1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÂU hỏi THI môn TRIẾT học

7 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động

Trang 1

CÂU HỎI THI MÔN TRIẾT HỌC

Trang 2

Câu 1 Hãy phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập? Vận dụng lý

luận này trong nhận thức và hành động thực tiễn?

Trả lời:

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập(hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép

biện chứng V.I Lê nin viết “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm”.

1) Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển Nắm vững được nội dung của quy luật này tạo cơ sở cho việc nhận thức các phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng duy vật; đồng thời giúp hình thành phương pháp tư duy khoa học, biết khám phá bản chất của sự vật, hiện tượng và giải quyết mâu thuẫn nảy sinh

2) Nội dung quy luật

a) Các khái niệm của quy luật Mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những yếu tố, những thuộc tính khác nhau có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau cùng tồn tại khách quan trong các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy Sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn biện chứng và mâu thuẫn biện chứng quy định sự biến đổi của các mặt đối lập nói riêng và của sự vật, hiện tượng nói chung Thống nhất giữa các mặt đối lập là sự không tách rời nhau, cùng tồn tại đồng thời và mặt đối lập này phải lấy mặt đối lập kia làm cơ sở cho sự tồn tại của mình Sự thống nhất giữa các mặt đối lập còn gọi là sựđồng nhất giữa chúng do trong các mặt đối lập còn tồn tại những yếu tố giống nhau Do sự đồng nhất giữa các mặt đối lập, nên trong nhiều trường hợp, khi mâu thuẫn xuất hiện và hoạt động, trong những điều kiện nào đó, tạo sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập Đồng nhất không tách rời với sự khác nhau, với sự đối lập, bởi mỗi sự vật vừa là bản thân nó, vừa là một cái khác với chính bản thân nó; trong đồng nhất đã bao hàm sự khác nhau, đối lập Các mặt đối lập luôn tác động qua lại với nhau theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau; người ta gọi đó là đấu tranh giữa các mặt đối lập và sự đấu tranh đó không tách rời với sự khác nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một mâu thuẫn

b) Vai trò của mâu thuẫn biện chứng đối với sự vận động và phát triển Theo Ph Ăngghen, nguyên nhân chính và cũng là nguyên nhân cuối cùng tạo nên nguồn gốc của sự vận động, phát triển của mọi

sự vật, hiện tượng là sự tác động lẫn nhau giữa chúng và giữa các mặt đối lập trong chúng Có hai loại tác động lẫn nhau dẫn đến vận động Đó là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong một sự vật, hiện tượng Cả hai loại tác động này tạo nên

sự vận động; nhưng chỉ loại tác động thứ hai- loại tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập do mâu thuẫn giữa chúng tạo nên mới làm cho sự vật, hiện tượng phát triển

c) Một số loại mâu thuẫn

+) Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập đối với một sự vật, hiện tượng, người ta phân mâu thuẫn thành mẫu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong- là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập, là mâu thuẫn nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng, đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau

có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, nhưng phải thông qua mâu thuẫn bên trong mới phát huy tác dụng

+) Căn cứ vào sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, hiện tượng, người ta phân mâu thuẫn thành mâu thuẫn cơ bản- là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, hiện tượng, quy định sự phát triển của

Trang 3

sự vật, hiện tượng trong tất cả các giai đoạn, từ lúc hình thành cho đến lúc kết thúc và mâu thuẫn này tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn không cơ bản chỉ là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, hiện tượng, chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản;

là mâu thuẫn chỉ quy định sự vận động, phát triển của một hoặc vài mặt nào đó của sự vật, hiện tượng

+) Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng trong một giai đoạn nhất định,người ta phân mâu thuẫn thành mâu thuẫn chủ yếu- là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, hiện tượng; có tác dụng quy định những mâu thuẫn khác trong cùng một giai đoạn của quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu sẽ tạo điều kiện để giải quyết những mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn Sự phát triển, chuyển hoá của sự vật, hiện tượng sang hình thức khác phụ thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Tuy vậy, ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu, thứ yếu chỉ là tương đối, tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể; có những mâu thuẫn trong điều kiện này là chủ yếu, song trong điều kiện khác lại là thứ yếu và ngược lại

+) Căn cứ vào tính chất của các lợi ích cơ bảnlà đối lập nhau của các giai cấp, ở một giai đoạn nhất định, người ta phân mâu thuẫn xã hội thành mâu thuẫn đối kháng- là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, giữa những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hoà được Đó là mâu thuẫn giữa các giai cấp bóc lột và bị bóc lột; giữa giai cấp thống trị và giai cấp

bị trị Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những khuynh hướng, những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản không đối lập nhau Các mâu thuẫn đó là cục bộ, tạm thời

c) Kết luận Nội dung quy luậtnói lên rằng, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng là nguyên nhân; giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự vận động, phát triển; sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng là tự thân Quá trình từ khác nhau, thống nhất qua mâu thuẫn đến đấu tranh giữa các mặt đối lập mà kết quả là mâu thuẫn giữa chúng được giải quyết; xuất hiện sự thống nhất mới cùng với sự hình thành mâu thuẫn mới trong một sự vật, hiện tượng ở dạng thống nhất thường trải qua ba giai đoạn chính, mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng của mình

+) Giai đoan một (giai đoạn khác nhau)- khi sự vật, hiện tượng mới xuất hiện, mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhaugiữa các mặt đối lập

+) Giai đoạn hai (giai đoạn từ khác nhau chuyển thành mâu thuẫn)- trong quá trình vận động, phát triển của các mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau và bài trừ, phủ định lẫn nhau ở giai đoạn một; sự khác nhau chuyển thành mâu thuẫn

+) Giai đoạn ba (giai đoạn giải quyết mâu thuẫn)- khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt với nhau, nếu

có điều kiện thì hai mặt đó sẽ hoặc chuyển hoá lẫn nhau; hoặc triệt tiêu nhau; hoặc cả hai mặt đó đều

bị triệt tiêu; sự vật, hiện tượng chuyển sang chất mới Mâu thuẫn được giải quyết với kết quả là hai mặt đối lập cũ bị phá huỷ, sự thống nhất giữa hai mặt mới được hình thành cùng với sự hình thành của mâu thuẫn mới Mâu thuẫn này lại được giải quyết làm cho sự vật, hiện tượng mới luôn xuất hiện thay thế sự vật, hiện tượng cũ Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập làm cho sự vật, hiện tượng không tồn tại vĩnh viễn trong một chất Đó là quan hệ giữa mâu thuẫn biện chứng với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, trong đó mâu thuẫn giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực bên trong của sự vận động và phát triển

+) Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời, tương đối, là có điều kiện, thoáng qua, nghĩa

là sự thống nhất đó tồn tại trong trạng thái đứng yên tương đối của sự vật, hiện tượng +) Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập có tính tuyệt đối, nghĩa là sự đấu tranh đó phá vỡ sự ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng dẫn đến sự chuyển hoá về chất của chúng Tính tuyệt đối của sự đấu

Trang 4

tranh gắn liền với sự tự thân vận động, phát triển diễn ra không ngừng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất Suy ra, sự vận động, phát triển là tuyệt đối

3) Vận dụng lý luận này trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

a) Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập giúp chúng ta nhận thức đúng bản chất của

sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn bằng con đường đi sâu nghiên cứu, phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng Muốn phát hiện ra mâu thuẫn cần phải tìm ra thể thống nhất của những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm ra những mặt đối lập và những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó trong sự vật, hiện tượng

b) Quy luật mâu thuẫn giúp chúng ta khi phân tích mâu thuẫn phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mặt mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng Chỉ có như thế mới hiểu đúng sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động để giải quyết mâu thuẫn

c) Quy luật mâu thuẫn giúp nhận thức được rằng, để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn Mọi mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi

có đủ điều kiện chín muồi; không nóng vội hay bảo thủ, trì trệ khi giải quyết mâu thuẫn

-The

Trang 5

end -Câu 2: Hãy trình bày quan điểm Triết học Mác Xít về nguồn gốc, bản chất, chức năng của Nhà

nước Vận dụng lý luận này vào trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay?

Câu này, các anh chị xem từ trang 76-87 (Quyển Hướng dẫn học tập, Nghiên cứu chuyên đề Triết học Mác-Lênin)

Trả lời:

1 Vấn đề Nhà nước

1.1 Nguồn gốc và bản chất của nhà nước

a Nguồn gốc Nhà nước:

Quan điểm của Học thuyết Mác được coi là khoa học và hợp lý nhất về nguồn gốc nhà nước Với cách nhìn duy vật biện chứng, khi nghiên cứu về sự xuất hiện nhà nước, Học thuyết Mác đã chỉ ra rằng: Nhà nước không phải là hiện tượng siêu nhiên hay là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải

là vĩnh cửu và bất biến mà là một phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, giai đoạn có sự phân chia con người thành giai cấp và có đấu tranh giai cấp Nhà nước luôn luôn vận động, phát triển và chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp, nó sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó không còn nữa

- Trong xã hội nguyên thủy, do kinh tế còn thấp kém, chưa có điều kiện khách quan để dẫn đến sự phân hóa giai cấp nên nhà nước chưa xuất hiện Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là những tộc trưởng

do nhân dân bầu ra; việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được thực hiện bằng các quy tắc chung không cần đến các công cụ cưỡng bức đặc biệt

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất cụ thể là công cụ lao động: từ đồ đá, đồ đồng, đò sắt dẫn đến sự

ra đời của chế độ tư hữu và dẫn đến sự phân công của lao động xã hội Đó là cơ sở kinh tế khách quan dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được xuất hiện Để các giai cấp không tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội thì một

cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời Đó là nhà nước do giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế lập

ra Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, sau đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản

- Do sản xuất PT dẫn tới sự dư thừa tương đối của cải trong xã hội, tạo khả năng khách quan cho những người có địa vị, quyền lực, nảy sinh tham vọng chiếm đoạt tài sản chung của xã hội thành tài sản cho riêng mình, và những người này trở thành người giàu có trong xh Kể từ đây xuất hiện sở hữu

tư nhân, tạo nên phân hoá giai cấp và mâu thuẫn giai cấp Theo quan điểm của Lênin, nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được; và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được

- Cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc ở thời kỳ này trở thành sự cướp bóc có hệ thống, góp phần làm tăng cường củng cố quyền lực các thủ lĩnh quân sự, thúc đẩy tích luỹ vào trong tay giai cấp thống trị,

do đó càng làm tăng thêm mâu thuẫn đối kháng và đối lập nhau về lợi ích trong XH

Tóm lại, NN ra đời trong lòng XH, do nhu cầu giải quyết xung đột xh gắn liền với muâu thuẫn

GC Nguồn gốc sâu xã hình thành NN là do phát triển LLSX Nguồn gốc trực tiếp là do mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được

b.Bản chất Nhà nước:

Bản chất của nhà nước Theo Ph Ăngghen, về bản chất thì Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác Không có nhà nước đứng trên các giai cấp hoặc nhà nước chung cho mọi giai cấp Nhà nước chính là một bộ máy do giai cấp thống trị về kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức đối với quần chúng lao động Giai cấp thống trị

sử dụng bộ máy nhà nước để đàn áp, cưỡng bức các giai cấp khác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấp thống trị Theo bản chất đó, nhà nước không thể là lực lượng điều hòa sự xung đột giai cấp, mà trái lại nó lại làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất

Trang 6

trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp Tất cả những hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội… do nhà nước tiến hành, xét đến cùng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị

NN là tổ chức chính trị của 1 giai cấp thống trị về kinh tế nhằm bảo vệ trật tự hiện hành và đàn

áp sự phản kháng của giai cấp khác

1.2 Đặc trưng của Nhà nước:

Bản chất của nhà nước thể hiện ở đặc trưng cơ bản của nó Bất kỳ nhà nước nào cũng gồm có 3 đặc trưng cơ bản sau:

a Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định, có quyền lực với mọi thành viên không phân biệt huyết thống

b Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp bao gồm bộ máy quản lý hành chính và các đội

vũ trang đặc biệt ( quân đội, cảnh sát, nhà tù ), mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội

c Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị

1.3 Chức năng cơ bản của nhà nước: Bản chất của nhà nước còn thể hiện ở chức năng của nó Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và đối ngoại

a Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội

Chức năng thống trị chính trị của giai cấp là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội

Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung

vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất, chi phối chức năng xã hội và chỉ được thực hiện thông qua chức năng xã hội

b Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại

Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, chính trị, xã hội và những trật tự khác hiện có trong xã hội theo lợi ích của giai cấp thống trị, thực hiện thông qua sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng bộ máy thông tin tuyên truyền, văn hóa, giáo dục để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho nó trở thành chính thống trong xã hội Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia khi lợi ích của quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị

1.4 Các kiểu và hình thức nhà nước

a Khái niệm kiểu và hình thức nhà nước

Kiểu nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội nào

Hình thức nhà nước là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, bị quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, bởi tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp - xã hội và đặc điểm truyền thống chính trị của đất nước

b Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

NHư vậy, dựa vào cơ sở kinh tế và bản chất giai cấp trong lịch sử có đối kháng là bốn kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản và nhà nước vô sản Tuỳ theo

Trang 7

tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu nhà nước có thể được tổ chức theo những hình thức nhất định

- Nhà nước chiếm hữu nô lệ có hình thức quân chủ và cộng hòa

- Nhà nước phong kiến có hình thức phân quyền và tập quyền

- Nhà nước tư sản có hình thức cộng hòa và quân chủ lập hiến

- Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới Trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta, Mác đã viết: “ Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời

kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.”

Nghĩa là, chuyên chính vô sản là phương thức, phương tiện, là hình thức để bảo vệ sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân

Chuyên chính vô sản, là một loại liên minh đặc biệt giữa giai cấp công nhân với quần chúng lao động không vô sản Nhà nước vô sản là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên chế độ dân chủ vô sản là chế độ dân chủ theo nghĩa đầy đủ nhất của từ đó Đó là nền dân chủ bao quát toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, lấy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế làm cơ sở

Vận dụng lý luận này vào trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay

Nhà nước CHXHCN Việt Nam là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân, là tổ chức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nhà nước CHXHCN được tổ chức theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN

Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân

Nhà nước CHXHCN Việt Nam có sự thống nhất hữu cơ chức năng giai cấp và chức năng xã hội trong tổ chức và hoạt động của mình Đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân có khả năng phát hiện và giai quyết những vấn đề có liên quan tới chức năng xã hội Ngược lại, việc thực hiện tốt chức năng xã hội sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giai cấp

Để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, trong giai đoạn trước mắt chúng ta phải thực hiện đồng bộ một loạt nhiệm vụ: “ Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước; cải cách nền hành chính nhà nước, bao gồm cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp” Đồng thời, chúng ta phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước Mặt khác, cũng cần phải kết hợp những biện pháp cấp bách với những giải pháp có tầm chiến lược để vừa hoàn thiện cơ chế, chính sách, vừa xử lý nghiêm, kịp thời mọi vi phạm, tội phạm

-The

Ngày đăng: 27/08/2016, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w