Để phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thì trước tiên ta phải hiểu và phát biểu được khái niệm về vật chất và ý thức *Vật chất: Theo LêNin “ Vật chất là 1 phạm
Trang 1MỘT SỐ CÂU HỎI ÔN TẬP THI TRIẾT HỌC
Trang 2Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, từ đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận?
Để phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thì trước tiên ta phải hiểu
và phát biểu được khái niệm về vật chất và ý thức
*Vật chất: Theo LêNin “ Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” *Ý thức : Là một dạng vật chất đặc biệt
có tổ chức cao là bộ óc con người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ óc con người vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ óc
Ý thức có 2 nguồn gốc chính: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên: • Óc người là cơ quan vật chất của ý thức là kết quả quá trình tiến hóa lâu dài của vật chất.• Sự tiến hóa của các hình thức phản ánh phụ thuộc vào những cấp độ phát triển khác nhau của vật chất Phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao và sự chuyển hóa của phản ánh tâm lý thành phản ánh ý thức của con người
- Nguồn gốc xã hội : ý thức hình thành thông qua quá trình lao động, ngôn ngữ và những quan
hệ xã hội của loài người * Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
- Vật chất và ý thức quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau :Vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, vật chất là nguồn gốc, là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức Hay nói cách khác vật chất thế nào thì ý thức như thế ấy, vật chất thay đổi đến đâu thì ý thức thay đổi đến đó
- Ý thức là do vật chất sinh ra nhưng 1 khi ý thức ra đời nó có tác dụng tích cực trở lại với vật chất sinh ra nó theo 2 trường hợp:
+ Nếu ý thức tiến bộ: phản ánh phù hợp với thực tế thì có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển + Nếu ý thức lạc hậu: phản ánh không phù hợp với quy luật khách quan thì có tác dụng kìm hãm xã hội phát triển
- Ý thức thuần túy: ý thức này dù tiến bộ hay lạc hậu thì bản thân chúng cũng không làm thay đổi điều kiện hiện thực mà ý thức đó phải thông qua hành động thực tiễn của con người thì mới trở thành hiện thực
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nếu thừa nhận vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức thì trong hành động nhận thức cũng như hành động thực tiễn của con người phải luôn luôn xuất phát từ thực
tế khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
- Ý thức có tác động tích cực trở lại vật chất sinh ra nó cho nên ta phải biết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con người
- Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ
Cau 2: HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, y nghia pp luan
* Phép biện chứng là gì?
Trang 3Phép biện chứng chẳng qua là khoa học về các quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng được thể hiện cô đọng trong hai nguyên lý Đó là “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng” và “nguyên lý về sự phát triển”.
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
a, Nội dung của nguyên lý
- Các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ với nhat không? Nếu có thì tính chất của các mối liên hệ đó như thế nào và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này như thế nào?
- Phép siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng trong TGKQ không có liên hệ gì với nhau, chúng tồn tại một cách biệt lập nhau Do đó, không có sự tác động qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau Đây là một quan niệm sai lầm, không phản ánh đúng bản chất của thế giới.VD: Trong tự nhiên: Giới tự nhiên là một thể thống nhất, nó phụ thuộc lẫn nhau Nếu một loài sinh vật tuyệt chủng thì mắt xích của sự sống trên thế giới sẽ bị tổn thương
Trong xã hội, các sự kiện kinh tế - chính trị ở một quốc gia nào đó không chỉ ảnh hưởng đến quốc gia đó mà còn lan tỏa khắp thế giới
Về tư duy, các truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong cộng đồng Hay như ông cho có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
- Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như cá bộ phận của chúng không tồn tại biệt lập với nhau mà có sự liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù mối liên hệ phổ biến để khái quát thực trạng trên
- Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới Trên cơ sở đó, phép biện chứng duy vật xem xét thế giơi như một chỉnh thể Theo đó, các sự vật, hiện tượng dù có phong phú, đa dạng thế nào thì cũng chỉ là những dạng cụ thể của một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vật chất
- Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bội phận, yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chủ yếu được bộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng Để thấy rõ hơn nội dung này, hãy xem xét các khía cạnh sau:
- Về sự tồn tại của các mối liên hệ:
+ Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của con người
+ Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng
Trang 4buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau.
+ Những người theo quan điểm biện chứng duy vật cho rằng: các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định
- Về vai trò của các mối liên hệ:
+ Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện
sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau
+ Do sự tồn tại cũng như bản chất của sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộ qua các mối quan hệ, cho nên, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thưc, chúng ta không được tuyệt đối hóa, hay xem nhẹ một mối quan hệ nào, cũng không nên tách rời các mối qaun hệ với nhau
mà phải tính đến tổng thể các mối liên hệ trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
b, Tính chất của mối liên hệ:
Gồm 3 tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú
- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức con người
- Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng
có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau Phát triển
có thể từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
VD: sự học tập phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; sự sống phát triển từ đơn giản (đơn bào) đến phức tạp (động vật)
2 Nguyên lý về sự phát triển
a Nội dung nguyên lý:
Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như các bộ phận của chúng không tồn tại một cách tĩnh tại, bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa lẫn nhau, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật
cũ Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù phát triển để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng
Trang 5- Cơ sở của nguyên lý này là quan niệm về vật chất vận động, theo đó, vật chất luôn luôn vận động, không có vận động nào lại không phải là vận động của vật chất; vận động là thuộc tính của sự vật, là phương thức tồn tại của vật chất.
- Nội dung cơ bản của nguyên lý về sự phát triển được thể hiện ở những điểm sau:
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, phát triển, trong đó phát triển được xem như trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, hoàn thiện hơn Phương thức của sự phát triển là sự thay đổi về chất trên cơ sở những thay đổi về lượng Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là những mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng, khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”
- Để hiểu rõ nội dung này, chúng ta hãy xem xét cá khía cạnh sau:
+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới
+ Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lập lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn
+ Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng từ lúc sinh
ra cho đến lức mất đi không hề phát triển
b, Tính chất của sự phát triển :
Ba tính chất cơ bản : Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
- Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, theo quan điểm duy vật biện
chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn phát triển
- Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan
- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau
3 Ý nghĩa phương pháp luận :
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần có quan điểm toàn diện Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật với sự vật và hiện tượng khác
Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động và phát triển của sự vật
Trang 6- Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong TGKQ là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có những quan đểm phát triển Quam điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật.
Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện
và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao
Cau 3: CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
a Khái niệm
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định
Ví dụ:
- Cái bàn học, cái bàn ăn, cái bàn làm việc
- Ngôi nhà ở, ngôi nhà để học (giảng đường), ngôi nhà để vui chơi (câu lạc bộ)
- Cây cam, cây quýt, cây bưởi, cây hồng
- Người Việt Nam, người Pháp, người Châu Phi
- Ngành khai thác thủy sản, ngành nuôi trồng thủy sản, ngành cơ khí tàu thuyền và các ngành khác ở trong trường
Mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi ngành nghề trên được gọi là một cái riêng
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những mặt, những yếu tố,
những quan hệ… tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
b Quan hệ biện chứng giữa cái riêng với cái chung:
Trang 7b.1 Các trường phái triết học trước Mác về mối quan hệ giữa “cái riêng” và “cái chung”.
- Phái duy thực: Cho rằng “cái riêng” chỉ tồn tại tạm thời thông qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có “cái chung” mới tồn tại vĩnh viễn thật sự đối lập đối với ý thức của con
người
+ “Cái chung” không phụ thuộc vào “cái riêng” sinh ra cái riêng
+ Đại diện: Platon
- Phái duy danh cho rằng:
+ Chỉ có “cái riêng” mới tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do tư tưởng con người bịa ra, không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm
b.2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Cho rằng cái riêng, cái chung, cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau được thể hiện:
- Thứ nhất: “cái chung” chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu thị sự tồn tại của mình (Không có cái chung thuần túy, tồn tại độc lập bên cạnh cái riêng)
- Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung (không có cái riêng tuyệt đối)
- Thứ ba: Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng
- Thứ tư: cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Không có cái riêng tồn tại độc lập, tuyệt đối tách rời cái chung mà tất yếu phải tồn tại trong mối liên hệ với cái chung
- Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng bởi vì cái riêng là tổng hợp của cái chung và cái đơn nhất, còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật của nhiều cái riêng
- Cái riêng và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định: Cái mới ra đời: đi từ cái đơn nhất - cái đặc thù - cái phổ biến Cái cũ mất theo con đường chuyển hóa ngược lại
c Ý nghĩa phương pháp luận:
- Vì cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung nên không được tuyệt đối hóa cái riêng (lợi ích riêng của cá nhân, gia đình, tôn giáo, dân tộc, v.v )
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng, nên muốn tìm ra cái chung (bản chất, quy luật, chính sách, v.v ) phải thông qua việc nghiên cứu cái riêng Mặt khác, khi áp dụng cái chung vào cái riêng cần phải tính đến đặc điểm và những điều kiện tồn tại cụ thể của
Trang 8Ví dụ:
- Đấu tranh giai cấp, giai cấp vô sản mâu thuẫn giai cấp tư sản -> Cách mạng vô sản (khách quan)
- Sự biến đổi mầm mống trong hạt lúa (nguyên nhân) -> Cây lúa (kết quả)
- Bão (nguyên nhân) -> thiệt hại mùa màng (kết quả xấu)
- Thực hiện đường lối đổi mới là nguyên nhân, mục tiêu dân giàu … là kết quả
- Chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân của chiến tranh xâm lược
b Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân Mối quan hệ nhân quả không chỉ đơn thuần là sự đi
kế tiếp nhau về thời gian (cái này có trước cái kia), mà là mối liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh ra cái kia Chỉ có mối quan hệ tất yếu về mặt thời gian mới là quan hệ nhân quả
Ví dụ:
+ Cuộc đấu tranh giai cấp vô sản mâu thuẫn giai cấp tư sản (là nguyên nhân bao giờ cũng có trước để dẫn đến cuộc cách mạng vô sản với tính chất là kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau)+ Sự biến đổi của mầm mống trong hạt lúa bao giờ cũng phải xuất hiện trước còn cây lúa là kết quả nó xuất hiện sau
+ Bão (nguyên nhân) xuất hiện trước, sự thiệt hại của hoa màu, mùa màng do bão gây ra thì phải xuất hiện sau
+ Người bị ô tô chèn chết đấy là kết quả xấu nhất nguyên nhân của nó là do việc thực hiện luật
lệ giao thông không đúng (không nghiêm chỉnh thực hiện luật lệ giao thông)
Trong trường hợp nhiều nguyên nhân cùng tham gia sinh ra một kết quả, người ta chia ra các loại nguyên nhân:
Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài;
Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp;
Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản;
Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu;
Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định
Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động đến sự vật, hiện tượng khác và trở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa Do đó, sự phân biệt nguyên nhân với kết quả chỉ có tính chất tương đối
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứ không phải ở ngoài thế giới đó
- Do mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên
Trang 9nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
- Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần có cách nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân quả
+ Phương thức sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất là nội dung Quan hệ sản xuất là hình thức (Cơ sở hạ tầng là nội dung, kiến trúc thượng tầng là hình thức)
+ Một cái bàn học: toàn bộ những vật liệu gỗ, đinh… là nội dung còn hình thức là sự sắp xếp nguyên vật liệu đó
+ Quá trình nhận thức thế giới khách quan được phản ánh vào óc là nội dung, Tiếp thu những hình ảnh đó bằng cách nào (khái niệm, phán đoán, suy luận) đó là hình thức
b Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
- Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất biện chứng với nhau Không có nội dung nào lại không có một hình thức nhất định Cũng không có một hình thức nào lại không chứa đựng một nội dung nhất định (Không có nội dung nói chung, chỉ có nội dung cụ thể Không có hình thức thuần túy mà chỉ có hình thức cụ thể của một nội dung nhất định) Giải thích: Nội dung và hình thức là sự thống nhất của 2 mặt đối lập, liên hệ tác động và
chuyển hóa lẫn nhau Nội dung và hình thức cũng chỉ là sự phân biệt tương đối, có cái ở mối liên hệ này là nội dung, ở mối liên hệ khác lại là hình thức
- Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức, cùng một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Nội dung và hình thức luôn thống nhất với nhau nên trong hoạt động thực tiễn, cần tránh sự tách rời giữa nội dung và hình thức hoặc tuyết đối hóa một trong hai mặt đó
- Nội dung quyết định hình thức cho nên khi xem xét sự vật, hiện tượng, trước hết cần căn cứ vào nội dung của nó, muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội dung của nó
Vì nội dung quyết định hình thức cho nên khi xét đoán sự vật trước hết phải căn cứ vào nội dung, đồng thời phải thấy vai trò của hình thức đối với nội dung
Trang 10Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ
đó trong những điều kiện xác định
Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
b Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng:
- Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập trong mỗi sự vật
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng biểu hiện ở chỗ:
Bản chất bao giờ cũng biểu hiện ra thành những hiện tượng nhất định.Còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định.Không có bản chất tách rời hiện tượng cũng như không có hiện tượng lại không biểu hiện của một bản chất nào đó
- Bản chất quyết định hiện tượng Bản chất như thế nào thì hiện tượng như thế ấy Bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo
Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ở chỗ:
Bản chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệt, phong phú và đa dạng.Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức, không được dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm ra bản chất của sự vật Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mới nhận thức đúng được bản chất
- Bản chất phản ánh tính tất yếu, tính quy luật nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải căn
cứ vào bản chất chứ không căn cứ vào hiện tượng mới có thể đánh giá đầy đủ, chính xác về sự vật, hiện tượng
cau 4: cac quy luat co ban cua chu nghia duy vat lich su:
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
Quy luật này vạch ra cách thức của sự vận động và phát triển
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm chất
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà
không phải là cái khác
Chất là chất của mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, cái làm nên sự vật,
để phân biệt nó với vô vàn các sự vật, hiện tượng khác cùng tồn tại trong thế giới
Quan hệ giữa chất và thuộc tính, thuộc tính là đặc trưng (khía cạnh) của chất
được bộc lộ ra trong các mối quan hệ với sự vật khác Mỗi sự vật có nhiều thuộc
Trang 11tính, mỗi thuộc tính lại là sự tổng hợp của những đặc trưng và trở thành một chất Chất của sự vật không chỉ được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành sự
vật mà còn được xác định bởi trật tự sắp xếp, phương thức liên kết giữa các yếu tố 1.1.2 Khái niệm lượng
Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó
Lượng và chất thống nhất với nhau trong mỗi sự vật tồn tại khách quan, do đó
lượng cũng mang tính khách quan, phong phú như chất
Trong thực tế, lượng có thể được xác định bằng những đơn vị, các đại lượng
và được nhận thức thông qua các đơn vị và đại lượng , có những lượng không được xác định bằng đơn vị, đại lượng, nhưng chúng ta vẫn nhận thức được nhờ ở khả năng trừu tượng hóa
Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Lượng đổi dẫn đến chất đổi
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một thể thống nhất giữa chất và
lượng Trong quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, chất và lượng cũng không ngừng biến đổi Sự thay đổi của lượng và chất không diễn ra độc lập với nhau, mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau
Khi sự vật còn tồn tại trong một chất xác định, nghĩa là sự vật còn tồn tại trong khuôn khổ của một độ
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới
hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
Độ biểu hiện khuôn khổ ổn định tương đối của sự vật, độ của sự vật có thể
thay đổi khi điều kiện thay đổi
Trong khuôn khổ của độ, lượng biến đổi từ từ, tiệm tiến tăng dần hoặc giảm
dần, khi lượng biến đổi đạt tới giới hạn, chất của sự vật sẽ thay đổi, giới hạn đó gọi
là điểm nút
Điểm nút là giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất
của sự vật Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút Ví dụ: Trạng thái nước lỏng (chất), 00
c và 1000
c là những điểm nút
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới, sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới gọi là bước nhảy
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của các sự
vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra
Trang 12Các hình thức của bước nhảy diễn ra rất đa dạng: có bước nhảy toàn bộ, bước
nhảy cục bộ; bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần
Như vậy, quá trình phát triển bao gồm sự tiệm tiến về lượng và thông qua
những bước nhảy vọt, tạo ra sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới Bước nhảy là
sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai
đoạn phát triển mới Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên
tục của sự vật
- Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới
Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút
Khi chất mới ra đời, chất mới tác động trở lại lượng, quy định lượng mới để tạo ra phù hợp giữa chất và lượng mới Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của
sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay
đổi về chất sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận
thức và hoạt động thức tiễn
Để có tri thúc đúng về sự vật, thì phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của
nó, và đặc biệt về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó
Sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất có mối quan hệ với nhau, do vậy
trong hoạt động thực tiễn phải hiểu đúng vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi loại thay
đổi về lượng và chất, đặc biệt trong sự phát triển xã hội; phải kịp thời chuyển từ sự
thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến
hóa sang thay đổi mang tính cách mạng
Xem xét tiến hóa và cách mạng trong quan hệ biện chứng là một trong những
nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách
mạng Hiểu đúng mối quan hệ đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ
nghĩa xét lại hữu khuynh, cũng như chủ nghĩa “tả” khuynh
Chất của sự vật còn phụ thuộc vào trật tự sắp xếp, phương thức liên kết các
yếu tố của sự vật Trong hoạt động thực tiễn phải biết vận dụng để tạo ra sự phát
triển đa dạng về chất của các sự vật và quá trình tự nhiên Trong hoạt động xã hội
cũng phải tạo ra sự phát triển đa dạng về chất của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã
QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
I/ Nội dung quy luật: