính giáo.” Các tác nhân lịch sử bị đặt lên chiếc giường “thánh giáo” ấy, thừa thì chặt bớt đi, ngắn kéo dài ra cho vừa với khuôn mẫu triết lý chính trị Nho giáo Ðó là chưa kể đến sự thù hằn và lòng ghen tài với những người như Lê Quí Ðôn
Lối viết sử kiểu nhị nguyên này đưa đến lối trình bày và nhận xét nhiều
khi quá đơn, giản Mọi tác nhân bị căng ra giữa hai đối cực chính và ngụy Ki-tô giáo, chẳng hạn, bị lên án là “tả đạo.” Các nhà truyền giáo và giáo mục, giáo dân bản xứ bị lên án là “ngụy” (giặc), “phiến gian thụ đảng” (tụ tập phe đảng làm loạn), “nam nữ hỗn loạn, hạnh kiểm như cầm thú” v v
Ngay đến triều đại lập nhiều chiến công nhất trong lịch sử cận đại Việt như nhà Tây Sơn (1778-1802) cũng bị lên án là “ngụy,” với những cách diễn tả
như “tiếm hiệu,” “tiếm ngôi,” “xâm phạm nước An-Nam” (khi tiến quân
vào Nam truy diệt dòng giõi chúa Nguyễn, hay ra Bắc phò Lê, diệt Trịnh), v v [Xem bài về nhà Tây Sơn]
Lịch sử trở thành tài liệu tuyên truyền, nhồi sọ “thánh giáo”–có thể gọi chung là tài liệu truyền giáo–hơn tấm gương soi mặt ngàn đời, để có thể từ
đó rút ra những bài học hữu dụng cho tương lai mà các sử quan mong muốn (Tổng luận của Lê Tung [1514], Toàn Thư [Giu 1967], I:39)
C THIẾU SỬ LIỆU:
Tư liệu sử dụng để viết các bộ quốc sử Việt phần lớn dựa theo chính sử
và dã sử Trung Hoa, được tăng bổ hay chế biến lại theo quan điểm “quốc thống.”
Vì mãi tới thế kỷ thứ X, nước Việt mới giành được quyền tự chủ, việc tìm lại quốc tổ quả thực nhiều vấn nạn Năm thế kỷ sau, Ngô Sĩ Liên mới chọn Hùng Vương làm quốc tổ, và lấy Ngô Quyền (939-944) làm đầu mối phục hưng quốc thống của Hùng Vương Vũ Quỳnh đồng ý Hùng Vương là
Trang 10quốc tổ, nhưng lại khởi viết bản kỷ Ðại Việt thông giám từ Ðinh Tiên Hoàng
(968-979) (“Phàm Lệ,” Toàn thư [Giu], tr 21) Sử quan các triều kế tiếp đều đồng ý chọn Ðinh Tiên Hoàng để mở đầu phần chính biên
Công trình tái dựng nguồn quốc thống ngược lên tới nhà Hồng Bàng và Hùng Vương là một công trình cực kỳ khó khăn và phức tạp
1 Các sử quan và văn nhân Trung Quốc, kể cả Khổng Khâu–do giới hạn kiến thức về thiên văn, địa lý, cùng tự tôn chủng tộc của thời đại họ–chỉ thấy Trung Quốc như tâm điểm của một vũ trụ hình vuông, các dân tộc hay sắc dân khác ở ngoài cái khung hình vuông ấy là “mọi rợ.”
Khổng Khâu sử dụng tới bốn tiếng Bắc địch, Nam man, Tây Nhung, Ðông di để gọi các dân tộc “mọi rợ” lân bang (Seraphin Couvreur, Li Ki:
Mémoires sur les bienseances et les cérémonies, 2 tập (Paris: 1913), I:295)
Chẳng hiểu dựa theo tài liệu nào, Khổng Khâu còn phán [văn] rằng các dân
“Nam man” nằm ngủ “chân, đầu lộn ngược” (để chân người này lên đầu
người kia) Văn gia Trung Quốc thì hoang tưởng ra những truyện đại loại như “Quỉ Môn Quan” mà Mã Viện từng dựng bia khi chiến thắng quân Hai
Bà Trưng trở về
[Yo chih (Nhạc Sử) đời Tống (960-1279), trong cuốn Thái Bình
Hoàn vũ ký, viết: Ðời Tần muốn tới đất Giao Chỉ phải qua Quỉ Môn
Quan; mười người qua, chín người không trở lại (Dẫn trong Lê Quí
Ðôn, Vân Ðài Luận Ngữ [1772], bản dịch Phạm Vũ, Lê Hiền (Sài Gòn:
1972), tr 145)]
Mãi đến hạ bán thế kỷ XVIII, Lê Quí Ðôn còn phải phản đối việc quan
chức nhà Thanh gọi sứ đoàn Việt là “mọi” [di nam, di mục], nên nhà Thanh mới đồng ý đổi thành “An Nam cống sứ.” (Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 9) Nhưng nhà Thanh vẫn giữ nguyên tên “Trấn Nam Quan” cho cửa ải ở phương Nam, trong khi các văn gia Việt gọi nó bằng tiếng “ải Nam Quan”
hay “ải Nam Giao.” Và, dù từ năm 1804 vua Gia Khánh nhà Thanh đã đổi
quốc hiệu nước ta thành “Việt Nam,” nhưng sách sử giáo khoa Trung Quốc vẫn ghi “An-Nam,” một thuộc quốc của “thiên triều.” (Xem “An Nam chinh
vũ ký” của Ngụy Nguyên (1842))
Cho đến thế kỷ XIX, XX người Trung Quốc vẫn chưa sạch lòng
cao ngạo chủng tộc này Họ thường gọi người Tây phương là “Bạch
quỉ” hay rợ Tây (Tây di) Những bạch quỉ hay Tây di này chỉ ỷ vào vũ
lực hùng mạnh, ăn hiếp một dân tộc văn minh duy nhất trên thế giới, biểu lộ qua việc cho quân sĩ xếp hàng dài theo biên giới Nga, tụt quần, chổng mông Bởi thế, nhan nhản trong sử sách những lập luận như
“Hán Vũ đế tru Lữ Gia khai cửu quận, thiết thứ sử dĩ trấn chi, tỉ Trung Quốc nhân tạp cư kỳ gian, sảo sử học thư, thô tri ngôn ngữ, sứ dịch vãng lai, quan kiến Lễ hóa ” [Hán Vũ Ðế giết Lữ Gia, mở 9 quận, đặt
thứ sử để trấn áp, đưa dân Trung Quốc tới ở chung, giúp mở mang việc học, biết tiếng Trung Hoa một cách thô vụng, sứ đoàn đi lại, cho thổ
Trang 11dân biết được lễ nghĩa, phong hóa] (KÐVSTGCM, Tiền Biên (Sài Gòn:
1970), III:6A) Chẳng khác gì Charles de Gaulle, vào năm 1945, vẫn
khăng khăng Pháp “đã mở cửa cho dân Annamite vào thế giới văn
minh,” và quyết mang súng đạn, xe tăng xin mượn của Bri-tên và Mỹ
để đưa “con tàu lạc bến Ðông Dương” trở lại “vòng khai hóa.”
2 Nỗi khổ tâm của các sử quan Việt không chỉ giới hạn trong việc chống lại lối nhìn tiên thiên “mọi rợ” của sử quan và văn thi gia Trung Quốc
để viết lại về tổ tiên mình [tương tự như lối diễn tả ước lệ chậm tiến, thế giới
thứ ba, hay các nước đang mở mang hiện nay] Họ còn phải tự trói trong
khuôn khổ những “thánh ngôn” của Khổng Khâu và đệ tử mà họ đã bị nhồi
sọ từ thuở để chỏm là thần thánh, vĩ đại, bậc thày hàng vạn đời [khoảng 100,000 năm] của nhân loại
[Khổng Khâu là người đưa ra lý thuyết trái đất vuông, trời tròn, và chỉ khoảng 2,000 năm sau ngày ông ta chết, thuyết trên đã bị phá sản
Sau này, khi các nhà truyền giáo Tây phương như Malteo Ricci
(Lợi Mã Ðậu), Ferdinandus Verbiest (Nam Hoài Nhân, tác giả Khôn dư
đồ thuyết), Guileo Aleni (Ngải Nho Lược), v v bàn và viết về đất
tròn, biển tròn tại triều nhà Minh, Lê Quí Ðôn vẫn tìm được cách ngụy biện rằng “tiên nho” đã biết truyện trời tròn, đất tròn qua thuyết “Hỗn thiên” rồi! (VÐLN, 1972:60, 77, 78, 177-82)]
Và, nếu tin được Lê Tắc, đã có lần vua Trung Quốc hỏi một sứ giả Việt
là phải chăng ở quận Nhật Nam, mặt trời mọc từ hướng Bắc!
3 Nỗi nhức đầu khác của các sử quan như Lê Văn Hưu hay Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, v v là hầu hết chính sử Trung Quốc cung cấp rất ít dữ kiện về nước Việt Ngay trong số dữ kiện hiếm hoi được ghi lại thì không chỉ sai lạc, mà còn đứng trên quan điểm một thượng quốc hay thiên triều đối với một thuộc quốc
a Không hoặc rất ít dữ kiện:
(1) Kinh Thư, chẳng hạn, chẳng nói gì về cổ Việt Xuân Thu của Khổng
Khâu chỉ nói về nước Lỗ
Sự im lặng này có thể vì hai bộ Kinh Thư và Xuân Thu đã chịu cảnh
tam sao thất bản sau hàng thế kỷ chiến tranh Ðó là chưa kể ngọn lửa phần thư của Tần Thủy Hoàng (221-207 TTL) và Sở Bá Vương Hạng Vũ [Hang
Trang 12Yu] (hỏa thiêu thành Hàm Dương [Hien yang] năm 206 TTL) Mãi tới thời nhà Tiền hay Tây Hán (206 TTL-8STL), mới có những nỗ lực truy tìm cổ thư.
[Nhiều sách Việt từ thời Pháp thuộc sử dụng thuật ngữ “trước”
và “sau Công Nguyên”để chuyển dịch những tiếng “trước Jesus”[B.C.] và”sau Jesus [AD] Jesus, theo những biên khảo khả tín,
không sinh vào năm thứ 1 Tây lịch]
Chi tiết cổ nhất về nước Việt trong kinh sách Trung Quốc là việc sứ Việt Thường tới cống chim trĩ trắng thời Chu Thành Vương (1115-1079 TTL) của nhà Tây Chu (1122-771 TTL) Chuyện này được Phúc Thắng ghi
trong Thượng thư đại truyện (đầu đời nhà Hán) Rồi được lập lại trong Sử
Ký của Tư Mã Thiên, và Hậu Hán Thư (Nam Man Truyện, q 116).
Tân Mão [1110 TTL, năm Chu Thành vương thứ 6]: Phía nam Giao Chỉ có họ Việt Thường, sau ba lần thông dịch, đến cống chim trĩ trắng.” (dẫn trong Cương Mục, TB [Sài Gòn: 1965], II:29-31 ANCL
của Lê Tắc ghi là chín lần thông ngôn; q 1, tr 16 (Hán ngữ), tr 23 (Việt ngữ); Toàn Thư [Giu 1967], I:313chú 5 [Cũng nhắc năm này, Tư
Mã Thiên chép Hùng Huy vương đến cống chim trĩ trắng]
Các học giả ngày nay nghĩ rằng chi tiết trên liên quan đến sự chế tạo ra kim chỉ nam hay địa bàn hơn nói về nước Việt Thường Nhưng năm 1804, trong chiếu sắc phong Nguyễn Chủng (vua Gia Long) làm Việt Nam Quốc
Vương, Gia Khánh và triều thần nhà Thanh vẫn nhắc đến nước Việt Thường,
để tỏ sự lâu đời của mối bang giao Hoa-Việt Trong bộ Ðại Nam Nhất
Thống Chí của nhà Nguyễn, tên Việt Thường được gán ghép cho rất nhiều
địa danh, mà chẳng bận tâm chứng minh
Từ đời Ðường (618-917), các văn gia Trung Quốc mới bàn nhiều về cổ
Việt Khổng An Quốc, khi chú thích Kinh Thư, diễn giải “Nam Giao” trong
thiên Ðế điển thành “Giao Chỉ.” Qua đời Tống (960-1279), Thái [Sái] Trầm
cũng lập lại luận cứ “Nam Giao” là “Giao Chỉ” trong Thư Kinh Tập Truyện
(CM,TB (Sài Gòn), 1965, II:27)
Thiên Nghiêu điển của kinh Thư chép: “Vua Nghiêu lại sai Hy Thúc đến ở Nam Giao tại phương Nam, sắp đặt theo thời tiết ở phương Nam, kính cẩn ghi bóng mặt trời ngày hạ chí, là ngày dài nhất [trong một năm] và xem sao Ðại hỏa để định cho đúng tiết trọng hạ [tháng 5
âm lịch] Lúc đó dân cư tản mác, chim và thú thưa lông [vì nóng nực].
Cũng dưới thời nhà Tống, Cheng Ch'iao (Trịnh Tiều, 1104-1162)
Trang 13thượng-cổ-hóa hơn nữa mối liên hệ giữa Trung Hoa với cổ Việt Trong cuốn
Thông chí [T'ung chih] (in lại trong Thập Thông [Shih-t'ung] (Shanghai:
Commercial Press, 1935), Trịnh Tiều cho sứ Việt Thường qua thông hiếu từ năm Mậu Thân [2352 TTL], tức năm thứ năm đời vua Ðường Nghiêu (2357-
2258 TTL) Vật tiến cống là một con rùa thần [Ðường Nghiêu Mậu thân ngũ
tải, Việt thường thị lai triều hiến thần qui] Trên lưng con rùa này còn có
chữ khoa đẩu ghi việc trời đất mới mở trở về sau Nghiêu sai người chép lại,
gọi là “quy lịch” (lịch rùa) (Cương Mục, Tiền Biên (Sài Gòn: 1965),
II:28-9)
Cuối đời nhà Tống và đầu đời Nguyên (1279-1368), Kim Lý Tường (1232-1303) cũng lập lại chuyện cúng rùa thần trên khi dùng Kinh Thư để
viết Thông Giám Tiền Biên tức phần Tiền Biên cho cuốn Tư trị Thông Giám
của Tư Mã Quang đã nhắc ở trên
(2) Bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên đời Hán chẳng nói gì nhiều về cổ Việt
Không hề nhắc chuyện nhà Hồng Bàng hay Thục vương [Burton Watson,
Records of the Grand Historian of China, from the Shih chi of Ssu-ma Ch'ien, 2 vols (New York: 1961) Sẽ dẫn: Tư Mã Thiên (Watson)].
Khi viết về Ngô Khởi và Triệu Ðà, Mã Thiên chỉ mơ hồ nhắc đến Bách
Việt [Pai Yueh] ở phía Nam sông Dương tử.
[Sở Ðiện vương sai Ngô Khởi đánh dẹp đất Bách Việt ở phương
Nam (Toàn Thư [Giu 1967], I:313chú 4)]
Nhà Tần lại sai Úy Ðà, Ðồ Thư đem quân Lâu thuyền xuống Nam đánh đất Bách Việt, sai Giám Lộc đào cừ chở lương để vào sâu đất Việt Người Việt bỏ trốn Quân Tần trì cứu lâu ngày Lương thực bị
tuyệt và thiếu Người Việt ra đánh Quân Tần đại bại (Toàn Thư [Giu
Sáu thế kỷ sau, Tư Mã Trinh, trong Sử ký sách ẩn (chú giải Sử Ký của
Tư Mã Thiên) mới nhắc đến cổ Việt với nhiều chi tiết hơn, dựa theo một
đoạn trong Quảng Châu Ký của Ðào [Văn Hàm] [Xem đoạn dưới]
(3) Hán Thư [Han shu] của Pan Ku [Ban Cố, 32-92] và những người
Trang 14khác, gồm 100 truyện, không nói đến cổ Việt.
(a) Tiền Hán Thư [Hsin Han shu, Annals of the Former Han, 206
TTL- 8 STL)] của Ban Cố chỉ nhắc đến Giao Châu trong “Mã Viện
truyện.”
[Chúng tôi tham khảo bản Hán ngữ trong bản dịch Anh ngữ
của H H Dubs, The History of the Former Han Dynasty by Pan
Ku, 3 vols (Baltimore: 1938 1944, 1955)]
(b) Hậu Hán Thư [Hou Han shu] của Fan Yeh (Phạm Việp, 446), có Nam Man truyện nói về sứ Việt Thường cống chim trĩ trắng
398-dưới thời Chu Thành Vương đã lược nhắc (CM, TB (Sài Gòn:1965), I:17n1 Don Luce dịch qua Mỹ ngữ) Ngoài ra, còn những truyện [cung văn] về danh tướng và quan chức Bảo hộ như Phục Ba Tướng Quân Lộ Bác Ðức, Mã Viện, Tích Quang, Nhâm Diên, v v
Sự im lặng về cổ Việt này, ít nữa, có thể do một hay nhiều trong những nguyên nhân sau:
(a) Dân cổ Việt, tức tổ tiên chúng ta, chưa hề tiến tới trình độ thành lập một quốc gia; hoặc,
(b) Các văn gia Trung Quốc kiến thức hạn hẹp, không hề biết đến những nước lân bang; và/hoặc,
(c) Trong nỗ lực đồng hóa dân Việt, sử quan và văn gia Trung Quốc cố tình tảng lờ sự hiện diện của nước cổ Việt, mà chỉ thích bàn về công ơn khai hóa của các vua quan Trung Quốc; và/hoặc
(d) Do thiếu phương tiện bảo quản, sao đi chép lại phần lớn do trí nhớ, người sao chép chỉ giữ lại những gì mình ưa thích, nên các tư liệu bị mất mát
b Sai lạc về chi tiết:
Các chi tiết về cổ Việt, như đã lược nhắc, chỉ bắt đầu xuất hiện từ đời nhà Ðường (618-917), nhà Tống (962-1274) trở đi Có lẽ vì nước Việt đã giành được quyền tự chủ, nên sử quan và văn gia Trung Quốc chú ý hơn về
xứ thuộc địa Giao Châu, Giao Chỉ, Tĩnh Hải quân rồi An Nam Ðô hộ, Trấn Nam Ðô hộ cũ ở phương Nam Hoặc, sự hiểu biết về các nước lân bang đã phong phú hơn
Trang 15Trong số các tác phẩm giai đoạn này, đáng kể nhất có:
(1) Thái Bình Ngự Lãm [T'ai-p'ing yu-lan] do Li Fang [Lý Phương]
(925-996) và nhiều người khác biên soạn, gồm 1,000 truyện In lại trong thời gian 1807-1812, dùng bản khắc cũ [Có hai chữ Thái Bình vì soạn xong vào niên hiệu Thái bình hưng quốc (976-983), triều Tống Thái Tông (976-997)]
(2) Thái Bình Quảng Ký của Lý Phỏng [Phương?] (Lê Quí Ðôn,
VÐLN, tr 46-7)
(3) Thái Bình Hoàn vũ ký của Yo chih [Nhạc Sử] đời Tống (960-1279)
Gồm 200 quyển, nhưng nay chỉ còn 193 quyển Mất các quyển 113 tới 119 Sách chuyên về địa lý cổ
Dùng chi tiết “Hùng vương, hùng hầu, hùng tướng, hùng dân, hùng
điền trong Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ V).
Ðất Giao Chỉ rất màu mỡ, người ta di dân đến ở, chính họ là người đầu tiên khai khẩn đất này Ðất đen và xổi, hơi xông lên mùi hùng
Vì vậy người ta gọi ruộng đó là hùng điền, dân đó là hùng dân.Phong châu là quận Thừa hóa, nước Văn Lang xưa
Quỉ Môn Quan: Ðời Tần muốn tới đất Giao Chỉ phải qua Quỉ Môn Quan; mười người qua, chín người không trở lại Mã Viện lập bia
tại đây (Lê Quí Ðôn, Vân Ðài Luận Ngữ, bản dịch Phạm Vũ, Lê
Hiền, tr 145)
(4) Thông chí của Trịnh Tiều (1104-1162):
Theo Kinh Thư, “Vua Nghiêu sai Hy Thúc sang Nam Giao lo việc làm ruộng mùa Hè ở phương Nam.” Nam Giao tức Giao Chỉ
Năm Mậu Thân, năm thứ năm đời vua Nghiêu, họ Việt Thường vào cống con rùa thần, trên lưng có chữ khoa đẩu ghi việc trời đất mới
mở trở về sau Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là “quy lịch” (lịch rùa) (Cương Mục [Sài Gòn], 1965, II:28-9)
(5) Thông Giám Tiền Biên của Kim Lý Tường (1232-1303):
Năm Mậu Thân, năm thứ năm đời vua Nghiêu, họ Việt Thường vào
cống con rùa thần [Ðường Nghiêu Mậu thân ngũ tải, Việt thường
thị lai triều hiến thần qui]
c Giọng điệu trịch thượng:
Sử liệu Trung Quốc về Việt Nam luôn mang giọng trịch thượng của thiên quốc đối với chư hầu Trung Quốc tự hào là mặt trời soi sáng tứ
Trang 16phương; ân sủng vua Trung Quốc tắm gội vua quan Việt và các chư hầu khác.
Mỗi lần xuất quân xâm lăng Ðại Việt, Trung Quốc đều tự xưng là
“chinh phạt,” hầu đưa vua quan và quốc dân Việt trở về vòng giáo hóa Hễ
thua trận rút về thì đổ tội cho thời tiết khó chịu, đau ốm, vua nước Việt xin tha tội Thí dụ tiêu biểu nhất là đoạn viết về cuộc xâm lăng Ðại Việt năm
1077 dưới thời Lý Nhân Tông (1072-1128) trong Tống sử Cương Mục mà chính anh em Trình Di, Trình Hiệu phải cải chính trong Nhị Trình di thư.
( Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 174-175)
Triệu Quang Nghĩa (Tống Thái Tông, 976-997, em Triệu Khuông Dẫn) sai Vương Vũ Xứng viết cho Lê Hoàn vào tháng 9-10/980:
“Trung quốc đối với các nước mọi rợ như mình với tứ chi, khi vận động co ruỗi là tùy tâm, cho nên nói bậc đế vương là trái tim Một người có chân hay tay đau, mạch máu không thông, thì phải uống thuốc để trị lành bệnh Nếu uống thuốc không hết thì dùng châm cứu vào chỗ đau Không phải không biết rằng thuốc uống thì đắng miệng, châm cứu thì tổn hại ngoài da, nhưng thiệt hại chỉ ít thôi mà nhiều ích lợi hơn
Chức vi đế vương như ông thày chữa bệnh, trông thấy mọi rợ nào có chứng đau, thì tìm thuốc chữa Cho nên luyện đơn thuốc nhơn nghĩa, sửa soạn cái kim và mũi đá đạo đức, chữa bệnh nơi gần cho thật mạnh, rồi điều trị cả chín châu, bốn biển, chẳng còn đau ốm gì [Cư đế vương chi vị, thị di địch chi bệnh Ư thị, luyện nhơn nghĩa chi dược nhĩ, tu đạo đức chi châm biêm, đại liêu vu cận, nhi dũ cửu châu tứ hải, ký khương khả ninh]
[Xứ Giao Châu so với Trung Hoa chỉ như ngón tay, nhưng thánh nhân vẫn phải chữa].
Vì thế cần mở lòng ngu tối của ngươi để được thấm nhuần thánh giáo.” Vì lòng nhân từ trùm muôn nước, phải chữa trị cho [Giao Châu] khỏi đau, sớm thấm nhuần thánh giáo, bỏ thói “cắt tóc ngắn,”
“uống nước bằng lỗ mũi,” “nói líu lo như chim.”
Nếu theo thì tha tội, nghịch lại thì ta đánh [hướng hóa ngã kỳ xá, nghịch mạng ngã kỳ phạt] (Thư Vương Vũ Xương gửi Lê Hoàn [980]; ANCL, q 5, 1961:115-116 [trích Tống Sử]; ÐVSKTT, 1967, I:162-163 Người đưa thư là Lư Ða Tốn [CM, CB I:16, (Huế), 1998, I:250-251]
Việc phong tước hiệu cho vua Việt cũng phản ảnh thái độ trịch thượng
cường quốc Thoạt tiên, vua Trung Quốc chỉ phong cho vua Việt chức Tiết
độ sứ, Tiết chế Sau đó mới phong làm quận vương, hay Nam Bình vương
Trang 17Mãi tới năm 1164 [hoặc 1175, nếu muốn], vua Tống mới phong cho Lý Anh
Tông (1138-1175) chức An Nam Quốc Vương, tức nhìn nhận An Nam [Ðại
Việt] là một nước chư hầu, mà không phải một phủ hay quận nữa
Mặc dù trong nước các vua Việt tự xưng làm vua, đặt các chức vương, hầu, khanh, tướng, với vua Trung Quốc, ít nữa trên lý thuyết, vua Việt
đã chỉ “tiếm đặt” các chức trên Vì, với triều đình Trung Quốc, vua
Việt đã tự nhận làm thuộc quốc vương, và dân Việt chỉ là một thứ
“phục di, nhuộm răng, xâm mình.” Thập niên 1720, nhà Thanh dựng
một bia đá phân chia ranh giới, với hai chữ An Nam (Xem bia “Trùng
tu Trấn nam quan [1725]” và “Ði tuần biên ải An Nam” [1746] trong
Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 160-165) Năm 1804, nhà Thanh đổi quốc hiệu nước ta thành Việt Nam, nhưng sách sử Trung Quốc vẫn giữ thói quen gọi nước Việt là Giao Chỉ, Giao Châu, Trấn Nam, hay An Nam (tức
miền Nam đã được bình định)
Tưởng nên ghi thêm là qua văn thư của vua quan Việt gửi triều đình Trung Quốc, người đời sau không khỏi ngậm ngùi cho thái độ khúm núm quá mức của các nho gia Việt Dù lối diễn tả của họ chỉ gồm những sáo ngữ ước lệ trích dẫn từ các kinh điển Khổng giáo, nhưng những sáo ngữ này tự
hạ mình quá đáng, ví việc vua Việt thờ kính vua Trung Hoa như con với cha,
“khúm núm” “run sợ” tâu trình, v v Ngay đến thời Quang Trung, Càn
Long vẫn còn muốn “Nguyễn Quang Bình” sớm qua Bắc Kinh làm lễ “bảo
tất,” tức ôm đầu gối vua Thanh nhân dịp thượng thọ bát tuần (80 tuổi) hầu
bày tỏ lòng trung hiếu! (Xem Ðại Việt Quốc Thư, cả hai miền Nam và Bắc
đều đã chuyển ngữ qua tiếng Việt mới)
Ðáng ghi nhận là người chê trách Lê Quí Ðôn nặng lời nhất, tức “Hán Văn Ðế” ở Thuận Hóa, vào lúc cuối đời còn xin phụ thuộc vào nhà Thanh! (ÐNTLCB, IV, 35:89-91; Sogny, 1943:124-125)
Ngày 11/2/1882, Ðường Ðình Canh tới Huế, cùng Mã Phục Bôn
[Bân] Tự Ðức không tiếp, sợ Pháp nghi kị Cho Nguyễn Văn Tường và
Trần Thúc Nhẫn tiếp Canh mật báo với Tường kế hoạch đánh Bắc Kỳ của Pháp, dưới chiêu bài đuổi Lưu Vĩnh Phúc, mà Tăng Kỷ Trạch đã trình về Yên Kinh
Tự Ðức sai Tường yêu cầu nhà Thanh can thiệp Ðề nghị làm thuộc quốc của nhà Thanh, đặt đại diện ở Yên Kinh và Quảng Ðông Xin nhờ tàu Thanh đưa người Việt đi các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp,
Mỹ, Áo, Nhật Bản xem xét và học [Theo tài liệu Trung Hoa: (1) Cho Ðại Nam cử một đại sứ đặc mệnh toàn quyền ở Yên Kinh, và gửi một
số quan chức qua tập sự ở Tổng lý nha môn; (2) cho Ðại Nam cử nhân viên qua Bri-tên và Pháp, làm việc tại sứ quán Trung Hoa, để khẳng định quan hệ truyền thống giữa hai nước; (3) Cho Lưu Vĩnh Phúc tới Quảng Châu để tiếp tế súng đạn, quân nhu Tháng 3/1882, Ðình Canh viết báo cáo gửi Lý Hồng Chương, nhưng Tổng lí nha môn không trả
Trang 18lời; Thọ, 1995:268).
Tự Ðức cũng viết thư cho Lý Hồng Chương, Trương Thụ Thanh
(ÐNTLCB, IV, 35:89-91) Vua Thanh trả lời: “Khả, sỉ bắc phong tái
biên” [Nous prendrons des mesures dès l’arrivée du vent du nord.”]
Ngày 24/11/1882, Rheinart đã có được bản sao thư trả lời của vua Thanh (Sogny, 1943:124-125)
Những người đả kích Lê Tắc và tập An Nam Chí Lược [ANCL] chưa
tham khảo, hay tảng lờ các chi tiết này
Những tựa sách sau của Trung Quốc chưa được dịch qua Việt ngữ:
(1) [Lưu] Tống thư [Sung shu, hay History of the (Liu) Sung Dynasty
(420-479)] của Shen Yueh (Thẩm Ước, 441-513), gồm 100 truyện [chuan], bản in Po-na
(2) Lương Thư [Liang shu, hay Annals of the Liang Dynasty, 502-57]
của Yao Ssu-lien (d 637) Chuơng 54 nói về Nam Hải Sách dẫn nhiều tài liệu về Fu-nan [Phù Nam]
(3) Tấn thư, của Phòng Huyền Linh (578-648) Gồm 130 cuốn.
Tôn Thịnh cũng viết bộ Tấn Xuân Thu, tức Tấn Dương Thu.
(4) Tùy Thư [Sui-shu, hay Annals of the Sui Dynasty, 581-618], của
Wei Cheng (581-643), đặc biệt là chương 82 về Malaya
(5) Ðường thư [T'ang shu]:
(a) Cựu Ðường thư [Chiu T'ang shu, hay Old Annals of the T'ang
Dynasty, 618-917], của Liu Hsu (Lưu Hú, 897-946) và những người khác
Sách này gồm 200 quyển, có phần nói về những nước miền Ðông Nam
Á, như Kha lạc [Ko-lo], P'an P'an, Tan Tan, Lạc Việt [Lo yueh], Khả cô lạc [Ko-ku lo], Chieh-ch'a và Xích Thổ [Ch'ih t'u]
(b) Tân Ðường thư [Hsin T'ang shu, hay New Annals of the T'ang
Dynasty], của Ou-yang Hsiu (Âu Dương Tu, 1007-1072), Sung ch'i (Tống Kỳ, 998-1061), và những người khác
Phần lớn chép lại Cựu Ðường Thư, và bổ túc thêm Gồm 225 tập,
làm vào năm 1060
(6) Tư trị Thông Giám của Tư Mã Quang Chép từ thời Chiến Quốc
Trang 19(403-221 TTL) tới đầu đời Ngũ Ðại (907-960).
Cuốn Thông Giám này theo thể biên niên Chu Hy dựa trên bộ Tư trị Thông Giám của Tư Mã Quang viết lại theo lối sách Xuân Thu, và đặt tên là Thông Giám Cương Mục (cương = nét chính của biến cố; mục= giải thích chi tiết), gồm 294 chuan [truyện hay chương], với lời bình của Hu San-hsing (Hồ Tam Trinh, 1230-1302)
(7) Nguyên sử:
Do Tống Liêm đòi Minh soạn Những tư liệu về Ðại Việt rất sơ lược Ðặc biệt là những cuộc xâm lăng Ðại Việt
(8) Minh sử:
Gồm 336 cuốn, do Vương Hồng Tự hoàn tất dưới thời Thanh Khang
Hy Những tư liệu về Ðại Việt rất sơ lược Kể cả cuộc xâm lăng và chiếm đóng Ðại Việt từ 1407 tới 1427
1 Hoài Nam Tử và/hay Hoài Nam Hồng liệt giải của Hoài Nam
Vương Lưu An đời Hán
Theo Lê Tắc (truyện “Việt vương thành” trong mục “Cổ tích”), năm
135 TTL, Lưu An (Hoài Nam Vương) viết biểu lên vua Hán như sau:
Ðất [Nam] Việt ở ngoài địa phương Trung Quốc, dân họ đều cắt tóc vẽ mình, không thể dùng pháp độ của nước mặc mũ áo mà cai trị Nam Việt không có thành quách, làng xóm, chỉ ở trong khe suối, hang đá và vườn tre, từ xưa tập luyện thủy chiến; đất đai ở sâu xa, tối tăm mà nhiều khe suối rất hiểm, sông núi cách trở gay go, cây cối rậm rạp, lui tới khó khăn không kể xiết Mới trông qua như tuồng là dễ, mà muốn tới thì khó khăn (Tắc, ANCL, 107)
Theo Lê Quí Ðôn, ở một đoạn khác, Lưu An còn viết:
Trang 20Khí núi sinh nhiều con trai; khí đầm sinh nhiều con gái; khí nước sinh nhiều người câm; khí gió sinh nhiều người điếc; khí rừng sinh nhiều người yếu ớt; khí cây sinh nhiều người còng; (Lê Quí Ðôn, VÐLN,
binh đi chinh phục các Lạc tướng Nhân đó giữ đất Lạc mà tự xưng làm
An Dương Vương Triệu Ðà cử binh sang đánh .]
[Tích vị hữu quận huyện thời, Lạc điền tùy triều thủy thượng hạ, khẩn kỳ điền giả vi Lạc dân, thống kỳ dân giả vi Lạc vương, phó vương
giả vi Lạc tướng, giai đồng ấn thanh thọ (Thục vương thường khiển tử
tương binh tam vạn, hàng chư Lạc, nhân cử kỳ địa nhi vương, tự xưng
An Dương vương Triệu Ðà cử binh tập chi .)].( ANCL, q 1, tr 24
(Hán ngữ), 39 (Việt ngữ) Chữ Lạc dùng trong sách này có bộ “mã”].
Ðã tuyệt bản, dẫn trong Thủy Kinh Chú của Lịch [Lệ?] Ðạo Nguyên (thế kỷ III-IV hay VI?, q 37, Diệp Du Hà), Quảng Châu Ký (thế kỷ III-IV), Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ V), Sử Ký
sách ẩn của Tư Mã Trinh (thế kỷ VIII); An Nam Chí Lược của Lê Tắc
(thế kỷ XIV, thiên Tổng luận và Cổ tích, q 1)
Theo Henri Maspéro, Giao châu ngoại vực ký xuất hiện vào thời
b QCK của Bùi Uyên [hay Tuyên] (thế kỷ V).
Trang 21Một sách địa lý về Quảng Châu (sau khi tách ra khỏi Giao
Châu vào thế kỷ thứ III) Dẫn trong Cương Mục, Tiền Biên Theo
Trương Bửu Lâm, Bùi Uyên không được ghi trong Trung quốc nhân danh đại tự điển (CM, TB (Sài Gòn), II:63)
c QCK của Ðào Văn Hàm (thế kỷ VIII?)
Ðất Giao Chỉ có Lạc điền, làm theo thủy triều lên xuống Người ăn ruộng đó là Lạc hầu, [người ăn ở] các huyện gọi là Lạc tướng, có ấn đồng giải xanh, tức như quan lệnh ngày nay [Con Thục vương đem binh đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở huyện Phong Khê Sau Nam Việt Vương Úy Ðà đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ điển cai trị hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là Âu Lạc vậy]
[Ðào thị án Quảng Châu Ký vân: Giao chỉ hữu Lạc điền,
ngưỡng triều thủy thượng hạ Nhân thực kỳ điền danh vi Lạc hầu,
chư huyện tự danh vi Lạc tướng, đồng ấn thanh thụ ] Léonard
Aurousseau (1923, trang 213, n3), cho rằng đoạn văn này thiếu, cần
phải so sánh với Giao Châu Ngoại Vực Ký mới hiểu được; và
Quảng Châu Ký có xuất xứ từ Giao Châu Ngoại Vực Ký, hoặc cả
hai sách là từ một nguồn tư liệu thứ ba nào đó Ðào thị ở đây, vẫn
theo Aurousseau có thể là Ðào Văn Hàm, tác giả một cuốn Quảng
Châu Ký.
Dẫn trong Sử Ký Sách ẩn (thế kỷ VIII) của Tư Mã Trinh.
4 Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ V) Dẫn Giao Châu
Ngoại Vực Ký nhưng lại dùng “Hùng vương, hùng hầu, hùng tướng, hùng
dân, hùng điền”:
Ðất Giao Chỉ rất màu mỡ, người ta di dân đến ở, chính họ là người đầu tiên khai khẩn đất này Ðất đen và xổi, hơi xông lên mùi hùng
Vì vậy người ta gọi ruộng đó là hùng điền, dân đó là hùng dân
Thái Bình Hoàn Vũ Ký (thế kỷ X) sử dụng tài liệu này.[ Xem supra]
5 Giao Quảng Ký của Hoàng Tham [Sam?]:
Giao Chỉ có ruộng Lạc điền Người ăn thuế ruộng ấy gọi là Lạc hầu Các huyện tự xưng là Lạc tướng Sau con vua Thục đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương Ðóng đô ở Phong
Trang 22Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại kỷ, của Ngô Sĩ Liên (1479)
dẫn sách này Nhưng sửa “Lạc” thành “Hùng” (Toàn Thư
[Nhượng Tống], tr 70, chú 2) [CM không nhắc đến]
6 Sử Ký Sách ẩn (Thế kỷ thứ VIII) của Tư Mã Trinh (chú giải Sử Ký
của Tư Mã Thiên)
Dẫn Quảng Châu Ký Ðích thân Tư Mã Trinh chưa được đọc sách này, nhưng dựa theo lời của Ðào Văn Hàm [Xem supra]
7 Giao Châu Ký : Có nhiều bản.
a Giao Châu Ký hay Giao Chỉ Ký của Tăng Cổn (Thế kỷ IX), một
cựu quan chức ở Giao Châu
Sách Việt Ðiện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên hay trích dẫn sách
này
Tăng Cổn còn có cuốn Việt Chí, chép: Giao Chỉ có lạc điền, tùy
theo nước triều lên xuống (Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 147)
b Giao Châu Ký hay Giao Châu chí của Lưu Hân Kỳ (Lê Quí Ðôn,
VÐLN, tr 146; Lê Tắc, An Nam Chí Lược)
c Giao Châu Ký của Lưu Trừng Chỉ (Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 145)
8 Phiên Ngung tạp ký của Trịnh Hùng đời Ðường.
Ðất Giao Chỉ tốt, nhiều màu mỡ Xưa có vua là Hùng Vương, tướng văn là Hùng hầu, tướng võ là Hùng tướng (Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 147)
9 Thư Kinh Tập Truyện của Thái [Sái] Trầm, đời Tống (960-1279)
Trang 23Diễn giải kinh Thư.
Thiên Nghiêu điển của kinh Thư chép: “Vua Nghiêu lại sai Hy Thúc đến ở Nam Giao tại phương Nam, sắp đặt theo thời tiết ở phương Nam, kính cẩn ghi bóng mặt trời ngày hạ chí, là ngày dài nhất [trong một năm] và xem sao Ðại hỏa để định cho đúng tiết trọng hạ [tháng 5 âm lịch] Lúc đó dân cư tản mác, chim và thú thưa lông [vì nóng nực]
Thái [Sái] Trầm ghi chú “Nam Giao” là “Giao Chỉ” (CM,TB [Sài Gòn], 1965, II:27
10 Lĩnh Ngoại Ðại Ðáp của Chu Khứ Phi, đời Tống (960-1279): Quế
Lâm, Nam Hải, Tượng Quận là đất cũ của Bách Việt
[Henri Maspéro cho rằng Tượng Quận đời Tần nằm trong lãnh thổ Hoa Nam hiện nay]
11 Nam Trung Chí , dẫn trong An Nam Chí Lược của Lê Tắc.
12 Chư phiên chí [Chu fan chi] của Chau Jin-kua (Triệu Nhữ Quát),
vào khoảng cuối nhà Tống
Sách này ít tác giả nhắc đến, dù có giá trị cao về hàng hải Triệu Nhữ Quát là dòng dõi đời thứ 8 của Tống Thái Tông Ðáng chú ý đặc biệt là ba chương về Giao Chỉ, Chiêm Thành và Chân Lạp Chúng tôi sử dụng bản dịch Anh ngữ của Friedrich Hirth & W W Rockhill (1911)
13 Lĩnh Nam Di Thư của Âu Ðại Nhâm [Ngũ Sùng Diệu?] (nhà Minh, 1368-1644) Dẫn trong Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục
Trang 2414 An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng (thế kỷ XVII):
Ðất Giao Chỉ lúc chưa chia ra quận huyện, có Lạc điền, tùy nước triều lên xuống [mà làm ruộng]; những người khai khẩn ruộng ấy gọi là Lạc dân, người cai trị dân ấy gọi là Lạc vương, những người phụ tá gọi là Lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dây xanh Gọi là nước Văn Lang, lấy việc thuần hậu chất phác làm phong tục, dùng dây thắt nút để cai trị, truyền mười tám đời (CM, TB [Sài-gòn 1965], I:16-7)
E VẤN ÐỀ NGÔN NGỮ:
Khó khăn thứ tư là vấn đề ngôn ngữ Cho tới đời Khải Ðịnh 1925), văn tự chính yếu trong nước ta là Hán ngữ (hoặc, đúng hơn, Việt Hán hay chữ Nho) Mãi tới năm 1918, triều đình Huế mới chấm dứt lối thi cử dùng Hán tự chọn quan lại Bởi thế, muốn tìm hiểu về lịch sử Việt trước thời Pháp thuộc cần thông thạo Hán ngữ
(1916-Từ thập niên 1860, một số tác giả Pháp đã khởi xướng việc viết lại lịch
sử Việt bằng Pháp ngữ Nhờ vậy, những tên tuổi như Théophile Legrand de
la Liraye, Elician Luro, Henri Maspéro, Léonard Aurousseau, v v trở thành những tên tuổi lớn Một tác giả Việt, Petrus Key Trương Vĩnh Ký,
cũng soạn xong hai cuốn Cours d’histoire annamite [Bài Giảng Lịch Sử
An-na-mit] (1875-1879) dùng cho các trường tiểu học ở Nam Kỳ Ngoài ra, còn
những biên khảo về nhân chủng học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, v v khá giá trị của Etienne Aymonier, Paul Pelliot, Léopold-Michel Cadière, v v Tuy nhiên, các tác phẩm Pháp ngữ này chỉ có những giá trị nhất định của thời đại “gánh nặng của người da trắng.” Kho sử liệu bằng Hán tự của nước Việt hầu như bị lãng quên trong một thời gian dài
Mãi đến thập niên 1920, sau khi người Pháp đã dùng chữ viết dựa theo mẫu tự Latin làm quốc ngữ thay chữ Nho và chữ Nôm được hơn một thập niên, mới có phong trào nghiên cứu sử và phiên dịch sách cũ từ Hán ngữ hay chữ Nôm qua chữ Việt mới Trong số những người có đóng góp giá trị phải
kể học giả Trần Trọng Kim (tác giả bộ thông sử Việt Nam Sử Lược), Nguyễn Văn Tố (qua loạt bài so sánh giữa sử ta với sử Tàu và bộ Lịch sử đạo Thiên
chúa), Ðào Duy Anh (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương), Hoa Bằng Hoàng
Thúc Trâm (viết về vua Quang Trung, sau thuộc nhóm dịch giả [Khâm
Ðịnh] Việt Sử Thông Giám Cương Mục, v v ), Hoàng Xuân Hãn (La Sơn
Phu Tử, Lý Thường Kiệt, và một số tư liệu giá trị khác như bản dịch tư liệu
của Lê Quýnh, Ngụy Nguyên, v v ) Tuy nhiên, phần đông chỉ tự học, không được huấn luyện chuyên môn về phương pháp cũng như triết lý sử, nên ít sách sử Việt trước năm 1954 đạt được tiêu chuẩn quốc tế
Từ sau năm 1954, cả hai chế độ Bắc và Nam Việt Nam đều có kế hoạch
chuyển ngữ tư liệu viết bằng Hán ngữ như An Nam Chí Lược của Lê Tắc,
Trang 25Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên et al [và những người khác]; Ðại Việt Thông Sử, Phủ Biên Tạp Lục, Vân Ðài Luận Ngữ của Lê Quí Ðôn; Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Ðại Nam Thực Lục, v v Lối
làm việc của các dịch giả miền Nam có vẻ khả tín hơn miền Bắc, vì các bản dịch phần lớn gồm ba phần nguyên bản chữ Hán, phiên âm, và diễn nghĩa, giúp người đọc có thể so sánh bản dịch với nguyên bản (Ðồng thời còn là dụng cụ giúp những người muốn học Hán ngữ trau dồi kiến thức) Những công trình này giúp người nghiên cứu không rành Hán ngữ, hay không có dịp tham khảo các bản trên, những dữ kiện bác bỏ dần các biên khảo đầy tư tâm của các tác giả thuộc địa Pháp và cộng sự viên bản xứ
Nhưng chẳng phải không có trở ngại Nhiều dịch giả đã phiên dịch cả
quan điểm của mình, tảng lờ nguyên tác Trong khi dịch bộ Ðại Việt Sử Ký
[Ngoại Kỷ] Toàn Thư, chẳng hạn Nhượng Tống dịch chữ Mị nương [công
chúa đời Hùng Vương] thành Mệ Nàng Khi dịch An Nam Chí Lược [ANCL] của Lê Tắc, Trần Kính Hòa dịch chữ “man” thành “Mường.” Trong bài Nam Việt hành của Chu Chi Tài, ông Hòa dịch hai câu: “Thái
dịch trì nội hồng phù dung, Tự lân trích tại man yên trung” thành “Ao Thái
dịch phù dung một đóa, Chốn khói Mường đầy đọa tấm thân” (ANCL, tr
189 [Việt ngữ]) Trong bài Thơ cảm đề tại đền thờ Phục Ba [Mã Viện?], ông
Hòa dịch “Man binh tị Uất Lâm” thành “Rừng Uất đuổi binh Mường” (tr 259) Trần Kính Hòa cũng dịch “bách tính” thành “nhơn dân” Ðôi chỗ, có
lẽ để làm vui lòng độc giả người Việt hoặc một thẩm quyền nào đó, ông Hòa
đã dịch chữ “yêu đảng” ở đoạn nói về Bà Trưng thành “giành độc lập.” Trong các bản dịch bộ Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục và Ðại
Nam Thực Lục hay Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện do Hà Nội thực hiện
thỉnh thoảng có những thuật ngữ như “nô lệ” hay “nhân dân” không hề có
trong nguyên bản Ðào Duy Anh, khi chú giải bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư,
đã sửa chữa ngay vào nguyên bản, thay vì để vào cước chú (Toàn Thư [Giu 1967], I:318chú 318)
Ngoài ra, còn một số sai lầm đáng tiếc khác trong khi chuyển ngữ (như
“Lục bát y” thay vì “Lục thù y” trong truyện Ðoàn Thượng; “kị binh” thay
vì “kỳ binh” trong bản dịch Việt Ðiện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên do Lê
Hữu Mục ấn hành năm 1961)
Chưa hết Chữ Việt trong quốc hiệu Ðại Cồ Việt, Ðại Việt, hay Việt
Nam có nghĩa gì? Sách sử Trung Quốc dùng đến hai chữ Việt [Yueh] khác
nhau Những chữ Xích Quỉ trong quốc hiệu Xích Quỉ thời Hồng Bàng, Văn [wen] và Lang [ hay ] trong quốc hiệu Văn Lang, Giao [ ] và Chỉ [ hay ] trong tên xứ Giao Chỉ, Hùng [ ] trong Hùng vương, Lạc [ hay ] khi nói về
Lạc vương, Lạc tướng, Lạc dân, đều có thể tạo nên những cuộc tranh luận
kiểu sẩm sờ voi Hiển nhiên, đây chỉ là những tên Hán ngữ, không thể là tiếng Cổ Việt (mà chúng ta không, hoặc chưa, biết).
Vậy các tên trên là do người Trung Quốc đặt cho cổ Việt, hay văn gia Trung Quốc hoặc Việt đã Hán hóa tên cổ Việt bằng cách chuyển âm hay chuyển nghĩa? Thêm nữa, ngôn ngữ của bất cứ một dân tộc nào cũng đổi thay không ngừng qua các con triều văn hóa, kinh tế, chính trị Chỉ một tiếng
“Cồ” trong quốc hiệu “Ðại Cồ Việt,” chẳng hạn, đã tốn nhiều giấy mực
Trang 26tranh cãi Những tên nước, tên dân nêu trên còn lưu lại được bao nhiêu phần trăm ý nghĩa thuở cổ thời? Ðây là những vấn nạn khó tìm đáp án Lê Quí Ðôn hữu lý khi bày tỏ sự nghi hoặc của ông về địa danh, chức tước thời cổ Việt, mà theo ông, có lẽ các hậu nho đã thêm thắt vào (Ðôn, VÐLN, 1972:167, 169)
Bởi thế, những tác giả Pháp như cựu Linh mục Legrand de la Liraye, hay Giáo sư Elucian Luro trong thế kỷ XIX, và rồi những Henri Maspéro vào đầu thế kỷ XX đã giới thiệu những nghĩa xấu nhất của các từ trên, mà
hầu hết các tác giả đương thời khó thể bài bác (như Giao Chỉ là đặc tính hai
ngón chân cái nghiêng cong vào nhau của người cổ Việt; Văn Lang là do
chữ Dạ Lang mà ra, với chữ Lang bộ khuyển [ ]; v v ) Vì, sách Lễ Ký đã nhắc đến chuyện hai ngón chân cái giao nhau, sách Ðịa Dư chí cũng chép
tương tự Ngay đến Lê Quí Ðôn, người đã đọc và nhớ rất nhiều kinh điển Trung Quốc, cũng khó thể khẳng định người cổ Việt có đứng với tư thế hai ngón chân cái giao nhau hay chăng (Lê Quí Ðôn, VÐLN, tr 148)
Trong khi đó, các tác giả Việt tha hồ tìm cách giải thích những tiếng trên theo ý riêng mình, trong khung trời kiến thức thường rất ít thâm sâu về các bộ môn khoa học áp dụng cho ngành thượng cổ sử
F TÀI LIỆU TƯ NHÂN:
Ngoài quốc sử và dã sử Trung Quốc, còn có những biểu, tấu, hành hay thơ văn cảm khái của các sứ giả Trung Quốc từng qua phương Nam, hay những quan chức Bảo hộ ở Giao Châu, v v
Chính qua những loại văn chương, thơ phú thư lại thường rất hoang
tưởng [exotic] này chúng ta mới biết được những đặc thù, đặc sản của cổ
Việt, dưới cặp mắt của người cổ Trung Quốc Nào là Giao chỉ với nghĩa hai ngón chân cái nghiêng cong vào nhau của người cổ Việt; tục xâm mình, đã
nhắc đến trong Lễ Ký, và câu thơ của Liễu Tư Hậu “Cộng lai Bách Việt văn
thân địa;” nghĩa là, cùng đi tới đất Bách Việt là xứ người vẽ mình (Lê Tắc,
ANCL, q 1, tr 45 [Việt ngữ], 30 [Hán ngữ]) Tinh tinh ở đất Nghệ An, [cẩu
hình, nhân diện, tại sơn cốc trung, hành vô thường lộ, bách bối vi quần; nhân dĩ tửu tinh thảo lý số thập tương liên kết, tri vu lộ gian, tinh tinh kiến chi, tức tri kỳ nhân tiên tổ tánh danh, ”; (ANCL, q 15, tr 250)] Hay
cảnh Thái hậu Cù Thị, vợ Triệu Minh Vương (124-113 TTL) và mẹ Ai
Vương (113-112 TTL), buồn bã gõ trống đồng ở đất Nam Việt [Cẩm tán
cao trương, kích đồng cổ], nên vừa gặp người tình cũ là đã âm mưu xin nhập
Nam Việt vào cương thổ nhà Hán (ANCL, q 17, tr 189 [Việt ngữ]) Trụ
đồng do Mã Viện dựng lên sau khi đánh bại được Hai Bà Trưng (40-43), tái chiếm nước ta, với lời răn đe, “Ðồng trụ triết, Giao Chỉ diệt” (Trụ đồng gẫy
đổ, xứ Giao Chỉ sẽ bị diệt); khí hậu ở Ðại Việt độc hại đến độ diều hâu đang
bay trên trời bỗng rơi xuống đầm lầy [hạ lạo thượng vụ, độc khí huân
chưng, ngưỡng thị phi diên, thiếp thiếp trụy thủy chung] Ðó là chưa nói đến
thái độ tự tôn chủng tộc của các văn gia như Ðỗ Phủ, Tô Ðông Pha, v v
qua những lời ca tụng “công đức” Mã Viện ở Giao Châu.( ANCL, q 1, tr
Trang 2724-25 [Hán ngữ], 39-41 [Việt ngữ])
Trong số những người ra công sưu tập các tư liệu này, ở tiền bán thế kỷ XIV, có một người Việt từng làm quan dưới triều nhà Trần (1226-1400), sau đầu hàng nhà Nguyên, hai ba lần dẫn đường cho quân Mông Cổ qua xâm
lược nước ta Ðó là Lê Tắc [Trắc?], tác giả An Nam Chí Lược (1333?) đã
nhắc và dẫn trên Thập niên 1930, khi một nhà xuất bản ở Thượng Hải in lại tập ANCL, có người gay gắt chê trách nội dung ANCL và lên án Lê Tắc là phản quốc Nhưng những cái mũ chính trị trên chẳng giúp gì cho việc đánh giá sử liệu chứa trong ANCL
Thực ra, tác phẩm của Lê Tắc–chắc chắn đã bị “chấm câu,” sửa chữa, hiệu đính nhiều lần dưới tay các văn gia Trung Quốc trước khi được một nhà xuất bản Nhật ấn hành (xem phần cuối sách, q 19)–phản ảnh trung thực quan điểm của văn gia Trung Quốc về Việt Nam: Những mắt nhìn từ đỉnh trụ đồng Mã Viện và đầu ngọn thương, mũi kích, lưng ngựa hay mũi chiến
thuyền của một cường quốc đối với lân bang nhược tiểu (Sử dụng những tài
liệu này cũng nhức đầu như những nhà nghiên cứu hiện nay phải đối mặt những tác phẩm hoang tưởng của các tác giả Tây phương về bản thân họ hay các nhà truyền giáo Ki-tô và công chức thuộc địa Pháp như Pierre Retord, Paul Puginier, Francis Garnier, Paul Bert, v v )
Các chiếu, hịch của vua quan Trung Quốc từ đời nhà Hán đến nhà
Nguyên trích in trong An Nam Chí Lược còn cho thấy bản chất giả nhân, giả
nghĩa của vua quan các triều đại quân chủ, phong kiến Trung Quốc Ngạn ngữ Việt có câu già nắn, rắn buông Hễ gặp cơ hội là vua quan Trung Quốc đánh chiếm đất nước ta, phân chia làm quận huyện, cắt đặt người cai trị Nhưng sách sử, văn thư thì lúc nào cũng trang trọng những lời nhân nghĩa
như khai hóa, phụ thuộc, phên dậu, nước nhỏ phụng thờ nước lớn để che đậy dã tâm luật kẻ mạnh (kiểu Ðặng Tiểu Bình tuyên bố tại Tokyo vào đầu
năm 1979 là sẽ “dạy Việt Nam” một bài học, rồi Giang Trạch Dân bắt Ðỗ
Mười và Lê Khả Phiêu phải cắt đất đổi hòa bình vào ngày 30/12/2000).
Mùa Xuân năm 1960, các học giả Việt ở miền Nam từng bị một phen nhức đầu tương tự vì một tác giả Ðài Loan Do lời yêu cầu của Bộ trưởng Văn Hóa Trương Công Cừu trong một chuyến đi thăm Ðài Bắc–là đã đến lúc sửa lại sách giáo khoa lịch sử hầu cải thiện và phát huy liên hệ giữa hai nước–ngày 26/1/1960, Tưởng Quân Chương đáp ứng bằng một bài trên tờ
Trung Ương Nhật Báo ở Ðài Bắc Nhật báo Tự Do tại Sài Gòn cho người
dịch lại để rộng đường dư luận Ông Chương–chẳng hiểu vì muốn mỉa mai ông Cừu, hay vì kiến thức nông cạn–dạy ông Cừu (và trí thức Việt) dăm bài học phổ thông sử Ðài Loan như: các vua Việt phần đông gốc từ miền Hoa Nam; các triều đại phong kiến Trung Quốc chẳng hề xâm lăng nước Việt,
mà chỉ ra tay trượng nghĩa, cứu giúp con cháu những dòng họ bị lật đổ hay cướp ngôi; năm 40, hai bà Trưng nổi dạy không do tinh thần độc lập mà chỉ
vì muốn báo thù riêng, lại toan xâm phạm thiên quốc nên mới bị Mã Viện mang quân qua đánh bắt; năm 1788, Tôn Sĩ Nghị chỉ mang có “8,000 quân” đưa Lê Mẫn Ðế (Chiêu Thống, 1786-1789) về nước, trong khi “Nguyễn Văn
Trang 28Nhạc” (sic) sử dụng tới “100,000 quân” nên Nghị bị đại bại; người Pháp muốn chia rẽ hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam, nên đã khuyến khích tinh thần bài Hoa và sửa đổi lịch sử, v v Nhiều tác giả Việt, kể cả các ông Nguyễn Hiến Lê-Nguyễn Ngu Í, và Lê Phục Thiện, chuyên viên Hán ngữ
của Viện Khảo Cổ Sài Gòn, đã mượn tờ bán nguyệt san Bách Khoa trả lời
ông Chương Quí vị này nêu ra được một số lỗi lầm của ông Chương, nhưng phần lớn chỉ là tiểu tiết như không phải “8,000” mà tới “200,000” quân Thanh đã xâm chiếm Việt Nam, vua Quang Trung Nguyễn Huệ mà không phải Nguyễn Văn Nhạc đã đánh trận Kỷ Dậu (1789), v v
Kiến thức sử học của Tưởng Quân Chương, tưởng cần nhấn mạnh, quá nông cạn Trong giới sử gia về Ðông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng, rất ít người biết đến ông Chương cùng các biên khảo của ông ta Bài viết về lịch sử Việt Nam của ông Chương cũng chẳng có gì mới lạ, ngoài những lập luận hàm hồ đầy rẫy trong các tập sử phổ thông Ðài Loan (dành cho các lớp tiểu học, trung học) Sự thiếu hiểu biết của ông Chương, và chứng bệnh hàm
hồ tương lân với sự thiếu hiểu biết ấy, đã được các tác giả Việt nêu ra trên tờ
Bách Khoa ngay trong năm 1960.
Nhưng một trong những nhược điểm lớn của ông Chương chưa ai nêu lên là phương pháp sử Khi đặt bút viết rằng hầu hết các vua Việt đều có nguồn gốc từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc, ông Chương đã lẫn lộn và mù lạc, không phân biệt nổi giữa Trung Quốc, với biên giới chính trị năm 1960,
và các tiểu quốc với những nền văn hóa cổ Việt phía Nam sông Dương Tử
khoảng hai ngàn năm trước Tổ tiên một số vua quan Việt (như nhà Trần) có thể từ vùng Lưỡng Quảng, Quế Châu hay Vân Nam, nhưng cách đây
khoảng 2,000 năm, đó không phải là lãnh thổ chính trị Trung Quốc Các
vùng đất này chỉ bị nhà Tần (221-206 TTL), nhà Hán (206 TTL-220 STL) chiếm đóng bằng vũ lực, rồi dần dần sát nhập vào biên cương chính trị
Trung Quốc Ngay đến cuối thế kỷ XX, qua bao nỗ lực Hán-hóa phương
Nam, các chính phủ Trung Quốc vẫn chưa đồng hóa nổi tất cả những sắc dân Lolo (Vân Nam), Mân Việt, Ðiền Việt, v v Trong đời sống thường nhật, các sắc dân trên vẫn sử dụng tiếng nói riêng, có sinh hoạt văn hóa khác biệt với các tỉnh ở phía Bắc sông Dương Tử [văn hóa lúa mì] Ngay đến thổ dân Ðài Loan, nơi Tưởng Giới Thạch xâm chiếm năm 1949, cũng không phải gốc người Hán, và không muốn bị coi là một tỉnh của Trung Quốc Nói chi những xứ Nội Mông, Mãn Châu, hay Tây Tạng (Tibet) mà Trung Cộng đang nỗ lực đồng hóa
Hơn nữa, chỉ cần có một kiến thức sơ đẳng về di truyền học và hội
nhập văn hóa (acculturation) thôi, ông Chương hẳn sẽ không đủ can đảm
viết xuống câu gốc người Hoa Nam (thực tế, ông Chương liệt kê từng tỉnh hiện thuộc về Hoa Nam) Ví thử một vị tổ của dòng họ nào đó có từ miền Lưỡng Quảng di cư xuống phía Nam, chỉ ba bốn đời sau, dòng dõi đương nhiên trở thành người Việt Tại Bắc Việt, trước năm 1945, gia phả thường chỉ chép ngược lên tới đời thứ 9 Từ đời thứ 10, quê hương của tổ tiên ở xứ nào đi nữa cũng không kể Hơn nữa, liên hệ giữa cổ Việt cùng Mân Việt, Ðiền Việt còn mở rộng cho những cuộc tra cứu trong tương lai Giả thuyết
về một hạt nhân văn hóa [cultural core] miền Nam (bao gồm các nước Việt,
trải rộng tới miền Ðông Thái Lan hiện nay) không chỉ thuần là một giả
Trang 29Nhược điểm khác của ông Chương là việc dùng sử liệu Dường như ông Chương không mấy chú ý đến tài liệu khảo cổ Nếu nghiên cứu kỹ các tài liệu khảo cổ khai quật tại vùng Lưỡng Quảng hay Thái Lan mới đây, và được huấn luyện kỹ lưỡng về phương pháp sử học hoặc cổ sử học, hẳn ông Chương đã không cẩu thả hạ bút viết các vua Việt vốn gốc người Trung
Quốc (Một số nhà khảo cổ học hiện nay còn lý luận rằng cuộc giao lưu văn
hóa giữa hạt nhân Hoàng Hà và phía Nam đi theo chiều từ Nam lên Bắc mạnh hơn từ Bắc xuống Nam như nhiều người lầm tưởng).
Sự yếu kém của ông Chương trong việc sử dụng tài liệu còn bộc lộ trong đoạn bàn về cuộc xâm lược nước Nam của Tôn Sĩ Nghị Ông Chương
có lẽ chỉ dựa vào tư liệu phổ thông Trung Qưốc, hơn so sánh và lượng giá
nhiều nguồn tài liệu khác nhau Ông Chương khăng khăng cho rằng Nghị chỉ mang theo 8,000 quân vào Thăng Long mà chẳng trưng dẫn được sử liệu
nào khả tín (như Châu bản nhà Thanh, Ðại Thanh thực lục đời Càn Long,
biểu, tấu của Tôn Sĩ Nghị và Phúc Khang An, v v )– một đòi hỏi cơ bản của người viết sử Ðiều này chứng tỏ dù được Linh mục Raymond de Jaegher, Tổng Ðại diện Hội Thái Bình Dương Tự Do tại Viễn Ðông, cấp học bổng The Asia Foundation để nghiên cứu sách giáo khoa ở Nam Việt Nam,
có lẽ ông Chương không phải là sử gia chuyên nghiệp Tôi chưa được tham khảo các châu bản nhà Thanh, nhưng từng đọc một số tài liệu thời nhà Thanh tiết lộ rằng Tôn Sĩ Nghị mang cả quân thủy, bộ (biền binh) bốn tỉnh Hoa Nam xâm phạm Ðại Việt vào mùa Ðông Mậu Thân (1788-1789) [dưới danh nghĩa giúp Lê Mẫn Ðế chiếm lại ngai vàng] Ngay đến Ngụy Nguyên, một người Thanh, tác giả An Nam Chinh Vũ Ký năm 1842, cho rằng Nghị mang khoảng 2 vạn (20,000) quân Thanh thuộc 4 tỉnh Hoa Nam sang xâm
lăng (chinh phạt) Ðại Việt (An Nam), nhưng đánh tiếng là “phò Lê.” [Xem
“Vấn đề nghiên cứu nhà Tây Sơn”]
Ông Chương cũng tảng lờ, hoặc không biết đến, tài liệu Việt và Tây phương Các sử gia chuyên nghiệp thường phải đối chiếu các nguồn tài liệu khác nhau trước khi đi đến một kết luận sử học Nếu chưa được tham khảo các tài liệu Tây phương thì phải có sự thận trọng tối thiểu là cần lưu ý độc giả của ông rằng những lập luận của mình chỉ có tính cách tạm thời, trong khi chờ đợi những tư liệu còn thiếu sót được bạch hóa Ngay cả khi tìm được các tư liệu gốc (như thủ bút, thư từ của các tác nhân lịch sử) cũng phải phân giải ý nghĩa các tài liệu trên trong bối cảnh chung mà tác nhân đang sống và
sinh hoạt [Xem bài Petrus Key]
Về vấn đề người Pháp sửa lại lịch sử bang giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, ông Chương chỉ dựa theo “cảm nhận” hoặc thứ kiến thức nhồi sọ lúc thiếu thời (tức trút bỏ mọi tội lỗi cho bọn Tây di; cũng giống như dân Arab hiện nay trút mọi tội lỗi lên đầu đạo Ki-tô và người Tây phương về tình trạng nghèo đói, phân hóa, chậm tiến, tham nhũng và xa cách dần Allah) hơn nghiên cứu một cách nghiêm túc Chẳng hiểu ông Chương đã
được đọc các tài liệu về Tạm ước Bourée-Lý Hồng Chương (chia Bắc kỳ mỏ cho nhà Thanh, và Pháp lấy Bắc kỳ gạo); hay, đường dẫn đến Hòa ước Thiên
Tân (11/5/1884 & 9/6/1885) chưa? Nếu chưa đọc, chưa nghiên cứu tường
Trang 30tận, mà đã viết thì sợ rằng ông Chương thiếu sự lương thiện trí thức Nếu đọc rồi mà vẫn bẻ cong lịch sử thì ông Chương phạm tội ngụy tạo lịch sử,
một thứ tội ác tinh thần (Thế gian này không thiếu những người thích lập
danh đường tắt bằng trò ngụy tạo lịch sử; bất kể quốc tịch, tôn giáo, tuổi tác, học vấn) Nói cách khác, kiến thức sử học của ông Chương về Việt Nam
không những khiếm khuyết, mà còn sơ đẳng, lỗi thời
[Ðáng buồn là phần nào do hậu quả của sự thiếu lương thiện trí thức hoặc tội ác tinh thần của ông Chương, vài người Việt đã “khải thắng,” “khỉ sự” (nguyên văn) rằng tổ tiên là người “Tàu” [Trung
Quốc] (Nguyễn Phương, Việt Nam Thời Khai Sinh, 1965) Vài người
khác có lẽ cũng đã ảnh hưởng trên cựu giáo mục Nguyễn Phương là nhà khảo cổ học Olov R T Janse, cùng các học giả Bảo hộ Léonard Aurousseau, Henri Maspéro]
G TÀI LIỆU VIỆT:
Ngoài tài liệu Trung Quốc, sử quan Việt cũng sử dụng một số tư liệu trong nước
Có 2 loại: truyền thuyết (cổ tích, tiểu sử các thần hoàng và văn miếu)
và dã sử hay tác phẩm của các văn gia
1 Truyền thuyết:
Truyền thuyết được sử dụng nhiều nhất cho phần Huyền sử hay Thượng cổ sử, tức từ thuở sơ khai tới thời Hùng Vương và Thục Phán Truyền thuyết gây nhiều tranh luận sôi nổi là truyện Lộc Tục lấy Âu Cơ, sinh ra một bọc 100 trứng (đồng bào), nở ra trăm con trong phần “Ngoại
Kỷ” của bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư.
Cả Ngô Sĩ Liên và Ngô Thời Sĩ, trong Việt sử tiêu án, đã nhận hiểu sự
“quái dị” của đoạn huyền sử trên, nhưng vẫn chép lại vì thiếu sử liệu, hoặc
vì tin rằng vĩ nhân thời tiền sử “khác với người thường.” Ngoài ra, Ngô Sĩ Liên còn dẫn truyện Liễu Nghị của Trung Quốc làm ấn chứng về liên hệ
“đời đời làm thông gia với nhau đã lâu” giữa Ðộng Ðình Quân và Kinh Xuyên hầu biện hộ cho cuộc nhân duyên giữa Kinh Dương Vương Lộc Tục, con cháu Thần Nông thị, và Thần Long, con gái Ðộng Ðình Quân, rồi sinh
ra Lạc Long Quân.( Toàn Thư [Giu 1967], tr 59-60) Nhưng vua Tự Ðức chỉ cho chép từ đời Hùng Vương vào phần Tiền Biên của bộ Khâm Ðịnh Việt
Sử Thông Giám Cương Mục, và dĩ nghi truyền nghi truyện trăm trứng, trăm
con giữa Lạc Long Quân với Âu Cơ, vì nó quái dị, chẳng khác gì những ma
trâu, thần rắn của huyền sử Trung Quốc trong Sơn Hải Kinh, Lã Thị Xuân
Thu, hay Hoài Nam Tử (như Thần Nông mặt người, mình trâu; vua Vũ đi trị
thủy, lấy người con gái họ Ðỗ Sơn làm vợ, bốn ngày sau thì sinh ra Khải; Ðỗ Sơn thấy Vũ hóa thân làm gấu, xấu hổ hóa đá, Vũ đòi lại con, đá bỗng nứt ra